Chương 3 PHƯƠ G THỨC NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN TÍNH NỮ TRONG THƠ GUYỄN THỊ MAI
3.2.2. Ngôn ngữ giàu nữ tính mang màu sắc dân gian
Có thể nói, Nguyễn Thị ai là nhà thơ rất dụng công trong việc tìm tiếng nói riêng cho những vần thơ của mình. Điểm nhấn trong thơ của bà là những từ ngữ đời thường, sử dụng các lối nói như sinh hoạt giao tiếp hàng ngày, đồng thời bà sử dụng các phép chêm từ ngữ như lời nói cửa miệng của những người chân quê chất phác, mộc mạc, sử dụng tài tình các thành ngữ dân gian, tạo thành chất xúc tác cho phong vị đằm thắm, trữ tình trong thơ của mình.
Có thể bắt gặp trong thơ guyễn Thị ai hàng loạt các hình ảnh quen thuộc trong đời sống của nhân dân lao động: “ u g , h tr ng, ho i ng, đ t át, dải đê, n đò, nương d u, ơ g o ắm hương, v i , nắm r u, ò tr u, o á, úi t , đư ng s tr u, ái đinh, on d o, ơm , ật ”.đó cũng chính là cái duyên thầm khiến cho thơ bà chinh phục đƣợc trái tim của nhiều độc giả đương đại, đặc biệt là phái nữ. Trong thơ của mình, bà cũng sử dụng rất nhiều lối nói khẩu ngữ, đƣa đẩy khá quen thuộc và gần gũi với đời sống hàng ngày nhƣ: “th m , y th , th , hắ g , h ng những, h ng òn, m s o, i t đ u, th , g , h nh như, th r i, m s o, nhưng m , nhưng r i, đ r i, n ảo, giá, d s o, , m t r i ” lối diễn đạt ấy khiến thơ guyễn Thị ai nh nhàng thấm vào tâm hồn độc giả mọi cách đơn giản và tự nhiên, gần gũi nhất.
Bên cạnh việc sử dụng các lớp từ gần gũi, quen thuộc với lời ăn tiếng nói hàng ngày thì guyễn Thị ai c n vận dụng rất nhuần nhuyễn những chất liệu của văn hóa, văn học dân gian trong sáng tác của mình. Có những câu thơ bà vận nguyên ca dao, tục ngữ, nhƣng có câu thơ lại chỉ lấy ý, dẫn ý theo diễn đạt riêng của mình.
Bên cạnh việc tìm hiểu và phân tích, chúng tôi đã tiến hành khảo sát 9 tập thơ của Nguyễn Thị Mai và nhận thấy guyễn Thị Mai rất hay vận dụng ngôn ngữ thơ ca dân gian vào các sáng tác, đặc biệt là các bài thơ lục bát của mình.
Khi tiến hành khảo sát các bài thơ lục bát chúng tôi thống kê thấy có đến 56 bài thơ bà sử dụng hoặc vay mƣợn chất liệu văn học dân gian. Đọc nhiều câu thơ ta vẫn thấy bóng dáng của ca dao, thành ngữ, tục ngữ. Sự vận dụng thành thạo ấy, khiến câu thơ lục bát của bà vừa có sự giản dị, gần gũi, truyền thống trong cách thể hiện nhƣng lại chuyển tải những ý nghĩa hoàn toàn mới mang hơi thở cuộc sống đời thường. guyễn Thị ai c n vận dụng cái hay của của văn hóa dân gian qua hình thức cắt dán ca dao tục ngữ: “ta tắm o t , đ quán iêu đ nh, ho cải v tr i, muối m n g ng cay, h ng nhan b c phận, bèo d t mây trôi, x đá nung vôi, m gà con v t, ánh đú ương, t n đ n nghé, mang n ng đ đ u, h n m y m t s ng…”
ƣợn ý từ ca dao, nhà thơ đã ngầm đƣa ra một sự so sánh để thấy tình cảm yêu thương, chân thành của người m kế đã xóa đi quan niệm từ ngàn xưa về mối quan hệ không hòa hợp giữa m kế và con chồng: “Dì không mang nặng đẻ đau/ Đứt dây mà xót thương bầu bí ơi / Kệ cho bánh đúc mấy đời/ gười ăn người lại nói lời nghiệt cay” (Nói v i con ch ng). Trong bài thơ N i v i on h ng guyễn Thị ai đã sự dụng rất nhiều hình ảnh của văn học dân gian,
“sảy nghé tan đàn” bắt nguồn từ thành ngữ: “tan đàn sẻ nghé” hay “mang nặng đẻ đau” thành ngữ được vận dụng y nguyên, “xót thương bầu bí” bắt nguồn từ câu ca dao: “Bầu ơi thương lấy bí c ng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” (Ca dao). Cụm từ bánh đúc mấy đời lấy ý từ câu ca dao: “ ấy đời bánh đúc có xương/ ấy đời dì ghẻ lại thương con chồng” (Ca dao). Không chỉ có tấm lòng của người m kế mà ngay cả cánh cửa của ngôi nhà lúc nào cũng s n sàng chờ đón đứa con trở về: “Đêm nay cánh cửa khép hờ/ Dì không ngủ đƣợc nằm chờ bước con”. Bài thơ như một minh chứng về n i lòng và tình cảm người m kế đối với con chồng.
