Chương 2 CÁI TÔI TRỮ TÌNH HIỆN THÂN TÍNH NỮ TRO G THƠ
2.2. Các dạng thức cái tôi trữ tình trong thơ guyễn Thị Mai
2.2.1. Cái tôi hoài niệm
Với Nguyễn Thị ai, thơ là nơi ghi dấu hoài niệm của tâm hồn. Thế giới thơ bà là một miền kí ức vô cùng phong phú, nó là những xúc cảm sâu sắc nhất trong tâm hồn người phụ nữ luôn quan sát, luôn ghi nhớ bằng chính trái tim đa cảm, dịu dàng. Đó là hoài niệm về người cha, là kí ức ngày mất m , kí ức về gia đình, về tình yêu, người yêu, về những đứa con... M i miền kí ức, hoài niệm của bà đều không nằm ngoài thế giới của người phụ nữ. Soi chiếu vào những hoài niệm của miền kí ức ấy, chúng tôi nhận thấy những vẻ đ p tính nữ trong thơ guyễn Thị ai: vẻ đ p của sự đảm đang, tần tảo, cần c , chịu thương, chịu khó, giàu đức hi sinh, giàu l ng vị tha, trắc ẩn, đặc biệt là tình mẫu tử thiêng liêng. Tính nữ toát lên trong từng mảng kí ức, từng câu chữ, từng hoài niệm trong cuộc đời thơ của guyễn Thị ai.
2 2 1 1 o i niệm v ngôi nh ư
Một khía cạnh đặc sắc trong thơ guyễn Thị Mai là hiện ra cả một vùng trời ký ức, với những hoài niệm về cha m , tuổi thơ và người thân. Phải chăng, điều này xuất phát từ cội nguồn tính nữ, mẫu tính của người phụ nữ, bởi đối với m i người phụ nữ thì gia đình và những người thân yêu là tất cả, không gì có thể thay thế đƣợc. Tuổi thơ khốn khó, phải trải qua nhiều công việc để giúp m nuôi em, d cuộc sống gia đình không trọn v n, phải chắp vá khi m đi bước nữa nhưng guyễn Thị ai vẫn sớm ý thức vƣợt lên chính mình, với đôi vai gầy guộc nhỏ đảm đương và lo toan mọi việc cho những người thân yêu trong gia đình.
Hình ảnh đậm nét nhất trong hoài niệm của guyễn Thị ai là hình ảnh người m hiện lên với gánh hàng rong nhọc nhằn trên đôi vai gầy: “Chợ làng xa m đi sớm về trưa Đ n gánh chốc vai đổi hai chiều chợ” Tu i thơ tôi) gười m trong n i nhớ của guyễn Thị ai là một phụ nữ hiền từ, chất phác, hay lam hay làm, thuần hậu như bất kì một người m nông thôn nào trên đất nước Việt am. Bóng dáng người sinh thành trở về trong giấc mơ của đứa con vẫn v n nguyên vẻ đ p ngày nào:
“ gười về vận áo cánh nâu Vấn trần mái tóc, ăn trầu đỏ môi
Bên hiên thong thả gười ngồi Hoa cau trắng, hoa cau rơi, nh nhàng”
i mơ g p m ) ột hình ảnh đ p và thân thương biết bao khi người m già ngồi bên hiên nhà, trong bàng bạc hoa cau trắng rơi đầy sân, m mỉm cười nụ cười hiền từ, giang v ng tay chào đón những đứa con. gười m trở về đ p v n nguyên trong giấc mơ của guyễn Thị ai, với manh áo cánh nâu, mái tóc bạc phơ vấn gọn gàng, gương mặt đầy những vết chân chim, đôi môi thắm vết trầu...
gười m như một bà tiên hiền từ, nhân hậu và tràn ngập yêu thương giống nhƣ cảm nhận của nhà thơ ê Thị ây: “Có lẽ xƣa m là nàng tiên đ p Phải l ng cha về với việc nhà nông Em tin m thủa làm dâu c n lệ ai em về lặng lẽ m thương hơn” Ngôi ng m sinh nh - ê Thị ây . Thơ viết về m luôn tạo được sự xúc động trong l ng người đọc, bởi tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng nhất trong trái tim m i con người. hà thơ nữ viết về m lại càng hay và lôi cuốn bởi người phụ nữ cũng làm vợ, làm m , viết về m mình trong sự thấu hiểu, cảm thông và biết ơn vô bờ biến.
