ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM LÊ HỒNG CHÍNH ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊU TRONG THƠ LÂM THỊ MỸ DẠ Chuyên ngành Ngôn ngữ học Mã số 82 29 02 0 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ Đà Nẵng – 2022 Công trình đƣợc[.]
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ HỒNG CHÍNH
ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊU TRONG THƠ LÂM THỊ MỸ DẠ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 82.29.02.0
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
Đà Nẵng – 2022
Trang 2Công trình được hoàn thành tại TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS TRẦN VĂN SÁNG
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Thư viện Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN
- Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN
Trang 31
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Ngôn ngữ học tri nhận “nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở
vốn kinh nghiệm và sự cảm thụ của con người về thế giới khách quan cũng như cái cách thức mà con người tri giác và ý niệm hóa các
sự vật của thế giới khách quan đó” [1] Đó là hướng nghiên cứu mới thu hút sự tham gia đông đảo của giới ngôn ngữ học hiện nay trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng
Vấn đề ẩn dụ tri nhận trong thơ ca là một nhánh mới của ẩn
dụ ý niệm Trước đây, ngôn ngữ thơ với đặc trưng là tính hình tượng thường là đối tượng nghiên cứu của văn học Ngôn ngữ học tri nhận
và lí thuyết điển mẫu đã đặt ra vấn đề nghiên cứu mô hình tri nhận trong thơ, tạm gọi là thi pháp học tri nhận Thi pháp học tri nhận có tính lí thuyết về không gian tinh thần tích hợp với khái niệm pha trộn giải thích các quá trình sáng tạo trong tâm trí con người và liên quan các khái niệm trừu tượng Ý niệm của hình ảnh thơ được hiểu là thuộc về một hệ thống logich trong khuôn khổ của mô hình tri nhận
lí tưởng hóa hay hình ảnh lược đồ Thi pháp học tri nhận đặt ra vấn
đề nghiên cứu tư duy trong thơ ca và tìm hiểu các quá trình tinh thần, quá trình tâm lí của nhận thức
1.2 Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong các tác phẩm văn học
là một trong những hướng nghiên cứu mới của trào lưu ngôn ngữ học tri nhận theo hướng ứng dụng liên ngành ngôn ngữ với văn chương Trong văn học, ẩn dụ ý niệm chủ yếu được hình thành qua con đường trực giác, nó xuất hiện cùng với chức năng hình tượng hóa các khái niệm trừu tượng Ẩn dụ ý niệm đem đến sự sáng tạo, mới mẻ trong cách cảm nhận thế giới và mở ra cho con người những khả năng tìm tòi, khám phá các mối liên hệ giữa sự vật, hiện tượng Thoát khỏi sự phản ánh các sự kiện bằng lối cấu trúc thông thường, ẩn dụ ý niệm làm cho trí tưởng tượng của con người trở nên vô cùng phong phú
1.3 Lâm Thị Mỹ Dạ - nhà thơ nữ hiếm hoi thời hiện đại, tự
nguyện làm cuộc hành trình đầy phiêu lưu, bất ngờ bằng cái nhìn dự cảm kỳ diệu thế giới lung linh, huyền ảo và vững tin mình không lạc
