Cái tôi từng trải

Một phần của tài liệu Tính nữ trong thơ nguyễn thị mai (Trang 45 - 55)

Chương 2 CÁI TÔI TRỮ TÌNH HIỆN THÂN TÍNH NỮ TRO G THƠ

2.2. Các dạng thức cái tôi trữ tình trong thơ guyễn Thị Mai

2.2.2. Cái tôi từng trải

Trong cuộc đời của mình, với vị trí công tác cũng nhƣ sở thích cá nhân Nguyễn Thị ai có cơ hội đi nhiều nơi, gặp nhiều người. Thơ đối với bà cũng

nhƣ nhật kí ghi lại những chuyến đi. Đi đến đâu bà cũng quan sát và đƣa vào thơ những hình ảnh rất đ i thân quen và đời thường của m i miền đất mà mình đã có dịp trải nghiệm. Khá nhiều bài thơ bà viết từ những chuyến đi, những cuộc gặp gỡ. Những bài thơ bà viết từ những chuyến đi mang hơi thở cuộc sống, tái hiện bức chân dung một người phụ nữ luôn mở rộng tâm hồn để hòa nhập với cuộc đời. Những bài thơ không phải đƣợc viết bằng mắt mà đƣợc viết bằng những thổn thức bên trong tâm hồn một người phụ nữ luôn thấu hiểu và từng trải. Một người phụ nữ luôn tảo tần, đảm đang, biết r đâu là thực, đâu là mơ, biết rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, hiểu rõ cái nghiệt ngã của kiếp nhân sinh và cái chênh vênh của người phụ nữ làm thơ.

2 2 2 1 Trải nghiệm t những huy n đi

Công việc tạo cho bà cơ hội trải nghiệm nhiều chuyến đi đến mọi miền của quê hương tổ quốc, m i miền đất đều để lại cho bà một ấn tượng khó phai.

Đến đâu nhà thơ cũng cảm thấy mến yêu và gắn bó với Tổ quốc, địa danh nào đi qua cũng được bà nhắc đến một cách đầy thương yêu, trìu mến, m i miền đất là một miền kí ức nhớ thương.

Trong chuyến đi công tác Quảng Bình, nhà thơ đƣợc một lần trải nghiệm tâm trạng của bà huyện Thanh Quan khi qua Đèo gang:

“ gợp hồn say ngắm giang san

gẫm thơ bà Huyện Thanh Quan một thời”...

n đ u qu o Ng ng) Đến miền Trung, cảm được sức nóng của gió ào, cát trắng, bà thương những con người vô danh đã nằm lại trong l ng đất, để giữ vững mảnh đất miền Trung anh dũng, kiên cường:

“Em đi cát trắng gió ào

Phía Trường Sơn sóng dạt dào miền Trung goái thương biển ở sau lưng

ng đau trước mặt cánh rừng trắng bia”

(Nhật í đi mi n Trung)

Qua xứ Huế mộng mơ, bà bị cuốn vào không gian trầm mặc của v ng cố đô văn hiến: “Đ đang trôi chơi vơi ời ai đang gọi mời gự Bình đà trước mặt Bóng núi sà l ng tôi” Phá thảo h n m nh trư u ) Đến với ha Trang, trái tim guyễn Thị ai không khỏi xao động trước vẻ đ p của đất trời v ng biển miền Trung xinh đ p: “Cũng bao la gió ngàn tr ng à trong xanh đến tận c ng trăng sao Tuần gâu không hạt mƣa nào Dành riêng nắng, đón tôi vào ha Trang”(Nha Trang). Về với Cà au, nơi tận c ng của Tổ quốc, trước rừng mắm đước hiền lành nơi Đất ũi vụt biến thành anh h ng vô danh ngàn năm mở c i. hà thơ không khỏi xúc động, bồi hồi: “Không là đại ngàn, đại thụ Cứ bền xanh sức trường tồn Vuốt nhọn dài thêm Đất ũi Tổ quốc ngày một lớn hơn” T ơn mắm đư ) Khi phải tạm biệt những v ng đất mà mình đã đi qua, guyễn Thị ai l ng đầy lưu luyến: “Biết bao giờ gặp lại Cơn mƣa chiều ong uyên/ Hậu Giang duềnh sóng nước ây sũng trời Tịnh Biên” N i ni m v i ong uyên) D đã có cơ hội đi đến rất nhiều miền quê trên đất nước Việt am, nhưng đối với guyễn Thị ai thì quê hương nơi bà sinh ra, nơi chôn rau cắt rốn với những kỉ niệm tuổi thơ đầy ắp vui buồn mải là mảnh đất đ p nhất trong kí ức. Cội nguồn hay nói cách khác là chất xúc tác cho tình yêu tổ quốc, yêu mến các v ng miền trên khắp dài đất hình chữ S cũng bắt nguồn từ tình yêu quê hương da diết, hướng về cội nguồn, coi trọng tình làng nghĩa xóm ở quê xưa. Giống lời bài hát “Quê hương là ch m khế ngọt Cho con trèo hái m i ngày” viết về quê mình, bà dành cho miền đất ấy những vẫn thơ xiết đ i ngọt ngào: “Thôi về, theo ngọn gió quê Đồng thơm, sông mát, bờ đê trăng vàng Đêm lành bống bống bang bang Ch m sao tát nước ì oàm sau tre” i ru ái n ng) Bên cạnh Hà ội, mảnh đất Hà Tây nơi cô giáo guyễn Thị ai nhận công tác lần đầu tiên và nơi bà dạy học gắn bó 15 năm, nó như quê hương thứ hai của bà. Chính vì thế, bà cũng để thương để nhớ cho mảnh đất này:

