Các ẩn dụ ý niệm được khai thác, giải mã dựa trên các tri thức nền, các mô hình văn hoá, đặc trưng tâm lý, tư duy tộc người, những ước định về văn hoá, tôn giáo… Từ đó, có thể thấy rằng,
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ HỒNG CHÍNH
ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊU TRONG THƠ LÂM THỊ MỸ DẠ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Đà Nẵng - 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ HỒNG CHÍNH
ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊU TRONG THƠ LÂM THỊ MỸ DẠ
Trang 3Tôi xin cam đoan:
Những nội dung nghiên cứu trong luận văn này là của riêng tôi, thực hiện
dưới sự hướng dẫn của PGS.TS TRẦN VĂN SÁNG
Mọi nội dung trong luận văn hoàn toàn chưa ai công bố
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về những nội dung khoa học trong luận văn này
Tác giả luận văn
Lê Hồng Chính
Trang 4DE TAI: A.N DV Y NitM VE TINH YEU TRONG THO LAM THJ MY D�
Nganh: Ngon ngfr hQC
HQ va ten hQC vien: LE HONG cHINH
Nguoi huong d�n khoa h9c: PGS.TS TRAN VAN SANG
Ca SO' dao te;10: De;1i hQC Su phe;1m - De;1i hQC f)a Ning
Tom tftt:
Lu�n van da h� th6ng nhung v�n dS li lu�n ca ban v€ ftn d1,1 y ni�m va thi phap hQC tri nh�n Lu�n van cung da trinh bay nhfrng tri thuc c�n ySu lien quan dSn ftn d1,1 y niSm v€ "tinh yeu" trong tha Lam Thi My De;1
Tu nSn tang li thuySt d6, chung toi da tiSn hanh khao sat cac bai tha trong cu6n Lam Tht My Dq tuydn tqp, tim hiSu cac ftn d1,1 y ni�m v€ "tinh yeu" xet tu
· mi Sn ngu6n va mi Sn dich
Lu�n van da di vao tim hiSu cac ftn d1,1 y ni�m vs "tinh yeu" trong t�p tha xet
tu miSn ngu6n thong qua vi�c th6ng ke, xac l�p mo hinh ftn d1,1 y ni�m v6'i cac miSn ngu6n d�c trung; th6ng ke cac anh XC;l cua miSn ngu6n tuang ung v6'i cac biSu thuc ngon ngfr mang tinh ftn d1,1
Lu�n van cung da di vao phan tich m9t so an d1,1 y ni�m ve "tinh yeu" tren co SO' cac nh6m y ni�m da duqc xac l�p
Cac kSt qua nghien cuu 6 Chuang 2 va Chuang 3 da lam sang to nhfrng nhfrng d�c diSm rieng cua miSn Ngu6n trong sµ chiSu xe;1 t6'i miSn Dich va cac ftn d1,1 y ni�m vS tinh yeu tieu biSu trong tha Lam Thi My De;1
Ben ce;1nh d6, kSt qua nghien cuu cua lu�n van se hfru ich cho sinh vien, hQC vien, cac nha nghien cuu trong linh VlJC ngon ngfr hQC, tam 1i hQC, d�c bi�t ai mu6n tim hiSu sau vS nha tho Lam Thi My De;1 Tu li�u cua lu�n van cung c6 gia tri tham khao cho nhung cong trinh nghien cuu khac
Tu kh6a: fin d1,1 y ni�m; anh xe;1; Lam Thi My De;1; mi€n ngu6n; miSn dich; y
ni�m
Xac nhin cua ngll'oi hlf6'ng dftn Nglfrri thl}'c hi�n d� tai
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Mục đích nghiên cứu 6
5 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của đề tài 7
7 Cấu trúc luận văn 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 8
1.1 Ẩn dụ và ẩn dụ ý niệm 8
1.1.1 Ẩn dụ theo quan niệm truyền thống 8
1.1.2 Ẩn dụ theo quan điểm tri nhận 9
1.2 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến ẩn dụ ý niệm 12
1.2.1 Ý niệm và ý niệm hóa 12
1.2.2 Miền, miền nguồn, miền đích và ánh xạ 13
1.2.3 Điển mẫu 18
1.2.4 Tính nghiệm thân 19
1.2.5 Mô hình tri nhận 20
1.2.6 Lược đồ hình ảnh 21
1.2.7 Phân loại ẩn dụ ý niệm 23
1.3 Lâm Thị Mỹ Dạ, cuộc đời và thi phẩm 27
1.3.1 Tác giả Lâm Thị Mỹ Dạ 27
1.3.2 Thi phẩm Lâm Thị Mỹ Dạ 28
1.3.3 Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, đề tài và thi pháp 28
1.4 Tiểu kết 31
CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT MÔ HÌNH TRI NHẬN CỦA ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊU TRONG THƠ LÂM THỊ MỸ DẠ XÉT TỪ MIỀN NGUỒN 32
2.1 Dẫn nhập 32
2.2 Hệ thống ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ 33
2.2.1 Mô hình chiếu xạ giữa miền Nguồn và miền Đích TÌNH YÊU 33
2.2.2 Các miền Nguồn tiêu biểu của ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ 34
2.3 Cơ sở kinh kinh nghiệm làm nền tảng cho những mô hình tri nhận của ẩn dụ ý niệm trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ 49
Trang 72.4 Tiểu kết 52
CHƯƠNG 3 NHỮNG ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG THƠ LÂM THỊ MỸ DẠ XÉT TỪ MIỀN ĐÍCH TÌNH YÊU 53
3.1 Dẫn nhập 53
3.2 Các ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ 53
3.2.1 Ẩn dụ ý niệm “TÌNH YÊU LÀ SỰ SAY ĐẮM KHAO KHÁT” 53
3.2.2 Ẩn dụ ý niệm “TÌNH YÊU LÀ SỨC MẠNH THIÊN NHIÊN” 58
3.2.3 Ẩn dụ ý niệm “TÌNH YÊU LÀ SỰ GẦN GŨI” 62
3.2.4 Ẩn dụ ý niệm “TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH” 65
3.2.5 Ẩn dụ ý niệm “TÌNH YÊU LÀ ÁNH SÁNG” 69
3.2.6 Ẩn dụ ý niệm “TÌNH YÊU LÀ ĐỒ VẬT” 73
3.2.7 Ẩn dụ ý niệm “TÌNH YÊU LÀ MÀU SẮC” 77
3.3 Tiểu kết 80
KẾT LUẬN 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 PHỤ LỤC PL1
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Lược đồ chiếu xạ từ miền Nguồn đến miền Đích của ẩn dụ
ý niệm TÌNH YÊU LÀ SỰ SAY ĐẮM KHAO KHÁT 54 Bảng 3.2:
Các thuộc tính được chiếu xạ từ miền Nguồn đến miền Đích trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ SỰ SAY ĐẮM KHAO KHÁT
54
Bảng 3.3: Lược đồ chiếu xạ từ miền Nguồn đến miền Đích của ẩn dụ
ý niệm TÌNH YÊU LÀ SỨC MẠNH CỦA THIÊN NHIÊN 59 Bảng 3.4:
Các thuộc tính được chiếu xạ từ miền Nguồn đến miền Đích trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ SỨC MẠNH CỦA THIÊN NHIÊN
59
Bảng 3.5: Lược đồ chiếu xạ từ miền Nguồn đến miền Đích của ẩn dụ
Bảng 3.6: Các thuộc tính được chiếu xạ từ miền Nguồn đến miền
Đích trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ SỰ GẦN GŨI 62 Bảng 3.7: Lược đồ chiếu xạ từ miền Nguồn đến miền Đích của ẩn dụ
Bảng 3.8:
Các thuộc tính được chiếu xạ từ miền Nguồn đến miền Đích trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH
67
Bảng 3.9: Lược đồ chiếu xạ từ miền Nguồn đến miền Đích của ẩn dụ
Bảng 3.10: Các thuộc tính được chiếu xạ từ miền Nguồn đến miền
Đích trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ ÁNH SÁNG 70 Bảng 3.11: Lược đồ chiếu xạ từ miền Nguồn đến miền Đích của ẩn dụ
Bảng 3.12: Các thuộc tính được chiếu xạ từ miền Nguồn đến miền
Đích trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ ĐỒ VẬT 74 Bảng 3.13: Lược đồ chiếu xạ từ miền Nguồn đến miền Đích của ẩn dụ
Bảng 3.14: Các thuộc tính được chiếu xạ từ miền Nguồn đến miền
Đích trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ MÀU SẮC 77
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Ngôn ngữ học tri nhận (cognitive linguistics) bắt đầu phát triển từ những
năm 1980 như một trường phái ngôn ngữ vận dụng kiến thức liên ngành: ngôn ngữ
- tư duy – văn hóa Ngôn ngữ học tri nhận “nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở vốn kinh nghiệm và sự cảm thụ của con người về thế giới khách quan cũng như cái cách thức mà con người tri giác và ý niệm hóa các sự vật của thế giới khách quan đó” [1] Đó là hướng nghiên cứu mới thu hút sự tham gia đông đảo của giới ngôn ngữ học hiện nay trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng
Một trong những luận thuyết cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận, nói như Langacker, là ngữ nghĩa học, là sự ý niệm hóa Mỗi khi chúng ta tạo sinh một phát ngôn, một cách vô thức chúng ta sử dụng rất nhiều quá trình ý niệm hóa Theo các nhà khoa học, ẩn dụ là một trong những công cụ tri nhận hữu hiệu để con người ý niệm hóa các khái niệm trừu tượng Ẩn dụ không còn đơn thuần là hình thái ngôn ngữ như quan điểm truyền thống, mà nó còn là hình thái tư duy của con người về thế giới Ẩn dụ ý niệm vì thế trở thành đối tượng nghiên cứu được quan tâm đặc biệt trong nghiên cứu tri nhận ở Việt Nam và trên thế giới Các ẩn dụ ý niệm được khai thác, giải mã dựa trên các tri thức nền, các mô hình văn hoá, đặc trưng tâm lý,
tư duy tộc người, những ước định về văn hoá, tôn giáo… Từ đó, có thể thấy rằng, nghiên cứu ngôn ngữ dưới góc nhìn ẩn dụ ý niệm là một hướng nghiên cứu mới, làm sáng tỏ mở rộng biên giới của nghiên cứu liên ngôn ngữ trong mối quan hệ với văn hóa, văn học
Vấn đề ẩn dụ tri nhận trong thơ ca là một nhánh mới của ẩn dụ ý niệm Trước đây, ngôn ngữ thơ với đặc trưng là tính hình tượng thường là đối tượng nghiên cứu của văn học Ngôn ngữ học tri nhận và lí thuyết điển mẫu đã đặt ra vấn
đề nghiên cứu mô hình tri nhận trong thơ, tạm gọi là thi pháp học tri nhận Thi pháp học tri nhận có tính lí thuyết về không gian tinh thần tích hợp với khái niệm pha trộn giải thích các quá trình sáng tạo trong tâm trí con người và liên quan các khái niệm trừu tượng Ý niệm của hình ảnh thơ được hiểu là thuộc về một hệ thống logich trong khuôn khổ của mô hình tri nhận lí tưởng hóa hay hình ảnh lược đồ Thi pháp học tri nhận đặt ra vấn đề nghiên cứu tư duy trong thơ ca và tìm hiểu các quá
Trang 10trình tinh thần, quá trình tâm lí của nhận thức
1.2 Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong các tác phẩm văn học là một trong