Trang 42 khỏi chính mình Thế giới hình ảnh trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ vừa đậm sắc màu hiện thực, ngồn ngộn hơi thở cuộc sống vừa mang tính biểu tượng cao Điều đó đã thể hiện tài năng và sự khéo léo của nhà thơ, nhằm làm cho những bài thơ của mình không chỉ dừng lại ở những lời thuyết lí khô khan, trừu tượng Thế giới hình ảnh bao giờ cũng gợi ra trong trí tưởng tượng của người đọc nhiều liên tưởng bất ngờ và thú vị, làm cho lời thơ thêm mượt mà, trong sáng Việc tìm hiểu thơ Lâm Thị Mỹ Dạ từ góc độ ẩn dụ ý niệm là một hướng nghiên cứu mới mẻ, cần được thực hiện để góp phần khẳng định ẩn
dụ ý niệm trong thơ ca là một cách mở rộng về sự nhận thức thế giới theo những khung giả định của kinh nghiệm cá thể trong cách sáng tạo của nhà thơ - nhìn từ cơ chế của hoạt động tư duy Hơn nữa, hiện nay cũng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện, có hệ thống về ẩn dụ ý niệm trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
Vì những lí do trên, tác giả luận văn lựa chọn đề tài nghiên
cứu: “Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ”
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Những nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm và ẩn dụ ý niệm trong thơ
2.2 Những nghiên cứu về thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
Cảm nhận về thơ tình Lâm Thị Mỹ Dạ, nhà thơ Trần Đăng Khoa nhận xét: “Nếu Xuân Quỳnh là ánh nắng góc cạnh, cháy bỏng
và dào dạt của vầng mặt trời giữa ngọ, thì Lâm Thị Mỹ Dạ lại là ánh trăng êm đềm, dịu mát ở khoảng nửa đêm về sáng” [16, tr.7) Hồ Thế
Hà, một cây bút phê bình đã chỉ ra ra hướng đi mới của nữ sĩ: “chính
là sự quay về gấp gáp và quyết liệt hơn với nhu cầu khám phá những giá trị vĩnh hằng của con người và cuộc sống Hành trình ấy chân thật, dữ dội nhưng đầy trách nhiệm đến nỗi nhà thơ phải trải lòng mình, trải hết vui buồn, tốt xấu của chính mình để từ đó nhìn ra tha nhân, tâm tình cùng tha nhân” [16, tr 35]
Ngoài ra, còn có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ Các nghiên cứu này chưa tập trung đi khảo sát các ẩn dụ tri nhận ở một tác giả cụ thể dựa trên lí thuyết về ngôn ngữ
học tri nhận Có thể kể đến như Nguyễn Thị Thành nghiên cứu Thế
Trang 53
giới nghệ thuật thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, Phạm Thị Thúy Vinh viết về Đặc trưng nghệ thuật thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, Hà Duy Linh viết về Cái tôi trữ tình trong thơ Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị
Mỹ Dạ, Nguyễn Thị Thủy bàn về Ngôn ngữ thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
Như vậy, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra những nét đặc trưng,
sự vận động cùng những đóng góp của nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ cho nền văn học nước nhà cả về góc độ văn học và ngôn ngữ học Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu về ẩn dụ
ý niệm trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, đó chính là “khoảng trống” để chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Ở luận văn này, chúng tôi tập trung nghiên cứu hiện tượng
ẩn dụ ý niệm về tình yêu thông qua các mô hình ẩn dụ ý niệm, các kiểu ẩn dụ ý niệm và các biểu thức ngôn từ được ý niệm hóa về tình yêu trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về phương diện nội dung, luận văn khảo sát các dạng ẩn dụ
ý niệm tiêu biểu nhất thông qua miền đích là TÌNH YÊU, miền nguồn và các mô hình ý niệm liên quan đến miền đích