“Vạn đ chỉ một trƣa thôi à bồng bềnh mãi hồn tôi đến giờ”

ng nh m n)

i v ng đất guyễn Thị ai đi qua, m i con người, số phận hoàn cảnh mà bà gặp gỡ đều để lại trong bà niềm yêu mến, trân trọng, tự hào. Đƣợc tham dự nhiều sự kiện có ý nghĩa của quê hương, của đất nước, bằng tấm l ng chan chứa yêu thương và sự từng trải, guyễn Thị ai đã đưa vào thơ nhiều hình ảnh vô c ng ý nghĩa. ăm 1979, trong vai tr là cô giáo trẻ đƣa học tr của mình đi t ng quân trong cuộc chiến tranh biên giới Việt Trung, bà không nén nổi xúc động:

Cái háo hức nhân lên, niềm vui chia để lại Con gái con trai

ghe họ cười không đoán nổi ai đi...”

Th ng y r qu n) Trong cuộc chia tay ấy h n có rất nhiều người, có người m , người cha, người thầy, người cô, có bạn bè, anh chị... tiễn người ra đi họ chỉ nắm tay bịn rịn, lặng thầm, họ cười nói, chúc tụng, động viên nhau bằng những lời tốt đ p may mắn nhất. Trong thâm tâm họ chắc h n ai cũng hiểu rằng, cuộc ra đi này rất có thể là mãi mãi không có ngày trở lại, là bom rơi đạn lạc, là mất mát, đau thương. hưng ai cũng hiểu đó là sự ra đi cần thiết, là trách nhiệm, là vinh dự, là sự đáp lời với non sông tổ quốc, chính vì thế cuộc chia tay chỉ có tiếng cười và nghe họ cười không đoán nổi ai đi.

Trong chuyến đi thực tế của mình, guyễn Thị ai đã có cơ hội đƣợc trải nghiệm cuộc sống sinh hoạt trên quần đào Trường Sa. ơi đây chỉ có sóng, gió, cát và san hô. a khô thì nước ngọt quý hơn vàng, m a mưa bão thì mở mắt ra là sóng chồm lên tận mặt đe dọa nhấn chìm cả điểm đóng quân. hững khó khăn thiếu thốn ấy dường như không hề giảm bớt được nhiệt huyết của tuổi trẻ Trường Sa: “Ba thừa, hai thiếu, ba khan Thừa nắng, sóng, gió. Thiếu ngàn rau xanh Thiếu nước ngọt, khát gia đình Khát công văn, khát ấm tình quê hương”

Như đ đ n Trư ng ) Vƣợt lên muôn ngàn thiếu thốn cả về vật chất lẫn tình cảm, người lính đảo vẫn lạc quan, trẻ trung, yêu đời: “ hững người lính trẻ như nhau Tóc đ a gió biển, da màu nắng non Thả neo một chu i cười gi n àm nghiêng mạn phía em c n...chung chiêng” Như đ đ n Trư ng ) hờ sự tinh tế và những trải nghiệm rất riêng của người đàn bà Việt từng trải,

guyễn Thị ai đã nhận ra những nét rất riêng của những chàng trai lính đảo.