Hình ảnh người m với “ òn gánh hố v i đ i h i hi u h ” khiến người đọc hình dung ra dáng người m hanh hao trong bóng chiều, gánh nặng trên vai không chỉ là gánh hàng mà c n là gánh nặng mưu sinh của người m tảo tần hôm sớm. Thấu hiểu và cảm thông cho n i khổ riêng của người m , là người phụ nữ tình cảm, bà luôn yêu quý kính trọng người m suốt đời vất vả để nuôi một đàn con nên người: “ hà quê c n chút m già Đêm thâu thức giấc, canh gà ho khan hà nghèo một bóng ba gian ảnh sân nắng giột mƣa chan tháng ngày Vườn quê c n rặng xoan gầy á rơi xót đất, hoa bay trắng trời” i thơ vi t trư ng y m m t). Có lẽ, điều trăn trở nhất đối với những đứa con khi xa nhà, xa quê hương lập nghiệp là cha m già yếu ở quê nhà. Thời gian trôi qua, mọi thứ đổi thay, người m cũng già đi theo năm tháng. gười già thường khó ngủ, nên hình ảnh m già đêm thâu thức giấc, trở mình kèm theo những tiếng ho khan, là hình ảnh muôn thủa ám ảnh trong tâm khảm của những đứa con. àm
m rồi mới hiểu m , làm m rồi mới biết thương m , không chỉ guyễn Thị ai mà tất cả chúng ta đều ao ƣớc thời gian quay trở lại để đƣợc là đứa con bé bỏng trong v ng tay m :
“Ƣớc gì về thủa đƣa nuôi Con là cái bống m ngồi ầu ơ...”
Ru m ) Với cái tôi đa cảm, tình yêu m vô bờ, guyễn Thị ai không thể quên đƣợc hình ảnh căn nhà vắng lạnh, đàn em thơ bơ vơ, cô quạnh trong ngày m mất. Đó là hình ảnh ám ảnh nhất trong thơ guyễn Thị ai: “ ột nhà trắng những khăn xô Dải khăn em út bấy giờ chấm chân Bấy giờ đang cuối m a xuân Hoa xoan lã chã từ sân ra vườn hà c n bơ gạo cắm hương Và bơ nữa thổi bát cơm trứng gà Gia tài lúc m đi xa Đôi quang đứt tải, căn nhà dột mƣa...” N i ni m ng y gi m )
gày người m ra đi, khung cảnh ngôi nhà vẫn thiếu thốn, đói nghèo như nó vốn có. Không gian nhƣ có một chút gì đó lạnh lẽo, đơn côi, trống vắng a vào: đôi quang gánh đã hỏng, căn nhà dột mƣa...vẫn là không gian ấy, đồ vật ấy, vị trí ấy nhưng giờ nó tủi hờn, côi cút, vơ bơ như những đứa con thơ mồ côi m . Thương thay, ngày ấy em út c n quá nhỏ, chưa biết gì đến n i đau, sự chia lìa âm dương, dải khăn tang dài đến chấm chân...những hình ảnh thơ giản dị nhƣng làm se thắt trái tim người đọc. Câu thơ “hoa xoan lã chã từ sân đến vườn” gợi cho ta cảm giác ám ảnh khôn nguôn. Hình như đâu đó ta thấy một cụm từ quen thuộc nước mắt lã chã chứ sao lại là hoa xoan...hóa ra ở đây, câu thơ đã mềm hóa, cảnh vật đƣợc nhân hóa, hoa xoan trong vườn đang mang n i đau của con người, nó rơi lã chã như giọt nước mắt của những đứa con thơ ngh n ngào khóc m .