Về nguồn tư liệu khảo sát, luận văn này được lấy từ cuốn
Lâm Thị Mỹ Dạ tuyển tập, NXB Hội Nhà văn, 2011
4 Mục đích nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu đề tài này, luận văn nhằm đạt được những mục đích sau:
- Hệ thống hóa những kiến thức lí luận về ẩn dụ ý niệm và
cơ chế nhận biết ẩn dụ ý niệm;
- Tiến hành khảo sát ẩn dụ ý niệm tình yêu trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận, đồng thời qua cơ chế của ẩn dụ và nhân sinh quan để khẳng định những đóng góp của nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ về mặt sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật
5 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
Luận văn có sử dụng kết hợp các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:
Trang 64
5.1 Phương pháp miêu tả
Từ góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận, luận văn tiến hành miêu tả ẩn dụ ý niệm tình yêu để phát hiện những giá trị ẩn sâu mà tác giả gửi gắm trong thơ của mình
5.2 Thủ pháp phân tích ngữ nghĩa
Phân tích mối quan hệ giữa nghĩa bề mặt ngôn từ và nghĩa biểu trưng của hiện tượng ẩn dụ xuất hiện trong ngữ cảnh câu thơ để
thấy giá trị tri nhận-văn hóa của chúng
5.3 Thủ pháp thống kê, phân loại
Trên cơ sở tập hợp ngữ liệu về các loại ẩn dụ, luận văn tiến hành phân loại chúng theo các mô hình phạm trù ý niệm để đưa về
hệ thống các ẩn dụ ý niệm cơ sở, ẩn dụ ý niệm phái sinh, lí giải các ý niệm trong từng mô hình ẩn dụ được nghiên cứu Còn phương pháp thống kê sẽ giúp thấy mức độ phổ biến của từng kiểu ẩn dụ ý niệm trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
6 Đóng góp của đề tài
6.1 Về phương diện lí thuyết
Các kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần củng cố lí thuyết của ngôn ngữ học tri nhận, góp phần làm sáng tỏ những nét độc đáo trong phong cách thơ của nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, đồng thời khẳng định giá trị của phương thức ẩn dụ trong việc xây dựng văn bản nghệ thuật Qua đó cũng góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu khuynh hướng lí thuyết về ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam, góp phần chứng minh ẩn dụ ý niệm không chỉ là hình thái tu từ mà còn là vấn đề của tư duy, là một cơ chế quan trọng để con người nhận thức thế giới
6.2 Về phương diện thực tiễn
Luận văn giúp ta có cái nhìn đầy đủ hơn về tác phẩm văn học dựa trên mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, nhất là con đường tiếp cận ngôn ngữ tác phẩm ở cấp độ từ ngữ và ý niệm Ngoài
ra, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ mở ra một hướng phân tích mới cho việc giảng dạy, tìm hiểu thơ Lâm Thị Mỹ Dạ trong nhà trường
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ
Trang 75 lục, Luận văn được bố cục thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết và những vấn đề liên quan
Chương 2: Khảo sát mô hình tri nhận của ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ xét từ miền Nguồn
Chương 3: Những ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ xét từ miền Đích tình yêu
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1.1 Ẩn dụ và ẩn dụ ý niệm
1.1.1 Ẩn dụ theo quan niệm truyền thống