Có khi mƣợn hình ảnh thằng Bờm trong thơ ca dân gian, bà gửi gắm quan niệm đề cao nhân cách, đạo đức con người hơn những giá trị vật chất: “Lắc đầu
nguây nguẩy giàu sang/ Bò trâu, ao cá ch ng màng mà chi/G lim, chim quý…thiết gì/ Nắm xôi lúc đói có khi nên người/ Mặc cho miệng thế chê cười / Mặc ai nhạo báng dại đời ngu ngơ ắm xôi ăn, sống đến giờ/ Bờm đi vào chuyện, vào thơ, vào tình” (B m ơi …
ột trong những cách vận dụng chất liệu văn học dân gian mà nhà thơ guyễn Thị ai rất hay sử dụng đó là d ng hình thức lời ru. Tất cả chúng ta lớn lên đều bằng những lời ru ngọt ngào của bà, của m , chính vì thế, lời ru trở thành quen thuộc, gần gũi: “Ru con, con ngủ cho say Để u dệt vải cho thầy nhuộm nâu Cắt quần cắt áo u khâu Để thầy con mặc dãi dầu m a chiêm” (Ca dao). Chính vì thế, m i bài thơ, cấu tứ bắt đầu từ lời ru đều dễ dàng chạm đến tâm hồn người đọc. guyễn Thị ai đã tận dụng tối đa lợi thế này trong thơ của mình, rất nhiều bài thơ, câu thơ đƣợc thể hiện qua hình thức hát ru: “Thôi về, theo ngọn gió quê Đồng thơ, sông mát, bờ đê trăng vàng Đêm lành bống bống bang bang Ch m sao tát nước ì oàm sau tre” i ru ái n ng)
Tứ thơ đến với guyễn Thị ai thật tự nhiên và dung dị, bài thơ i ru ái n ng đƣợc viết trong một ngày mất điện. Trong lời ru đầy ngọt ngào và tình tứ ấy chứa chan kỉ niệm về một miền quên đ p và tr phú. Có lẽ, cũng cần những cái nóng bất chợt nhƣ thế để guyễn Thị ai ru ta về với cội nguồn.
Cũng là hình thức lời ru, nhƣng trong bài thơ: Ngh hát ru ở guyễn Thị ai lại bộc lộ một tâm sự khác:
“ ghe em ru hát à ơi
Ba Vì xanh ngắt sắc trời sau mƣa Trước tôi, một cánh v ng đưa Con c bay lả nắng trƣa mật vàng”
Ngh hát ru ở ) Đến với Ba Vì trong một ngày xanh ngắt sắc trời, bất chợt nghe người m ru con cất lời ngọt ngào da diết, trong tâm hồn guyễn Thị ai bao kỉ niệm của tuổi thơ dào dạt a về. à người đã làm vợ, làm m , guyễn Thị ai cảm thấy mềm l ng đi khi chìm vào tiếng ru hời. Tiếng ru đƣa tác giả về với tuổi thơ, về với hình ảnh người bà, người m thân yêu. Tâm trạng của tác giả cũng là tâm
trạng chung của tất cả những người yêu quê hương, yêu con người khi nghe tiếng ru ấy. Ch ng trách mà tiếng đàn bầu và tiếng ru con đã thành quốc hồn, quốc túy trong tâm hồn m i người dân Việt am. ạc vào lời ru, con người ta nhƣ tìm thấy bản thể của chính mình, tìm thấy mạch nguồn tuổi thơ sâu th m, tìm thấy chốn bình yên. ở đầu bài thơ bằng hình thức tiếng ru, tiếng thơ của guyễn Thị ai dễ chạm vào đáy cảm xúc của m i người. Bà ru cái nóng, ru con, ru anh, ru m , ru một miền quê...ru những giấc mơ êm đềm nhất để gọi những cảm xúc chân chính nhất, sơ nguyên nhất, cái chân thiện mĩ trong m i con người. guyễn Thị ai cũng cất lời ru d ng sông: “ ơi sông ngủ đi sông Cầu phao mắc v ng bồng bồng lời em Con thuyền gối bến ngủ im Đêm cài then cửa, núi chìm trong nhau Đong đƣa c n một cây cầu Và em thức với hai đầu lời ru..” i ru dòng sông)
hƣ vậy, thơ guyễn Thị ai vừa bắt nhịp đƣợc với cách cảm, cách nghĩ và hình thức của lời thơ hiện đại, vừa thắm đƣợm chất dân gian. Những thành ngữ, tục ngữ, ca dao dân ca… dường như khắc sâu vào cảm thức của bà và trở thành chất riêng thơ bà. Chất dân gian làm cho thơ guyễn Thị Mai mềm mại, duyên dáng, gợi lên vẻ đ p của thiên tính nữ. Về mặt này, thơ guyễn Thị ai đã góp phần tiếp nối quá trình vận động chung của nền văn học Việt Nam- kế thừa truyền thống và không ngừng cách tân cho phù hợp với đời sống tâm hồn, đời sống xã hội của ngày hôm nay.