Chung cảm xúc xót xa, mất mát đến tột c ng khi m ra đi, nhà thơ Đồng Đức Bốn cũng xé l ng người đọc bằng những vẫn thơ đẫm nước mắt: “Giữa khi cát bụi đầy trời Sao m lại bỏ kiếp người lầm than Con vừa vượt núi băng ngàn/ Về nhà chƣa kịp đội tang ra đồng” Trở v v i m t thôi)
Dường như, m i con người đều có một sự nuối tiếc riêng, n i niềm ân hận riêng khi nhớ về m , guyễn Thị ai cũng vậy, m i khi qua hàng trầu vỏ kí ức
năm xƣa lại hiện lên: “Thơm cay một miếng trầu xƣa à con phải bớt tiền mua vì nghèo Bây giờ đã hết gieo neo ại không có m mà chiều. Khổ không Từ ngày đƣa m ra đồng Qua hàng trầu vỏ con không dám vào” u h ng tr u vỏ)
Quả cau, miếng trầu là món quà quê yêu thích của người m , nhưng vì cái nghèo, cái đói, mà con phải bớt tiền ch ng dám mua cho m . Giờ đây cuộc sống khá hơn, có điều kiện để chiều m , để báo hiếu m thì m đã không c n. i ân hận, ám ảnh, xót xa khiến hàng trầu vỏ trở thành n i đau, khiến đứa con xa không dám nhìn vì nhớ m . Câu thơ tưởng như nh nhàng, không gào thét, mà trĩu nặng tâm tư như một lời nhắc nhở những người con khi c n m hãy tận tâm thương yêu, chăm sóc, tránh để những lo toan đời thường lấn lướt những phút giây sum họp đầm ấm bên cha m .
Trong n i nhớ về m , người con ao ước một phép mầu để một lần nữa m có thể hiện diện trong c i đời này, để con thỏa n i nhớ mong, để làm cho m những điều mà con chƣa kịp làm: “Giá mà c n m ngày xƣa Để con gánh sớm, gồng trƣa đỡ đần Để giêng hai m i m a xuân đi trảy hội đền gần, ch a xa Cháu ngoan xách túi giúp bà Khăn nhung, áo gấm hài hoa lên ch a” N i ni m ng y gi m ). Giá mà, giá như là câu nói mà có lẽ con người ta hay nhắc đến, trớ trêu thay, thời gian không bao giờ quay trở lại, khoảng cách sinh ly tử biệt là n i đau chia cắt vĩnh viễn không gì b đắp được. Giờ đây, khi kinh tế đủ đầy, người con muốn mua cho m những gì nhất chợ, trầu cau, hoa trái, tứ m a... thì cũng không c n m để dâng lên nữa. Sự ngh n ngào, đau xót ấy tràn ngập câu thơ, gieo vào l ng người đọc biết bao thương cảm.
Trong gia tài thơ của mình, guyễn Thị ai đã viết nhiều bài thơ cảm động về m nhƣ: N i ni m ng y gi m , i u on hư i t, u h ng tr u vỏ, i mơ g p m , Ru m ... hớ về m là nhớ về những kí ức, hoài niệm thiêng liêng mà nhà thơ hằng trân trọng, khi viết về m , thơ bà đặc biệt trở nên thiết tha, sâu lắng. Có thể kh ng định: những bài thơ viết về m đã kết tinh r nhất vẻ đ p của tính nữ trong thơ guyễn Thị ai. Đó là những tình cảm chân thành nhất, xúc động nhất kính dâng lên người m lam lũ, tảo tần, là l ng hiếu thảo của đứa con thi sĩ dành cho người m kính yêu. hững hoài niệm về m của
guyễn Thị ai đã góp thêm một phần không nhỏ vào gia tài thơ về m , một đề tài lớn trong văn học Việt am.
