1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ nguyễn duy

104 42 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cái tôi trữ tình là sự thể hiện trực tiếp những xúc cảm và suy tư chủ quan của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện thực cuộc sống.. Bàn về phương diện nội dung Nhà phê

Trang 2

Tôi xin cam đoan công trình này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Quốc Khánh Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào

Trang 3

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Cấu trúc của luận văn 7

Chương 1: CÁI TÔI TRỮ TÌNH VÀ HÀNH TRÌNH THƠ NGUYỄN DUY 9

1.1 Quan niệm về cái tôi trữ tình 9

1.1.1 Khái niệm cái tôi 9

1.1.2 Cái tôi trữ tình trong thơ 10

1.2 Hành trình thơ Nguyễn Duy 16

1.2.1 Những nét chính về cuộc đời Nguyễn Duy 16

1.2.2 Hành trình thơ Nguyễn Duy 17

Chương 2: HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN DUY NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 22

2.1 Cái tôi trữ tình sâu lắng 22

2.1.1 Trữ tình về con người 22

2.1.2 Trữ tình về quê hương, đất nước 30

2.1.3 Trữ tình về tình yêu và hôn nhân 36

Trang 4

2.2 Cái tôi suy tư, triết lý 42

2.2.1 Suy tư, triết lý về nhân dân 42

2.2.2 Suy tư, triết lý về hạnh phúc - khổ đau, vô hạn - hữu hạn 45

2.2.3 Suy tư, triết lý về đạo lý 50

2.3 Cái tôi hài hước, dí dỏm 52

2.3.1 Hài hước, dí dỏm khi viết về thế thái nhân tình 53

2.3.2 Hài hước, dí dỏm khi viết về tình yêu và hôn nhân 57

2.3.3 Hài hước, dí dỏm khi viết về chính bản thân nhà thơ 61

Chương 3: HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN DUY NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN HÌNH THỨC 65

3.1 Thể thơ 65

3.1.1 Lục bát Nguyễn Duy - nơi gặp gỡ giữa truyền thống và hiện đại 65

3.1.2 Thể thơ năm chữ - cô đọng, hàm súc 73

3.1.3 Thể thơ tự do - vươn tới hiện đại 75

3.2 Giọng điệu 78

3.2.1 Giọng điệu kể chuyện tâm tình 78

3.2.2 Giọng điệu hóm hỉnh, vui tươi 81

3.2.3 Giọng điệu chiêm nghiệm, suy tư 84

3.3 Ngôn ngữ thơ 85

3.3.1 Sử dụng thành công biện pháp tu từ từ láy và trùng điệp 86

3.3.2 Ngôn ngữ giàu nhạc điệu 89

3.3.3 Ngôn ngữ giàu tính khẩu ngữ, gần gũi đời thường 91

KẾT LUẬN 95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (Bản sao)

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ xưa đến nay, thi ca luôn có một ma lực, một sức hấp dẫn lạ thường đối với con người Thông qua “lăng kính chủ quan” của tác giả, người đọc tìm thấy một “thế giới khác”, vừa gần gũi, vừa xa lạ, vừa chân thực, vừa thơ mộng bởi qua thơ cái tôi chủ quan của tác giả được biểu hiện Đó là cái tôi của cảm xúc, nỗi niềm, suy tư về đời sống của người nghệ sĩ Lê Lưu Oanh trong chuyên luận

“Thơ trữ tình Việt Nam”, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội đã khẳng định:

“ Chủ quan là đặc trưng nội dung của thơ trữ tình và cái tôi trữ tình là biểu hiện tập trung nhất của bản chất chủ quan đó” [41, tr.50]

Cái tôi trữ tình là sự thể hiện trực tiếp những xúc cảm và suy tư chủ quan

của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện thực cuộc sống Nói một

cách khác, quá trình tìm hiểu về cái tôi trữ tình là quá trình đi tìm hiểu một

phạm trù mĩ học của thế giới tinh thần Nghĩa là giúp độc giả nhận thức về mối quan hệ giữa con người với con người, cũng như sự tồn tại của cá nhân trước cộng đồng

Bước sang thế kỉ XX, nền văn học hiện đại của nước ta đã gặt hái được nhiều thành công rực rỡ trên nhiều thể loại, đặc biệt là thơ ca Bên cạnh các nhà thơ của phong trào Thơ mới hay thế hệ các nhà thơ chống Pháp, các nhà thơ xuất hiện và trưởng thành trong những năm kháng chiến chống Mỹ đã thật

sự góp một phần tiếng nói không nhỏ vào sự nghiệp chung của dân tộc, đã làm nên thế hệ nhà thơ chống Mỹ Trong số những nhà thơ đó, ta không thể không nhắc tới Nguyễn Duy Thơ Nguyễn Duy gắn bó với cuộc sống, là sự kết hợp ăn ý đến mức thấm vào nhau giữa hiện thực đời sống và tâm hồn, trí

tuệ của nhà thơ Đây là nhà thơ đã “đem lại vinh quang cho cả thế hệ thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ” (Trần Đăng Suyền) [52, tr.92]

Thơ Nguyễn Duy đã được chọn đưa vào chương trình giảng văn trong

Trang 6

nhà trường, giới thiệu ra nước ngoài, đã được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học đánh giá, công bố trên các báo chuyên ngành, được công chúng yêu

thơ đọc và bình phẩm Với bài nghiên cứu này, chúng tôi mong muốn bạn đọc

hiểu sâu sắc hơn về thế giới tâm hồn, tình cảm và tài năng của nhà thơ Trên

cơ sở tiếp thu, kế thừa có chọn lọc công trình nghiên cứu của những người đi trước, đề tài này của chúng tôi nhằm góp thêm một cái nhìn mới về sự nghiệp thơ ca của nhà thơ Nguyễn Duy

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

2.1 Bàn về phương diện nội dung

Nhà phê bình Hoài Thanh trong “Đọc một số bài thơ của Nguyễn Duy”

đăng trên Báo Văn nghệ số 444 đã khẳng định: “Thơ Nguyễn Duy đưa ta về một thế giới quen thuộc: một gốc sim, một bụi tre, một ổ rơm…Nhưng thế giới

ấy trong thơ Nguyễn Duy quen thuộc mà không nhàm chán…Nguyễn Duy đặc biệt thấm thía cái cao đẹp của những con người, những cuộc đời cần cù gian khổ, không tuổi không tên ” [54, tr.5] Cùng quan điểm với Hoài Thanh,

trong bài “Tìm giọng mới thích hợp với người thời mình”, Lại Nguyên Ân

cho rằng thơ “Nguyễn Duy nhạy cảm với cái gì ít ỏi, còm nhom, queo quắt, cộc cằn, đơn lẻ” [1, tr.11]

Đọc thơ Nguyễn Duy, Nguyễn Quang Sáng trong bài “Đi tìm tiềm lực trong thơ Nguyễn Duy” đã khái quát thơ Nguyễn Duy: “Ngoài mảng thơ về

đề tài chiến trận, thơ Nguyễn Duy chủ yếu dành cho những đề tài muôn thuở: tình yêu, con người và đất nước quê hương Trong thơ Duy có hầu hết gương mặt các miền đất với những cảnh sắc, thần thái riêng” [46, tr.84] Vũ Văn Sỹ cũng có những nhận xét khá tinh tế: “Nguyễn Duy thường nắm bắt những cái mong manh nhưng vững chắc trong đời: chút rưng rưng của ánh trăng, một tiếng tắc kè lạc về giữa phố, một dấu chân cua lấm tấm ruộng bùn, một kỉ niệm chập chờn nguồn cội, một mùi thơm của huệ trắng trong đền, thoáng hư

Trang 7

thực giữa người và tiên phật ” [53, tr.69] Còn nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn đưa ra một nhận xét có ý nghĩa khái quát về thơ Nguyễn Duy “Bao

dung nên giàu có” [39, tr.280] Trong chuyên luận Đặc điểm thẩm mỹ thơ Nguyễn Duy (2009), Lê Thị Thanh Đạm đánh giá “Thơ Nguyễn Duy giàu

tình thương Phẩm chất đó là sự kết hợp giữa trái tim giàu lòng nhân ái của nhà thơ được tích tụ trong quá trình sống gẫn gũi với những con người bình thường, chắt chiu từ sự khắc nghiệt của cuộc sống đời thường mà ông

bà, cha mẹ, bà con xóm giềng cũng như chính bản thân nhà thơ nếm trải, vượt lên ” [8, tr.67]

Nhìn chung các ý kiến đánh giá trên đã chỉ ra được nét riêng và độc đáo của thơ Nguyễn Duy là ông thường cảm xúc - suy nghĩ về những điều bình dị,

cụ thể của đời thường Đặc điểm này thể hiện trong thơ ông như một mạch thống nhất, xuyên suốt cả trong hoàn cảnh chiến tranh và hòa bình

Qua từng tác phẩm của Nguyễn Duy, các nhà nghiên cứu, phê bình đã có

những cảm nhận riêng, độc đáo Cụ thể trong “Hơi ấm ổ rơm”, Vũ Quần

Phương cho là: Nguyễn Duy “hiểu sâu sắc rằng trong thiếu thốn, tấm lòng thơm thảo, nhường cơm xẻ áo của nhân dân ta lại càng cao cả xúc động Sự

ấm áp của tình người trong đêm gió lạnh đồng chiêm đó thật là thấm thía”

[43, tr.154] Còn Lê Trí Viễn khi nói về bài “Tre Việt Nam” đã chỉ ra cái tài

của Nguyễn Duy “đã tìm ra cái tươi trong cái khô, cái cao cả ở cái tầm thường, cái lạ ở cái nhàm; đó là phát hiện ra phẩm chất con người ở cây tre”

[60; tr.289] Từ những bài nghiên cứu này, ta thấy Nguyễn Duy luôn trân trọng, yêu thương những kiếp người nghèo khổ nhưng vẫn ánh lên vẻ đẹp dù hoàn cảnh khó khăn, gian khổ đến chừng nào

Trong số các tập thơ của Nguyễn Duy, tập thơ Ánh trăng (1984) nhận

được nhiều nhà phê bình chú ý nhất Từ Sơn có nhận xét về nội dung tập thơ

này như sau: “Tám mươi bài thơ chọn in trong hai tập Cát trắng và Ánh trăng

Trang 8

chiếm số lượng lớn vẫn là những bài thơ viết về người lính, về những điều đã cảm nhận trên các nẻo đường chiến tranh Nguyễn Duy đã đi nhiều nơi, đã tiếp xúc với nhiều người Bao giờ anh cũng dành những tình cảm tốt đẹp nhất của mình cho đồng đội và cho những người dân bình thường” [48, tr.2] Lê