Trong con người họ hôm nay, có sự anh dũng, can trường của cha ông để lại, có sự thông minh, nghị lực, nhanh nh n, sáng tạo của tuổi trẻ thời đại mới. Bằng sự từng trải của mình guyễn Thị ai đã ngợi ca những người lính tuyệt vời ấy, lời thơ của bà c n là sự gửi gắm l ng biết ơn sâu sắc của nhân dân và những người con đất liền, của quê hương, đất nước gửi đến các anh.

hiều đoàn văn công, nhà báo, đoàn tình nguyện đã đến với người lính nơi hải đảo xa xôi để trải nghiệm, động viên, chia sẻ kịp thời với họ. Trong những con người ấy, có guyễn Thị ai, chuyến đi sẽ khiến bà thêm yêu con người và quê hương của mình: “Rồi em sẽ tin yêu hơn Sau lần gặp người lính đảo Và em sẽ vững vàng hơn i khi cuộc đời dông bão” i m r v i i n).

Chuyến đi mang quê ra đảo của guyễn Thị ai đã làm giàu có hơn cái tôi của nhà thơ.

2 2 2 2 Trải nghiệm t những mảnh đ i hiện hữu quanh mình

guyễn Thị ai đã viết nên những bài thơ giản dị về nhiều miền quê trên đất nước Việt am bằng tất cả trái tim yêu thương, sự từng trải và l ng yêu nước nồng nàn, tha thiết. i v ng đất bà đi qua, m i con người, số phận, hoàn cảnh mà bà đã gặp đều để lại trong l ng guyễn Thị ai niềm yêu mến, trân trọng. Không chỉ yêu mến cảnh đ p quê hương đất nước, tự hào về truyền thống tốt đ p của dân tộc mà bà c n xót thương, cảm thông, sẻ chia với bao phận người trên m i địa điểm, miền đất từng in dấu chân bà. Cái tôi trữ tình đầy tính nữ của người đàn bà từng trải, có tuổi thơ nhọc nhằn, sống trong cảnh chắp vá hạnh phúc gia đình nên bà thấu hiểu căn nhà trống vắng khi không có đầy đủ các thành viên trong gia đình sẽ khiến đứa con buồn bã biết bao nhiêu: “Không có bố, không thì giờ Bữa ăn sớm muộn, ch ng chờ, ch ng mâm” (Nh hông ố). Khi có dịp đến H a Bình, tiếp xúc với các nữ công nhân nông trường sông Bôi, cảm thông trước hoàn cảnh của những gia đình thiếu vắng người đàn ông, nhà thơ hướng l ng mình vào thực trạng ấy với sự cảm thông và sẻ chia sâu sắc.

Với m i gia đình, bữa cơm là lúc sum họp, vợ chồng con cái cười nói vui vẻ, dặn d , bảo ban, quan tâm lẫn nhau. hƣng bữa cơm của những gia đình không

có bố thì ăn tạm bợ, qua quýt cho xong... Thậm chí, mƣa bão trở trời, căn nhà dột nát thiếu vắng bàn tay chèo chống của người đàn ông trở nên trơ trọi và hoang vắng đến lạ:

“ gày đông gió bấc mƣa dầm Dậy che mái dột, âm thầm m con”

(Nh hông ố) Gia đình nhỏ dẫu có nghèo khó, thiếu thốn nhƣng đủ đầy các thành viên sẽ vẫn là hạnh phúc, nhƣng gia đình đã vất vả lại côi cút, hoang vắng khi thiếu bóng dáng người cha thật khiến người đọc cảm thấy day dứt. gày khô, ngày nắng hai m con c n có thể đắp đổi qua ngày, ngày đông giông bão cái lạnh ngoài trời sao thấm bằng cái lạnh chính tâm can. Biết là vì hoàn cảnh, biết là đánh đổi để nhận chút hạnh phúc dư thừa của người đời nhưng sao bức tranh gia đình của Nh hông ố với dáng âm thầm của m con cứ ám ảnh mãi trong l ng người đọc.

Thơ guyễn Thị ai viết về cuộc sống đã hay nhƣng viết về cuộc sống của những người phụ nữ gần bà, quanh bà, c n hay và thấm thía hơn. Phải chăng sự đồng cảm ấy xuất phát từ một cái tôi nội cảm giàu suy tƣ, đầy trăn trở và nhiều trải nghiệm, từ những ngày thơ ấu đến khi trưởng thành.

guyễn Thị ai đã từng làm rất nhiều nghề đề mưu sinh. Đã từng là cô giáo, rồi viết văn, làm thơ nhưng bà không phải là người phụ nữ bên sách vở với đôi tay trắng đ p, n n nà mà là người phụ nữ gánh vác nghĩa vụ và tình thương với những người thân trong gia đình và cả những người có cảnh ngộ khác nhau sống quanh mình...Vì thế, bà thấu hiểu n i vất vả của những người phụ nữ cửu vạn trong chợ đêm ong Biên:

“Chợ đêm d bão d mƣa

Vẫn đông người vợ, vẫn thưa người chồng Chuyển khuân, bốc dỡ, gánh gồng ón che kín mặt kiếm đồng sinh nhai”

h đêm ong iên)

Phiên chợ đêm ong Biên trong thơ guyễn Thị ai thật đặc biệt, phiên chợ hình như đi ngược với thông thường “đông người vợ”, “thưa người chồng”.