1.1.2 Ẩn dụ theo quan điểm tri nhận
1.2 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến ẩn dụ ý niệm
1.2.1 Ý niệm và ý niệm hóa
1.2.2 Miền, miền nguồn, miền đích và ánh xạ
1.2.7 Phân loại ẩn dụ ý niệm
1.2.7.1 Ẩn dụ cấu trúc (Structural metaphors)
1.2.7.2 Ẩn dụ định hướng (Orientational metaphors)
1.2.7.3 Ẩn dụ bản thể (Ontological metaphors)
1.3 Lâm Thị Mỹ Dạ, cuộc đời và thi phẩm
1.3.1 Tác giả Lâm Thị Mỹ Dạ
1.3.2 Thi phẩm Lâm Thị Mỹ Dạ
Các tập thơ đã được xuất bản của Lâm Thị Mỹ Dạ:
- Trái tim sinh nở, NXB Văn học, 1974
- Bài thơ không năm tháng, NXB Tác phẩm mới, 1983
- Hái tuổi em đầy tay, NXB Đà Nẵng, 1990
- Mẹ và con, NXB Phụ nữ, 1995
- Đề tặng một giấc mơ, NXB Thanh niên, 1999
Trang 86
- Tập thơ “Cốm non” (Green Rice) được dịch ra tiếng Anh,
in và phát hành
tại Hoa Kỳ, 2005
1.3.3 Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, đề tài và thi pháp
1.2.3.1 Đề tài thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đa dạng về đề tài, đó là sự phản ánh cuộc sống đau thương mà anh dũng của dân tộc ta trong những năm kháng chiến chống Mỹ ác liệt Bộc lộ tình cảm xót xa và niềm tin thắng lợi của cuộc cách mạng Là nỗi đau xót và niềm kính phục trước sự hy sinh cao quý của những người đã ngã xuống vì quê hương, đất nước
Bên cạnh đó, bà đã bày tỏ những cảm xúc về tình cảm gia đình sâu nặng như tình bà cháu, tình mẫu tử, tình bạn, tình yêu
Sự đổi mới về thi pháp được Lâm Thị Mỹ Dạ thể hiện nổi
bật ở tập Đề tặng một giấc mơ Có đến 37 bài trong số 46 bài
trong tập thơ này, Lâm Thị Mỹ Dạ đã lấy bản thân mình làm đối tượng phản ánh để từ đó nhìn ra nhân thế Bà đã tự soi tỏ đến tận cùng chân thật nỗi lòng mình Đó là những ám ảnh, tiếc nuối trước sự tuyến tính của thời gian, đó là nỗi buồn, nỗi cô đơn trong khoảnh khắc đối diện với bản thân, đó là niềm khao khát về một tình yêu tuyệt đích
Nhìn chung, qua nhiều chặng thơ khác nhau nhưng thơ Lâm Thị Mỹ Dạ vẫn nhất quán vẻ đẹp chung, đó là vẻ đẹp ngọt ngào, đằm thắm và đầy nữ tính Và đó chính là sự hấp dẫn thơ của
bà với tâm hồn người đọc
1.2.3.2 Thi pháp
Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ là tiếng nói đồng cảm đầy khẩn thiết của bao nhiêu số phận, trong đó, hướng về chung quanh trong sự khai thác cạn kiệt chính mình là cái nhìn nhân ái, là thi pháp tự suy đã qua chiêm nghiệm và thay đổi ngôn từ thi ca Thơ bà kết hợp được chất thực cuộc sống và ngôn ngữ đa dạng, tạo ra những dồn ép, biến ảo, chồng chéo về hình ảnh, đối tượng như huyền thoại, cổ tích nhưng không hề có dấu vết của sự làm dáng Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ hồn nhiên, tuân thủ cảm xúc và từ trái tim thi sĩ nhạy cảm mà thành Sức hấp dẫn và giá trị của thơ Lâm Thị Mỹ
Trang 97
Dạ nằm trong đường biên của cái tôi và cái ta, giấc mơ và hiện thực, sự tự chôn vùi và sự tự nổ tung, giữa những gì đã qua và những gì sẽ đến; bên cạnh cái hư ảo mong manh ta bắt gặp cái biếc xanh, bỡ ngỡ Và vì vậy, đó là tiếng nói của sự va chạm, sinh thành Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ không xa rời thi pháp truyền thống nhưng luôn phá và thay để làm giàu có cái phần hiện đại cần thiết của thơ
1.4 Tiểu kết