Quang Hưng cũng rất sâu sắc khi cho rằng: Tiếng nói của Nguyễn Duy trong

Ánh trăng “trước tiên vẫn là tiếng nói của một người lính, tiếng nói tìm đến

những người lính- những đồng đội - để sẻ chia, trò chuyện ” [30, tr.156]

Lê Quang Hưng đã chỉ ra sự hấp dẫn của tập thơ: “Ánh trăng được nhiều bạn đọc yêu thích trước hết vì nó thực sự là một phần của một cuộc đời, là tiếng nói của một cây bút có trách nhiệm trước cuộc sống xây dựng và chiến đấu sôi động trên đất nước ta những năm qua” [30, tr.158] Tế Hanh trong

bài “Hoa trên đá và Ánh trăng” đăng trên báo Văn nghệ số 15/1986, ông

viết: “Đọc thơ Nguyễn Duy trước hết ta thấy anh là một người lính đã chiến đấu ở nhiều mặt trận Hiện nay anh không phải là quân nhân nhưng những câu thơ anh viết về bộ đội, về cuộc đời quân nhân vẫn là những câu thơ thấm thía nhất” [28, tr.3]

2.2 Bàn về phương diện nghệ thuật

Vấn đề thể loại trong thơ Nguyễn Duy được các nhà nghiên cứu quan

tâm Bài thơ “Tre Việt Nam” đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà phê bình

Hầu hết các ý kiến đều xem đây là một trong những bài thơ lục bát tiêu biểu

của Nguyễn Duy Văn Giá trong “Một lục bát về tre” nhận xét: “ Lựa chọn

thể thơ 6-8, một thể thơ thuần chất Việt Nam, tác giả xử lý thật nhuần nhuyễn, trôi chảy, trau chuốt, không non ép, gượng gạo, vấp váp một chỗ nào Trong toàn bộ sáng tác của nhà thơ, phần các bài viết theo thể lục bát không phải là nhiều nhất nhưng anh vẫn được coi là một trong những nhà thơ hiện đại viết lục bát thành công nhất.” [3, tr 93] Và chính Nguyễn Duy, khi trả lời phỏng vấn trên báo Đại đoàn kết đã bộc bạch: “Những bài thơ lục bát là phần quý

Trang 9

giá nhất của mình” [7, tr.14]

Khi nhận xét về ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Duy có nhiều ý kiến khác

nhau Nguyễn Quang Sáng cho rằng: “Thơ Nguyễn Duy đượm tính dân tộc và nhuần nhuyễn ngôn ngữ dân gian” [46, tr.96] Còn với Vương Trí Nhàn, thơ Nguyễn Duy là “bản hợp xướng của những chữ lạ” [38, tr.283]

Khi nghiên cứu về giọng điệu, các nhà phê bình tìm ra được nhiều đặc

điểm khác nhau trong thơ Nguyễn Duy Bài viết Tìm giọng mới thích hợp với người thời mình, Lại Nguyên Ân tập trung tìm hiểu sự cách tân giọng điệu

trong thơ Nguyễn Duy: “Thật ra thơ Nguyễn Duy nhìn chung vẫn nằm trong điệu trữ tình Thơ Nguyễn Duy gần đây thường có thêm sắc giọng thủng thẳng, hơi ngang ngạnh và ương bướng”.[1, tr.11] Ngô Thị Kim Cúc khi đọc

tập thơ Bụi của Nguyễn Duy đã nhận xét: “Từ bài đầu đến bài cuối hầu hết

vẫn giống nhau ở một cách viết, vẫn cái giọng cà tửng cà khịa khiến người ta lúc đầu bật cười rồi sau đó thấm thêm một tí lại trào nước mắt” [7, tr.5]

Trong các bài phê bình nghiên cứu về thơ Nguyễn Duy, thì bài viết

Nguyễn Duy - thi sĩ thảo dân của Chu Văn Sơn là một bài viết khá công phu

Ông gọi thế giới thơ Nguyễn Duy là “cõi chúng sinh thì hiện tại: binh lửa và bụi bặm, bùn nước và gió trăng, nghèo đói và tiềm năng, tàn phá và gây dựng, xơ xác và nhen nhóm, bần bách và phù hoa…mà đâu đâu cũng thấy mồ hôi và nước mắt”; “nhân vật nhân loại của thi sĩ này hầu hết là thảo dân Họ

là “thập loại chúng sinh thì hiện tại”, là bà, mẹ, cha, vợ, con đặc biệt là những con người không may mắn xuất hiện trong đời sống như chú bé đi bụi khoèo mái hiên lắng nghe pháo tết, em điếm ế đón giao thừa gốc cây, bà bới rác nằm co ro gầm cầu ” [49, tr.38] Từ đó biện giải “Nguyễn Duy là thi sĩ

thảo dân”, chỉ ra bản chất “thảo dân” ấy ở cảm hứng sáng tác, ngôn ngữ, giọng điệu, thể thơ lục bát của Nguyễn Duy

Như vậy, qua các bài nghiên cứu, phê bình thơ Nguyễn Duy nêu trên,

Trang 10

chúng tôi nhận thấy các tác giả đã có những đóng góp nhất định trong việc phát hiện ra một số đặc điểm về nội dung, nghệ thuật nổi bật của thơ ông Nhưng nhìn chung, các bài viết này chỉ mới đi vào tìm hiểu một bài thơ, tập thơ hoặc chỉ dừng lại nghiên cứu một khía cạnh, một mặt nào đó trong thơ Nguyễn Duy, chưa có một công trình nào nghiên cứu, khảo sát một cách toàn diện và có hệ thống phẩm chất nghệ thuật thơ Nguyễn Duy, trong đó hình

tượng cái tôi trữ tình được nhìn nhận là một đặc điểm nổi bật

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích của đề tài là khảo sát, nghiên cứu một cách có hệ thống đặc

điểm của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy

- Với mục đích đó, đề tài đặt ra nhiệm vụ:

Thứ nhất, xác định được “Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn

Duy” trên phương diện nội dung

Thứ hai, xác định được “Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn

Duy” trên phương diện hình thức nghệ thuật

Thứ ba, thấy được sự đóng góp và khẳng định được vai trò, vị trí của

Nguyễn Duy đối với lĩnh vực thơ ca và nền văn học Việt Nam nói chung

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Tìm hiểu, phát hiện đặc điểm nổi bật của hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy chủ yếu qua phương diện nội dung và phương diện hình thức

biểu hiện cái tôi nghệ thuật ấy

Trang 11

(1994), Vợ ơi (1995), Thơ Nguyễn Duy (2010), Thơ Nguyễn Duy - Quê nhà ở phía ngôi sao (2017)…

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu trên, chúng tôi vận dụng các phương pháp chủ yếu sau đây:

5.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp

Đây là phương pháp cơ bản và phổ biến trong nghiên cứu văn học nói chung Chúng tôi sẽ vận dụng phương pháp này để phân tích câu thơ, khổ thơ, đoạn thơ, bài thơ có tính chất tiêu biểu, điển hình để minh họa cho các luận điểm của luận văn

5.2 Phương pháp cấu trúc - hệ thống

Chúng tôi quan niệm sáng tác thơ của Nguyễn Duy là một chỉnh thể nghệ thuật trọn vẹn và mang tính hệ thống Mọi đối tượng, mọi vấn đề khảo sát được chúng tôi đặt trong tương quan hệ thống, trong quy luật cấu trúc này

5.3 Phương pháp so sánh

Mục đích của việc sử dụng phương pháp so sánh là để khẳng định nét độc đáo, đặc sắc của phong cách thơ Nguyễn Duy trong mối tương quan so sánh với các tác giả, tác phẩm khác ở cả hai chiều lịch đại và đồng đại Trên

cơ sở đó để tìm hiểu, lí giải và xác định rõ những giá trị cũng như đóng góp của thơ Nguyễn Duy trên nhiều bình diện khác nhau

Và một số phương pháp bổ trợ khác

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu (8 trang) và Kết luận (2 trang), luận văn được triển

khai trong ba chương:

Chương 1: Cái tôi trữ tình và hành trình thơ Nguyễn Duy

Trang 12

Chương 2: Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy nhìn từ phương diện nội dung

Chương 3: Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy nhìn từ phương diện hình thức

Cuối cùng là danh mục Tài liệu tham khảo

Trang 13

Chương 1 CÁI TÔI TRỮ TÌNH VÀ HÀNH TRÌNH THƠ NGUYỄN DUY 1.1 Quan niệm về cái tôi trữ tình

1.1.1 Khái niệm cái tôi

Cái tôi ra đời đánh dấu ý thức đầu tiên của con người về bản thể tồn tại của chính mình Từ đó ý thức được, mỗi con người là một cá thể độc lập, khác với cá thể khác Theo Đêcac, cái tôi thể hiện ra như một cái thuộc về thực thể biết tư duy, như căn nguyên của nhận thức duy lí, và do đó, cái tôi khẳng định

tính độc lập của mình Ông có định nghĩa nổi tiếng “tôi tư duy tức là tôi tồn tại” Chủ nghĩa duy ngã của Phichtê cho rằng, cái tôi là thực thể, là căn

nguyên sáng tạo tuyệt đối, là thực tại duy nhất Thế giới là thực tại của tôi hoặc là sự biểu hiện của tôi Hêghen đã giải thích thực chất xã hội của cái tôi như một sức mạnh (lí tính thế giới) bị tha hóa trên những con người cụ thể Nói cách khác, đó là lí tính thế giới bộc lộ của từng con người nhất định

H Becxông khi nhấn mạnh đời sống bên trong cá nhân đã chú ý tới cái tôi thuần túy ý thức Theo ông, con người có hai cái tôi: cái tôi bề mặt và cái tôi bề sâu Cái tôi bề mặt là các quan hệ của con người đối với xã hội Còn cái tôi bề sâu là phần sâu thẳm của ý thức Đó mới chính là đối tượng của nghệ thuật

Các quan điểm duy tâm về cái tôi đã khẳng định, cái tôi là phương diện trung tâm của tinh thần con người, là cốt lõi của tri thức, có khả năng chi phối các hoạt động và là sự khẳng định nhân cách của con người trong thế giới, tuy vậy, các quan điểm trên đã tách cái tôi khỏi xã hội sinh động, chưa nhìn thấy

cơ sở lịch sử - cụ thể và tính tích cực chủ động của cái tôi

Triết học Mác-Lênin đã xác định giá trị của con người cá nhân từ bản thân con người với tư cách là chủ thể, khách thể của các mối quan hệ xã hội Mỗi cá nhân có ý nghĩa như một bộ mặt xã hội hóa cá thể con người và cá