Có gì lạ ở đây, chuyện đi chợ, chuyện buôn bán sao lại so sánh: đông - thƣa, vợ - chồng. Thì ra đây là lối nói ngƣợc để gây chú ý của guyễn Thị ai. Thói thường, như một sự mặc định, phụ nữ vốn chân yếu tay mềm, họ phải được yêu thương, nâng niu, đỡ đần, thế nên việc khuân vác nặng nhọc ấy thì bóng dáng người chồng ở đâu Hình như cái trái khoáy của cuộc sống ở đâu cũng có, phiên chợ vất vả khó khăn, tất tưởi mưu sinh ấy lại có biết bao người phụ nữ đang bon chen, giành giật. ệt mỏi là thế, nặng nhọc là thế nhưng những người phụ nữ yêu lao động, chăm làm, chịu thương chịu khó vẫn nhắc nhau nh nhàng để giữ lành quả ngọt, rau tươi. iềm hạnh phúc của họ là kiếm về những đồng tiền lấm lem mồ hôi nước mắt, là cơm lành canh ngọt cho những đứa con, là manh quần tấm áo cho trẻ.

Bên cạnh sự sẻ chia đồng cảm với người lao động vất vả, bà c n dành tình cảm quý mến, trân trọng với những người dân quê thật thà, tốt bụng, quý người:

“Người quê mắt biếc l ng son Dâu hiền là trọng làm con cái nhà” on v inh ắ m d u) uất thân từ con gái nhà nông, guyễn Thị ai luôn thương cảm với những người nông dân trồng lúa: “ ại tiền, lại giống, lại công Bao nhiêu, cho hết nhọc nhằn” Thương v y m )

ghề nông không chỉ vất vả, cực khổ mà c n phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết. Trời rét hại làm mạ run chết xám nên không cứu nổi m a, thế nên người nông dân d quanh năm bán mặt cho đất, bán lƣng cho trời vẫn không thể khấm khá hơn. Câu thơ gợi nhớ đến hình ảnh người m nông dân trong thơ Tố Hữu:

“Bầm ơi có rét không bầm Hiu hiu gió núi, lâm thâm mƣa ph n Bầm ra ruộng cấy bầm run Chân lội dưới b n tay cấy mạ non” m ơi – Tố ữu) Cuộc sống của người nông dân đã vất vả, cuộc sống của người công nhân cũng không khá gì hơn, guyễn Thị ai đã c ng vào ca ba với họ để thấy: “Thương những đêm đi làm Đường khuya mưa phố vắng ột mình em thầm lặng ón che, quay ch ng chành” ng m v o )

Tình cảm chân thành ấy cũng được nhà thơ dành cho người thợ sông Đà với bao khó nhọc làm ra ánh sáng: “ ghĩ thương anh m a thi công vất vả gày dãi nắng công trường, đêm thức mắt quầng sâu” ( i thơ th i trư t ng những ngư i th sông ). Thương bà, thương m , thương chị, thương em bằng tình thân, tình ruột thịt, cái tôi từng trải của guyễn Thị ai c n đồng cảm, sẻ chia với những người sa cơ, d họ chỉ là những nữ t nhân đã một đời lầm lỡ: “Chợt thoáng ngoài xa cổng trại Trong ngần tiếng trẻ cười vang Bao gương mặt buồn b ng ngẩng C ng quay nhìn hướng có làng” Những ngư i đ n đ n giỏ).

