Giới thuyết về cái tôi trữ tình

Một phần của tài liệu Tính nữ trong thơ nguyễn thị mai (Trang 31 - 34)

Chương 2 CÁI TÔI TRỮ TÌNH HIỆN THÂN TÍNH NỮ TRO G THƠ

2.1. Giới thuyết về cái tôi trữ tình

Trong tác phẩm trữ tình, cái tôi trữ tình đƣợc xem nhƣ một chỉnh thể trung tâm tinh thần của con người. ó mang giá trị thẩm mĩ, được kết tinh từ những giá trị văn hóa, lịch sử và có sự tổng h a giữa ba phương diện cơ bản:

cái chủ quan cá nhân, tính xã hội, tính thẩm mĩ. Cái tôi trữ tình là một hiện tƣợng nghệ thuật, là thế giới chủ quan, thế giới tinh thần của tác giả đƣợc thể hiện trong tác phẩm trữ tình bằng các phương tiện nghệ thuật. Cái tôi trữ tình không đồng nhất với cái tôi của nhà thơ trong đời sống thực tại. Trong thơ ca hiện đại, cái tôi trữ tình hướng tới chủ thể, phản ánh tâm tư, tình cảm cá nhân đồng thời vừa hướng nội vừa hướng ngoại.

Theo nghĩa h p, “cái tôi trữ tình là hình tƣợng cái tôi - cá nhân cụ thể, cái tôi - tác giả - tiểu sử với những nét rất riêng tƣ, là một loại nhân vật trữ tình đặc biệt khi tác giả biểu hiện về chính mình”. Theo nghĩa rộng, “cái tôi trữ tình là nội dung, đối tƣợng, phẩm chất của nhân vật trữ tình. Quan điểm này hiểu cái tôi trữ tình nhƣ một khái niệm phổ quát của trữ tình, phân biệt trữ tình với các thể loại khác”.

gười nghệ sĩ thông qua cái tôi trữ tình để bộc lộ tâm tư, tình cảm, thế giới quan của mình trước cuộc đời. Trong công trình nghiên cứu của mình, giáo sƣ ã Giang ân đã bày tỏ quan điểm: “Sáng tạo thơ là một hành động chủ quan, cái chủ quan tồn tại và trở thành trung tâm quy tụ mọi yếu tố khác nhƣ cảm hứng, tư tưởng, hình ảnh, giọng điệu, lời thơ... Cái chủ quan được biểu hiện cụ thể bằng cái tôi trong thơ” 21 . Cái tôi trữ tình là chủ thể của hành trình sáng tạo thi ca, có vai tr quan trọng trong thơ với tƣ cách là trung tâm để bộc lộ tất cả suy nghĩ, tình cảm, thái độ đƣợc thể hiện bằng một giọng điệu riêng.

Cái tôi trữ tình chỉ tồn tại ở trong các tác phẩm thơ bởi nó thể hiện một cách chân thực cảm xúc với thế giới của người nghệ sĩ, đồng thời gửi gắm tâm tƣ tình cảm của tác giả đến với độc giả. Vì vậy, có thể hiểu sự biểu hiện của cái tôi trữ tình ở hai dạng chủ yếu: cái tôi trữ tình trực tiếp và cái tôi trữ tình gián tiếp. Đối với m i nhà thơ, cái tôi trữ tình phong phú và giàu đ p tựa nhƣ viên nam châm luôn có sức hút về mình sự tr phú, đa màu sắc của cuộc đời. Đặc điểm của cái tôi trữ tình phụ thuộc vào phong cách của m i nhà thơ, đồng thời nó cũng bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh sống, hoàn cảnh xã hội và các trào lưu, khuynh hướng văn học. Chính vì vậy, m i thời đại lại có một kiểu cái tôi trữ tình đóng vai tr chủ đạo.

Trong thơ trung đại, bởi quan niệm phi ngã, cái ta đại diện cho cộng đồng nên từ nội dung đến hình thức đều mang tính khuôn mẫu chung: “văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí”. Con người trong văn học trung đại ít dám bộc lộ mình, có chăng cũng chỉ dừng lại ở mức xưng tên trong thơ như Hồ uân Hương, guyễn Công Trứ , guyễn Du... Trái lại, trong thơ mới cái tôi hướng tới cá nhân, hướng tới cảm nhận riêng của chủ thể trữ tình, chính vì thế m i nhà thơ lại có một gương mặt thơ riêng: “Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện c ng một lúc một hồn thơ rộng lớn nhƣ Thế ữ, mơ màng nhƣ ƣu Trọng ƣ, h ng tráng nhƣ Huy Thông, trong sáng nhƣ guyễn hƣợc Pháp, ão não nhƣ Huy Cận, quê m a nhƣ guyễn Bính, kì dị nhƣ Chế an Viên...và thiết tha, rạo rực, băn khoăn nhƣ uân Diệu” (Thi nh n iệt N m - Hoài Thanh .