Trang 14

nhân cùng tìm thấy mình trong xã hội Triết học Mác khẳng định vai trò của

cái tôi: "Cái tôi là trung tâm tinh thần của con người, của cá tính con người

có quan hệ tích cực đối với thế giới và với chính bản thân mình Chỉ có con người độc lập kiểm soát những hành vi của mình và có khả năng thể hiện tính chủ động toàn diện mới có cái tôi của mình" [56, tr.66]

1.1.2 Cái tôi trữ tình trong thơ

1.1.2.1 Khái niệm cái tôi trữ tình

Tìm hiểu khái niệm cái tôi trữ tình, ta cần tiếp cận từ khái niệm trữ tình

Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”, trữ tình là “một trong ba phương thức

thể hiện đời sống (bên cạnh tự sự và kịch) làm cơ sở cho một loại văn học…phản ánh đời sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con người, nghĩa là con người tự cảm thấy mình qua những ấn tượng, ý nghĩ, cảm xúc

chủ quan của mình đối với thế giới và nhân sinh” [26, tr.373] “Từ điển tiếng Việt” của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên cũng cho rằng: Trữ tình

“có nội dung phản ánh hiện thực bằng cách biểu hiện những ý nghĩ cảm xúc, tâm trạng riêng của con người kể cả bản thân người nghệ sĩ trước cuộc sống”

[42, tr.1054] Như vậy, trữ tình là hình thức cơ bản của văn học nghệ thuật, là cách con người thể hiện những cảm nhận chủ quan của mình trước thực tại

“Tác phẩm trữ tình có thể viết bằng thơ hoặc văn xuôi, nhưng thơ vẫn là hình thức tổ chức ngôn từ phù hợp nhất với nó” [26, tr.374]

Ta nên hiểu về khái niệm thơ trữ tình như thế nào cho chính xác? Theo

Từ điển thuật ngữ văn học, thơ trữ tình là “thuật ngữ chỉ chung các thể thơ

thuộc loại trữ tình, trong đó những cảm xúc suy tư của nhà thơ hoặc nhân vật trữ tình trước đời sống được thể hiện trực tiếp (…) Là tiếng hát tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng biểu hiện những cảm xúc phức tạp của thế giới nội tâm

từ các cung bậc tình cảm cho tới những chính kiến những tư tưởng triết học”

[26, tr.317]

Trang 15

Tìm hiểu những định nghĩa trên, ta có thể thấy, thơ trữ tình lấy nguyên tắc chủ quan làm nguyên tắc cơ bản trong việc chiếm lĩnh hiện thực và quy định

những đặc điểm cốt yếu của mình Trong đó “cái tôi trữ tình giữ một vị trí đặc biệt vì nó là nguồn trực tiếp duy nhất của nội dung tác phẩm” [26, tr.374]

Trong đời sống cũng như trong nghệ thuật, cái tôi của mỗi người sẽ chi phối, điều khiển mọi hành vi, hoạt động và sáng tạo Điều này như H Becxông đã nói, trong mỗi người đều có hai cái tôi: cái tôi bề mặt và cái tôi

bề sâu Theo đó có thể khẳng định, thế giới nghệ thuật là vương quốc của cái tôi bề sâu Những tác phẩm nghệ thuật ra đời với tư cách là sản phẩm của hoạt động nghệ thuật chính là kết quả của cái tôi bề sâu, chính xác hơn là kết quả của sự xâm nhập của cái tôi ý thức vào cái tôi sâu thẳm để vươn tới một cái tôi cao hơn: cái tôi nghệ thuật Nếu như trong tác phẩm tự sự, cái tôi nghệ thuật bộc lộ gián tiếp qua những hình tượng nhân vật, trong tác phẩm kịch được bộc lộ gián tiếp qua các xung đột, hành động kịch thì trong tác phẩm trữ tình, cái tôi nghệ thuật ấy được bộc lộ một cách trực tiếp Cái tôi trữ tình chính là một biểu hiện cụ thể của cái tôi nghệ thuật, thể hiện thế giới chủ quan, thế giới tinh thần của chủ thể trữ tình

Nguyên tắc chủ quan, như trên đã nói, là nguyên tắc cơ bản trong phương thức sáng tạo của thơ trữ tình Nguyên tắc ấy thể hiện ở việc nhận thức, lý giải, đánh giá và tái hiện đời sống thông qua cảm nhận của chủ thể trữ tình Thơ trữ tình là sự thể hiện ý thức xã hội - lịch sử - thẩm mỹ thông qua kinh nghiệm một cá nhân, trong đó, ý thức của chủ thể, tức cái tôi trữ tình chính là lăng kính chuyển đổi một cách đặc biệt thế giới khách quan thành một thế giới riêng biệt, độc đáo: thế giới trữ tình Vậy nên thơ là “tả cảnh ngụ tình”, là thể hiện cái tình trong cảnh, những “cảnh”; những “sự” trong thơ không còn đơn

thuần là cảnh, sự trong hiện thực khách quan nữa mà là tâm cảnh, ý cảnh, tâm sự, cảm xúc của tác giả

Trang 16

Như vậy, cái tôi trữ tình thực chất chính là thế giới chủ quan, thế giới tinh thần của con người được thể hiện trong tác phẩm trữ tình bằng các phương thức trữ tình Nó là nguồn gốc, là nội dung, đối tượng, đồng thời cũng

là bản chất của tác phẩm trữ tình Tuy nhiên đối với khái niệm này, hiện nay vẫn tồn tại hai cách hiểu với phạm vi khác xa nhau Theo nghĩa hẹp, nó là hình tượng cái tôi cá nhân cụ thể, cái tôi tác giả gắn liền với cuộc đời tác giả, với cảm xúc riêng tư, là một loại nhân vật trữ tình Hiểu theo nghĩa rộng, nó là nội dung thẩm mĩ của các tác phẩm trữ tình, là một nội dung, một phẩm chất, đồng thời cũng là đối tượng của thế giới trữ tình, có tác dụng phân biệt trữ

tình với các thể loại khác Nói một cách khác, Cái tôi trữ tình là biểu hiện tập

trung của tính chủ quan trong thơ trữ tình Bản chất chủ quan của chủ thể trữ tình thể hiện ở nguyên tắc tiếp nhận và tái hiện đời sống thông qua toàn bộ nhân cách của con người trữ tình Ở đây, cá tính nhân vật trữ tình với phong thái, ấn tượng, sự độc đáo chiếm vị trí chủ đạo và người đọc, thông qua đó để lĩnh hội thế giới Cuộc sống sẽ được nhận thức, lý giải thông qua lăng kính cảm xúc của nhân vật trữ tình Tác giả luận văn hiểu và sử dụng khái niệm cái tôi trữ tình theo nghĩa rộng, một khái niệm có tính phổ quát, thể hiện bản chất chủ quan của thể loại trữ tình, từ đó soi chiếu vào một cái tôi cụ thể – cái tôi trong thơ Nguyễn Duy

1.1.2.2 Bản chất của cái tôi trữ tình

a) Bản chất xã hội - tâm lý của cái tôi trữ tình

Cái tôi trữ tình là một cấu trúc mang bản chất xã hội Trong đời sống, mỗi cá nhân đều tồn tại trong vô vàn các mối quan hệ khác nhau của xã hội, thông qua đó cái tôi cũng được hình thành và khẳng định Do vậy, C.Mac

trong cuốn sách “Bản thảo kinh tế triết học” đã khẳng định: “Chỉ có trong xã

hội, tồn tại tự nhiên của con người mới là tồn tại có tính chất người Tồn tại bản thân tôi cũng là hoạt động xã hội, khi tôi có ý thức về tôi như một thực

Trang 17

thể xã hội" [36, tr.130] Chính các bình diện của đời sống xã hội như truyền

thống, văn hóa, đạo đức, lịch sử, triết học, thẩm mỹ sẽ chi phối bản chất tâm

lý - xã hội trong cấu trúc cái tôi Cái tôi có sức dung chứa và khả năng phản ánh mọi mặt của đời sống, người nghệ sĩ càng có đời sống phong phú thì cái tôi được thể hiện trong văn học lại càng đa dạng và sâu sắc Chính vì cái tôi trữ tình luôn chịu tác động lớn từ hiện thực nên một nhà thơ, nhà văn luôn chịu những tác động của thời đại mình đang sống

Là một cấu trúc mang bản chất xã hội, tất yếu cái tôi trữ tình cũng mang một giá trị xã hội Trong cuộc sống, mỗi cá nhân luôn phải tích cực khẳng định mình trong các mối quan hệ và các tiêu chuẩn của đời sống như một chủ thể sáng tạo Khi nỗ lực hoạt động và sáng tạo, mỗi chủ thể có thể góp phần thay đổi các yếu tố khác của cấu trúc xã hội Chẳng hạn, chính sự tích cực thể hiện của những cái tôi trữ tình khác lạ, độc đáo vào những năm 30 của thế kỷ

XX ở nước ta đã tạo nên một trào lưu văn học lãng mạn mà đỉnh cao là phong trào Thơ mới (1932 – 1945) đã tạo một bước ngoặt của tư duy thơ Việt Nam

Sự tích cực chủ động sáng tạo của cái tôi trữ tình luôn mang tính lịch sử và có nguồn gốc từ hiện thực đời sống, nên đời sống của cái tôi cũng luôn vận động, phát triển không ngừng Theo đó cái tôi trữ tình không bao giờ là một thế giới

khép kín, nhỏ bé và hạn hẹp “Trong cái tôi một con người bao giờ cũng có phần xã hội, phần cá nhân, mà hành động con người là kết quả của sự chi phối của cái tôi trọn vẹn đó” [41, tr.24] Về điều này, nhà lý luận văn học Nga M Bakhtin cũng đã cho rằng: “Lời trong thơ không thuần túy là lời cá nhân Ở đây, uy tín của tác giả nhà thơ là uy tín của dàn đồng ca Sự đắm say trữ tình căn bản là sự đắm say của dàn đồng ca Bởi vì tôi nghe thấy bản thân mình trong người khác, với người khác và cho người khác…Cái tiếng nói của người khác mà tôi nghe thấy được ở ngoài tôi ấy chính là yếu tố tổ chức sức sống nội tại trong thơ trữ tình của tôi” [51, tr 132]

Trang 18

Cái tôi trữ tình của một cá nhân cũng thể hiện một quan hệ, một thái độ của cá nhân với hiện thực Sự bộc lộ cảm xúc, bày tỏ thái độ của cá nhân trước các tác động của ngoại cảnh cũng chính là một sự trả lời, một phản ứng đối với ngoại cảnh ấy, qua đó cái tôi trữ tình được bộc lộ rõ nét nhất Cảm xúc

là yếu tố quan trọng nhất trong các đặc trưng của thơ trữ tình, bởi suy cho cùng, mục đích của thơ trữ tình là trình bày được tâm tư, tình cảm, đánh giá mang tính chủ quan của con người đối với hiện thực

Cái tôi tâm lý - xã hội không phải là một cấu trúc đơn nhất, thuần túy mà

lả một hệ thống phức tạp được hợp thành bởi nhiều cái tôi và biểu hiện những quan hệ khác nhau của con người đối với thế giới Các mối quan hệ của cá nhân chủ thể với xã hội càng phong phú bao nhiêu thì cấu trúc của cái tôi ấy càng phức tạp bấy nhiêu Không những vậy, cấu trúc cái tôi còn là một chỉnh thể toàn vẹn và đa dạng, bao gồm cả những mâu thuẫn, đấu tranh Cái tôi mà chủ thể biểu hiện ra chính là cái tôi cân bằng nhất giữa các mặt đấu tranh ấy,

và là “cái tôi chủ đạo, mang tính ổn định, có khả năng đồng hóa và chiến thắng những cái tôi khác tạo nên sự nhất quán đầy phong phú của con người với chính nó và thời đại” [41, tr.27]

b) Bản chất nghệ thuật của cái tôi trữ tình

Thơ là sự thể hiện cái tôi cá nhân với những suy nghĩ, cảm xúc của người nghệ sĩ trước cuộc sống, “thơ là tiếng nói tri âm”, chính vì vậy con người muốn tự biểu hiện mình thường tìm đến với thế giới trữ tình

Nếu chỉ có cái tôi tâm lý - xã hội thì chưa thể có nghệ thuật Nghệ thuật chỉ xuất hiện khi cái tôi tâm lý - xã hội trở thành cái tôi nghệ thuật, tức là cái tôi ấy có nhu cầu tự biểu hiện, nhu cầu giao tiếp, nhu cầu đồng cảm và tất yếu phải được bộc lộ bằng phương tiện nghệ thuật Phương tiện nghệ thuật ấy trong văn học chính là ngôn ngữ nghệ thuật - một phương tiện đặc thù phản ánh tồn tại tinh thần nhất định của cái tôi trữ tình Cái tôi trữ tình muốn thực

Trang 19

hiện chức năng tự biểu hiện thì phải thông qua ngôn ngữ nghệ thuật, và sự đồng cảm của chủ thể trữ tình với những tâm hồn đồng điệu cũng chỉ được thực hiện trên cơ sở giao tiếp, truyền đạt qua văn bản trữ tình

Bản chất nghệ thuật của cái tôi trữ tình thể hiện ở chỗ nó là một thế giới

nghệ thuật thống nhất, “có ngôn ngữ và quy luật riêng, chịu sự quy định của những quan niệm nghệ thuật riêng, phụ thuộc vào lịch sử thời đại và lịch sử

cá nhân” [41, tr.33] Thế giới ấy “mang tính biểu tượng hóa" và để hiểu được

thế giới ấy, ta cần trải qua quá trình “giải mã” những mã số, kí hiệu, ngôn ngữ

và chương trình riêng để ta có thể thâm nhập vào khi đã nắm bắt được những quy tắc riêng của nó và đến với nó bằng một tâm thế đồng điệu với chủ thể trữ tình Chẳng hạn phải hiểu được thế giới nghệ thuật của Hàn Mặc Từ mới hiểu hết ý nghĩa những hình tượng nghệ thuật như trăng, hồn, máu trong thơ ông

và mới thấu hiểu hết tâm sự của một tâm hồn đau đớn và cô đơn đến tột cùng của nhà thơ

Thế giới nghệ thuật của cái tôi trữ tình có không gian nghệ thuật riêng, thời gian nghệ thuật riêng Qua không gian nghệ thuật, ta có thể biết được

“mô hình thế giới của cái tôi trữ tình với độ cao, chiều rộng và độ sâu của nó" [41, tr.34] Không gian - bao la, rộng lớn hay gò bó, chật chội, nó luôn

chứa đựng tình cảm của nhà thơ Không gian nghệ thuật cùng chính là phương thức chiếm lĩnh đời sống của tác giả gắn với ý thức chủ quan của tác giả nên nó cũng là ngôn ngữ, là biểu tượng nghệ thuật

Giống như không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật cũng được xây

dựng theo cảm nhận chủ quan của chủ thể trữ tình Thời gian nghệ thuật "là phương thức vận động, là nhịp điệu tồn tại của thế giới tâm hồn" [41, tr.34]

Bởi vậy, khác với thời gian khách quan đo bằng lịch và đồng hồ, trong thế giới nghệ thuật, thời gian có thế được đảo ngược, từ hiện tại hồi tưởng lại quá

khứ, thậm chí từ tương lai trở về quá khứ: “Khắc giờ đằng đẵng như niên/

Trang 20

Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa” (Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn)

Do đó, thời gian nghệ thuật luôn mang cảm xúc và ý nghĩa nhân sinh, giúp ta phát hiện được thực tại đối với con người

1.2 Hành trình thơ Nguyễn Duy

1.2.1 Những nét chính về cuộc đời Nguyễn Duy

Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948 tại xã Đông

Vệ, thị xã Thanh Hóa (nay là thành phố Thanh Hóa), tỉnh Thanh Hóa Năm

1965, ông từng làm tiểu đội trưởng tiểu đội dân quân trực chiến tại khu vực cầu Hàm Rồng, một trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mỹ trong những năm chiến tranh Việt nam Năm 1966, ông nhập ngũ, trở thành lính đường dây của bộ đội thông tin, tham gia chiến đấu nhiều năm trên các chiến trường đường 9 - Khe Sanh, Đường 9 - Nam Lào, chiến trường miền Nam, biên giới phía Bắc (năm 1979) Sau đó ông giải ngũ, làm việc tại Tuần báo Văn nghệ - Hội Nhà văn Việt Nam và là Trưởng Đại diện của báo này tại phía Nam Ngày nhỏ, ông được bà ngoại đọc cho nghe rất nhiều hò vè, ca dao, truyện cổ tích Đó có thể là một trong những nguyên nhân làm nên thành công

ở thể thơ lục bát sau này

Cuộc đời Nguyễn Duy nhiều thăng trầm, vất vả, từ những ngày ấu thơ cho đến khi trở thành người lính, đi qua chiến tranh, trở về với cuộc sống đời thường Một ngày buồn, ngồi lục lại trong đống đồ cũ những thúng mủng, nong nia, xoong chậu và ông chụp ảnh rồi đề thơ lên Ý tưởng bất chợt ấy, mang lại cho ông thành công, mà trước hết là về tiền bạc Một công ty làm lịch đã mua và ông có tiền trả nợ Suốt hàng chục năm trời ông bươn chải làm

đủ thứ nghề, không nề hà bất cứ việc gì như nuôi lợn, đạp xích lô, viết thuê… Ông là người đi nhiều, ham hiểu biết Ở đâu ông cũng có bạn bè, trong

đó có những người đã say thơ ông đến độ khó dứt ra được Ông đã sang Mỹ đọc thơ, giới thiệu thơ lục bát cùng nhà thơ Ý Nhi Nguyễn Duy đã có chuyến

Trang 21

du khảo văn hoá xuyên Việt bằng ôtô trong gần một tháng cùng với một vài người bạn Chuyến đi này đã giúp ông thu thập thêm một vốn kiến thức về văn hóa, ẩm thực, lễ hội khắp ba miền đất nước Với ông, đó là chuyến đi đầy

ý nghĩa, vất vả mà lắm niềm vui Ông đi tới nhiều nước trên thế giới như Nga, Trung Quốc, Pháp, Mỹ và nhiều nước ở Tây Âu Mỗi chuyến đi đều cho ông những kinh nghiệm mới, ý thức mới cho việc sáng tác và quảng bá thơ ca Việt Nam với bè bạn quốc tế Từ đó, ông lại làm việc không ngưng nghỉ Nguyễn Duy cũng luôn thể hiện mình là một người rong chơi trong cảm hứng sáng tạo

Nhà thơ Nguyễn Duy đã từng có tuổi thơ lam lũ vất vả ở miền quê xứ Thanh Hóa tuy nghèo mà sâu nặng nghĩa tình Sớm phải chịu cảnh mồ côi, thiếu tình mẹ nhưng bù lại cậu bé Nguyễn Duy được sống trong tình yêu thương và sự chăm sóc chu đáo của bà ngoại Tấm lòng nhân hậu, mộc mạc của bà đã nuôi lớn tâm hồn nhà thơ Sự gắn bó với đất nước và nhân dân trong những năm tháng chiến tranh gian khó đã nuôi dưỡng và hun đúc lên trong Nguyễn Duy một hồn thơ cương trực và mạnh mẽ, nặng trĩu suy tư mà thắm thiết nghĩa tình Về con người, có rất nhiều người, nhất là bạn văn, cho rằng Nguyễn Duy là nhà thơ lãng du nhất trong số các nhà thơ đương đại Việt Nam Vì thế thơ ông chất chứa nỗi niềm, đầy cảm xúc với những gì bình dị, không đao to búa lớn Ông làm những gì mình thích và chúng đều có ý nghĩa đối với nhiều người Dù đã có tuổi nhưng cái tôi nghệ sĩ trong con người Nguyễn Duy vẫn thôi thúc ông bước tiếp trên con đường khám phá thế giới xung quanh Ông cũng thường xuyên đi nói chuyện thơ, đọc thơ, làm sách và

có những chuyến đi rong chơi, lãng du với bạn bè Với Nguyễn Duy, tuổi tác không phải là lí do để ngăn sức đi, sức làm việc của ông

1.2.2 Hành trình thơ Nguyễn Duy

Do sự tác động của hoàn cảnh lịch sử và sự vận động trong ý thức của

Trang 22

nhà thơ, về cơ bản, cho đến nay có thể chia con đường thơ Nguyễn Duy làm hai giai đoạn: trước 1986 và từ 1986 đến nay

1.2.2.1 Trước 1986

Nguyễn Duy có thơ đăng báo từ những năm 1957, khi ông vừa tròn 9

tuổi Nhưng phải đến năm 1973 với chùm thơ bốn bài (Tre Việt Nam, Hơi ấm

ổ rơm, Giọt nước mắt và nụ cười, Bầu trời vuông) thơ Nguyễn Duy mới thực

sự được đông đảo bạn đọc biết đến Hoài Thanh là người phát hiện ra tài thơ của Nguyễn Duy Ông đã trao đổi từng câu, từng chữ thật cẩn trọng với Nguyễn Duy, trước khi đưa thơ in báo Thời gian đi lính, Nguyễn Duy viết nhiều thơ lục bát Bài thơ lục bát đầu tiên của thời kỳ này được Nguyễn Duy

sáng tác trong hai năm, bắt đầu từ năm 1969 Đó là bài Tre Việt Nam Bài Tre Việt Nam cùng với Bầu trời vuông, Hơi ấm ổ rơm đã mang lại cho Nguyễn