những hướng nghiên cứu mới của trào lưu ngôn ngữ học tri nhận theo hướng ứng dụng liên ngành ngôn ngữ với văn chương Trong văn học, ẩn dụ ý niệm chủ yếu được hình thành qua con đường trực giác, nó xuất hiện cùng với chức năng hình tượng hóa các khái niệm trừu tượng Ẩn dụ ý niệm đem đến sự sáng tạo, mới mẻ trong cách cảm nhận thế giới và mở ra cho con người những khả năng tìm tòi, khám phá các mối liên hệ giữa sự vật, hiện tượng Thoát khỏi sự phản ánh các sự kiện bằng lối cấu trúc thông thường, ẩn dụ ý niệm làm cho trí tưởng tượng của con người trở nên vô cùng phong phú
1.3 Lâm Thị Mỹ Dạ - nhà thơ nữ hiếm hoi thời hiện đại, tự nguyện làm cuộc
hành trình đầy phiêu lưu, bất ngờ bằng cái nhìn dự cảm kỳ diệu thế giới lung linh, huyền ảo và vững tin mình không lạc khỏi chính mình Thế giới hình ảnh trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ vừa đậm sắc màu hiện thực, ngồn ngộn hơi thở cuộc sống vừa mang tính biểu tượng cao Điều đó đã thể hiện tài năng và sự khéo léo của nhà thơ, nhằm làm cho những bài thơ của mình không chỉ dừng lại ở những lời thuyết lí khô khan, trừu tượng Thế giới hình ảnh bao giờ cũng gợi ra trong trí tưởng tượng của người đọc nhiều liên tưởng bất ngờ và thú vị, làm cho lời thơ thêm mượt mà, trong sáng Việc tìm hiểu thơ Lâm Thị Mỹ Dạ từ góc độ ẩn dụ ý niệm là một hướng nghiên cứu mới mẻ, cần được thực hiện để góp phần khẳng định ẩn dụ ý niệm trong thơ ca là một cách mở rộng về sự nhận thức thế giới theo những khung giả định của kinh nghiệm cá thể trong cách sáng tạo của nhà thơ - nhìn từ cơ chế của hoạt động
tư duy Hơn nữa, hiện nay cũng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện, có hệ thống về ẩn dụ ý niệm trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
Vì những lí do trên, tác giả luận văn lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Ẩn dụ ý
niệm về tình yêu trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ”
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Những nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm và ẩn dụ ý niệm trong thơ
Nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận đã bắt đầu từ những thập kỷ 80 của thế
kỉ XX với những tên tuổi của G Lakoff, M Johnson, G Fauconnier, R Langacker,
M Turner, W Chafe, M Minsky
Trên thế giới, những nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm xuất hiện cùng với sự hình
Trang 11thành của ngôn ngữ học tri nhận Metaphors We live by của G.Lakoff và M.Johnson [10] (xuất bản năm 1980) là công trình đầu tiên đánh dấu khuynh hướng
này Mới đây, công trình đã được Nguyễn Thị Kiều Thu (2017) dịch qua tiếng Việt
khá công phu và chuyển tải được đúng tinh thần qua bản dịch Chúng ta sống bằng
ẩn dụ (NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2017) Ẩn dụ từ đây đã
vượt qua ranh giới của ngôn ngữ học thuần túy, cho phép chúng ta sử dụng những
gì chúng ta biết về các trải nghiệm xã hội và vật chất của mình để hiểu được nhiều vấn đề khác Quan niệm mới về ẩn dụ rất khác với truyền thống đã được bắt đầu:
“Chúng tôi thấy rằng ẩn dụ tồn tại khắp nơi trong cuộc sống hằng ngày, không chỉ trong ngôn ngữ mà cả trong tư duy và hành động Hệ thống khái niệm thông thường của chúng ta – thể hiện qua suy nghĩ cũng như hành động - về bản chất mang tính ẩn dụ” [10] Công trình cũng đã đưa ra các kiểu loại ẩn dụ tri nhận: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ định hướng (định vị), ẩn dụ bản thể và những vấn đề khác liên quan
đến ẩn dụ tri nhận
Ở Việt Nam, tác giả Lý Toàn Thắng là người đầu tiên giới thiệu ngôn ngữ học tri nhận một cách có hệ thống với khung lí thuyết cụ thể vào năm 2005 với
công trình Ngôn ngữ học tri nhận - từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt
(NXB Khoa học xã hội, Hà Nội) Trọng tâm cuốn sách là vấn đề tri nhận không gian nên tác giả chưa dành một vị trí xứng đáng cho khái niệm ẩn dụ tri nhận, chưa
đi sâu vào nghiên cứu và khảo sát bước đầu về ẩn dụ tri nhận một cách đầy đủ nhất
Tác giả Phan Thế Hưng trong hai bài viết “So sánh trong ẩn dụ” và “Ẩn dụ ý
niệm” đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ năm 2007 [23], [24] đã trình bày quan niệm mới của mình về ẩn dụ trên cơ sở phủ nhận quan điểm so sánh trong ẩn dụ: “ẩn dụ
không đơn giản là phép so sánh ngầm mà chính là câu bao hàm xếp loại thuộc cấu trúc bề sâu của tư duy” [24, tr.12]
Năm 2009, trong công trình Khảo luận ẩn dụ tri nhận (NXB Lao động xã
hội), tác giả Trần Văn Cơ đã giới thiệu khái luận về ngôn ngữ học tri nhận và giới thiệu lí thuyết ẩn dụ ý niệm ở Việt Nam qua việc tổng thuật một cách có hệ thống
và toàn diện những vấn đề trung tâm liên quan đến lí thuyết ẩn dụ ý niệm, gồm:
(1) Ý niệm và ẩn dụ ý niệm;
(2) Hoạt động sáng tạo của ẩn dụ tri nhận;
(3) Kinh nghiệm luận - phương pháp luận của học thuyết về ẩn dụ tri nhận;
Trang 12(4) Phạm trù hóa thế giới
Ẩn dụ ý niệm trở thành đối tượng nghiên cứu được quan tâm đặc biệt trong nghiên cứu tri nhận ở Việt Nam và được chia thành hai hướng: nghiên cứu trọng tâm về ẩn dụ ý niệm hoặc có một phần nội dung dành cho ý niệm Có thể kể đến
các luận án như Ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên cứ liệu tiếng Việt
và tiếng Anh) của Phan Thế Hưng [25], Ẩn dụ tiếng Việt nhìn từ lý thuyết nguyên mẫu (so sánh tiếng Việt và tiếng Pháp) của Võ Kim Hà [15], Nghiên cứu so sánh đối chiếu ẩn dụ trong tiếng Việt và tiếng Hán từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên
tư liệu tên gọi bộ phận cơ thể người) của Trịnh Thị Thanh Huệ [21], Ẩn dụ tri nhận trong ca từ Trịnh Công Sơn của Nguyễn Thị Bích Hạnh [19], Ẩn dụ ý niệm trong thơ Xuân Quỳnh của Phạm Thị Hương Quỳnh [37], Ẩn dụ ý niệm trong thơ và kịch của Lưu Quang Vũ của Trần Thị Lan Anh [1], … Nghiên cứu về các ẩn dụ ý niệm
đã khẳng định và chứng minh yếu tố cơ thể hóa ngôn ngữ, kinh nghiệm nghiệm thân và sự tác động của thế giới bên ngoài, cụ thể là văn hóa của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ đã tạo ra những ẩn dụ ý niệm vừa mang tính phổ quát, vừa mang đặc trưng tư duy dân tộc
Tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng, nhiều luận văn thạc sĩ cũng
lựa chọn hướng nghiên cứu ẩn dụ tri nhân trong thơ ca Có thể kể đến như “Ẩn dụ tri
nhận trong thơ Nguyễn Khoa Điềm” của Trần Nguyễn Thùy Trang (2019) [45]; “Ẩn
dụ ý niệm miền sông nước trong ca dao Nam Trung Bộ” của Phan Hoàng My (2020)
[29]
Những nghiên cứu trên đây đều là những tiền đề lí luận và thực tiễn để chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài luận văn này
2.2 Những nghiên cứu về thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
Cảm nhận về thơ tình Lâm Thị Mỹ Dạ, nhà thơ Trần Đăng Khoa nhận xét:
“Nếu Xuân Quỳnh là ánh nắng góc cạnh, cháy bỏng và dào dạt của vầng mặt trời giữa ngọ, thì Lâm Thị Mỹ Dạ lại là ánh trăng êm đềm, dịu mát ở khoảng nửa đêm
về sáng” [16, tr.7) Hồ Thế Hà, một cây bút phê bình đã chỉ ra ra hướng đi mới của
nữ sĩ: “chính là sự quay về gấp gáp và quyết liệt hơn với nhu cầu khám phá những giá trị vĩnh hằng của con người và cuộc sống Hành trình ấy chân thật, dữ dội nhưng đầy trách nhiệm đến nỗi nhà thơ phải trải lòng mình, trải hết vui buồn, tốt xấu của chính mình để từ đó nhìn ra tha nhân, tâm tình cùng tha nhân” [16, tr 35],
Trang 13“Sức hấp dẫn và giá trị của thơ Lâm Thị Mỹ Dạ nằm trong đường biên của cái tôi
và cái ta, giấc mơ và hiện thực, sự tự chôn vùi và sự tự nổ tung, giữa những gì đã qua và những gì đang đến; bên cạnh cái hư ảo mong manh ta bắt gặp cái biếc xanh,
bỡ ngỡ Và vì vậy, đó là tiếng nói của sự va chạm, sinh thành Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ không xa rời thi pháp truyền thống nhưng luôn phá và thay để làm giàu có cái phần hiện đại cần thiết của thơ Thơ chị tự nhiên cứ tưởng thốt ra là thành, không cần sửa chữa nhiều lắm nhưng đó là cái tự nhiên của một tâm hồn đã chín, của những tứ thơ câm lặng, lãng quên được đánh thức sau giấc ngủ mặt trời, lúc mà cái tôi – nghệ sĩ được lên ngôi cùng với giấc mơ phát sáng màu huyền thoại.” [17, tr 39]
Nhà thơ Vũ Quần Phương cũng đã từng khẳng định nét riêng của Mỹ Dạ với
“tính phụ nữ, nét dịu dàng của cảm xúc, cách khai thác, cách lọc tìm chất thơ đời sống” tạo nên “một phẩm chất trữ tình khá thuần khiết” [34, tr.1]
Fred Marchant từng nhận xét: “Thơ của chị là bản di chúc thơ của những hiểm nguy mà họ đối mặt Đó là cốt lõi của ẩn dụ của Dạ đối với nỗi buồn không tên.” [dẫn theo 28]
Ngoài ra, còn có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về nhà thơ Lâm Thị Mỹ
Dạ Các nghiên cứu này chưa tập trung đi khảo sát các ẩn dụ tri nhận ở một tác giả cụ thể dựa trên lí thuyết về ngôn ngữ học tri nhận Có thể kể đến như Nguyễn
Thị Thành nghiên cứu Thế giới nghệ thuật thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, Phạm Thị Thúy Vinh viết về Đặc trưng nghệ thuật thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, Hà Duy Linh viết về Cái
tôi trữ tình trong thơ Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ,
Nguyễn Thị Thủy bàn về Ngôn ngữ thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
Như vậy, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra những nét đặc trưng, sự vận động cùng những đóng góp của nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ cho nền văn học nước nhà cả về góc độ văn học và ngôn ngữ học Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, đó chính là “khoảng trống” để chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài này
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Ở luận văn này, chúng tôi tập trung nghiên cứu hiện tượng ẩn dụ ý niệm về tình yêu thông qua các mô hình ẩn dụ ý niệm, các kiểu ẩn dụ ý niệm và các biểu thức ngôn từ được ý niệm hóa về tình yêu trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
Trang 143.2 Phạm vi nghiên cứu
Về phương diện nội dung, luận văn khảo sát các dạng ẩn dụ ý niệm tiêu biểu nhất thông qua miền đích là TÌNH YÊU, miền nguồn và các mô hình ý niệm liên quan đến miền đích
Về nguồn tư liệu khảo sát, luận văn này được lấy từ cuốn Lâm Thị Mỹ Dạ
tuyển tập, NXB Hội Nhà văn, 2011
5 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
Luận văn có sử dụng kết hợp các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp miêu tả
Từ góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận, luận văn tiến hành miêu tả ẩn dụ ý niệm tình yêu để phát hiện những giá trị ẩn sâu mà tác giả gửi gắm trong thơ của mình
5.2 Thủ pháp phân tích ngữ nghĩa
Phân tích mối quan hệ giữa nghĩa bề mặt ngôn từ và nghĩa biểu trưng của hiện tượng ẩn dụ xuất hiện trong ngữ cảnh câu thơ để thấy giá trị tri nhận - văn hóa
của chúng
5.3 Thủ pháp thống kê, phân loại
Trên cơ sở tập hợp ngữ liệu về các loại ẩn dụ, luận văn tiến hành phân loại chúng theo các mô hình phạm trù ý niệm để đưa về hệ thống các ẩn dụ ý niệm cơ
sở, ẩn dụ ý niệm phái sinh, lí giải các ý niệm trong từng mô hình ẩn dụ được nghiên cứu Còn phương pháp thống kê sẽ giúp thấy mức độ phổ biến của từng kiểu ẩn dụ
ý niệm trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
Trang 156 Đóng góp của đề tài
6.1 Về phương diện lí thuyết
Các kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần củng cố lí thuyết của ngôn ngữ học tri nhận, góp phần làm sáng tỏ những nét độc đáo trong phong cách thơ của nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, đồng thời khẳng định giá trị của phương thức ẩn
dụ trong việc xây dựng văn bản nghệ thuật Qua đó cũng góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu khuynh hướng lí thuyết về ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam, góp phần chứng minh ẩn dụ ý niệm không chỉ là hình thái tu từ mà còn là vấn đề của
tư duy, là một cơ chế quan trọng để con người nhận thức thế giới
6.2 Về phương diện thực tiễn
Luận văn giúp ta có cái nhìn đầy đủ hơn về tác phẩm văn học dựa trên mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, nhất là con đường tiếp cận ngôn ngữ tác phẩm
ở cấp độ từ ngữ và ý niệm Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ mở ra một hướng phân tích mới cho việc giảng dạy, tìm hiểu thơ Lâm Thị Mỹ Dạ trong nhà trường
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn được
bố cục thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết và những vấn đề liên quan
Chương 2: Khảo sát mô hình tri nhận của ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ xét từ miền Nguồn
Chương 3: Những ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ xét từ miền Đích tình yêu
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
Nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm được coi là là một cách hiểu thế giới trong mối liên hệ của nó với ý chí và hoạt động sáng tạo của con người Trong Chương 1 của luận văn chúng tôi tập trung đến các vấn đề lí luận cơ bản của ẩn dụ ý niệm, trong
đó nhấn mạnh đến thi pháp học tri nhận dựa trên lịch sử nghiên cứu có liên quan đến đề tài Với cách làm này, giúp chúng tôi có cách nhìn bao quát, toàn diện hơn
về các công trình nghiên cứu đã có và tiếp thu những thành tựu khoa học của các nhà nghiên cứu đi trước Từ đó, chúng tôi đã xây dựng cơ sở lí luận làm định hướng cho việc khảo sát ẩn dụ ý niệm trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ trong các chương tiếp theo
1.1 Ẩn dụ và ẩn dụ ý niệm
1.1.1 Ẩn dụ theo quan niệm truyền thống
Trong ngôn ngữ học truyền thống, ẩn dụ vốn được xét trên hai phương diện, thứ nhất là đối tượng nghiên cứu của từ vựng học như một phương thức chuyển nghĩa; thứ hai là đối tượng nghiên cứu của phong cách học, nó là một biện pháp nghệ thuật
Theo các nhà ngôn ngữ học, ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa phổ biến trong tất cả các ngôn ngữ Đó là phép sử dụng từ ngữ được chuyển nghĩa dựa trên
cơ sở tương đồng giữa một thuộc tính nào đó của cái dùng để nói và cái muốn nói Nói cách khác, ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi giữa hai sự vật có mối quan hệ tương đồng Để làm rõ hơn điều này, chúng tôi nêu lên một số định nghĩa về ẩn dụ như sau:
Nguyễn Văn Tu cho rằng: “Ẩn dụ là phép gọi tên một sự vật bằng tên của một sự vật khác theo mối quan hệ gián tiếp Muốn hiểu được mối quan hệ đó chúng
ta phải so sánh ngầm Khác với hoán dụ, phép ẩn dụ, ta theo tưởng tượng của ta mà gọi một sự vật chỉ có vài dấu hiệu chung với sự vật mà từ biểu thị trước thôi Chính nhờ những dấu hiệu chung gián tiếp ấy mà ta thấy mối quan hệ giữa các sự vật khác nhau.” [39]
Đỗ Hữu Châu quan niệm: “Ẩn dụ là cách gọi tên một sự vật này bằng tên một sự vật khác, giữa chúng có mối quan hệ tương đồng” [4]
Sau này ông giải thích cụ thể hơn như sau: “Cho A là một hình thức ngữ âm,
Trang 17X và Y là những ý nghĩa biểu vật A vốn là tên gọi của X (tức X là ý nghĩa biểu vật chính của A) Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của X để gọi tên Y (để biểu thị Y), nếu như X và Y có nét nào đó giống nhau” [5, tr.145]
Nguyễn Thiện Giáp cũng cho rằng: “Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào
sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau” [12]
Đào Thản đã giải thích khá cụ thể, rõ ràng ẩn dụ cũng theo quan niệm như vậy trong mối quan hệ với sự so sánh: “Ẩn dụ cũng là một lối so sánh dựa trên sự giống nhau về hình dáng, màu sắc, tính chất, phẩm chất hoặc chức năng của hai đối tượng Nhưng khác với so sánh dùng lối song song hai phần đối tượng và phần so sánh bên cạnh nhau, ẩn dụ chỉ giữ lại phần để so sánh” [37, tr.31]
Nguyễn Đức Tồn có quan niệm: “Bản chất của ẩn dụ là sự thay thế tên gọi dựa trên sự đồng nhất hoá các sự vật, hiện tượng, tính chất… khi tư duy liên tưởng của con người phát hiện ra ở chúng ít nhất cùng có một nét hay một đặc điểm nào đó” [39]
Ẩn dụ không chỉ là biện pháp làm giàu từ vựng mà còn làm cho nghĩa của từ ngày càng đa dạng, tinh tế không chỉ trong hệ thống ngôn ngữ, trong văn chương,
và trong cả lời ăn tiếng nói hàng ngày của chúng ta
Hiện nay, ẩn dụ có phạm vi ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như triết học, tâm lí học,… Nó “tạo ra nhiều khuynh hướng, trường phái ngôn ngữ học, lí thuyết thông tin, xúc tiến sự tác động lẫn nhau và hội nhập các tư tưởng khoa học
mà hệ quả là hình thành khoa học tri nhận Ẩn dụ là chìa khóa mở ra sự hiểu biết những cơ sở của tư duy và các quá trình nhận thức những biểu tượng tinh thần về thế giới” [3, tr.202]
1.1.2 Ẩn dụ theo quan điểm tri nhận
Ẩn dụ theo quan điểm tri nhận thường được gọi là ẩn dụ ý niệm hay ẩn dụ tri nhận Lakoff và Johnson cho rằng: “Hệ thống ý niệm đời thường của chúng ta, mà trong khuôn khổ của nó chúng ta suy nghĩ và hành động, về bản chất là ẩn dụ”; “Ẩn
dụ về bản chất chủ yếu mang tính ý niệm; Ẩn dụ ý niệm đặt cơ sở trên trải nghiệm
hằng ngày” [10, tr.300] Như vậy, ngay cả trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta
không chỉ dùng các ẩn dụ được quy ước hoá và từ vựng hoá những ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor) bằng một cách thuần tuý ngôn ngữ học mà sự thật là ta có suy
nghĩ hay ý niệm hoá phạm trù “đích” (thông thường là miền cụ thể) thông qua phạm
Trang 18trù “nguồn” (thông thường miền trừu tượng hơn) Lý thuyết chung của ẩn dụ nằm
trong những đặc điểm của sự xác lập khái quát có tính liên tưởng và dựa trên kinh nghiệm của con người đối với thế giới Trong quá trình đó, những khái niệm trừu tượng hàng ngày như thời gian, trạng thái, thay đổi, nguyên nhân, kết quả, mục đích đều trở nên có tính ẩn dụ
Ngôn ngữ học truyền thống coi ẩn dụ là một phương tiện tu từ, là một cách nói bóng bẩy dựa trên sự tương đồng giữa hai sự vật, hiện tượng Ngôn ngữ học tri nhận khẳng định ẩn dụ không chỉ là phương tiện tu từ mà còn là phương thức của
tư duy, là công cụ để ý niệm hóa thế giới “Theo Lakoff, ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor) là các chiếu xạ có tính hệ thống giữa hai miền ý niệm: miền nguồn là một phạm trù trải nghiệm được chiếu xạ hay phóng chiếu vào miền đích là một miền trải nghiệm khác” [4, tr.240]
Lakoff và Johnson cho rằng, bản chất của ẩn dụ là “hiểu và trải nghiệm một loại vấn đề trong thuật ngữ của một loại vấn đề khác” thông qua sự chiếu xạ (mapping) từ lĩnh vực cụ thể sang lĩnh vực trừu tượng Trong tâm trí chúng ta có một số cấu trúc ẩn dụ được ý niệm hóa Họ đưa ra một số luận điểm chính về đặc trưng của ẩn dụ ý niệm, theo đó bản chất của ẩn dụ ý niệm hoàn toàn khác với ẩn
dụ truyền thống [37, tr.35]:
(1) Ẩn dụ là cơ chế thông qua đó chúng ta hiểu những khái niệm trừu tượng
và thực hiện tư duy trừu tượng;
(2) Nhiều đối tượng kể từ những điều đơn giản nhất, đời thường nhất đến những lí thuyết khoa học thâm sâu nhất chỉ có thể hiểu được thông qua ẩn dụ;
(3) Ẩn dụ về bản chất mang tính ý niệm chứ không mang tính ngôn ngữ; (4) Ngôn ngữ ẩn dụ là sự thể hiện bề mặt của ẩn dụ;
(5) Mặc dù phần lớn hệ thống ý niệm của chúng ta mang tính ẩn dụ, song cách hiểu ẩn dụ dựa trên cơ sở cách hiểu phi ẩn dụ;
(6) Ẩn dụ cho phép chúng ta hiểu đối tượng tương đối trừu tượng hoặc đối tượng phi cấu trúc hóa thông qua đối tượng cụ thể hoặc ít ra thông qua đối tượng đã được cấu trúc hóa cao hơn;
(7) Ẩn dụ chiếu xạ qua các miền ý niệm: miền nguồn và miền đích;
(8) Hệ thống ý niệm chứa hàng nghìn lần chiếu xạ ẩn dụ quy ước làm hình thành tiểu hệ thống cấu trúc cao của hệ thống ý niệm;
Trang 19(9) Hệ thống ý niệm quy ước chủ yếu là vô thức, tự động và được sử dụng thoải mái;
(10) Ẩn dụ ý niệm không dựa trên cơ sở so sánh tương đồng;
(11) Ẩn dụ thi ca phần lớn là sự mở rộng hệ thống quy ước thường nhật tư duy ẩn dụ của chúng ta Các ý niệm ẩn dụ có thể vượt ra khỏi phạm vi của phương thức tư duy thông thường để bước vào lĩnh vực tư duy và ngôn ngữ tu từ, thơ ca, mĩ
Ẩn dụ là cơ chế chủ yếu trong tư duy ý niệm của con người, phản ánh cách con người nhìn, nghĩ và nhận biết thế giới thông qua lăng kính ngôn ngữ và văn hóa dân tộc Trong đó, “các ý niệm có cấu trúc trường - chức năng được tổ chức theo mô hình trung tâm (hạt nhân) và ngoại vi Hạt nhân là khái niệm nằm ở trung tâm của trường – chức năng và mang tính phổ quát, toàn nhân loại Bao quanh khái niệm hạt nhân là trường ngoại vi bao gồm một số yếu tố tương liên lẫn nhau tác động đến khái niệm nằm ở trung tâm ý niệm.” [27, tr.53]
Theo các nhà khoa học tri nhận, ý niệm thường bao gồm hai thành tố: hình
bóng ý niệm (concept profile) và hình nền ý niệm (concept base, concept frame)
Trong đó, hình bóng ý niệm (concept profile) là ý niệm được biểu đạt bởi từ đã cho như BÁN KÍNH, ĐƯỜNG KÍNH, TÂM; hình nền ý niệm (concept base, concept
frame) là tri thức hay cấu trúc ý niệm được biểu đạt bởi từ đã cho, như trường hợp HÌNH TRÒN Ý niệm Hình là BÁN KÍNH trong mối quan hệ với ý niềm Nền là HÌNH TRÒN, bởi vì bán kính không phải là một đường thẳng bất kì nào mà nó là một đường nối từ tâm ra đến đường tròn Có thể thấy, trong cấu trúc ý niệm vừa phân tích ý niệm BÁN KÍNH có liên hệ chặt chẽ với ý niệm HÌNH TRÒN Như
Trang 20vậy, hình bóng ý niệm sẽ trở nên vô nghĩa nếu không có hình nền ý niệm Để xác định ý nghĩa của biểu thức ngôn ngữ phải được xác định có tính đến cả hình bóng ý niệm và hình nền ý niệm hay cả ý niệm lẫn khung/lĩnh vực
1.2 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến ẩn dụ ý niệm
1.2.1 Ý niệm và ý niệm hóa
Thuật ngữ đầu tiên và quan trọng nhất của ngôn ngữ học tri nhận là ý niệm, bởi lẽ, theo khoa học tri nhận, con người bình thường (không phải là nhà khoa học) suy nghĩ, tư duy chính là bằng ý niệm (không phải bằng khái niệm) Ý niệm được hiểu là một đơn vị của ý thức
Theo Nguyễn Thiện Giáp, “Ý niệm là những biểu tượng tinh thần phản ánh chúng ta tri giác thế giới xung quanh và tương tác nó Ý niệm bao gồm cả những
sự liên tưởng và những ấn tượng là một trong những kinh nghiệm của người sử dụng ngôn ngữ Rõ ràng, những thuộc tính đó nằm ngoài những miêu tả khách quan của khái niệm Ý niệm bao quát các bình diện chức năng, dụng học, tương tác và xã hội – văn hóa của ngôn ngữ trong sử dụng Ý niệm không chỉ là kết quả của quá trình phản ánh thế giới khách quan vào đầu óc con người mà còn là sản phẩm của quá trình tri nhận, nó vừa có tính nhân loại vừa có tính dân tộc vì nó gắn chặt với ngôn ngữ và văn hóa của dân tộc.” [14, tr.601] Từ đó có thể thấy ý niệm có cấu trúc nội tại bao gồm một mặt là nội dung thông tin về thế giới hiện thực và thế giới tưởng tượng, mang những nét phổ quát, mặt khác, bao gồm tất cả những gì làm cho nó trở thành sự kiện của văn hoá, nghĩa là nó chứa đựng những nét đặc trưng văn hoá dân tộc
Cơ sở của ý niệm là kinh nghiệm cảm tính trực tiếp mà con người thu nhận được thông qua quá trình tri giác thế giới bằng các cơ quan cảm giác, thông qua hoạt động tư duy và hoạt động giao tiếp dưới hình thức ngôn ngữ Ẩn dụ tri nhận (hay còn gọi là ẩn dụ ý niệm - cognitive/conceptual metaphor) là một trong những hình thức ý niệm hoá, một quá trình tri nhận có chức năng biểu hiện và hình thành những ý niệm mới mà không có nó thì không thể nhận được tri thức mới
Nguyễn Thiện Giáp cho rằng:“Ý niệm hóa có thể được hiểu là quá trình hình
thành ý niệm Ý niệm là sự phản ánh những thuộc tính thông thường và thuộc tính bản chất của sự vật trên thế giới trong não bộ, được hình thành trên cơ sở những khái quát trừu tượng và được đánh dấu bằng các từ Quá trình hình thành ý niệm là
Trang 21quá trình phát triển của nhận thức từ cảm tính sang lí tính, tức là từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng Quá trình phạm trù hóa và quá trình ý niệm hóa liên quan chặt chẽ với nhau, nhưng không đồng nhất Phạm trù hóa thì tập hợp các đơn
vị giống hoặc tương tự nhau về mặt nào đó để hình thành các phạm trù tri nhận, còn
ý niệm hóa thì trừu xuất những đơn vị tối giản trong kinh nghiệm của con người
thành nội dung của các đơn vị ngôn ngữ” [14, tr.602]
Tác giả Lý Toàn Thắng cho rằng: “Đối với tâm lí học và ngôn ngữ học tri nhận, ý niệm trước hết không phải và không chỉ là kết quả của quá trình tư duy, quá trình phản ánh thế giới khách quan vào đầu óc con người; mà nó là sản phẩm của hoạt động tri nhận, nó là cái chứa đựng tri thức hay sự hiểu biết của con người về thế giới trên cơ sở kinh nghiệm từ đời này qua đời khác, nó vừa mang tính nhân loại phổ quát vừa mang tính đặc thù dân tộc (do chỗ nó gắn kết chặt chẽ với ngôn ngữ và văn hóa của dân tộc đó)” [dẫn theo 43, tr.115]
Ý niệm ngoài mang đặc trưng miêu tả, còn mang cả đặc trưng tình cảm, ý chi và hình tượng, nó là kết quả của sự tác động qua lại của một loạt những nhân tố như truyền thống dân tộc, tôn giáo, hệ tư tưởng, kinh nghiệm sống, hình tượng nghệ thuật, cảm xúc và hệ thống giá trị Ý niệm tạo ra một lớp văn hóa trung gian giữa con người và thế giới, nó được cấu thành từ tri thức tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo lý, luật pháp, phong tục tập quán và một số thói quen mà con người tiếp thu
được với tư cách là thanh viên của xã hội đó [dẫn theo 19, tr.35]
Lakoff và Johnson cho rằng ẩn dụ tiêu biểu cho sự ý niệm hóa trong ngôn ngữ Các ý niệm trừu tượng không thể hoàn chỉnh khi không có ẩn dụ Mỗi phát ngôn được tạo ra đều có quá trình ý niệm hóa, thông qua miền kinh nghiệm của con người
1.2.2 Miền, miền nguồn, miền đích và ánh xạ
1.2.2.1 Miền
Từ điển thuật ngữ Ngôn ngữ học tri nhận định nghĩa “Miền (hay miền ý
niệm, miền kinh nghiệm): là một thực thể ý niệm được sử dụng trong lí thuyết ẩn
dụ ý niệm và những hướng tiếp cận liên quan tới chiếu xạ ý niệm, như hướng tiếp cận hoán dụ ý niệm và lí thuyết ẩn dụ sơ cấp Miền ý niệm có cấu trúc tri thức tương đối phức tạp có liên quan đến các phương diện thống nhất trong kinh nghiệm Ví dụ: miền ý niệm HÀNH TRÌNH được giả thiết bao gồm những đại diện
Trang 22cho những thứ như du khách, phương thức di chuyển, tuyến đường, điểm đến, những khó khăn trên đường, v.v… Một ẩn dụ ý niệm phục vụ cho thiết lập những tương ứng được gọi là ánh xạ xuyên miền giữa một miền Nguồn và một miền Đích bằng cách phóng chiếu các đại diện từ một miền ý niệm lên những đại diện tương ứng ở một miền ý niệm khác [dẫn theo 27, tr.15]
Như vậy, miền có thể được hiểu là các bình diện kinh nghiệm khác nhau của con người về thế giới xung quanh hay là kiến thức nền mà con người tiếp nhận qua trải nghiệm các lĩnh vực trong cuộc sống
1.2.2.2 Miền Nguồn, miền Đích
Theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ ý niệm là một cơ chế tri nhận nghĩa là những khái niệm có tình trừu tượng được thay thế bằng những khái niệm
cụ thể hơn Các nhà khoa học ngôn ngữ tri nhận đặt tên là ẩn dụ ý niệm để phân
biệt với ẩn dụ truyền thống và sử dụng chữ in hoa để để ghi các biểu thức ẩn dụ ý niệm Ví dụ: TÌNH YÊU LÀ ĐỒ VẬT, TÌNH YÊU và ĐỒ VẬT là hai miền ý niệm của một ẩn dụ, trong đó ý niệm TÌNH YÊU là miền Đích còn ý niệm ĐỒ VẬT là miền Nguồn Miền Nguồn ĐỒ VẬT sẽ mang những thuộc tính nổi trội của
nó như cách trao đồ vật, nhận đồ vật, hành động với đồ vật,… biểu đạt qua các biểu thức ngôn ngữ để làm rõ nghĩa cho miền Đích TÌNH YÊU
Ẩn dụ ý niệm được định nghĩa như là sự thông hiểu một ý niệm này thông qua một miền ý niệm khác Nói một cách ngắn gọn, mô hình của ẩn dụ ý niệm là
“A là B”, trong đó A là ý niệm Đích, B là ý niệm Nguồn Từ đó có thể thấy một ý niệm ẩn dụ gồm có hai miền: miền Nguồn và miền Đích Ý niệm Đích được hiểu thông qua ý niệm Nguồn
“Miền ý niệm có nhiều biểu thức ngôn ngữ mang tính ẩn dụ để làm rõ nghĩa cho miền ý niệm khác gọi là miền Nguồn, còn miền ý niệm được hiểu và được làm
cụ thể hóa gọi là miền Đích.” [dẫn theo 37, tr.52] Ví dụ CUỘC HÀNH TRÌNH,
ÁNH SÁNG, … là miền Nguồn, mang tính cụ thể hơn còn TÌNH YÊU là miền Đích, mang tính trừu tượng hơn
Kinh nghiệm của con người về thế giới xung quanh là cơ sở để lĩnh hội những miền Nguồn trừu tượng Chúng ta có thể hiểu vì sao trong hầu hết các ẩn dụ
ý niệm không thể có sự nghịch đảo cho nhau cũng như miền Nguồn, miền Đích trừu tượng như nhau Chúng ta không thể nói ý tưởng như tình yêu như một cuộc
Trang 23hành trình Đây được xem là tính đơn tuyến của ẩn dụ ý niệm, tức là ánh xạ được cấu trúc từ miền Nguồn sang miền Đích và không có chiều ngược lại
1.2.2.3 Ánh xạ
Ánh xạ (chiếu xạ) là một cơ chế tri nhận bao gồm hai miền tri nhận khác nhau mà mối quan hệ tương tác là sơ đồ ánh xạ (mapping), trong đó một miền (thường là miền cụ thể) được vận dụng để hiểu một miền khác (thường là miền trừu tượng hoặc ít quen thuộc hơn) Miền được ánh xạ gọi là miền Nguồn, và miền được
sơ đồ ánh xạ tác động đến là miền Đích Ý niệm trong miền ĐÍCH chỉ thu nhận một bộ phận, chứ không phải toàn bộ những thuộc tính vốn có của ý niệm NGUỒN
Ngôn ngữ học truyền thống coi ẩn dụ là một phương tiện tu từ, là một cách nói bóng bẩy dựa trên sự tương đồng giữa hai sự vật, hiện tượng Ngôn ngữ học tri nhận khẳng định ẩn dụ không chỉ là phương tiện tu từ mà còn là phương thức của
tư duy, là công cụ để ý niệm hóa thế giới “Theo Lakoff, ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor) là các chiếu xạ có tính hệ thống giữa hai miền ý niệm: miền nguồn là một phạm trù trải nghiệm được chiếu xạ hay phóng chiếu vào miền đích là một miền trải nghiệm khác” [10, tr.240]
Lakoff và Tunner đã khái quát những bản chất điển hình của sự chiếu xạ như sau [dẫn theo 3, tr.71]:
(1) Sự chiếu xạ phi đối xứng và mang tính bộ phận Ý niệm ẩn dụ không phản ánh và cũng không thể phản ánh được tất cả các bình diện của ý niệm xuất phát Khi chúng ta nói rằng một ý niệm nào đó được sắp xếp làm ẩn dụ là có ý nói
nó chỉ xếp đặt một bộ phận thôi và có thể được sử dụng mở rộng bằng phương thức không phải võ đoàn mà hoàn toàn xác định
(2) Chiếu xạ là một quá trình tập hợp những thông tin từ các thực thể ở miền Nguồn sang các thực thể ở miền Đích
(3) Chiếu xạ ẩn dụ theo nguyên tắc một hướng: sơ đồ hình ảnh của miền Nguồn được chiếu xạ lên miền Đích chứ không ngược lại
(4) Sự chiếu xạ không võ đoán mà có cơ sở trong cơ thể con người, trong kinh nghiệm thường nhật và tri thức
(5) Có hai loại chiếu xạ: chiếu xạ ý niệm và chiếu xạ hình ảnh, cả hai đều phục tùng nguyên tắc bất biến
Trang 24(6) Chiếu xạ ẩn dụ thay đổi theo phương thức phổ quát: một số có tình phổ quát, một số khác được phổ biến rộng rãi, một số nữa thì được quy định bởi văn hóa
Cơ chế của ánh xạ được hình thành và kích hoạt dựa trên nền tảng tri thức, kinh nghiệm đúc kết từ thực tiễn cuộc sống Trong mối quan hệ tương quan giữa miền Nguồn và miền Đích trong mô hình ẩn dụ ý niệm thì một miền Đích có thể tương ương với nhiều miền Nguồn Cac miền Nguồn cấu trúc hóa nội dung cho miền Đích, làm sáng tỏ các bình diện khác nhau của miền Đích Đôi khi để hiểu trọng vẹn một miền Đích chúng ta cần sự kết hợp giữa nhiều miền Nguồn
Trong một ẩn dụ được nhắc đến nhiều các nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH (Lakoff và Johnson), chúng ta có thể nhận biết các miền sau:
Miền trên
↓
Sự CHUYỂN ĐỘNG
Miền Nguồn → Miền Đích
Chúng ta sẽ thấy rõ từ ngữ để chỉ TÌNH YÊU qua cách dùng những từ ngữ đường đi qua những ví dụ sau [dẫn theo 36, tr.20-21]:
(1) Look how far we’re come Xem chúng ta đã đi đến đâu
(2) We’re at the crossroads Chúng ta đang ở ngã ba đường
(3) We’ll just have to go our separate
(4) We can’t turn back now Chúng tôi không thể quay lại được
nữa rồi
Trang 25(5) I don’t think this relationship is
going anywhere
Tôi không nghĩ mối quan hệ này sẽ
đi đến đâu
(8) The relationship is s dead-end street Mối quan hệ đã ở cuối con đường (9) We’re just spinning our wheels Chúng ta chỉ đang dẫm chân tại chỗ
(10) Our marriage is on the rocks Cuộc hôn nhân của chúng tôi đang
trên bờ vực thẳm
(11) We’re gotten of the track Chúng ta đi chệch hướng rồi
(12) Their relationship is foundring Mối quan hệ của họ đang chìm
nghỉm
Sơ đồ ánh xạ đã chuyển nhiều tính chất từ miền Nguồn CUỘC HÀNH TRÌNH sang miền Đích TÌNH YÊU Từ các ví dụ nêu trên chúng ta có thể phân tích được những điểm tương ứng sau đây:
Miền nguồn CUỘC HÀNH TRÌNH
Miền đích TÌNH YÊU
Phương tiện giao thông Mối tình
Cuộc hành trình Những sự kiện trong quan hệ yêu
đương
Độ dài của cuộc hành trình Thời gian duy trì tình yêu
Những trở ngại trên hành trình Những biến cố gặp phải trong tình yêu
Trang 26Trạng thái trên hành trình Những cảm xúc của con người trong
tình yêu
Lựa chọn hướng đi Những lựa chọn trước những ngã rẽ,
tiếp tục hay dừng lại Điểm kết thúc cuộc hành trình Đích đến của tình yêu
Như đã trình bày ở trên, ẩn dụ ý niệm bao hàm các ẩn dụ ngôn từ thông dụng một cách có hệ thống Lakoff (1994) cho rằng ẩn dụ ý niệm phản ánh một nguyên tắc chung thuộc về hệ thống ý niệm ẩn đằng sau ngôn ngữ thể hiện Nguyên tắc này được diễn giải qua miền nguồn CUỘC HÀNH TRÌNH [dẫn theo 8, tr.42]:
“Những người yêu nhau là những hành khách trong cùng một chuyến đi có mục đích chung trong cuộc đời như nơi đến của một hành trình Mối quan hệ (tình yêu) là phương tiện đi lại của họ, giúp họ cùng nhau theo đổi mục đích chung Mối quan hệ đượ cho là hoàn thành tốt đẹp khi nó tiến triển hướng đến mục đích chung Cuộc hành trình không dễ dàng, có những trở ngại và có những vị trí (ngã tư đường) khiến họ phải quyết định chọn hướng đi và cùng đi với nhau.”
Như vậy, sự ánh xạ giữa hai miền ý niệm không thể tùy tiện hay chịu sự áp đặt chủ quan của cá nhân mà nó có bản chất nội tại, có tính tương quan rõ ràng và dựa trên cơ sở tri nhận nhất định
1.2.3 Điển mẫu
Điển mẫu (prototype) là khái niệm gắn với phạm trù tri nhận và sự phạm trù hóa Não bộ chúng ta tạo ra hình ảnh cụ thể về một sự vật thuộc phạm trù nào đó Quá trình tri nhận diễn ra như sau: khi thấy một sự vật, hiện tượng không biết xếp vào phạm trù nào thì ta lấy sự vật đó so với điển mẫu Khi nghiên cứu phải bắt đầu
từ cái điển mẫu nhất chứ không phải bắt đầu bằng cái phi điển mẫu Chẳng hạn,
nếu nhắc đến hoa, chúng ta nghĩ đến hoa hồng, hoa lan hoặc nhìn thấy hoa hồng,
hoa lan chúng ta nghĩ đến các loại hoa Con người tri nhận thế giới khách quan
thông qua những hình ảnh khách quan hay trừu tượng về sự vật, hiện tượng nào đó trong trí não, nghĩa là thông qua những điển mẫu
Lí thuyết điển mẫu góp phần vô tận hóa khả năng nhận thức của con người
Trang 27về thế giới Điển mẫu có vai trò quan trọng trong việc cắt nghĩa ẩn dụ ý niệm trong ngôn ngữ học tri nhận Bởi vì, nó giúp chúng ta hiểu được quá trình lựa chọn những đặc điểm điển hình của những phạm trù
1.2.4 Tính nghiệm thân
Khoa học tri nhận cho rằng cấu trúc của ngôn ngữ không hoàn toàn võ đoán
mà liên quan nhiều hay ít, trực tiếp hay gián tiếp đến kinh nghiệm của con người Các khái niệm phản ánh thực tại khách quan chúng ta có được phần lớn hình thành
từ những kinh nghiệm của chính bản thân chúng ta Chúng là sản phẩm và kết quả
có được từ những trải nghiệm của con người Qua những trải nghiệm tương tác với thế giới hiện thực, con người hình thành những lược đồ hình ảnh cơ bản, từ đó tạo nên những mô hình tri nhận, dựa vào đó tiến hành phạm trù hóa, xây dựng các cấu trúc ý niệm và ngôn ngữ Đó chính là tính nghiệm thân của các ý niệm
Thế giới luôn vận động và không có gì là bất biến hay tuyệt đối hóa “bởi vì mọi chân lí đều nằm trong hệ thống ý niệm trên cơ sở kinh nghiệm của con người Chúng ta nhận thức về mọi sự vật, hiện tượng, mọi vấn đề của cuộc sống trong sự tương tác thường nhật với những người khác và môi trường vật lí, văn hóa xung quanh.” [37, tr.77]
Sự phát triển của khoa học tri nhận cùng với những chứng cứ khoa học về thuyết tiến hóa khẳng định tâm trí hoạt động và phát triển nhờ những khả năng của thân thể, tâm trí cơ bản mang tính nghiệm thân Những kết luận của khoa học tri nhận chỉ ra rằng các ý niệm của con người không chỉ đơn thuần là các phản ánh của thực tại bên ngoài, mà cơ bản hình thành từ thân thể và não bộ của chúng ta thông qua các cơ quan cảm giác Từ những thành quả đó, Lakoff (1987) đã hình thành khái niệm trải nghiệm luận (experientialism) và sau đó (1999) trong cuốn
Philosophy in The Flesh ông đưa ra thuật ngữ hiện thực nghiệm thân luận
(embodied realism), được coi là phi khách quan luận (non-objectivism) để phân biệt với khách quan luận truyền thống Cuốn sách đưa ra hai kết luận quan trọng như sau: [dẫn theo 30, tr.23]
- Thứ nhất: Các kết quả của khoa học tri nhận chỉ ra rằng lý trí của con người là một dạng lý trí của động vật, bị ràng buộc với thân thể Não bộ con người
có cấu trúc phức tạp đến kỳ lạ
- Thứ hai: Các kết quả chứng minh rằng: thân thể, não bộ và sự tương tác của
Trang 28con người với môi trường xung quanh cung cấp nền tảng cho những cảm nhận của chúng ta hằng ngày một cách hoàn toàn vô thức Cảm nhận của chúng ta về cái có thật khởi nguồn và cơ bản lệ thuộc vào thân thể chúng ta, nhất là bộ phận cảm xúc và cấu trúc cụ thể của não bộ, khiến chúng ta có khả năng nhận biết, chuyển động và thao tác
Trong thi pháp học tri nhận, sự trải nghiệm có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hiểu và nắm bắt tư tưởng, tình cảm của tác giả Bởi lẽ, không một ý thơ nào không phản ánh tình cảm của người viết, không có một tác phẩm nào nằm ngoài văn hóa dân tộc, không có ý niệm nào nằm ngoài sự trải nghiệm của con người với cuộc sống
Ẩn dụ ý niệm thể hiện cách con người tư duy và cắt nghĩa các sự vật trong thế giới mà con người tồn tại bằng chính sự nghiệm thân Chúng ta đã dùng những trải nghiệm về sinh lí, tự nhiên, xã hội để lý giải, ý niệm những gì đã xảy ra trong cuộc sống của mình Những ý niệm ấy vừa mang sự phổ quát của nhân loại, vừa mang những đặc trưng riêng của dân tộc
1.2.5 Mô hình tri nhận
Theo Nguyễn Thiện Giáp, mô hình tri nhận “là tổng số các ý niệm đã trải qua và đã tích lũy được cho một lĩnh vực nhất định ở một cá nhân; Mô hình tri nhận là phương thức tổ chức và biểu đạt các kiến thức do con người tạo ra khi tương tác với ngoại giới Thay cho tất cả các hiện tượng mà chúng ta tình cờ thấy hằng ngày, chúng ta đã có kinh nghiệm và lưu giữ một số lớn các ngữ cảnh có quan
hệ qua lại Các phạm trù tri nhận không chỉ phụ thuộc vào cái ngữ cảnh trực tiếp
mà chúng được ấn vào, mà còn phụ thuộc vào rất nhiều ngữ cảnh có liên hệ với nó
Vì thế, sẽ là rất hữu ích nếu có một thuật ngữ bao trùm tất cả các biểu tượng tri nhận được tích trữ thuộc về một trường nhất định ( ) Các mô hình tri nhận dựa trên cơ sở tâm lí của tri thức tích trữ về một phạm vi nhất định Bởi vì trạng thái tâm lí luôn luôn là riêng tư và là những kinh nghiệm cá nhân, việc miêu tả các mô hình tri nhận như thế cần thiết phải bao gồm một mức độ đáng kể của sự lí tưởng hóa Nói cách khác, việc miêu tả các mô hình tri nhận được dựa trên tiền ước rằng
có nhiều người có cùng tri thức cơ bản về sự vật” [14, tr.277-278]
Lý thuyết về mô hình tri nhận được Fauconnier (1985) nhấn mạnh với hai nội dung cơ bản: các không gian tinh thần và các mô hình trị nhận cấu trúc hóa
Trang 29không gian này Fauconnier cho rằng không gian tinh thần một phần cấu trúc tư
duy, suy luận của con người trong việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp mỗi ngày
và chúng là bản sao, biểu hiện của việc con người suy nghĩ hay nói về sự vật này,
sự vật khác thông quan các mô hình tri nhận lí tưởng [3, tr.98]
Như vậy, “tri nhận là tất cả quá trình trong đó dữ liệu cảm tính được cải biến khi truyền vào não dưới dạng những biểu hiện tinh thần (hình ảnh, mệnh đề, khung, cảnh ) để có thể lưu lại trong trí nhớ của con người [3, tr.90]
Các quá trình tri nhận bao gồm: quá trình nhận thức, ý niệm hoá, phạm trù hoá, tri giác và các biểu hiện tinh thần đang diễn ra trong bộ não của con người, nhờ đó con người nhận được những tri thức về thế giới
Theo các nhà ngôn ngữ, trong quá trình tri nhận, các lược đồ ý niệm là lược
đồ tổ chức kiến thức của con người Từ đây, nó tạo ra những mô hình tri nhận về bất kỳ lĩnh vực nào đó trên thế giới mà chúng ta cần hiểu Những mô hình tri nhận được dùng để nhận thức về những trải nghiệm của con người và suy luận về nó Các mô hình tri nhận thuộc về những kinh nghiệm và tư duy của con người Và trong quá trình tri nhận, một cách vô thức chúng ta đã sử dụng những mô hình này
để nhận thức và tư duy về các lĩnh vực khác nhau của thế giới
Mô hình tri nhận giúp chúng ta lí giải các ý niệm, có ý niệm được lí giải trực tiếp bằng những trải nghiệm nhưng cũng có những ý niệm phức tạp cần sử dụng mối quan hệ giữa chúng với các ý niệm trực tiếp để có thể hiểu một cách trọn vẹn Như vậy, qua những trải nghiệm cá nhân, tương tác xã hội, trải nghiệm văn hóa mà con người tích lũy được những mô hình tri nhận
1.2.6 Lược đồ hình ảnh
Lược đồ hình ảnh biểu trưng cho các mẫu lược đồ từ các miền hữu ảnh (có hình ảnh) như vật chứa, đường đi, khớp nối hay cân bằng diễn ra trong phạm trù nghiệm thân và tạo thành trải nghiệm tự thân của con người thông qua ẩn dụ
Lược đồ hình ảnh là lược đồ trong nhận thức, tâm trí của con người Nó vừa có tính trừu tượng vừa có tính cụ thể bởi nó là kết quả của quá trình nghiệm thân Tri nhận là quá trình đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến cuộc sống thực tiễn Những tư duy này hoàn toàn xuất phát từ trải nghiệm để hình thành nên các biểu tượng tinh thần Cho nên về bản chất, chúng mang tính nghiệm thân
Trang 30Theo Johnson (1987), trong một hệ thống ý niệm, các lược đồ hình ảnh được khai triển từ kinh nghiệm nghiệm thân, cụ thể là các kinh nghiệm mà con người có tích lũy được trong quá trình giao tiếp với thế giới xung quanh Cho nên,
có lược đồ hình ảnh không chỉ đơn giản là hình ảnh được cụ thể hóa mà nó còn có tình trừu tượng Đó là những lược đồ xuất hiện trong trí não khi chúng ta tư duy
về một ý niệm nào đó Có thể nói, lược đồ hình ảnh đã cấu trúc những ý niệm trừu tượng của chúng ta một cách ẩn dụ, nó có vai trò:
(1) Lược đồ hình ảnh có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn các “ý nghĩa ngôn ngữ” (linguitis meanings) bởi vì nằm bên dưới các ý nghĩa là các lược đồ hình ảnh vốn cho thấy mối quan hệ ý nghĩa với kinh nghiệm nghiệm thân
(2) Lược đồ hình ảnh có thể giúp ta hiểu nhiều hơn về tư duy “trừu tượng” vốn cũng có cơ sở nghiệm thân Cấu trúc ý niệm một phần được tổ chức nên nhờ
“hệ thống ẩn dụ” vốn gắn kết với một hệ thống các liên tưởng hay “ánh xạ” (mapping) giữa các miền cụ thể và các miền trừu tượng: các lược đồ hình ảnh có thể cung cấp cơ sở cho những ánh xạ ẩn dụ đó [47, tr.60-61]
Lược đồ hình ảnh đặc biệt cung cấp chứng cứ quan trọng cho các quan điểm cho rằng tư duy trừu tượng bao gồm hai vấn đề: thứ nhất, tư duy xuất phát
từ trải nghiệm và thứ hai, sự phóng chiếu ẩn dụ diễn ra từ miền trừu tượng đến miền cụ thể Với quan điểm của mình, Johnson (1987) đã thuyết phục bằng các dẫn chứng sau [dẫn theo 30, tr.80]:
- Lược đồ hình ảnh cấu trúc trở thành tiên nghiệm qua trải nghiệm thân thể của con người chúng ta
- Các khái niệm lược đồ hình ảnh tương ứng thật sự tồn tại
- Ẩn dụ là ánh xạ các lược đồ hình ảnh vào các miền trừu tượng dựa trên logic
bị nhầm lẫn sang ẩn dụ truyền thống khi ngôn từ mang tính hình ảnh và giàu tính biểu cảm
Trang 311.2.7 Phân loại ẩn dụ ý niệm
Các nhà khoa học tri nhận đã đưa ra nhiều cách phân loại ẩn dụ ý niệm Kovecses (2002) tổng hợp lại bốn cách phân loại ẩn dụ ý niệm [dẫn theo 37, tr.59]:
(1) Cách phân loại thứ nhất: ẩn dụ ý niệm có thể phân loại theo tính quy
ước (tức là dựa trên mức độ quy ước), gồm có ẩn dụ có tính quy ước và ẩn dụ
phi quy ước Ẩn dụ có tinh quy ước cao thường ổn định, được sử dụng thường
xuyên và vô thức Còn ẩn dụ phi quy ước dùng các biểu thức ngôn ngữ mới mẻ, gây ấn tượng mặc dù người sử dụng vẫn nghĩ đến ẩn dụ ý niệm quy ước
(2) Cách phân loại thứ hai: dựa vào cấu trúc kiến thức hay các yếu tố ý niệm của sơ đồ hình ảnh Tuy nhiên, sơ đồ hình ảnh lại là cơ sở cho rất nhiều loại ẩn dụ
(3) Cách phân loại thứ ba: dựa trên mức độ khái quát, có thể phân ra ẩn
dụ khái quát và ẩn dụ cụ thể Ẩn dụ khái quát được cho là có cấu trúc khung đơn
giản và dễ dàng có hệ thống hóa cấu trúc ẩn dụ Còn ẩn dụ cụ thể là cấu trúc lược đồ tri nhận được chi tiết hóa trong sự chiếu xạ từ miền Nguồn đến miền Đích
(4) Cách phân loại thứ tư: dựa trên chức năng tri nhận, có thể phân ra ẩn
dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể và ẩn dụ định hướng
Trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn cách phân loại theo chức năng tri nhận Cách phân chia này giúp chúng ta nhận diện một ẩn dụ ý niệm trên cơ sở những lược đồ tri nhận, các thuộc tính chiếu xạ từ miền Nguồn đến miền Đích, các mô hình văn hóa và sự trải nghiệm của con người Ẩn dụ ý niệm có những loại chính như sau:
1.2.7.1 Ẩn dụ cấu trúc (Structural metaphors)
Với cách hiểu chung nhất, ẩn dụ cấu trúc (Structural metaphors) là ẩn dụ tri nhận khi một ý niệm này được cấu trúc hóa về mặt ẩn dụ trong thuật ngữ một
ý niệm khác Hay có thể nói, ẩn dụ cấu trúc là hiện tượng cấu trúc lại ý niệm ở miền Đích về mặt nghĩa sau khi nhận được những những tri thức mới (nét thuộc tính mới) do ý niệm ở miền Nguồn chiếu xạ Chẳng hạn, ở cấu trúc THỜI GIAN
LÀ TIỀN BẠC, ta thấy ý niệm TIỀN BẠC (miền Nguồn) đã cấu trúc hóa ý niệm THỜI GIAN (miền Đích) làm cho hai khách thể THỜI GIAN VÀ TIỀN BẠC trở
Trang 32nên tương đồng ở một phần nào đó Sự tương đồng này có thể thấy qua những
biểu thức ngôn từ được Lakoff & Johnson đưa ra trong Metaphors We live by
sau đây:
Bạn đang làm lãng phí thời gian của tôi
Tiện ích này sẽ tiết kiệm thời gian của bạn
Bạn sử dụng thời gian của mình như thế nào vào những ngày này?
Tôi đã đầu tư rất nhiều thời gian vào cô ta
Tôi không có đủ thời gian dành cho việc đó
Anh đang cạn kiệt thời gian
Bạn cần phải dự thảo quỹ thời gian của mình
Dành riêng ra một chút thời gian cho việc chơi bóng bàn
Điều này có đáng giá không?
Bạn còn nhiều thời gian không?
Anh ta đang sống bằng thời gian vay mượn
Bạn không sử dụng thời gian của mình một cách sinh lợi nhuận
Tôi đã đánh mất nhiều thời gian khi bị ốm
Cảm ơn thời gian bạn dành cho tôi
Trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, ẩn dụ cấu trúc thể hiện qua mô hình ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH:
“Trong xứ sở anh
Em bị lạc
Xứ sở hiếm hoi niềm vui
Khô khắt đến nao lòng”
(Tặng nỗi buồn riêng)
“Xứ sở anh” là đích đến, “lạc” là sự kiện trong hành trình, chỉ những phút
giây giận hờn, không hiểu nhau Trong câu thơ trên, miền Nguồn CUỘC HÀNH TRÌNH chiếu xạ đến miền Đích TÌNH YÊU
Có thể thấy, ẩn dụ cấu trúc cung cấp những hiểu biết về ý niệm miền Đích qua những trải nghiệm của con người Miền Nguồn cụ thể và dễ hiểu hơn, còn miền
Trang 33Đích thường trừu tượng và khái quát hơn
1.2.7.2 Ẩn dụ định hướng (Orientational metaphors)
Là ẩn dụ không cấu trúc hóa một ý niệm này trong thuật ngữ một ý niệm khác, mả tổ chức cả một hệ thống ý niệm đối với hệ thống khác Ẩn dụ định hướng liên quan đến việc định hướng trong không gian: TRÊN - DƯỚI (up - down), TRONG - NGOÀI (in – out), TRƯỚC – SAU (front – back), SÂU - CẠN (deep – shallow), TRUNG TÂM - NGOẠI VI (central – peripheral) … Những ẩn dụ định hướng cung cấp cho ý niệm ý nghĩa định hướng không gian Ví dụ, ẩn dụ HAPPY
IS UP (HẠNH PHÚC ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN, BẤT HẠNH ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI) của Lakoff và Johnson
I’m feeling up today (Tạm dịch: Hôm nay, tôi cảm thấy phấn chấn lên.) Đời lên hương
Bạn hãy vui lên
Tôi rơi xuống vực sâu của sự bế tắc
Đôi hàng mi cụp xuống
Theo Lakoff và Johnson thì ẩn dụ định hướng là “những giá trị cơ bản
nhất trong một nền văn hóa sẽ tương hợp với mô hình ẩn dụ của những ý niệm
cơ bản nhất của nền văn hóa” [10, tr 24] “Các hướng chính như lên – xuống, trong - ngoài, tâm -biên, chủ động – thụ động, v.v dường như giống nhau trong tất cả nền văn hóa, nhưng việc đánh giá những ý niệm nào được định vị theo hướng nào và hướng nào là quan trong nhất thì lại khác nhau trong mỗi nền văn hóa” [10, tr 27]
Trái tim dịu dàng, trái tim đằm thắm Sao em lại mang dáng lưỡi cày
Để đau buồn chạm vào em là buốt nhói
Để tình yêu chạm vào em là tốt tươi
(Nói với trái tim)
Trong ví dụ trên có thể thấy biểu ngôn từ “tốt tươi” dựa trên cơ sở văn hóa chỉ những cảm xúc tích cực khiến “em” phấn chấn và hướng lên trên là ẩn dụ định
hướng lên trên/up
1.2.7.3 Ẩn dụ bản thể (Ontological metaphors)
Trang 34Lakoff và Johnson định nghĩa ẩn dụ bản thể là phạm trù hóa những bản thể trừu tượng bằng cách vạch ra giới của chúng trong không gian Kovecses (2002) quan niệm cấu trúc tri nhận trong ẩn dụ bản thể ít hơn so với ẩn dụ cấu trúc bởi vì chức năng của nó chỉ là cung cấp các trạng thái bản thể cho các phạm trù chung để làm cụ thể hóa những miền ý niệm trừu tượng [dẫn theo 37, tr.65]
Ví dụ: tâm trí là một khái niệm rất mơ hồ, chúng ta không thể xác định được
nó về màu sắc, hình khối hay đặc điểm vật lí, nhưng qua con đường ẩn dụ bản thể, tâm trí sẽ trở nên cụ thể như một sự vật trong ý niệm TÂM TRÍ LÀ MỘT CỖ MÁY Ẩn dụ bản thể giúp chúng ta tư duy về thế giới theo hai cách:
(1) Quy chiếu, định tính và xác định các phương diện của những trải nghiệm
đã được làm rõ hơn Ví dụ vật thể hóa nỗi sợ hãi thành một vật có thể sở hữu được
như nỗi sợ hãi của tôi, nỗi sợ hãi của bạn…
(2) Khi những trải nghiệm mơ hồ được trạng thái hóa thông qua ẩn dụ bản thể thì những trải nghiệm được ý niệm hóa ấy có thể được cấu trúc thêm nữa bởi ý nghĩa của ẩn dụ cấu trúc Chẳng hạn khi chúng ta quan niệm tâm trí là một vật thể vật chất thì chúng ta có thể dễ dàng cấu trúc nó với những ý nghĩa của một cỗ máy qua ẩn dụ ý niệm TÂM TRÍ LÀ MỘT CỖ MÁY
Phạm vi của ẩn dụ bản thể mà chúng ta sử dụng cho những mục đích là vô cùng rộng lớn Việc lựa chọn được trải nghiệm của con người dưới dạng vật thể và chất liệu cho phép con người tự chọn ra một số trải nghiệm cho riêng mình Từ việc
chọn lựa đó thì chúng ta có thể tham khảo, phân loại, sắp xếp và định lượng và,
bằng cách này, ta đã có thể tranh luận về những vật thể hoặc chất liệu đó [10,
Thì tôi chẳng bao giờ đổi
Trái tim buốt nhức này
Để lấy một trái tìm bình yên khác
(Trái tim buốt nhức)
Trang 35Miền Đích TÌNH YÊU vốn là cái trừu tượng đã được cụ thể hóa qua miền
Nguồn bằng những hành động “đổi”, “lấy” chiếu xạ để khẳng định cho tình cảm
chân thành, chung thủy
1.3 Lâm Thị Mỹ Dạ, cuộc đời và thi phẩm
1.3.1 Tác giả Lâm Thị Mỹ Dạ
Lâm Thị Mỹ Dạ dùng chính tên mình làm bút danh Bà sinh ngày 18 tháng
09 năm 1949, quê ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình
Năm 1968, Lâm Thị Mỹ Dạ tốt nghiệp PTTH và về công tác ở Hội văn nghệ Quảng Bình đến năm 1978 Năm 1972, khi mới 23 tuổi, chị được giải nhất cuộc thi
thơ báo Văn Nghệ với 3 bài thơ Đường ở Thủ Đô, Khoảng trời hố bom và Chuyện
cổ nước mình Năm 1978, bà học trường Đại học Văn hóa, khoa Viết văn và trở
thành Hội viên Hội nhà văn Việt Nam Bà tốt nghiệp Đại học năm 1983 Năm 1988
bà học chương trình Cao học tại Học viện Văn học Gorky (Nga)
Lâm Thị Mỹ Dạ làm phóng viên, biên tập viên văn học, Ủy viên Ban chấp hành Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên - Huế, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam,
ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa III, ủy viên Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam khóa V
Hiện bà đang sống tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế Chồng bà, Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng là một nhà văn, nhà thơ có tiếng ở Việt Nam
Bà từng vinh dự nhận được các giải thưởng:
- Giải Nhất cuộc thi thơ báo văn nghệ 1971 - 1973;
- Giải thưởng Văn học Hội Nhà văn Việt Nam cho tập thơ "Bài thơ không năm tháng"
- Giải A thơ của ủy ban toàn quốc các Hội LHVHNT Việt Nam năm 1999
- Giải A thơ Giải thưởng văn học Nghệ thuật Cố đô (1998-2004) của UBND tỉnh và Hội LH VHNT Thừa Thiên Huế
Năm 2005, tập thơ "Cốm non" của bà được dịch ra tiếng Anh, in và phát hành tại Hoa Kỳ
Năm 2007, bà được Chủ tịch nước tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật với 3 tập thơ: "Trái tim sinh nở" (1974), "Bài thơ không năm tháng" (1983) và "Đề tặng một giấc mơ" (1988)
Trang 361.3.2 Thi phẩm Lâm Thị Mỹ Dạ
Các tập thơ đã được xuất bản của Lâm Thị Mỹ Dạ:
- Trái tim sinh nở, NXB Văn học, 1974
- Bài thơ không năm tháng, NXB Tác phẩm mới, 1983
- Hái tuổi em đầy tay, NXB Đà Nẵng, 1990
- Mẹ và con, NXB Phụ nữ, 1995
- Đề tặng một giấc mơ, NXB Thanh niên, 1999
- Tập thơ “Cốm non” (Green Rice) được dịch ra tiếng Anh, in và phát hành
tại Hoa Kỳ, 2005
1.3.3 Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, đề tài và thi pháp
1.2.3.1 Đề tài thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đa dạng về đề tài, với tập thơ Trái tim sinh nở gồm 25
bài thơ là sự phản ánh cuộc sống đau thương mà anh dũng của dân tộc ta trong những năm kháng chiến chống Mỹ ác liệt Tập thơ bộc lộ tình cảm xót xa và
niềm tin thắng lợi của cuộc cách mạng Bốn bài thơ trong tập này gồm: Gặt đêm
Khoảng trời – Hố bom, Tin ở bàn tay, Đường ở thủ đô đã giúp Lâm Thị Mỹ Dạ
đạt giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ năm 1972-1973
Tập Bài thơ không năm tháng gồm 25 bài thơ là sự tiếp nối tự nhiên của mạch thơ trong tập Trái tim sinh nở Lâm Thị Mỹ Dạ tiếp tục viết về chiến tranh
với sự lắng đọng Nhà thơ bộc lộ nỗi đau xót và niềm kính phục trước sự hy sinh cao quý của những người đã ngã xuống vì quê hương, đất nước Bên cạnh đó, bà còn ca ngợi truyền thống quý báu của dân tộc, những suy nghĩ, cảm xúc về tuổi thơ cũng được bà thể hiện trong tập thơ này
Với tập thơ Hái tuổi em đầy tay gồm 40 bài, trái tim giàu lòng yêu thương
của Lâm Thị Mỹ Dạ còn đau đớn với nỗi đau của người mẹ có con hi sinh nơi chiến trường, với nỗi đau của người lính để lại phần thân thể trong chiến tranh
Đó là những cảm xúc về vẻ đẹp của quê hương đất nước, về tình cảm gia đình sâu nặng như tình bà cháu, tình mẫu tử, tình bạn, tình yêu
Tình mẫu tử thiêng liêng được Lâm Thị Mỹ Dạ khắc họa một cách đẹp đẽ,
trong trẻo, khiến trái tim khô cứng nhất cũng phải thổn thức qua tập thơ Mẹ và
con Qua 25 bài trong tập thơ này, người đọc sẽ cảm nhận được tình mẫu tử là
Trang 37dạng thức nguyên khôi nhất của tình yêu con người
Sự đổi mới về thi pháp được Lâm Thị Mỹ Dạ thể hiện nổi bật ở tập Đề
tặng một giấc mơ Có đến 37 bài trong số 46 bài trong tập thơ này, Lâm Thị Mỹ
Dạ đã lấy bản thân mình làm đối tượng phản ánh để từ đó nhìn ra nhân thế Bà
đã tự soi tỏ đến tận cùng chân thật nỗi lòng mình Đó là những ám ảnh, tiếc nuối trước sự tuyến tính của thời gian, đó là nỗi buồn, nỗi cô đơn trong khoảnh khắc đối diện với bản thân, đó là niềm khao khát về một tình yêu tuyệt đích
Nhìn chung, qua nhiều chặng thơ khác nhau nhưng thơ Lâm Thị Mỹ Dạ vẫn nhất quán vẻ đẹp chung, đó là vẻ đẹp ngọt ngào, đằm thắm và đầy nữ tính
Và đó chính là sự hấp dẫn thơ của bà với tâm hồn người đọc
1.2.3.2 Thi pháp
Theo Hồ Thế Hà, Lâm Thị Mỹ Dạ là “nhà thơ nữ hiếm hoi thời hiện đại,
tự nguyện đi vào thế giới rộng rinh, huyền ảo ấy và vững tin mình không lạc
khỏi chính mình Tập thơ Ðề tặng một giấc mơ của chị đã khẳng định một thi
pháp riêng Thi pháp ấy lấy chính bản thân mình làm đối tượng và dám vực dậy
từ những giấc mơ tro vùi, những "Dư âm mặn như nước mắt", "Những chiếc lá phát sáng mầu huyền thoại" và nỗi buồn "Chết như từng giọt sương - Rơi không thành tiếng để mơ thành giấc mơ", để nhìn ra tha nhân và nhận lại những ngọt ngào, hy vọng sau khi đã soi thấy tận sâu thẳm tâm hồn mình "như bầu trời thấy mình qua dòng sông" ở đó, tác giả tự thanh lọc và rút ra quy luật "Sức mạnh phù du chỉ là thoáng chốc", bởi vì muôn đời "vầng trăng xanh biếc" và "trái tim dịu dàng - Dịu dàng đến tận cùng trong suốt" vẫn đang đồng hành cùng tình yêu
và cõi nhớ” [16]
Gặp mình, tìm mình, tự vấn, tự thú, tự thoại về mình là tiếng nói khẩn thiết trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ - với cách đó, nhà thơ mới hiểu hết con người và chính mình Ðó là ý thức tận cùng của cái tôi tự biểu hiện, cái tôi tự soi tỏ:
Một mình lắng, một mình nghe
Ơ kìa cái cõi - đi - về gang tay!
Một mình cho hết đêm nay
Ta ngồi với bóng ôm đầy nhân gian
Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ giàu ý tứ Tứ thơ bao giờ cũng là bất ngờ Hình như không tạo được tứ lạ thì bài thơ vẫn còn trong dự tưởng Tất cả các bài trong tập
Trang 38đều có tứ, đặc biệt là những bài: Làm gì có biển, Mưa, Người mù cầm đèn, Một
mình, Tôi thấy mình Trong bài Với biển, tứ thơ rất lạ Tác giả một mình chạm
ly với biển rồi tự nghĩ đó là hành động lãng mạn ngông cuồng, rồi dựng lên chân dung biển để đối thoại, và cuối cùng chấp nhận sự cô độc cao sang trước biển đời giông bão Hướng ngoại là thi pháp thơ một thời để nói những vấn đề hệ trọng của dân tộc, thời đại Ðó là điều cần thiết và cao cả, qua đó, thơ thực sự tồn tại có ích giữa cộng đồng Giờ đây, thơ có nhu cầu quay lại chính mình để từ mình nhìn ra nhân thế Trong con người, hiện lên những vui buồn, ân nghĩa nhưng phải là những con người có một cuộc đời âm vang và quan trọng hơn là
sự chân thật đến tận cùng với chính họ Lâm Thị Mỹ Dạ đã làm cuộc hành trình này trong thơ đầy trăn trở và bên sau những câu thơ là dự cảm lớn về khát vọng vĩnh hằng Nỗi buồn, nỗi đam luyến và sự cô đơn trong thơ bà là có thật, đồng thời là một lựa chọn nghệ thuật, là quan niệm mỹ học
Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ là tiếng nói đồng cảm đầy khẩn thiết của bao nhiêu
số phận, trong đó, hướng về chung quanh trong sự khai thác cạn kiệt chính mình là cái nhìn nhân ái, là thi pháp tự suy đã qua chiêm nghiệm và thay đổi ngôn từ thi
ca Thơ bà kết hợp được chất thực cuộc sống và ngôn ngữ đa dạng, tạo ra những dồn ép, biến ảo, chồng chéo về hình ảnh, đối tượng như huyền thoại, cổ tích nhưng không hề có dấu vết của sự làm dáng Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ hồn nhiên, tuân thủ cảm xúc và từ trái tim thi sĩ nhạy cảm mà thành
Sức hấp dẫn và giá trị của thơ Lâm Thị Mỹ Dạ nằm trong đường biên của cái tôi và cái ta, giấc mơ và hiện thực, sự tự chôn vùi và sự tự nổ tung, giữa những gì đã qua và những gì sẽ đến; bên cạnh cái hư ảo mong manh ta bắt gặp cái biếc xanh, bỡ ngỡ Và vì vậy, đó là tiếng nói của sự va chạm, sinh thành Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ không xa rời thi pháp truyền thống nhưng luôn phá và thay
để làm giàu có cái phần hiện đại cần thiết của thơ Thơ của bà tự nhiên cứ tưởng thốt ra là thành, không cần sửa chữa nhiều lắm nhưng đó là cái tự nhiên của một tâm hồn đã chín, của những tứ thơ câm lặng, lãng quên được đánh thức sau giấc ngủ mặt trời, lúc mà cái tôi nghệ sĩ được lên ngôi cùng với những giấc mơ phát sáng màu huyền thoại
Trang 391.4 Tiểu kết
Ở Chương 1, những nét khái quát về ẩn dụ trên có phương diện ẩn dụ theo
quan niệm truyền thống và ẩn dụ ý niệm đã được chúng tôi trình bày Ẩn dụ ý niệm là một phương thức tư duy của con người, nó có mối quan hệ sâu sắc trong
bộ ba là ngôn ngữ, văn hóa và tư duy Ẩn dụ ý niệm là công cụ hữu hiệu để con người ý niệm hóa các khái niệm trừu tượng
Ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương nói riêng và thi ca nói riêng là ngôn
từ được gọt giũa, có sự chọn lọc Mỗi bài thơ đều chuyển tải những cung bậc cảm xúc và thông điệp nghệ thuật nhất định Trong lúc con người thăng hoa mặc sức cho những ngôn từ tuôn trào cũng là lúc trở về với bản ngã của sức mạnh vô thức trong tư duy ý niệm Nhà tâm lí học Sigmund Freud đã từng phát biểu:
“Trước tôi, các thi sĩ và triết gia đã sớm phát hiện ra vô thức, còn tôi chẳng qua cũng chỉ khám phá ra những phương pháp khoa học để nghiên cứu vô thức mà thôi” [37] Chính nhờ các tác phẩm thơ mà khả năng tư duy với các ý niệm tiềm
ẩn trong tâm trí con người được sống dậy, điều mà ngôn ngữ học tri nhận với những nghiên cứu sâu sắc về tâm lí con người đã chứng minh
Những vấn đề lí luận ở Chương 1 sẽ được minh chứng tiếp theo ở Chương
2 và Chương 3 qua việc khảo sát ẩn dụ ý niệm trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
Trang 40CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT MÔ HÌNH TRI NHẬN CỦA ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊU
TRONG THƠ LÂM THỊ MỸ DẠ XÉT TỪ MIỀN NGUỒN
2.1 Dẫn nhập
Lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận, đặc biệt ẩn dụ tri nhận/ẩn dụ ý niệm đã chỉ
ra rằng miền Nguồn và miền Đích thường xuất hiện trong ẩn dụ ý niệm Những miền ý niệm trừu tượng như đạo đức, chính trị, tôn giáo, cuộc đời,… được cụ thể hóa thông qua những miền ý niệm ít trừu tượng hơn như cơ thể người, thế giới động vật, thực vật… Thông qua quá trình chiếu xạ mà miền trừu tượng trở nên cụ thể và đặc trưng cho lối tư duy của một dân tộc Mô hình cấu trúc ẩn dụ ý niệm gồm miền Nguồn và miền Đích và mối quan hệ chiếu xạ giữa hai miền ý niệm Miền Nguồn thường là ý niệm cụ thể chiếu xạ đến ý niệm trừu tượng ở miền Đích Mỗi ẩn dụ ý niệm đều có một lược đồ chiếu xạ, trong đó miền Nguồn chiếu xạ đến miền Đích những thuộc tính tiêu biểu của nó để cụ thể hóa cho đối tượng ở miền Đích
Trong khi phân tích chiếu xạ từ miền Nguồn đến miền Đích, chúng tôi sẽ nêu lên các thuộc tính tiêu biểu mang tính phổ quát của mỗi miền Nguồn qua các lược đồ tri nhận Sau đó tiến hành khảo sát trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ để thấy được đặc điểm của từng thuộc tính với những biểu hiện cụ thể qua các yếu tố chiếu xạ và con số thống kê
Để tìm hiểu các thành tố trong mô hình tri nhận của các ẩn dụ ý niệm trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, chúng tôi tiến hành các bước cơ bản sau:
Bước 1: Nêu danh sách những ẩn dụ ý niệm về tình yêu xuất hiện trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
Bước 2: Dựa trên các hệ thống ngữ liệu đã được khảo sát để tìm những thuộc tính điển hình được xây dựng ở miền Nguồn Từ đó, thiết lập lại miền ý niệm Nguồn với những thuộc tính điển hình được lựa chọn tương ứng với đặc điểm ở miền Đích
Bước 3: Phục hồi chiếu xạ giữa hai miền ý niệm Nguồn và Đích để khám phá mối quan hệ tương thích giữa miền Nguồn và miền Đích, qua đó nhận thức cấu trúc ý niệm về tình yêu trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