Bước sang giai đoạn 1945 - 1975, các nhà thơ tuyên bố rời bỏ cái tôi cá nhân, cái tôi riêng tƣ để h a mình vào cái ta chung: “Phá cô đơn để h a nhập với người” Chế an Viên , “Tôi c ng xương thịt với nhân dân tôi” uân Diệu . Hướng vận động của cái tôi trữ tình giai đoạn này là h a hợp cái tôi nhỏ bé của cá nhân với cái ta cộng đồng, xã hội, từ bỏ lợi ích riêng để đến với lợi ích chung.

Có thể nhận thấy, cái tôi trữ tình của thơ Việt am giai đoạn 1945 -1975 chủ yếu là cái tôi sử thi bởi nội dung của văn học giai đoạn này là lịch sử, chiến tranh vệ quốc. Cái tôi sử thi xuất hiện với tư cách con người công dân - chiến sĩ mang cảm hứng lịch sử của thời đại. Cái tôi sử thi xuất hiện và mang tiếng nói

của dân tộc, phát ngôn đại diện cho cái chung, cho dân tộc và cho đất nước:

“Chào 61 Đỉnh cao muôn trượng Ta đứng dậy, mắt nhìn bốn hướng Trông lại nghìn xƣa, trông tới mai sau Trông Bắc, trông am, trông cả địa cầu” i m u n 1 - Tố Hữu). Cái tôi sử thi đi kèm với cảm hứng lãng mạn luôn hướng con người tới một tương lai tốt đ p. Sự sống d có được dệt nên bởi bom đạn, máu chảy, mất mát và đau thương thì vạn vật vẫn sinh sôi, tinh thần và tư thế của con người Việt am, dân tộc Việt am vẫn bất khuất và không dễ dàng bị hủy diệt.

Kháng chiến chống ĩ thắng lợi, văn học có sự đổi mới, cái tôi trữ tình sử thi, cái tôi công dân trở thành cái tôi cá thể. Cái tôi ý thức đƣợc mình là một vũ trụ riêng, một sự sống riêng, không h a tan, không trộn lẫn. ó thể hiện ý thức sâu hơn về bản ngã, về giá trị tự thân của mình. úc này, cái tôi thế sự ra đời, đó là cái tôi với những gì chân thật nhất của cuôc đời, cuộc sống hiện ra với đủ các mảng màu đậm - nhạt, tốt - xấu, thiện - ác: “Tôi đã đi quá nửa cuộc đời Qua những thập kỉ hát ca, những thế kỉ anh h ng/ Say mê quá chợt bây giờ nhìn lại/

Chứa bao điều bão tố ở bên trong” V Văn Trực

Thơ nữ Việt am sau năm 1975, nhìn trên tổng thể đƣợc thể hiện một cách chân thực với tất cả những niềm vui, n i buồn, những khát vọng, ý chí...c ng những n i niềm và tâm sự cá nhân. Thậm chí trong thơ nữ Việt am c n thể hiện những cái tôi tìm kiếm rất táo bạo, những lối suy nghĩ riêng và cách tư duy cũng rất riêng: “Em đoạt anh từ tay người đàn bà kia hư người đàn bà kia đoạt anh từ tay người đàn bà khác” Chiến tranh - Đoàn Thị am uyến .

uất hiện và kh ng định tên tuổi c ng thời với các nhà thơ nữ giai đoạn này nhưng guyễn Thị ai lại đem đến cho độc giả một gương mặt thơ rất riêng - một hồn thơ mang đậm tính nữ. ó là kết tinh của vẻ đ p dịu dàng, đức hi sinh, vị tha, sự bao dung, sẻ chia, đồng cảm, phối trộn với nét đ p hiện đại: tự tin, mạnh bạo, dứt khoát. Vẻ đ p ấy thống nhất từ nội dung đến hình thức thơ guyễn Thị ai, tạo nên một giọng điệu riêng, tín hiệu riêng để người đọc dễ dàng nhận ra thơ bà.

Một phần của tài liệu Tính nữ trong thơ nguyễn thị mai (Trang 31 - 34)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(111 trang)