Duy giải Nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1973 Và cũng trong năm này,

tập thơ đầu tay của ông ra đời, tập Cát trắng Ở giai đoạn này, ta thấy xuất

hiện nhiều trong thơ Nguyễn Duy là hình ảnh quê hương, đất nước và con người trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược Ông đã cố gắng khắc họa chân dung con người Việt Nam trong khói lửa chiến tranh Trong

hoàn cảnh đối mặt với cái chết, mỗi bài thơ của Nguyễn Duy thể hiện “một sự dấn thân hết mình” [34, tr.45] Tuy nhiên cũng như những nhà thơ cùng thế

hệ, trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, thơ Nguyễn Duy giai đoạn này

có những hạn chế nhất định, đó là sự “bề bộn, ngồn ngộn chất liệu của hiện thực”, “có khi vì thế mà nó ôm đồm, tham lam, thậm chí còn sống sượng, còn

bê nguyên xi sự kiện nguyên mẫu vào trong thơ như quặng chưa kinh qua lò luyện ở nhiệt độ cao” [29, tr.104] Điều đó có thể lý giải, nhìn nhận từ nhiều

góc độ, trong đó sự thiếu hụt về kinh nghiệm được xem là một trong những lý

do cơ bản

Sau chiến thắng 1975, Nguyễn Duy vẫn say sưa và tiếp tục con đường

Trang 23

thơ của mình Tiếng thơ của ông ngày càng đậm đà, định hình một phong

cách, một giọng điệu Tập thơ nổi bật của Nguyễn Duy thời kỳ này là Ánh trăng (1984) Tập thơ được coi là một bước tiến trong thơ Nguyễn Duy, tập thơ đã được tặng giải A của Hội nhà văn Việt Nam 1984 (cùng tập thơ Hoa trên đá của Chế Lan Viên) Tập thơ vừa thể hiện được hình ảnh của con

người, quê hương đất nước trong thời kì chiến tranh vừa thể hiện được cuộc sống mới trong thời kì hậu chiến

Mặc dù đất nước ta sau 1975 bước vào thời kì hòa bình, song đất nước vẫn còn xơ xác, nghèo đói, lạc hậu…bởi hậu quả của chiến tranh Nền kinh tế

quốc gia “tuột dốc theo chiều rơi thẳng đứng” (Tố Hữu) Trong hoàn cảnh đó, nhiều nhà thơ “hoặc là ngại nói thực hoặc là vẫn triền miên theo quán tính tư duy thời trước đó”, nhưng Nguyễn Duy thì khác, ông không tiếp tục sống trong hào quang của chiến thắng vì ông quan niệm “tất cả trôi xuôi - cấm lội ngược dòng” Ông vẫn hăng say lao động nghệ thuật “đêm đêm thao thức như cây chổi quét đường” (Mười năm bấm đốt ngón tay) Tuy vậy, nhìn lại những

sáng tác thời kì này, Nguyễn Duy tự thấy câu chữ còn “nôm na”, ngôn ngữ thơ “chưa được” Nhưng với giọng điệu thơ chân thành, Nguyễn Duy đã khiến những bài thơ “chưa chuẩn mực” ấy, đường hoàng đi vào sâu thẳm trái tim mỗi người yêu thơ

1.2.2.2 Từ những năm 1986 đến nay

Sau năm 1986, với phương châm: “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” của Đại hội VI Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tạo nên sự chuyển động mới cho văn học Theo Phong Lê, đó là lúc “Văn học có dấu hiệu chuyển lên một đường ray mới, có lúc ngập ngừng rụt rè, có lúc bạo dạn sấn sổ, dẫu thế nào mặc lòng, nó không còn chấp nhận sự bình ổn, bình yên kiểu cũ” [34, 344] Chính vì vậy, Nguyễn Duy lại càng có điều kiện để bộc lộ cái tôi tài hoa của mình Nhà thơ đã liên tiếp cho ra đời 8 tập thơ: Mẹ

Trang 24

và em(1987), Đãi cát tìm vàng (1987), Đường xa (1989), Quà tặng (1990), Về (1994), Bụi (1997) Nguyễn Duy mượn thơ để phản ánh thời cuộc: “tờ giấy mỏng manh che chở làm sao được/ mỗi câu thơ chống đỡ mấy mạng người”

(Bán vàng)

Qua thơ, Nguyễn Duy mong muốn đánh thức con người đừng mãi chìm đắm trong u tối mà hãy mạnh mẽ hơn, vượt lên trên thực tại và hãy biết yêu, biết thương những người khốn khổ khác trong xã hội Có lẽ vì thế mà Đỗ

Ngọc Yên đã đánh giá rất cao Nguyễn Duy khi viết: “Nguyễn Duy là người đốt mình sống cho thơ Thơ anh mới từ sự tìm tòi cần mẫn trong cát bụi cuộc đời và được chưng cất lên thành những viên ngọc tinh tú.” [61]

Thơ Nguyễn Duy giai đoạn này còn dành một mảng viết về những tình cảm riêng tư Đó là tình yêu dành cho những người thân trong gia đình, như:

bà, mẹ, vợ, con trong đó Nguyễn Duy dành khá nhiều bút mực để ca ngợi về

vợ với cảm xúc chân thành, chút ăn năn, chút hài hước

Bên cạnh nhu cầu hạnh phúc đời thường, tình yêu trần thế, sự thức tỉnh nhu cầu cá nhân, thơ Nguyễn Duy thời kỳ này còn thể hiện những trải nghiệm

về niềm hạnh phúc khổ đau, sự hữu hạn và vô hạn của con người trong cuộc sống Cái tôi trữ tình của nhà thơ đã thể hiện phần vô thức của sự sống, phía tâm linh của cõi người

Ở chặng đường thơ này, Nguyễn Duy không hướng tới những cách tân siêu thực như Lê Đạt, Trần Dần, hay xu hướng hậu hiện đại như thi sĩ Bùi Giáng, Phan Bá Thọ, Bùi Chát… Ông chọn cho thơ mình một lối đi riêng, bám sát hiện thực đời thường, bám sát thời cuộc, với những vấn đề tâm lý nóng bỏng của toàn xã hội cũng như những day dứt và trưởng thành của mỗi

cá nhân

Như vậy, ngay từ khi mới cầm bút cho đến giai đoạn sáng tác sau này, Nguyễn Duy lúc nào cũng có “khao khát” là đưa thơ về gần hơn nữa với cuộc sống đời thường, với nhân dân lao động Từ những chuyến đi không mệt mỏi,

Trang 25

và quan trọng hơn cả là với một tài năng thật sự đã giúp thơ của Nguyễn Duy

có một chỗ đứng cho riêng mình trong nền văn học của dân tộc Là một người lính – nhà thơ, Nguyễn Duy đã có mảng thơ lớn viết về “thời vàng son” nhưng cũng lắm nhọc nhằn của mình Giai đoạn đầu sáng tác, Nguyễn Duy tập trung vào thể hiện những phẩm chất tốt đẹp của con người trong thời kháng chiến Sau thời kì Đổi mới, thơ Nguyễn Duy thể hiện những tình cảm chân thành của nhà thơ đối với người thân và những trải nghiệm của nhà thơ Mỗi tập thơ mang một dấu ấn riêng, thể hiện những buồn vui, trải nghiệm của nhà thơ Khai thác những khía cạnh trong đời sống hàng ngày, thơ Nguyễn Duy đã góp phần bồi dưỡng, hình thành nhân cách con người

Trang 26

Chương 2 HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN DUY

NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 2.1 Cái tôi trữ tình sâu lắng

Bao giờ cũng vậy, thơ luôn thiên về diễn tả những cảm xúc, rung động, suy tư của chính nhà thơ về cuộc sống xung quanh Những rung động, suy tư xuất phát từ chính những hiện tượng đời sống và phản chiếu vào tâm hồn nhà

thơ Tố Hữu từng bộc bạch: “Tôi thấy hình như thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn con người trước cuộc đời, trước tất cả những gì diễn ra xung quanh mình, là tiếng nói của tâm hồn con người trước con người và trời

đất [32; tr.444] Khi phân tích tác phẩm thơ, ta không chỉ đi sâu vào mổ xẻ,

cắt nghĩa, lí giải về các chi tiết, sự kiện, sự việc được nhà thơ đề cập, mà điều cốt lõi là thấy và nói được những cảm xúc, tâm trạng, thái độ và suy tư của nhà thơ gửi gắm trong từng câu chữ Qua khảo sát, chúng tôi thấy Nguyễn Duy thường bộc lộ trực tiếp cảm xúc của mình về con người, về quê hương, đất nước, về tình yêu đôi lứa

2.1.1 Trữ tình về con người

Cũng như hội họa, âm nhạc hay điêu khắc… văn học là một môn nghệ thuật Đương nhiên, đối tượng của văn học là con người – con người trong vô vàn những mối quan hệ xã hội khác nhau Dù văn học có miêu tả thế giới bên ngoài như thiên nhiên, lịch sử, chiến tranh, hòa bình thì văn học cũng chỉ chú ý tới quan hệ của chúng đối với con người bởi “văn học là nhân học” (Macxim Gorki) Văn học không chỉ phản ánh đời sống con người mà còn phải nhận thức con người, nói lên những ước mơ, khát vọng, những tâm tư, tình cảm của con người trong chiều sâu tâm hồn với sự đa dạng, phong phú của nó

Trang 27

Trong tác phẩm trữ tình, ta dễ dàng nhận thấy cảm xúc, suy tư của nhà thơ được trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu cho mỗi tác phẩm Nhà thơ có thể biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của mình Đây là đặc điểm tiêu biểu, đầu tiên của tác phẩm trữ tình Đến với những trang thơ thấm đầy chất đời, chất hiện thực của Nguyễn Duy, ta có thể bắt gặp hình ảnh của những con người bình dị, chân chất, mộc mạc ở mọi miền trên đất nước Đặc biệt, Nguyễn Duy đem tình cảm của mình gửi gắm vào những trang thơ để gửi tặng tới những con người nhà thơ yêu thương nhất như người bà, người

mẹ, người cha, người vợ… Lê Thị Thanh Đạm nhận xét: “Họ là những con người nhọc nhằn, vất vả, gian lao suốt cả cuộc đời nhưng sống giản dị mộc mạc vô tư, tự nhiên như lẽ của đất trời” [8, tr.82-83] Trong chúng ta, ai sinh

ra mà chẳng có ông, bà, cha, mẹ…đó là những người ta yêu thương nhất và quan tâm đến ta vô điều kiện nhất Nhớ lại những năm tháng tuổi thơ tuy thiếu thốn nhưng ông luôn được sống trong tình yêu bao la, sự bao bọc chở che của

bà, cha, mẹ… Nguyễn Duy đã viết về những người thân của mình với tất cả

sự biết ơn, trân trọng nhất

Trong “Đò Lèn”, hình ảnh người bà xuất hiện trong dòng kí ức của người

cháu, Trịnh Thanh Sơn cho là “những thước phim quay chậm” về nỗi gian truân của người bà, khiến độc giả “chỉ đọc thôi đã muốn trào nước mắt” [47,

tr.14] Cậu bé còn quá bé bỏng, quá ngây thơ nên không thấy được cuộc sống bộn bề, lo toan của người bà, còn người bà thì bao dung chấp nhận hết cực khổ để là chỗ dựa tinh thần cho đứa cháu của mình Đó chính là tấm lòng bao dung không bến, không bờ của người bà:

Thuở nhỏ ra cống Na câu cá níu váy bà đi chợ Bình Lâm bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

và đôi khi trộm nhãn chùa Trần

Trang 28

Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm

điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng

(Đò Lèn)

Nhà thơ như đang hoài niệm về tuổi thơ đẹp đẽ, ngây ngô bên bà của mình Có lẽ, chỉ có những đứa trẻ sinh ra và gắn bó với những vùng quê nghèo khó mới thấy hết cái hay của những trò chơi như: câu cá, bắt chim Kí

ức về thuở ấu thơ bỗng hiện lên đầy ấn tượng, sống động với hình ảnh níu váy

bà với thú vui như câu cá, bắt chim sẻ, hái trộm nhãn hay mùi hương của huệ trắng, khói trầm bỗng thoang thoảng như một nỗi ám ảnh Hình ảnh của người

bà hiện lên trong tâm trí nhà thơ chưa có phút giây nào ngơi nghỉ Cả một đời bà dành trọn thời gian của mình để chăm con, chăm cháu Bà nhận hết cực nhọc về mình để lo cho con cháu từng miếng ăn giấc ngủ, không phải chịu cái đói, cái

rét Bà có sá chi những công việc cực nhọc hay lam lũ như “mò cua xúc tép”,

“gánh chè xanh” Nguyễn Duy với những cảm xúc chân thật nhất của mình lại

khiến ta nhớ đến người bà tảo tần cùng bếp lửa sưởi ấm tuổi thơ của Bằng Việt:

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm/ Một bếp lửa ấp iu nồng đượm/ Cháu thương

bà biết mấy nắng mưa (Bếp lửa)

Trong “Xó bếp”, nhà thơ nhớ lại ngày thơ bên bà, ngày nhà thơ còn là

một cậu bé vô âu vô lo Hình ảnh của bà và mẹ luôn luôn xuất hiện trong tâm

trí nhà thơ khiến ông suy nghĩ, trăn trở - những người đã cho nhà thơ hình hài này, sức vóc này:

Nơi ấy nhá nhem giữa quên và nhớ đỉnh núi hiện lên bóng bà và mẹ mây chiều hôm gáng gạo đưa ta tất tưởi đường xa cầu vồng ráng đỏ

Trang 29

Đọc thơ Nguyễn Duy, ta thấy đâu đó trong đời sống có biết bao người bà, người mẹ như người bà, người mẹ của nhà thơ Họ là những phẩm chất tốt đẹp có từ ngàn đời nay của người phụ nữ Việt Nam luôn hi sinh bản thân, nhận hết mệt nhọc, cơ cực về mình Hình ảnh bà và mẹ hiện lên với sự tất tưởi gánh gạo, gánh mọi lo toan trên đôi vai gầy guộc

Bên cạnh đó, nhà thơ còn dành khá nhiều trang thơ để tặng người cha của

mình Ông không dám quên những vất vả nhọc nhằn của cha: “suốt đời thồ

nặng/ trĩu cả hai vai, việc nước việc nhà” (Cầu Bố) Người cha qua ngòi bút

của nhà thơ là con người dân dã, đời thường:

Cha tôi mải mê lang bạt kỳ hồ xây rồi bán nếp nhà không văn tự phủi tay về đẩy xe thồ

Nhà tôi đó không cổng và không cửa

ai ghé qua cứ việc hút thuốc lào cha tôi trổ rất nhiều cửa sổ gió nồm nam thỏa mái ra vào

(Cầu Bố)

Nhà là nơi cả tuổi thơ nhà thơ được yêu thương, nô đùa, sum vầy, hạnh phúc bên những người thân của mình Dù cuộc sống có thiếu thốn

Trang 30

nhưng đó là nơi “thỏa mái” nhất, bình yên nhất; là nơi mà khi đi đâu xa, người ta ai cũng muốn quay trở về và có lẽ đó là nơi duy nhất để ta trở về Trong con người Nguyễn Duy luôn có sự ân hận nén chặt trong lòng

đứa mải mê “đi mơ mộng trên trời”, bài thơ Về làng là nỗi đau, niềm

riêng: Lũ em ta vác cuốc cào/ giục nhau bước thấp bước cao ra đồng/ mồ

hôi đã chảy ròng ròng/ máu và nước mắt sao không nói gì Sau chiến tranh,

đất nước ta vẫn còn nhiều khó khăn phải đối diện, đời sống của dân ta còn lắm vất vả Tuy nhiên, gia đình nhà thơ vẫn điềm nhiên bước qua mọi gian khó đó Đặc biệt là cha nhà thơ, dù cho hiện thực có bức bối, cùng cực như

thế nào thì ông vẫn sống vô tư với cách ứng xử : “Không răng … cha vẫn

cười khì” Và có lẽ đến khi mái tóc đổi màu, nhà thơ mới cảm nhận hết tấm

lòng bao la của người cha: “Bốn mươi tuổi con vẫn còn con nít/ bảy mươi

rồi con sẽ hiểu lòng cha” (Với cha)

Nếu Tố Hữu đã dựng nên những tượng đài sừng sững về mẹ Suốt, mẹ Tơm mang đậm chất sử thi thì ở Nguyễn Duy chân dung những người mẹ lại hết sức bình dị, đời thường Những bài thơ của ông thường có âm điệu của những lời ru, những lời tâm tình, những lời vỗ về, những lời an ủi… Nhà thơ

đã hết sức tinh tế khi khắc họa hình ảnh người mẹ với bao cảm xúc chân thành làm cho người đọc xúc động và bỗng nhớ về người mẹ tuyệt vời của mình:

Trang 31

Nhìn về quê mẹ xa xăm lòng ta chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa

miệng nhai cơm bún lưỡi lừa cá xương

( Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa )

Ta cảm nhận được số phận của người phụ nữ trong câu thơ, mặc dù ta chưa thể hình dung cụ thể về nỗi khổ của mẹ nhưng cái hồn của câu thơ đã đưa ta nhập vào hồn ca dao xưa để cảm nhận, cảm thông với nỗi khổ của mẹ, của kiếp người thuở đó Nhớ đến mẹ là nhớ đến lời ru ầu ơ ngọt ngào của mẹ Lời ru ấy vẫn còn theo ta đi suốt cuộc đời nhưng ta đi sao hết được tình sâu, ý

cao của lời ru của mẹ:

Cái cò …sung chát… đào chua câu ca mẹ hát, gió đưa về trời

ta đi trọn kiếp con người cũng không đi hết mấy lời mẹ ru

(Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa)

Những lam lũ, thiếu thốn của cuộc sống đời thường đã khắc sâu trong kí

ức nhà thơ, bên cạnh hình ảnh người bà hôm sớm tần tảo là hình ảnh mẹ với bao nhọc nhằn đời sống thường nhật Xuất hiện trong mỗi góc bếp – nơi giữ lửa cho mỗi gia đình là hình ảnh của mẹ luôn tay luôn chân với công việc

Nếu người mẹ của Hoàng Đình Quang là người mẹ của đất nước, của dân tộc: “Mẹ hiểu đất nước bằng những ngày cha đi biền biệt/ Bằng nỗi ngóng

trông đằng đẳng chín năm trường” (Ngôi nhà của mẹ) thì người mẹ trong

thơ Nguyễn Duy là người mẹ của gia đình: Nơi ấy/ mẹ ta nhễ nhại mồ hôi/ đàn con lóc nhóc khóc cười/ tuổi ta xanh như tàu rau tươi/ buổi nhá nhem len

lén mò cơm nguội/ bảy sắc cầu vồng trong xó xỉnh lọ lem (Xó bếp) Mẹ giữ hết nhọc nhằn cho riêng mình để mong các con có một tuổi thơ trọn vẹn Mẹ

Trang 32

cơ cực một đời chẳng phút nào thảnh thơi: Mẹ ta vo gạo thổi cơm/ ba ông táo sứt lửa rơm khói mù/ nhà ta xay lúa ù ù/ vẫn chày cối thậm thịch như ngày

nào (Về làng) Mẹ hy sinh thầm lặng cả một đời mình:

Mẹ ta không có yếm đào nón mê thay nón quai thao đội đầu rối ren tay bí tay bầu

váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa

(Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa)

Mẹ là người phụ nữ đảm đang, hy sinh một đời vì chồng vì con Mẹ

không có niềm vui cho riêng mình Mẹ không có yếm đào, không có nón quai thao như bao người phụ nữ khác, quanh năm mẹ chỉ biết gắn bó với ruộng đồng với các con thơ

Trong văn học dân gian, cánh cò, cánh vạc, con trâu, cái cày như là biểu tượng của những mảnh đời lam lũ, Nguyễn Duy mượn những hình ảnh trên để nói về chính ông, bà, cha, mẹ mình bằng cả tấm lòng yêu thương nhất :

Trong thơ ca hiện đại Việt Nam, những bài thơ viết về người chồng khá nhiều, tuy nhiên thơ yêu vợ và thương vợ có số lượng chưa đáng kể Cho nên nếu ta đã bắt gặp sự cảm thông sâu sắc, tình thương yêu sâu nặng và sự biết

ơn vô cùng đối với vợ trong thơ Trần Tế Xương: Quanh năm buôn bán ở mom sông/ Nuôi đủ năm con với một chồng/ Lặn lội thân cò khi quãng vắng/

Eo sèo mặt nước buổi đò đông (Thương vợ) thì nay ta lại thấy niềm trân

Trang 33

trọng, sự biết ơn đó trong thơ Nguyễn Duy: “Áo mưa vợ giương cánh buồm giữa phố/ chồng với con mấp mé một thuyền đầy/ năm tháng bão giông sang

sông lũ đổ/ một tay em chèo chống ngày ngày”(Nợ nhuận bút) Nhà thơ nhận

ra sự vô tâm của mình, nhiều khi ông mặc nhiên đổ hết trách nhiệm lo toan

lên đôi vai người vợ chịu thương chịu khó của mình: Có đồng xu nhỏ rơi ngõ chợ/ em nhặt về nuôi đỡ những ngày con/ hột cơm Thạch Sanh cứ hết lại còn

(Rơi và nhặt) Những câu thơ như sự hối hận của nhà thơ khi mải theo những

chân trời lạ để vợ chịu hết thiệt thòi để chiều về ngồi ngẫm lại, nhà thơ bỗng thảng thốt: Không hề có đồng xu nào rơi ngoài ngõ, cũng chẳng hề có hột cơm Thạch Sanh trong đời thực Đây là cách “nịnh vợ” đầy khôn khéo của nhà thơ làm cho dòng cảm xúc về người vợ thêm phần ý nhị và sâu sắc hơn Trong thế giới cảm xúc của mình, Nguyễn Duy không chỉ làm thơ tặng người thân của mình mà ông hướng trái tim mình về những con người nhỏ bé, bình dị, những người tưởng như “xa lạ” mà nhà thơ đã từng gặp trong đời

mình: những bà mẹ Việt Nam, cô giáo ở Lạng Sơn, ông già ở Nam Bộ, người

ăn mày … Ông viết về họ với tất cả tấm lòng mình Quả không sai khi nói,

“Thơ Nguyễn Duy giàu tình thương” [8, tr.67]

Trong cuộc đời chiến sĩ của mình, Nguyễn Duy đã được bao lần đón nhận những vòng tay yêu thương của những người mẹ Việt Nam anh hùng

Đó là hình ảnh người mẹ đón anh chiến sĩ trong gió đêm với tấm lòng rộng

mở trong bài thơ Hơi ấm ổ rơm:

Tôi gõ cửa ngôi nhà tranh nhỏ bé ven đồng chiêm

bà mẹ đón tôi trong gió đêm nhà mẹ hẹp nhưng còn mê chỗ ngủ

mẹ chỉ phàn nàn chiếu chăn chả đủ rồi mẹ ôm rơm lót ổ tôi nằm

Trong thời kỳ chiến tranh còn gian khổ, nhà thơ tập trung khắc họa những vẻ đẹp đơn sơ, bình dị: một hành động, một tính cách, một tâm trạng

Trang 34

của con người Đó là anh lính thổi kèn với tiếng kèn “đỏ lừ” như “một đạo quân âm thanh” bủa vây kẻ thù: Tôi muốn hát để mọi người cùng nhớ/ về dáng hình bé nhỏ của anh chiến sĩ thổi kèn/ và tiếng kèn đỏ lừ từ mặt đất

cháy đen (Tiếng kèn hiệu trong trận đánh cao điểm X) Đó là vẻ đẹp “như

dạ hương thấp thoáng đêm nào” của một cô giáo ở Lạng Sơn trong những ngày chống quân bành trướng: Trường sơ tán rồi, cô giáo còn chốt lại/ khẩu súng thép chéo lưng con gái/ ôi tấm lưng kia ngỡ sinh ra để mà mềm mại/

Dáng điệu ấy chốt lại lòng ta mãi/ như dạ hương thoáng gặp một đêm nào (Dạ hương)

Khi đặt chân đến vùng đất tận cùng của Tổ quốc, nhà thơ bắt đầu rung

cảm với cuộc sống sông nước của những người nông dân ở đây Ông già sông Hậu thể hiện sự hồn hậu của người nông dân Nam Bộ:

(Ông già sông Hậu)

Tính cách phóng khoáng và nhân hậu của con người Nam Bộ khó mà lẫn với ai được Nhà thơ vô cùng ngưỡng mộ cách sống đó của con người nơi đây

2.1.2 Trữ tình về quê hương, đất nước

Quê hương là dòng sữa ngọt ngào nuôi dưỡng tâm hồn con người, nhất là đối với người nghệ sĩ Quê hương là nơi chôn nhau cắt rốn, là máu thịt của mỗi người Con người có thể đi nhiều nơi, sống nhiều chỗ, gắn bó với nhiều vùng đất khác nhau nhưng trong đáy sâu tâm hồn mỗi con người vẫn luôn chất chứa niềm thương tha thiết đối với nơi mình được cất tiếng khóc đầu đời

Trang 35

Chẳng thế mà những câu ca dao gieo vào trong kí ức của con người nhiều nỗi

niềm nhất luôn là những dòng viết về quê hương thân yêu:“Anh đi anh nhớ quê nhà/ Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương/ Nhớ ai dãi nắng dầm sương/ Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”

Nguyễn Duy yêu mỗi tên đất tên làng, nơi nhà thơ được vỗ về từ thuở trong nôi với câu hò điệu ru của bà của mẹ Nguyễn Duy chưa bao giờ quên khúc dân ca ngọt ngào của quê hương:

Nghìn năm trên dải đất này

cũ sao được cánh cò bay la đà

cũ sao được sắc mây xa

cũ sao được khúc dân ca quê mình

(Khúc dân ca)

Như một tuyên ngôn, nhà thơ khẳng định: Dù nghìn năm trôi qua trên mảnh đất này thì những vẻ đẹp của làng quê không bao giờ "cũ" được Với nhà thơ, “quê nhà ở phía ngôi sao”, nơi lấp lánh kỉ niệm về những người mà ông thương yêu nhất, về tuổi thơ êm đẹp đã qua đi những vẫn còn lại bao dư vị

Tuổi thơ Nguyễn Duy trôi qua gắn với những gì thân thuộc nhất ở quê hương:

bát ngát cánh đồng

cỏ và lúa và hoa hoang cỏ dại

vỏ ốc trắng những luống cày phơi ải

bờ ruộng bùn lấm tấm dấu chân cua

( Tuổi thơ )

Mảnh đất nhà thơ được sinh ra là nơi nhà thơ được sống trọn với tuổi thơ mình Vẻ đẹp của quê hương trong tâm trí nhà thơ cũng bình dị như những con người “chân lấm tay bùn” nơi đây với cánh đồng lúa bát ngát, vỏ óc trắng, những cánh đồng phơi ải đang chờ mùa gieo hạt… Nhà thơ không thể quên

Trang 36

nơi nhen nhóm ngọn lửa hạnh phúc của mỗi gia đình – đó là xó bếp Nơi ấy

đã cho nhà thơ bao kỉ niệm đơn sơ mà sâu sắc: Nơi ấy/ ta nướng khoai lùi sắn/ xoa xít hít hà thơm mì cháy họng/ lấm tấm đầy đầu bụi bồ hóng/ lép bép lửa

tàu cau/ râu tôm nấu với ruột bầu khen ngon (Xó bếp)

Ngược dòng kí ức của nhà thơ ta được về với một vùng quê xưa với nét

văn hóa lâu đời: “chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng/ mùi huệ trắng quyện khói

trầm thơm lắm/ điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng ” (Đò Lèn) Đất nước ta

là một đất nước đã có hàng nghìn năm lịch sử với nền văn hóa mang bản sắc riêng Mùi huệ, hương trầm, điệu hát văn… là những hình ảnh quen thuộc đối với nhà thơ, làm nên nét đẹp cho mảnh đất Thanh Hóa Chính nét đẹp đó làm nên cốt cách, hình hài và bản sắc của dân tộc Việt Nam

Nguyễn Duy không sao quên nổi những kí ức đẹp đẽ về tuổi thơ mình bên gia đình thân thương, dù cuộc sống chẳng hề đủ đầy:

mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao ngân hà chảy ngược lên cao quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm

bờ ao đom đóm chập chờn

(Tuổi thơ)

Giữa cái nóng nực của ngày hè còn gì thích thú bằng việc được trải

chiếu trước sân ngắm nhìn vũ trụ bao la Đêm tối càng trở nên lung linh khi được tô điểm bởi những ngọn đèn đom đóm ngoài bờ xa Nhà thơ tiếc nuối

thời xa vắng ấy: Tuổi thơ tôi cứ ngỡ mất đi rồi/ năm tháng trôi qua không bao giờ chảy lại/ cái năm tháng mong manh và vững chãi/ con dấu đất đai tươi

rói mãi đây này (Tuổi thơ)

Mỗi chúng ta, ai cũng có một quê hương để nhớ, để yêu và để để quay trở về Dù đi đâu xa thì hình ảnh quê hương vẫn luôn còn mãi trong dáng đi,

câu nói, điệu cười “Dường như ở mỗi bài thơ là một phát hiện thêm về vẻ đẹp

Trang 37

của người nông dân, làng quê [8, tr.83] Phải có một tình yêu quê hương trọn

vẹn và chân thành thì nhà thơ mới viết được những câu thơ như thế này:

“Giọt sương muối co ro đầu nhảnh mạ/ nhức nhối bàn chân phì phọp thở

trong bùn” (Lời ấm áp nói từ trong gió lạnh) Trong những câu thơ trên,

Nguyễn Duy đã chú ý đến những chi tiết vô cùng nhỏ nhặt: “giọt sương muối

co ro đầu nhảnh mạ”, hình ảnh“lụt trắng đồng” Nhưng chính nhờ những chi tiết ấy, cảnh lũ lụt hiện lên thật cụ thể Đặc biệt ông thường nghiêng về miêu

tả cảm giác, truyền đến người đọc trọn vẹn cảm giác “co ro” thu mình lại vì lạnh của từng nhảnh mạ, cái “nhức nhối” của bàn chân trần khi ngập trong bùn lầy giữa thời tiết lạnh giá Đó là cảm giác của người đã từng run bởi lạnh, từng giật thót mình khi chạm chân vào bùn lạnh Đọc những câu thơ ta cảm nhận được nỗi đau và sự khắc khoải của một người con xa quê khi hướng về

quê mẹ

Khi viết về làng quê, thơ ông khai thác hình ảnh đời thường vào thơ để

làm nổi bật những vẻ đẹp đơn sơ:“Tôi lớn lên trên bờ bãi sông Hồng/ trong màu mỡ phù sa máu loãng/ giặc giã từ con châu chấu, con cào cào/ mương máng, đê điều ngổn ngang chiến hào/ trang sử đất ngoằn ngoèo trận mạc”

(Đánh thức tiềm lực).Trong thơ ông, nông thôn hiện ra chân thật mà nên thơ

nhưng cũng trần trụi bởi thiếu thốn:“Hôm nay tôi gặp muối trên đồng/ từ vị mặn còn lặn trong ruộng cát/ từ bàn tay sần chai xới đầm chang gạt/ từ gương mặt đỏ nhừ như cua luộc/ từ vạt áo ra đồng màu nâu non về thôn màu

cát bạc/ từ dáng người đi tất bật giữa trưa hè” (Muối trắng)

Nguyễn Duy khác biệt với những nhà thơ đương đại suốt đời đi tìm cái đẹp sau vỏ bọc hình thức uyên thâm cần có tri thức để giải mã hết những kí hiệu hình thức thì Nguyễn Duy suốt đời vẫn thầm lặng phát hiện những vẻ đẹp giản dị giữa cuộc đời Những câu thơ say mê ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên

như:“Đồng chiêm phả nắng lên không/ cánh cò dẫn gió qua khung lúa vàng/

Trang 38

gió nâng tiếng hát chói chang/ long lanh lưỡi hái liếm ngang chân trời”

(Tiếng hát mùa gặt) hay: Mùa xuân trôi giữa dòng người/ mỗi màu áo một

khoảng trời lướt qua/ tương tư hoa gạo quê nhà/ tự nhiên áo đỏ làm ta giật

mình (Hoa gạo)

Suốt hành trình rong ruổi qua mọi miền đất trên Tổ quốc, Nguyễn Duy

đã hái được cho mình nhiều “hoa thơm trái ngọt” Đi đến đâu, Nguyễn Duy cũng tìm được cho mình nguồn cảm hứng sáng tác mới Nguyễn Quang Sáng

đã yêu mến ví “Nguyễn Duy như một con ngựa sung sức, nếu không được buông vó trên đường dài thì ở trong tàu lúc nào cũng nghe cái gõ lộp cộp của

nó, nó đòi đi.” [46, tr.88] Đến những vùng đất khác nhau, Nguyễn Duy đã

tìm ra nét đặc trưng của mỗi vùng miền, mảnh đất nào níu giữ chân người Đến Hà Nội, Nguyễn Duy xúc cảm trước thiên nhiên, con người, trước cái

biến đổi của mảnh đất thủ đô ngàn năm văn hiến: “Hồ Gươm xanh màu xanh

cổ tích/ con rùa vàng gửi bóng ở trên mây/ cây si mọc chúc cành xuống nước/

Thê Húc cong cong một nét lông mày ( Một góc chiều Hà Nội) Nhưng khi

đến Huế, nhà thơ bị hớp hồn trước sự huyền bí của xứ Huế hữu tình: Mây xưa lởm khởm thiên đường/ cõi mê xưa loạng quạng chuông luân hồi/ Bóng xưa xiêm áo về trời/ hình hài xưa mộc meo thời vàng son/ Dấu xưa đâu mất đâu

còn/ mắt xưa mưa móc mài mòn con ngươi (Giấc Huế) Và cũng không biết

từ đâu và từ bao giờ mỗi lần nhắc đến phong cảnh xứ Huế, con người lại cảm nhận vu vơ được nỗi buồn nhẹ nhàng, bâng quơ – có lẽ đây là vị riêng của xứ

sở này Nhà thơ may mắn lưu giữ vẻ như thực như mơ của sông nước Cửu

Long : Lau già râu tóc bạc phơ/ khói sương biêng biếc mấy bờ sông xa/ chiều

xanh như nỗi nhớ nhà/ mây bàng bạc sóng bao la bốn bề (Xuồng đầy)

Bởi yêu quê hương biết mấy nên trong và sau những chuyến đi xa quê hương đất nước, Nguyễn Duy khao khát được trở về nơi “chôn nhau cắt rốn” của mình Nơi xứ người khiến ông chạnh lòng nhớ về quê hương Nhà thơ

Trang 39

tâm sự: “Tôi là người đi nhiều, đã qua hàng chục quốc gia, qua biết bao nhiêu những thành phố sầm uất, những thủ đô hoa lệ, nhưng rồi lại thấy đi đâu cũng không bằng trở về nhà mình, được sống giữa tâm hồn dân tộc mình ” [30, tr.155) Ta lắng nghe thấy tiếng lòng tha thiết của những con

người xa xứ luôn hướng về quê hương đất nước của mình:

Rơm rạ ơi ta trở về đây gió sùng sục mùi bùn nằng nặng ngấu mộc mạc tím cành hoa bìm bờ dậu vắt vẻo cành tre sáo sậu gọi tên mình

Con dấu chìm chạm trổ tận trong xương thời thơ ấu không thể nào đánh đổi trọn kiếp người ta chập chờn nguồn cội

có một miền quê trong đi đứng nói cười

(Tuổi thơ)

Thơ Nguyễn Duy luôn gần gũi với bạn đọc bởi sự chân thành, mộc mạc

trong cảm xúc Cả đời cầm bút, nhà thơ luôn thành thực với chính mình, “vẫn sáng tác với bản sắc của mình, không biến dạng, không pha tạp do hoàn cảnh

Trang 40

sống” (Nguyễn Quang Sáng) [46, tr.87] Không quá lời nếu nói, trong tất cả

các bài thơ Nguyễn Duy đã viết, những bài đọng lại nhất, thấm thía nhất đều

là những bài viết về quê hương, một quê hương còn đầy cơ cực trong mỗi ngày thường đang qua, đang tới Nguyễn Duy là người sớm hướng đến mảnh hồn quê vất vả nhọc nhằn đã có lúc bị khuất lấp đi trong hiện thực nóng bỏng của chiến trường Cảm hứng sáng tạo của nhà thơ bắt nguồn từ một tình yêu sâu nặng, một bản lĩnh vững vàng, một tài năng thực sự

2.1.3 Trữ tình về tình yêu và hôn nhân

Tình yêu vẫn luôn là một đề tài muôn thuở của văn học Tình yêu, trạng thái cảm xúc mạnh mẽ và đẹp đẽ nhất của con người lại cũng là một trong những điều khó định nghĩa và nắm bắt nhất thế gian Nhà thơ Xuân Diệu đã có nhận xét khá độc đáo về mối quan hệ giữa thơ và tình yêu:

“Tình yêu và thơ là hai phạm trù mà trong đó cái tuyệt vời thông minh kết hợp với cái tuyệt diệu ngây thơ, là hương đặc biệt của một số tâm hồn thi sĩ

và tình nhân”[12, tr.11]

Đọc thơ Nguyễn Duy, ta không khó để cảm nhận được một trái tim nồng nàn, rạo rực trong tình yêu Tình yêu có sức mạnh vô cùng lớn lao, xoa dịu nỗi đau mà ta đã đang và sẽ trải qua Khi mới yêu, đôi khi tình yêu khiến nhà

thơ băn khoăn: Giàn hoa giấy nhà ai/ tím chen hồng rực rỡ/ Hoa thật như hoa

giả/ để lòng nhau băn khoăn (Hoa giấy) Nhưng khi đã yêu, nhà thơ nhận

thấy sức mạnh vô biên của nó - giúp con người mạnh mẽ hơn, nhất là trong những năm tháng chiến tranh

Tình yêu cho con người những phút giây tĩnh lặng để ta được nhìn lại chính mình, để ta được trở về với mình, thành thực với chính mình Nguyễn Duy đã dành hết thời trai trẻ đẹp đẽ nhất cho Cách mạng, cũng như bao nhà thơ đương thời, trong quan niệm của Nguyễn Duy tình yêu bao giờ cũng mang lí tưởng xã hội cao cả, mang nét chung của cả thế hệ và một giai đoạn

Ngày đăng: 10/08/2021, 15:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lại Nguyên Ân (1986), Tìm giọng mới thích hợp với người thời mình, Báo Văn nghệ số 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm giọng mới thích hợp với người thời mình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1986
[2] Bekher J (1970), Lý luận thơ ca, Tài liệu dịch của khoa Ngữ Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận thơ ca
Tác giả: Bekher J
Năm: 1970
[3] Trần Hòa Bình - Lê Dy -Văn Giá ( 2003), Bình văn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình văn
Nhà XB: NXB Giáo dục
[4] Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hoá- Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hoá- Thông tin
Năm: 2001
[5] Khánh Chi (1994), Với Nguyễn Duy - những bài thơ lục bát là phần quý giá nhất của mình, Báo Đại đoàn kết số 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Với Nguyễn Duy - những bài thơ lục bát là phần quý giá nhất của mình
Tác giả: Khánh Chi
Năm: 1994
[6] Nguyễn Thị Chính; Thơ tình sau 1975 - sự trở về tình yêu muôn thuở đời thường, http://vhnt.org.vn/tin-tuc/van-hoc-nhiep-anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ tình sau 1975 - sự trở về tình yêu muôn thuở đời thường
[7] Ngô Thị Kim Cúc (1997), Như hạt - bụi - người, Báo Thanh niên số 193 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Như hạt - bụi - người
Tác giả: Ngô Thị Kim Cúc
Năm: 1997
[8] Lê Thị Thanh Đạm (2009), Đặc điểm thẩm mỹ thơ Nguyễn Duy, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm thẩm mỹ thơ Nguyễn Duy
Tác giả: Lê Thị Thanh Đạm
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2009
[9] Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2002
[10] Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Tùng (2010), Thi pháp học ở Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp học ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Tùng
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
[11] Xuân Diệu (1984), Công việc làm thơ, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công việc làm thơ
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1984
[12] Xuân Diệu (1999), Tác phẩm văn chương và lao động nghệ thuật, (Lưu Khánh Thơ giới thiệu và tuyển chọn), NXB. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn chương và lao động nghệ thuật
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: NXB. Giáo dục
Năm: 1999
[13] Nguyễn Duy (1973), Cát trắng, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cát trắng
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 1973
[14] Nguyễn Duy (1984), Ánh trăng, NXB Tác phẩm mới, Hội nhà văn Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ánh trăng
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: NXB Tác phẩm mới
Năm: 1984
[15] Nguyễn Duy (1987), Mẹ và em, NXB Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mẹ và em
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: NXB Thanh Hóa
Năm: 1987
[16] Nguyễn Duy (1989), Đường xa, NXB Trẻ TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường xa
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: NXB Trẻ TP.HCM
Năm: 1989
[17] Nguyễn Duy (1994), Về, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 1994
[19] Nguyễn Duy (1995), Vợ ơi..., NXB Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vợ ơi
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 1995
[20] Nguyễn Duy (1997), Bụi, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bụi
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 1997
[21] Nguyễn Duy (2010), Thơ Nguyễn Duy, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Nguyễn Duy
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w