hìn những người phụ nữ đã từng lầm l i đang lao động trong trại cải tạo, guyễn Thị ai không trách cứ, không lên án mà rất sẻ chia và thấu hiểu. i con người, m i số phận lại có một câu chuyện đời riêng, câu chuyện ấy d hay, d dở thì kết cục của họ hiện giờ vẫn là đã phải trả giá và đã đƣợc trả giá. Có thể trong những gương mặt buồn ấy có nhiều nuối tiếc, ân hận nhưng điều mà họ đau đáu nhất chắc chắn là những đứa con. Trong không khí im lìm đến đáng sợ của nhà giam, chỉ có tiếng nói cười của trẻ thơ mới có thể gọi họ về miền thương nhớ. ột n i đau rất bản năng, một khao khát rất đàn bà, đó là khao khát gia đình, khao khát tiếng nói cười của những đứa trẻ, tiếng trẻ cười vang đã đánh động đến tận sâu tâm hồn người nữ t nhân, nhắc họ về mọi nẻo bình yên c n đang chờ đợi. Thơ guyễn Thị ai là thế, hình ảnh thơ rất giản dị, gần gũi, tứ thơ ngẫu nhiên nhƣng đều hàm chứa những ý nghĩa rất sâu sắc, từ căn nhà dột với bóng hình âm thầm của hai m con đến tiếng trẻ cười vang đều là những hình ảnh thơ đầy ý nghĩa. Bằng cái tôi từng trải của người phụ nữ và là m của những đứa con, guyễn Thị ai cảm nhận đƣợc sâu sắc những khát khao buồn vui trong tâm hồn những người phụ nữ ấy.

Hơn ai hết, với cái tôi từng trải và trái tim đầy mẫn cảm của người phụ nữ làm thơ, guyễn Thị ai ý thức được thân phận nổi trôi của người c ng giới:

“Thân em nhƣ tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai” (Ca dao). ang theo giấc mơ đổi đời, những tấm lụa đào ngày nay không cam chịu phất phơ để làm món hàng chọn lựa nữa, họ chủ động lựa chọn, chủ động giành giật cơ hội để vào đài các chứ không sa ruộng cầy. Vậy mà, sự đời trớ trêu thay, đâu phải

cuộc hôn nhân xuất ngoại nào cũng thành công, đằng sau giấc mơ đổi đời, sang trọng, đƣợc yêu chiều và hơn hết là có tiền bạc gửi nhiều về quê là những sự thật đau xót: “ gày vui thốc chuyến tàu nhanh hà trai vắng mặt cũng thành cưới xin” Ngh h m d u) Hay: “ ứ người chắp cánh bay cao Khi tiếp đất tỉnh chiêm bao ngay mà” Ngh h m d u)

Trước v ng xoáy của kinh tế thị trường, guyễn Thị ai vừa thương cũng vừa giận những cô gái trẻ ôm ƣớc mơ đổi đời nhanh chóng. Hạnh phúc đâu phải là thứ có thể kiếm tìm một cách hời hợt đến thế, giàu sang đâu phải có thể giành giật dễ dàng. guyễn Thị ai xót xa nhƣng cũng th ng thắn cảnh tỉnh để dập tắt những mơ ƣớc viển vông ấy: “Gối tay chạm mớ tóc thề Đêm đêm thảng thốt cơn mê đổi đời” Ngh h m d u)

C ng cơn mê đổi đời ấy, nhiều ông chủ, bà chủ mới nổi lên, bao con người, bao số phận bị kéo vào cơn lốc xoáy tiền tài danh vọng. hà thơ đau đớn thốt lên:

“Vợ mất chồng, con mất cha Chỉ vì miếng cơm đổi quặng”

Trống Pá ng)

ền kinh tế thị trường khiến con người đổi thay từ suy nghĩ đến hành động, tính cách. à người phụ nữ trí thức am hiểu sâu sắc xã hội, lại là người đàn bà làm thơ từng trải, thấu cảm sự đời, bà xót xa trước nghịch cảnh người phụ nữ chấp nhận đẻ thuê, bán đi đứa con máu mủ của mình, thậm chí bán mình để đổi lấy đồng tiền đen bạc: “ bán con, cả gái cả trai Cầm tiền từ lúc bào thai chưa đầy Hoa ngàn bán đó nuôi đây hụy hương vài chục, gió mây một đời” N i ni m qu tr ng áo)

ằm nghĩ vẩn vơ, guyễn Thị ai chợt giật mình đau đớn, trăn trở, biết đâu, sự đời trớ trêu, người phụ nữ bán mình bán con ấy lại từng là tr của mình:

“ ặng l ng chạnh nghĩ vẩn vơ Biết đâu em trước là tr của tôi” N i ni m qu tr ng áo). Từ vẩn vơ suy nghĩ, tâm hồn đa cảm của bà lại tự trách mình: “Bởi tin tôi dạy một thời Thực mơ lẫn lộn những lời cao siêu” N i ni m qu tr ng áo)

Một phần của tài liệu Tính nữ trong thơ nguyễn thị mai (Trang 45 - 55)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(111 trang)