Tuổi thơ không may mắn của guyễn Thị ai đã khiến bà không có đƣợc trọn v n tình yêu thương của cha m , nhưng b lại người bà đã thay m chăm sóc guyễn Thị ai, nâng niu, dạy bảo đứa cháu từ thủa nhỏ. Trong hoài niệm về những năm tháng tuổi thơ dữ dội, bão táp ấy, hình ảnh bà ngoại luôn là một hình ảnh đ p nhất, ấn tƣợng nhất trong l ng nhà thơ: “ ễ tan trời đã xế chiều Cửa nhà thờ xứ rất nhiều khách xin Bà tôi tươi tắn phúc hiền Cởi bao xởi lởi cho tiền người ta” (Kí giáng sinh). hững kỉ niệm tuổi thơ của guyễn Thị ai gắn với kí ức về người bà với bao nhiêu niềm yêu mến: “Con ở với bà, bà địu trên lưng Chợ sớm chợ chiều bà tha vất vưởng ồ hôi ngày ngày lưng c ng tóc ƣớt/ Thấm vào con, nuôi con đến giờ” i u on hư i t)
guyễn Thị ai trở về với d ng sông kí ức tuổi thơ, thủa lên ba, lên năm vắt vẻo trên lƣng bà, đƣợc bà c ng đi chợ, lên ch a...Cô cháu gái ngây thơ không nhận ra rằng tóc bà đã bạc, lƣng bà đã c ng, mồ hôi thấm ƣớt áo, bết tóc... Cô bé vui đ a ngây thơ ngày xƣa giờ ngâm ng i nhận ra, điều ngày xƣa con chƣa biết thì bây giờ khi đã là vợ, là m , con vô c ng thấm thía: sự vất vả gian lao, giọt mồ hôi mặn đắng của bà mang theo biết bao là che chở, yêu thương, để ngày hôm nay thấm vào con nuôi nấng con nên người.
Thời gian khiến con người ta già đi, trưởng thành và thấu hiểu nhiều điều, chiêm nghiệm đƣợc biết bao nhiêu vui, buồn, đắng cay, đƣợc mất trong cuộc sống. hưng đổi lại cho sự trưởng thành ấy là sự ra đi của người thân, sự mất mát ấy không gì b đắp được, để lại n i trống vắng trong l ng người. Và giờ đây, m i giáng sinh, người cháu guyễn Thị ai lại nhớ về bà với biết bao niềm yêu thương, thành kính:
“ i giáng sinh đ n nh th n ng năm tháng tu i thơ ên ”
í giáng sinh) C ng chung n i niềm và sự nhớ nhung ấy, nhà thơ uân Qu nh cũng viết về người bà kính yêu của mình với hạnh phúc bên tiếng gà trưa: “Tiếng gà trưa ang bao nhiêu hạnh phúc Đêm cháu về nằm mơ Giấc ngủ hồng sắc trứng Cháu chiến đấu hôm nay Vì l ng yêu tổ quốc Vì xóm làng thân thuộc Bà ơi,
cũng vì bà Vì tiếng gà cục tác trứng hồng tuổi thơ” Ti ng g trư – Xuân Qu nh . Trong bài thơ của uân Qu nh, tình yêu thương của người bà đã trở thành động lực để người cháu sống, chiến đấu và trưởng thành. C ng cảm xúc ấy, khi đã trưởng thành, người cháu guyễn Thị ai vẫn ao ước trở về tuổi thơ để được bà yêu thương và cưng nựng: “Đưa tôi về tuổi một hai ôi êm m hát bên tai ơi à Đƣa tôi về thuở xa xƣa Ch ng tre, quạt cọ tay bà v ru” Ngh hát ru ở ) Qua những vần thơ trên, có thể thấy bà ngoại và m đã có ảnh hưởng lớn đến cảm hứng sáng tác của bà. Chính vì vậy, hồn thơ guyễn Thị ai vừa nồng thắm, vừa đôn hậu, mang nét đ p truyền thống đầy nữ tính.
Bên cạnh hình ảnh của người bà, người m thì hoài niệm về người chị gái cũng chiếm một phần quan trọng trong trang thơ guyễn Thị ai. Vì biến cố gia đình tan tàn xẻ nghé, chị gái lớn ở lại Phú Thọ với cha, c n cô bé guyễn Thị ai c ng với người chị giáp mình về xuôi ở với m . D bao năm xa cách, đƣợc gặp lại chị gái nhƣng tình cảm chị em vẫn đong đầy v n nguyên:
“ hƣ là em vẫn bé con Ch m dâu da đỏ chị c n mua cho
Dắt đi thăm bác thăm cô Dặn em chào hỏi, gửi thƣa từng lời”
i thơ v h gái) Đâu đó vẫn là hình ảnh hai chị em của tuổi thơ, tung tăng dắt tay nhau trong phiên chợ, cô em gái nhí nhảnh bắt nạt chị đ i đủ thứ, chị gái dịu dàng mua cho em nhỏ ch m dâu da. ón quà trẻ thơ lấp lánh trong ánh mắt, trong niềm yêu thương gắn bó của lũ trẻ,. Ai ngờ vì số phận, vì nhưng điều xảy ra mà không ai mong muốn khiến cho chị em phải chia xa. Tuy nhiên, hình ảnh người chị trong kí ức của guyễn Thị ai vẫn hiền hậu, yêu thương và nhường nhịn em thơ, kể cả ngày xƣa hay bây giờ, chị vẫn dạy d bảo ban em những điều hay lẽ phải.