Ở Chương 1, những nét khái quát về ẩn dụ trên có phương diện ẩn dụ theo quan niệm truyền thống và ẩn dụ ý niệm đã được chúng tôi trình bày Ẩn dụ ý niệm là một phương thức tư duy của con người, nó có mối quan hệ sâu sắc trong bộ ba là ngôn ngữ, văn hóa và tư duy Ẩn dụ ý niệm là công cụ hữu hiệu để con người ý niệm hóa các khái niệm trừu tượng
Ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương nói riêng và thi ca nói riêng là ngôn từ được gọt giũa, có sự chọn lọc Mỗi bài thơ đều chuyển tải những cung bậc cảm xúc và thông điệp nghệ thuật nhất định Trong lúc con người thăng hoa mặc sức cho những ngôn từ tuôn trào cũng là lúc trở về với bản ngã của sức mạnh vô thức trong tư duy ý niệm Nhà tâm lí học Sigmund Freud đã từng phát biểu: “Trước tôi, các thi sĩ và triết gia đã sớm phát hiện ra vô thức, còn tôi chẳng qua cũng chỉ khám phá ra những phương pháp khoa học để nghiên cứu vô thức mà thôi” [37] Chính nhờ các tác phẩm thơ mà khả năng tư duy với các ý niệm tiềm ẩn trong tâm trí con người được sống dậy, điều mà ngôn ngữ học tri nhận với những nghiên cứu sâu sắc về tâm lí con người đã chứng minh
Những vấn đề lí luận ở Chương 1 sẽ được minh chứng tiếp theo ở Chương 2 và Chương 3 qua việc khảo sát ẩn dụ ý niệm trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT MÔ HÌNH TRI NHẬN CỦA ẨN DỤ Ý NIỆM
VỀ TÌNH YÊU TRONG THƠ LÂM THỊ MỸ DẠ XÉT TỪ
MIỀN NGUỒN
Trang 108
2.1 Dẫn nhập
Để tìm hiểu các thành tố trong mô hình tri nhận của các ẩn
dụ ý niệm trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, chúng tôi tiến hành các bước
Bước 3: Phục hồi chiếu xạ giữa hai miền ý niệm Nguồn và Đích để khám phá mối quan hệ tương thích giữa miền Nguồn và miền Đích, qua đó nhận thức cấu trúc ý niệm về tình yêu trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
2.2 Hệ thống ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU trong thơ Lâm Thị Mỹ
Mô hình tri nhận của ẩn dụ ý niệm gồm có miền Nguồn và Đích theo cấu trúc mô hình trường – chức năng: trung tâm – ngoại
vi, trong đó hạt nhân là khái niệm (trung tâm) mang tính phổ quát đối với toàn nhân loại, còn ngoại vi là những yếu tố ngôn ngữ, văn hoá mang tính đặc thù Thông qua mô hình chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích, ẩn dụ ý niệm có vai trò là một phương thức tư duy tác động đến trí tuệ con người, giúp con người nắm bắt và lĩnh hội thế giới Căn cứ vào chức năng tri nhận, hầu như các nhà khoa học thống nhất chia ẩn dụ ý niệm thành ba loại, ẩn dụ cấu trúc (Structure Metaphor), ẩn dụ bản thể (Ontological Metaphor), ẩn dụ định hướng (Orientation Metaphor)
2.2.2 Các miền Nguồn tiêu biểu của ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
Trang 119 Thông qua khảo sát tư liệu trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, chúng tôi nhận thấy có 7 ẩn dụ ý niệm về tình yêu và 90 biểu thức ngôn ngữ
mang tính ẩn dụ về tình yêu trên tổng số 184 bài thơ trong cuốn Lâm
Thị Mỹ Dạ tuyển tập Những ẩn dụ ý niệm tình yêu trong thơ Lâm
Thị Mỹ Dạ được tổng hợp trong bảng sau:
STT Ẩn dụ ý niệm
Số lƣợng Biểu thức ngôn ngữ mang tính ẩn dụ/90
Số bài xuất hiện/184
Số lần
Tỉ lệ (%)
Số bài
Tỉ lệ (%)
Lâm Thị Mỹ Dạ sinh ngày 18 tháng 9 năm 1949 Quê bà ở
xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình Nhà thơ Ngô Minh