guyễn Thị ai thương chị bằng tình yêu thương máu mủ ruột già và sự cảm thông, thấu hiểu của người c ng là phụ nữ, người chị trong mắt bà có dáng giống m dáng gầy nhƣ m gánh gồng khi xƣa, cuộc đời nghèo khó, lại bị bệnh
tật dày v : “ gắm trông thân chị yếu gầy ại nhƣ thấy m những ngày bệnh đau anh xao, má hóp, mặt rầu Chỉ hai hốc mắt lắng sâu n i niềm ghĩ thương đời chị ở hiền à sao vất vả, ưu phiền...không nguôi Buồn đau v i dưới nụ cười Trái tim nén mãi trong người, hóa đau” h đi n m viện). Thương chị, chứng kiến sự héo hon, tàn tạ của chị khi bị bệnh tật dày v , guyễn Thị ai nhƣ thấy v n nguyên hình ảnh của m ngày xƣa. i đau kí ức a về hai lần, nhân lên thành sự xót xa, cảm thương gấp bội. hìn vào đôi mắt của chị, thấy ẩn chứa trong đó những n i niềm, tâm sự, những n i đau, nhẫn nhịn, dồn nén, nó không phải là đôi mắt mà là hốc mắt, là hình ảnh đôi mắt trên khuôn mặt gầy, xanh xao, trũng sâu xuống. C ng là phụ nữ, c ng trải qua những vất vả, nhọc nhằn trong hành trình mưu sinh để gồng gánh gia đình, guyễn Thị ai hết sức đồng cảm và chia sẻ với những ưu phiền, buồn đau của người chị gái.
i đau ấy là n i đau da thịt, n i đau máu mủ khi chứng kiến người thân của mình phải âm thầm chống chọi với bệnh tật.
Thương chị, yêu chị, guyễn Thị ai vẫn ao ước thời gian quay lại để trở lên bé nhỏ trong l ng chị gái, được chị gái yêu thương, cưng nựng: “ ớn rồi em đã làm dâu Vẫn thèm bên chị nghe câu ơi à Ru em xƣa m vắng nhà ời ru ngọt mãi năm xa tháng gần” i thơ v h gái)
Không chỉ thương bà, thương m , thương chị, ngày chia tay em gái, guyễn Thị ai cũng rƣng rƣng xúc động: “Đất trời quê bạn chƣa quen H n là rét lắm khi em nhớ nhà Hôm em đi mưa rất lâu Cơn mưa nói n i thương nhau đấy mà” i t ho m gái ng y đi ). Vẫn biết chuyện trăm năm: trai khôn dựng vợ, gái lớn gả chồng, nhƣng ngày em gái đi xa, tình cảm chị em khiến cho guyễn Thị ai không khỏi băn khoăn, lưu luyến, bịn rịn. Bà lo cho em lạ nước, lạ cái nơi đất khách quê người, lo nhưng ngày rét mướt n i nhớ nhà c n buốt l ng hơn so với cái rét nơi đất lạ. Cơn mƣa ngày chia tay nói hộ biết bao nhớ thương, lo lắng của người chị dành cho em.
Viết về bà, về m , về chị gái, em gái và những người phụ nữ trong gia đình của mình, guyễn Thị ai luôn dành cho họ những vần thơ yêu thương, rất đ i dịu dàng. Và trong những ký ức về tuổi thơ, về ngôi nhà xƣa không thể