đã từng viết: “Gặp nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ vài lần đầu, thấy chị luôn cười hiền dịu, quan tâm đến mọi người, lại xinh đẹp, trắng trẻo, nhiều người cứ tưởng nhà thơ nữ này sống trong nhung lụa từ nhỏ
Trang 1210 Hoàn toàn không phải vậy Tuổi thơ của Mỹ Dạ là tuổi thơ đầy đau buồn và nước mắt.” (50, tr.147)
Lâm Thị Mỹ Dạ lập gia đình từ năm 1973, chồng bà là nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường Năm 1974, bà sinh cô con gái đầu lòng Hoàng Dạ Thư Năm 1977, cô con gái thứ hai Hoàng Dạ Thi ra đời
Cứ ngỡ trái tim từng tổn thương của bà về cuối đời sẽ yên ấm vẹn tròn Hóa ra không phải Ngày 14-6-1998, trong lúc bà đang ở Hà Nội, chuẩn bị ngày mai lên máy bay đi dự tọa đàm thơ ở Mỹ thì chồng bà, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, bị tai biến mạch máu não, hôn mê ở Đà Nẵng hai tháng ròng Dạ phải hủy chuyến đi Mỹ, bay về Đà Nẵng ngay Từ đó đến nay, bà như “người mẹ” bao dung, săn sóc, đút mớm cơm cháo, thuốc men, xoa bóp, tắm rửa, vệ sinh cho chồng Trái tim nhân hậu ấy thêm một lần “rớm máu” Trăm nghìn thứ việc chưa từng có đè lên vai người phụ nữ làm thơ xinh đẹp ấy Tuổi ngày càng cao, Lâm Thị Mỹ Dạ càng bị nhiều thứ bệnh tật hành hạ, viêm khớp, viêm xoang, nhức đầu Thế mà bà vẫn lo liệu, tổ chức đưa chồng đi chữa bệnh Hà Nội, Đà Nẵng, Khe Sanh, Long An, TP.HCM đến sáu chuyến liền
Có thể khẳng định những trải nghiệm riêng của Lâm Thị Mỹ
Dạ trong cuộc đời đã chi phối các tác phẩm của nhà thơ khiến cho ẩn
dụ ý niệm về TÌNH YÊU nổi trội nhất
Trái tim đầy tổn thương, đầy trải nghiệm là một nhân tố ảnh hưởng lớn đến cách tri nhận của thơ Lâm Thị Mỹ Dạ về cuộc đời nói chung và tình yêu nói riêng Đây chính là chìa khóa để chúng ta giải
mã thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
CHƯƠNG 3 NHỮNG ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG THƠ LÂM THỊ MỸ DẠ
Trang 1311
XÉT TỪ MIỀN ĐÍCH TÌNH YÊU 3.1 Dẫn nhập
Ở Chương 2, chúng tôi đã phân tích mô hình tri nhận trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ Trong chương này, chúng tôi sẽ phân tích cụ thể từng ẩn dụ ý niệm để thấy rõ hơn những nét đặc trưng trong tư duy, trong cách tri giác của một nhà thơ nữ Chúng tôi tập trung phân tích vào một số ẩn dụ ý niệm chính, tức là những ẩn dụ ý niệm bao gồm một số lượng lớn trong xu hướng tư duy của Lâm Thị Mỹ Dạ Lâm Thị Mỹ Dạ là một nhà thơ nữ, một người vợ, một người mẹ cho nên những điều mà nhà thơ “cảm” – tri nhận – nhiều hơn cả là tình yêu, cuộc đời, con người và thời gian
3.2 Các ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
3.2.1 Ẩn dụ ý niệm “TÌNH YÊU LÀ SỰ SAY ĐẮM KHAO KHÁT”
Bảng 3.1: Lƣợc đồ chiếu xạ từ miền Nguồn đến miền Đích của ẩn
dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ SỰ SAY ĐẮM KHAO KHÁT Miền Nguồn
SỰ SAY ĐẮM KHAO KHÁT Miền Đích TÌNH YÊU
Trạng thái say đắm => Sự say đắm trong tình yêu Trạng thái khao khát => Sự đau khổ trong tình yêu Cảm xúc hạnh phúc => Niềm vui do tình yêu mang lại Qua khảo sát tư liệu, chúng tôi nhận thấy trong thơ Lâm Thị
Mỹ Dạ có 26 biểu thức ngôn ngữ mang tính ẩn dụ về tình yêu và có thể khái quát lại chiếu xạ giữa miền Nguồn với miền Đích theo bảng sau: