1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính nữ trong thơ xuân quỳnh và thơ lâm thị mỹ dạ (một cái nhìn so sánh)

134 200 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 870,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công trình, bài viết đề cập đến vấn đề “Tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh” một cách riêng biệt, cụ thể gần như không có, chỉ có một số bài viết trong khi giải quyết một số vấn đề khác tro

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài ……… 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Cấu trúc luận văn 9

NỘI DUNG .10

Chương 1: Khái niệm tính nữ và vấn đề tính nữ trong sáng tác của các nhà văn nữ Việt Nam ………10

1.1 Khái niệm tính nữ 10

1.1.1 Nhìn từ góc độ lý luận nhận thức … 10

1.1.2 Nhìn từ góc độ tác phẩm văn học ………… 11

1.2 Vấn đề tính nữ trong sáng tác của các nhà văn nữ 12

1.2.1 Một vài đặc điểm cơ bản của các nhà văn nữ Việt Nam 12

1.2.2 Các phương diện biểu hiện tính nữ trong sáng tác của các nhà văn nữ Việt Nam 15

1.2.3 Một vài biểu hiện tính nữ trong sáng tác của một số nhà thơ nữ Việt Nam thời kỳ hậu hiện đại 22

Chương 2: Tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh và thơ Lâm Thị Mỹ Dạ nhìn từ hình tượng cái tôi trữ tình 30

2.1 Cái tôi trữ tình ………… 30

2.1.1 Khái niệm ………….30

2.1.2 Các dạng thức của cái tôi trữ tình trong thơ …… 30

Trang 2

2.2 Điểm tương đồng của biểu hiện tính nữ qua hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Xuân

Quỳnh và thơ Lâm Thị Mỹ Dạ 31

2.2.1 Cái tôi trữ tình say đắm trước thiên nhiên ………31

2.2.1.1 Bức tranh thiên nhiên với những đường nét hài hòa, tươi tắn sắc màu………32

2.2.1.2 Thiên nhiên - tấm gương phản chiếu tâm hồn tác giả 37

2.2.2 Tâm hồn người mẹ giàu tình thương, trách nhiệm 40

2.2.3 Cái tôi trữ tình đời tư - thế sự ………49

2.2.3.1 Cái tôi trữ tình dịu dàng, nhạy cảm, tinh tế 49

2.2.3.2 Cái tôi trữ tình khắc khoải, lo âu 56

2.3 Nét khác nhau của biểu hiện tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh và thơ Lâm Thị Mỹ Dạ qua hình tượng cái tôi trữ tình 69

2.3.1 Một Xuân Quỳnh mãnh liệt trong thổ lộ cảm xúc 69

2.3.2 Cái tôi trữ tình triết lí chiêm nghiệm trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ………… 77

Chương 3: Tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh và thơ Lâm Thị Mỹ Dạ nhìn từ phương thức trữ tình 83

3.1 Những điểm tương đồng về tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh và thơ Lâm Thị Mỹ Dạ nhìn từ phương thức trữ tình

3.1.1 Ngôn ngữ 83

3.1.1.1 Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị 83

3.1.1.2 Ngôn ngữ giàu hình ảnh 90

3.1.2 Giọng điệu 97

3.1.2 Giọng thơ trong trẻo, hồn nhiên 97

3.1.2 Giọng thơ ngọt ngào, sâu lắng, thiết tha 101

3.1.3 Hình tượng trái tim - điển hình nghệ thuật giàu thiên tính nữ 104

3.1.4 Linh hoạt trong sử dụng các thể thơ 108

3.1.4.1 Thơ lục bát 109

3.1.4.2 Thơ ngũ ngôn 113

3.1.4.3 Các thể thơ khác 115

3.2 Nét riêng của biểu hiện tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh và thơ Lâm Thị Mỹ Dạ nhìn từ phương thức trữ tình 118

3.2.1 Không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ ………… 118

Trang 3

3.2.1.1 Không gian nghệ thuật 118

3.2.1.2 Thời gian nghệ thuật 121

3.2.2 Không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ Xuân Quỳnh……… 126

3.2.2.1 Không gian nghệ thuật 126

3.2.2.2 Thời gian nghệ thuật 128

KẾT LUẬN 131

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong lịch sử thơ ca Việt Nam, các nhà thơ nữ đã xác lập được một vị thế khá rõ

ràng Chưa thể nói tới một dòng thơ nữ lưu như trong thơ ca Nhật Bản, nhưng tính nữ là điều không thể phủ nhận trong sáng tác thơ ca của họ, dù mức độ đậm nhạt có khác nhau Trong đó, Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ Dạ được xem là hai gương mặt thơ ca đầy nữ tính trong nền thơ hiện đại Việt Nam Từ nhận thức đó, chúng tôi đi vào đề tài

“Tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh và thơ Lâm Thị Mỹ Dạ” (một cái nhìn so sánh)

nhằm chỉ ra một cách hệ thống phẩm chất nữ tính của hai nhà thơ, điều mà cho đến nay chưa có một công trình nào bàn tới

1.2 Cùng với những nhà thơ cùng thế hệ (Phan Thị Thanh Nhàn, Ý Nhi, Lê Thị Mây,

Nguyễn Thị Hồng Ngát…), Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ Dạ để lại gương mặt thi ca của riêng mình tìm tòi, khám phá Điểm chung giữa họ là sự dịu dàng, tinh tế của một hồn thơ đầy nữ tính Tuy nhiên, cái phẩm chất nghệ thuật ấy mỗi người lại mang đậm nét riêng Xem nữ tính như một phẩm chất nghệ thuật nổi trội và đặt nó trong một tương quan so sánh sẽ giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ, thấu đáo hơn về tài năng, cá tính sáng tạo của Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ Dạ, những gương mặt tiêu biểu cho một thế hệ nữ nhà thơ tài năng trong thơ ca Việt Nam hiện đại

1.3 Từ góc nhìn mỹ học thuật hiện sinh, việc tìm hiểu phẩm chất nữ tính trong thơ Xuân

Quỳnh và thơ Lâm Thị Mỹ Dạ gợi mở nhiều vấn đề có ý nghĩa lý luận tiếp nhận Nữ tính với tư cách là một phẩm chất nghệ thuật không chỉ là sản phẩm của một ý thức sáng

Trang 4

tạo mà còn là kết quả của một bản năng sáng tạo, là thuộc tính tự nhiên của một hồn thơ

mà không phải nhà thơ nào cũng có được

1.4 Thơ Xuân Quỳnh và thơ Lâm Thị Mỹ Dạ từ lâu đã được giảng dạy, học tập trong

nhà trường, từ phổ tông dến đại học Đề tài vì vậy không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn

2 Lịch sử vấn đề

Là hai gương mặt xuất sắc của thơ ca hiện đại Việt Nam, Xuân Quỳnh và Lâm Thị

Mỹ Dạ đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu, phê bình trong suốt nhiều thập kỷ qua Dựa vào nguồn tài liệu bao quát được và trong phạm vi quan tâm của đề tài, chúng tôi sẽ điểm lại một số vấn đề theo hướng sau:

2.1 Một cái nhìn bao quát về lịch sử nghiên cứu thơ Xuân Quỳnh và thơ Lâm Thị Mỹ

Dạ

Từ những đóng góp của hai nhà thơ Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ Dạ cho nền thơ ca Việt Nam hiện đại, cho đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học, công chúng yêu văn học đã chú ý quan tâm và có những nhận xét, đánh giá xác đáng về sáng tác của hai nhà thơ nữ này Qua tìm hiểu những công trình nghiên cứu và những bài viết

có liên quan đến đề tài, chúng tôi nhận thấy rằng có nhiều ý kiến tương đồng trong nhìn nhận, đánh giá Phần lớn trong số họ có chung quan điểm: thơ các chị là tiếng nói chân thành, tha thiết của trái tim phụ nữ, một trái tim công dân có trách nhiệm với mình, với đất nước, với những người mình yêu thương

Xuân Quỳnh đến với thơ từ khá sớm, ngay từ đầu nhũng năm 1960 chị đã cho ra mắt bạn đọc tập thơ đầu tay Chồi biếc (in chung với Tơ tằm của Cẩm Lai) (1963) và sau đó liên tiếp công bố các tập thơ: Hoa dọc chiến hào; Gió Lào cát trắng (1973); Lời ru trên mặt đất (1978); Tự hát và Sân ga chiều em đi (1984) và mộ tập thơ để lại dấu ấn đậm nnets trong hành trình thi ca của chị là tập Hoa cỏ may (Giải thưởng của Hội nhà văn năm 1990)

Là nhà thơ được đông đảo quần chúng yêu mến, thơ Xuân Quỳnh được giới phê bình, nghiên cứu chú ý ngay từ khi mới xuất hiện Cùng với bề dày thời gian, số lượng nghiên cứu, phê bình về thơ chị ngày càng phong phú Tuy vậy, phần lớn các công trình

Trang 5

đã có đều tập trung vào hai hướng chính: hoặc giới thiệu một tập thơ, hoặc đánh giá khái quát về thế giới thơ Xuân Quỳnh Còn những công trình hay bài viết bàn về tính nữ nói chung, về tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh nói riêng một cách có hệ thống thì chưa nhiều

văn, Nxb Văn học, Hoàng ngọc hiến cũng đề cập đến thiên tính nữ ở một số nhân vật nữ

trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp

Các công trình, bài viết đề cập đến vấn đề “Tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh” một cách riêng biệt, cụ thể gần như không có, chỉ có một số bài viết trong khi giải quyết một

số vấn đề khác trong thơ Xuân Quỳnh có gợi mở về những biểu hiện tính nữ trong thơ chị, chẳng hạn:

Bàn về thơ Xuân Quỳnh, Giáo sư Phan Ngọc có bài: Thơ tình Xuân Quỳnh là tiếng

nói mới của thơ dân tộc, Đặng Thị Đoàn Hương với Người đàn bà yêu và làm thơ,

Nguyễn Xuân Nam với Vẻ đẹp thơ Xuân Quỳnh, Mã Giang Lân với Nhớ Xuân Quỳnh

nhớ một giọng thơ, Xuân Quỳnh, cuộc đời để lại trong thơ của tác giả Vương Trí Nhàn, Con người và nhà thơ của Lại Nguyên Ân, Hoa quỳnh mùa xuân của Hoàng Trung

Thông, Thơ tình Xuân Quỳnh- sự thể hiện sức mạnh của một tâm hồn phụ nữ của tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc, Cảm nhận về Xuân Quỳnh của Lưu Khánh Thơ, Xuân Quỳnh

qua thời gian của Vân Long, Cánh chuồn chuồn trong giông bão của Chu Văn Sơn

Ngoài ra còn các bài viết về các phương diện khác nhau trong sáng tác của Xuân Quỳnh,

những cảm nhận về từng bài thơ tiêu biểu của Xuân Quỳnh như Sóng, Thuyền và biển,

Tự hát, Hoa cỏ may…Chúng tôi xin dẫn ra mấy ý kiến vắn tắt có liên quan đến đề tài:

“Xuân Quỳnh được nhớ nhiều nhất có lẽ ở một phong cách, một giọng điệu giàu nữ tính: nhạy cảm và rất tha thiết trước cuộc đời”[22, Tr.26]

Trang 6

“Thơ Xuân Quỳnh ý tứ thường giản dị Có những câu thơ như một lời nói bình thường mà gợi lên được những ấn tượng khó quên bởi tính chất dịu dàng, đằm thắm.”[22, Tr.105]

“Thơ chị có bản sắc riêng đó là sự trẻ trung, chân thành Trước kia, trong chùm thơ viết về tình yêu ta bắt gặp sự chân thành ấy, sau này ta còn gặp những người làm việc trong gia đình: bà mẹ vất vả, người chị hay lo, những đứa con mỗi đứa mỗi tính, chị nói

tự nhiên, không khoa trương, không lạm dụng kỹ xảo Đọc thơ chị ta gặp một con người với những lo âu, suy nghĩ vui buồn, gần gũi Chị có lối viết thoải mái, dễ dàng”[22,

Tr.200]

“Dù đi vào những vấn đề lớn của đất nước hay trở về với những tình cảm riêng tư, thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng là tiếng nói rất riêng của một tâm hồn phụ nữ thông minh, sắc sảo, giàu yêu thương Thơ Xuân Quỳnh giàu tâm trạng Nếu thơ ca là sự tự thể hiện ở mức cao nhất cái tôi trữ tình của nhà thơ, thì ở Xuân Quỳnh đặc điểm bản chất này của thơ càng được bộc lộ nổi bật Nhiều bài thơ của chị là sự bộc lộ của một tâm trạng Đọc thơ Xuân Quỳnh, người ta không có cảm giác tác giả cố ý “làm thơ” Chị sống hồn nhiên, sống hết mình với các bài thơ của mình, hay nói đúng hơn, thơ chị chính là đời sống của chị, là những tâm trạng thật của chị trong mỗi bước vui buồn của đời sống”[22 Tr.9]

“Bản năng của người mẹ, những cảm xúc tinh tế và cái tài nhìn sự vật bằng con mắt trẻ thơ đã tạo nên nét đáng yêu, đáng nhớ ở các bài thơ viết cho thiếu nhi của Xuân Quỳnh [22, Tr.79]

Tác giả Kiều Văn trong lời giới thiệu thơ Xuân Quỳnh trong cuốn Thơ Xuân

Quỳnh, Thi ca Việt Nam chọn lọc đã viết: “…Xuân Quỳnh của chúng ta, đáng quý

thay, là mẫu phụ nữ viên mãn cả về tình cảm lẫn trí tuệ Và không chỉ thế, chị còn là mẫu mực của người phụ nữ đức hạnh, điều mà văn hào Lecmôntôp hình như không dám đòi hỏi ở phụ nữ quý tộc Nga thời đại ông”[75, Tr.10]

Trong bài viết Con người và nhà thơ, tác giả lại Nguyên Ân cho rằng: “Hai chục

năm nay, thơ Xuân Quỳnh đã đi vào lòng người đọc, trở thành tiếng nói tâm tình về những ngọt bùi, cay đắng ở đời, tiếng nói của tình yêu và tình mẫu tử, tiếng nói hồn hậu, dung dị, chứa đựng sự sống đương thời mà cũng in dấu nếp nghĩ, nếp cảm của tâm hồn người Việt tự xa xưa Những thiếu nữ bước vào tuổi yêu đương đã tìm đến nhà thơ

Trang 7

Xuân Quỳnh Những người mẹ trẻ phập phồng ngày tháng dõi theo mỗi hơi thở, mỗi bước đi của đứa con mình, có thể tìm được ở thơ Xuân Quỳnh một người bạn sẻ chia tâm sự…Đối với người làm thơ, được như thế đã là hạnh phúc”[22, Tr.259]

Bên cạnh những bài viết có tính chất khái quát chung về thơ Xuân Quỳnh còn có

những bài đi vào tìm hiểu từng tác phẩm cụ thể như về bài Sóng của tác giả Phạm Đình

Ân, Trái tim nữ và bài thơ Tự hát của Xuân Quỳnh của Bùi Minh Huệ, Mùa hoa doi

của Vũ Quần Phương…

Cùng với Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ cũng là nhà thơ cùng trưởng thành trong nền thơ chống Mỹ Đến với thơ Mỹ Dạ, ta gặp ở đó người phụ nữ trầm tư chiêm nghiệm với cách cảm nhận cuộc suộc sống cũng rất độc đáo So với Xuân Quỳnh, nghiên cứu

về thơ Lâm Thị Mỹ Dạ có phần ít hơn nhưng đó cũng là những bài viết, những cảm nhận, những đánh giá rất tinh tế và thấu đáo

Ngay từ khi mới bắt đầu cầm bút, thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đã dành được những ấn tượng

tốt đẹp trong lòng độc giả Bài thơ đầu tiên Ý nghĩ được in trên Báo Văn nghệ đã được nhà phê bình Hồng Diệu đánh giá: “Ý nghĩ sớm cho thấy tác giả của nó có một tâm hồn

thơ, có nghệ thuật làm thơ” [60, Tr.34] Tuy vậy liên quan tới đề tài “Tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh và thơ Lâm Thị Mỹ Dạ” (Một cái nhìn so sánh), chúng tôi nhận thấy rằng: tương tự nhà thơ Xuân Quỳnh, nghiên cứu về tính nữ trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ cũng chưa thấy có một công trình nào cụ thể, riêng biệt dành riêng cho vấn đề này Chúng tôi cũng cảm nhận được sự gợi mở về một số biểu hiện của tính nữ trong thơ Lâm Thị Mỹ

Dạ qua bài viết của một số tác giả như:

Nguyễn Thu Thủy trên báo Tuổi trẻ Online với bài: Cảm nhận thơ: Tháng giêng đã

viết: “Bài thơ nữ tính một cách kỳ lạ, vừa hồn nhiên lại vừa từng trải, như một đôi mắt

trong veo được đặt trên khuôn mặt người đàn bà Khuôn mặt ghi dấu ấn của thời gian”

Trong bài Nét riêng của thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, tác giả Hồng Diệu nhận xét: “Âm

hưởng chính trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ xuất phát từ những giai điệu trầm, nhẹ, đằm thắm, không ồn ào Thơ chị có những nét riêng, có bản sắc riêng Bản sắc riêng ấy là phong cách thơ chị”[60, Tr.37-39]

Tác giả Bảo Hưng nhận thấy: “Thơ của chị nhẹ nhõm, trong sáng, nếu có buồn thì

cũng buồn dìu dịu mà vui cũng không đến nỗi suồng sã, xô bồ Chị nghiêng về phía

Trang 8

những cảm xúc tinh tế, tơ mỏng, với tấm lòng hồn hậu nhìn ai cũng thấy yêu thương”

[77, Tr.180]

Trúc Thông cho rằng: “Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ là một hơi thở nhẹ, và có những khi

đằm thắm không hoang dại, chói nồng Thơ Mỹ Dạ gọn xinh, trong mát” [77, Tr.187]

“Thơ mang những nét bản sắc tâm hồn người viết, rõ nhất là tính phụ nữ, nét dịu dàng của cảm xúc, cách khai thác, chọn lọc, tìm chất thơ trong đời sống” là lời giới

thiệu của Vũ Quần Phương trong cuốn Lâm Thị Mỹ Dạ- thơ với tuổi thơ [50, Tr.33] Tác giả Linh Sơn trong bài viết “Lâm Thị Mỹ Dạ- những vần thơ ám ảnh” (in trên

báo Giáo dục thời đại, số đặc biệt Tháng mười, 2007) cho rằng: “Lâm Thị Mỹ Dạ đã nói

thay cho tâm sự rất nhiều người, trước hết cũng là ở sự thoát xác vượt lên sự phù phiếm

và mưu sinh nhọc nhằn này, để thấy tình yêu không còn là cõi thực mà còn là cõi mơ và khát vọng Nhưng hơn cả, độc giả nhận thấy sự ám ảnh trong thơ chị không giống với nhà thơ nào khác, kể cả sự trong trẻo, nồng hậu đau đáu và đầy xót xa ấy cũng khác biệt”[64, Tr.32]

Tác giả Hồ Thế Hà trong bài “Khuynh hướng hiện đại trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ”

viết: “Trải qua một chặng đường lao động nghệ thuật, tìm tòi, sáng tạo, Lâm Thị Mỹ Dạ

đã tự tạo cho mình một chất thơ riêng, ngọt ngào, trong trẻo nhưng không dừng lại ở chất cảm xúc bên ngoài mà bản chất vấn đề thể hiện tài quan sát, sức liên tưởng phong phú của một tâm hồn thơ dễ xúc động”[20]

“Người đọc có thể nhận ra đằng sau câu chữ, ẩn dưới những chi tiết bình thường dường như chỉ dùng để mô tả là hình tượng tác giả đầy mơ ước, khát vọng đến cháy bỏng trước cuộc đời không thiếu những eo xèo, nhiễu nhương và bất trắc Chính điều ấy

đã nâng tầm đưa Lâm Thị Mỹ Dạ xếp vào hàng những nhà thơ nữ tiêu biểu của thơ ca Việt Nam hiện đại” Đó là lời của tác giả Phạm Phú Phong nhận định về thơ của Mỹ Dạ

Còn tác giả Ngô Văn Phú thì cho rằng: “Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ hay ở chỗ bất thần,

ngơ ngác và những rung cảm đầy nữ tính” (Dẫn theo http://www.cinet.gov.vn)

Người dịch Cốm non, nữ nhà thơ Martha Collins khẳng định: “Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ

không khác các nhà thơ Mỹ đương đại, nhưng có lẽ trên một nền tảng văn hóa lâu đời hơn, đó là sự khảo sát giới hạn vai trò của người phụ nữ truyền thống, sức mạnh và sự

cô đơn” [Dẫn theo 40]

Trang 9

Ngoài ra, còn có những ý kiến của một số nhà phê bình văn học khác như: Trần Hòa Bình, Dương Văn Khoa, Linh Sơn, Hoàng Sỹ Nguyên, Lê Thị Mây Họ cũng dành cho thơ Lâm Thị Mỹ Dạ những lời nhận xét đầy ưu ái và khá xác đáng Chúng tôi tin rằng qua một số dẫn dụ nêu trên nó góp phần gợi mở cho việc tìm hiểu Tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh và thơ Lâm Thị Mỹ Dạ (Một cái nhìn so sánh)

2.2 Quan điểm và cách nhận thức, lý giải vấn đề tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh và thơ

Lâm Thị Mỹ Dạ

Trong đề tài này, chúng tôi nhận thức về tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh và thơ Lâm Thị Mỹ Dạ như một phẩm chất, bản năng nghệ thuật Tính nữ, ấy là hệ thống những biểu hiện trong tư tưởng, cảm xúc cũng như tư duy thơ, phương thức trữ tình trong thơ rất đặc trưng của những người phụ nữ Việt Nam: dịu dàng, nhạy cảm, tinh tế, giàu đức

hy sinh, giàu tình yêu thương với gia đình, với cuộc đời, là những biểu hiện mang tính bản năng một cách tương đối có hệ thống của người phụ nữ trong thơ mà ở những nữ văn sĩ khác không thấy hoặc ít thấy

2.3 Đánh giá chung về thành tựu của những công trình, những bài viết đã có về tính nữ

trong thơ Xuân Quỳnh và thơ Lâm Thị Mỹ Dạ

Cho đến nay, qua sự khảo sát đề tài thì chúng tôi đã gặp rất nhiều bài viết bàn về thơ Xuân Quỳnh và thơ Lâm Thị Mỹ Dạ như đã nói ở phần lịch sử nghiên cứu vấn đề, nhưng chưa gặp một công trình nào đưa ra sự so sánh một cách có hệ thống về tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh và thơ Lâm Thị Mỹ Dạ Nó chỉ xuất hiện với những khía cạnh, những bài viết về thơ Xuân Quỳnh và thơ Lâm Thị Mỹ Dạ nói chung ở một số phương diện, chủ yếu là ở giọng điệu thơ và những cảm xúc trữ tình trong thơ Nhìn chung, các

ý kiến đã gợi mở rất nhiều cũng như đánh giá cao những cống hiến của hai nữ nhà thơ

Ở mỗi bài viết đều đưa đến những cảm nhận, những quan sát tinh tường của người yêu thơ và hiểu thơ, giúp cho việc tìm hiểu, nghiên cứu thơ Xuân Quỳnh và thơ Lâm Thị Mỹ

Dạ có nhiều thuận lợi hơn

2.3 Những ý kiến bàn về sự tương đồng và khác biệt về tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh

và thơ Lâm Thị Mỹ Dạ

Cho đến nay, chúng tôi chưa thấy có một bài viết nào đưa ra một sự so sánh mang tính hệ thống về tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh và thơ Lâm Thị Mỹ Dạ Chúng tôi ghi nhận được một số ý kiến so sánh ở một vài phương diện, khía cạnh nhất định trong thơ

Trang 10

của hai tác giả này Vì thế chúng tôi mạnh dạn đưa ra cách liên hệ so sánh của mình để thấy được điểm gặp gỡ cũng như những nét riêng của biểu hiện tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh và thơ Lâm Thị Mỹ Dạ

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Như tên đề tài đã xác định, mục đích nghiên cứu của đề tài là chỉ ra một cách hệ

thống những tương đồng, khác biệt của tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh và thơ Lâm Thị

Mỹ Dạ

3.2 Với mục đích đó, đề tài đặt ra nhiệm vụ:

Thứ nhất, khảo sát, phân tích một cách hệ thống những biểu hiện của tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ

Thứ hai, chỉ ra những tương đồng, khác biệt về tính nữ trong thơ của hai nhà thơ Thứ ba, lý giải những tương đồng, khác biệt ấy

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh và thơ Lâm Thị

Mỹ Dạ, với tư cách là phẩm chất nghệ thuật đặc trưng

4.2 Với tư cách là một phẩm chất nghệ thuật, tính nữ được biểu hiện trên nhiều phương

diện của thế giới nghệ thuật thơ Trong phạm vi của mộ luận văn thạc sĩ, chúng tôi giới hạn khảo sát vấn đề trên hai phương diện cơ bản là cái tôi trữ tình- những điểm tương đồng và khác biệt và phương thức trữ tình- những diểm tương đồng và khác biệt

4.3 Về tư liệu khảo sát, chúng tôi tập trung khảo sát những tập thơ sau:

Về tác giả Xuân Quỳnh, khảo sát các tập thơ: Chồi biếc, Hoa dọc chiến hào, Sân ga

chiều em đi, Gió Lào cát trắng, Lời ru trên mặt đất, Tự hát, Hoa cỏ may

Về tác giả Lâm Thị Mỹ Dạ, khảo sát các tập thơ: Trái tim sinh nở (in chung với Ý Nhi), Bài thơ không năm tháng, Hái tuổi em đầy tay, Đề tặng một giấc mơ, Hồn đầy hoa

cúc dại

5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu đề tài đặt ra, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp

so sánh

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Trang 11

Chương 1: Khái niệm tính nữ và vấn đề tính nữ trong sáng tác của các nhà văn nữ Việt

NHÌN KHÁI LƯỢC 1.1 Khái niệm tính nữ

1.1.1 Nhìn từ góc độ lý luận nhận thức

Tính nữ có lúc được gọi là nữ tính, tính mẫu hoặc thiên tính nữ đã được nói đến từ lâu nhưng bàn bạc đầy đủ và sâu xa về nó thì chưa có nhiều tài liệu, sách vở Nó được xuất

Trang 12

hiện gần đây thông qua một số bài phê bình văn học của một số tác giả nghiên cứu văn học hoặc trong khi đề cập đến sáng tác của các nhà văn nữ trong lý luận văn học

Trước hết, theo chúng tôi, có thể hiểu tính nữ là một nét phẩm chất riêng, đặc biệt, cốt lõi của người phụ nữ Nó trở thành một nét đẹp tự nhiên do tạo hóa ban tặng cho người phụ nữ, nó như một thứ sở hữu độc quyền của nữ giới đồng thời nó cũng là nét đẹp độc đáo làm nên sự phân biệt giớ nữ với giới nam

Tác giả Hoàng Ngọc Hiến với bài nghiên cứu “Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió” in trong cuốn Văn học và học văn đã rất tinh tế khi phát hiện ra vẻ đẹp thiên tính nữ

ẩn chứa ở hệ thống các nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Tác giả cho rằng: Thiên tính nữ trước hết là tinh thần của cái Đẹp, là tinh thần vị tha, đức hy sinh, là tấm lòng bao la sẵn sàng thông cảm với mọi người, là thiên tính làm mẹ, là tình cảm hồn nhiên muốn che chở, đùm bọc, cứu giúp Thiên tính nữ còn là hiện thân của sức sống phồn thực, sức sống cực kỳ quan trọng, được coi là “nguyên tố đầu tiên, cũng là vẻ đẹp cuối cùng trong cõi sống của chúng ta”

Với quan điểm như vậy, Hoàng Ngọc Hiến cho rằng: Thiên tính nữ chính là cái Đẹp trong cuộc sống, cái Đẹp có sức mạnh cứu vãn thế giới!

Gần gũi với khái niệm “thiên tính nữ” không thể không nhắc tới khái niệm mẫu tính của Chu Văn Sơn trong bài viết “Đường tới cỏ lau của nhà văn Nguyễn Minh Châu” Theo tác giả: “Mẫu tính là phẩm chất mẹ ở con người, trước hết là ở người nữ Nó là bản năng sinh ra sự sống và bản năng hi sinh cho sự sống, bằng cả cưu mang, chăm lo, che chở và xả thân nữa”

Nếu đem so sánh hai khái niệm của hai tác giả ta sẽ thấy khái niệm “thiên tính nữ” mang tính chất rộng hơn, nó bao hàm rất nhiều vẻ đẹp, phẩm chất của người phụ nữ Còn

“mẫu tính” chỉ là một nét đẹp của người phụ nữ trong vẻ đẹp “thiên tính nữ”, hay nói cách khác “mẫu tính” là một trong những biểu hiện của vẻ đẹp “thiên tính nữ”

Từ những phát hiện có tính chất “mở đường” của hai tác giả Hoàng Ngọc Hiến và Chu Văn Sơn, có thể khẳng định rằng: Tính nữ hay thiên tính nữ là vẻ đẹp nghiêng về nữ tính, mẫu tính của người phụ nữ Đó chính là bản năng làm mẹ, tinh thần vị tha, đức hy sinh, sự khoan dung, lòng trắc ẩn và tinh thần nhân ái bao la của người phụ nữ Chính những phẩm chất mang tính thiên phú đó đã tạo nên vẻ đẹp diệu kỳ trong tâm hồn người phụ nữ

Trang 13

người phụ nữ, kết tinh ở lời nói đầy cảm động: “Đó là bản năng chăm lo, bảo vệ lấy sự

sống của con người do chính tôi mang nặng đẻ đau ra Đó chính là tình thương bẩm sinh của nữ tính Sợi dây thần kinh đặc biệt nhạy cảm của nữ giới chúng tôi, đó là tất cả cái phần sâu thẳm của một thứ thiên phú riêng trong tâm hồn nữ giới”

Xét ở góc độ giới, trong văn học nghệ thuật nói chung, trong sáng tác văn chương nói riêng, tính nữ “là nét đầu tiên làm nên đặc điểm riêng biệt” trong sáng tác của các nhà văn nữ Chính những đặc điểm tâm lý mang tính đặc trưng riêng của giới: giàu tình cảm, sức tưởng tượng phong phú, óc quan sát tinh tế… đã tạo nên những nét riêng biệt mang đậm dấu ấn, phong cách của nữ giới mà ta có thể gọi chung là “tính nữ” trong sáng tác của các nhà văn nữ

1.2 Vấn đề tính nữ trong sáng tác của các nhà văn nữ

1.2.1 Một vài đặc điểm cơ bản của các nhà văn nữ Việt Nam

Tất cả những đặc điểm làm nên tính nữ thuộc sở hữu riêng của người phụ nữ rất thích hợp với sáng tác nghệ thuật, trong đó có văn học Thế nhưng có một sự thật hiển nhiên là thế giới cũng như trong nước, số lượng các nữ văn sĩ thành danh thường hiếm hơn nam giới rất nhiều Đã có thống kê chỉ ra rằng: “Trên thế giới có 439 nhà văn lớn thì có tới

26 nhà văn nữ, Trung Quốc đưa vào từ điển nhà văn 404 người thì có tới 22 nhà văn nữ” [47, tr 21] Tỉ lệ cây bút nữ Việt Nam cũng không nằm ngoài tình hình chung của văn đàn thế giới Trước Cách mạng tháng Tám, khi chế độ phong kiến với những thế lực cường quyền, thần quyền và nam quyền đã ràng buộc người phụ nữ phương Đông vào cuộc sống sau cánh cửa, bóp nghẹt tài năng và cả những khát vọng sáng tạo nghệ thuật của họ thì những khuôn mặt điển hình trong “làng văn” là phụ nữ rất hiếm hoi Suốt chiều dài nền văn học trung đại với số lượng tác giả và tác phẩm tương đối lớn nhưng mới chỉ xuất hiện vài khuôn mặt nữ nổi bật như Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Bà huyện Thanh Quan Đến

Trang 14

thời kỳ đầu giai đoạn 1930- 1945, do ảnh hưởng của thời cuộc, trào lưu văn học lãng mạn chiếm ưu thế trên văn đàn công khai Phong trào Thơ mới xuất hiện và phát triển mạnh mẽ, chỉ trong thời gian ngắn đã chiếm lĩnh thi đàn, tạo nên một sức sống mới, vẻ đẹp mới và hình thành một thời đại mới trong thi ca, nó đã góp phần giải phóng tư tưởng cho người phụ

nữ đồng thời cũng giải phóng tài năng nghệ thuật tiềm ẩn trong họ Nhiều tên tuổi nữ sĩ đã thành danh và tạo dấu ấn đậm nét trên văn đàn: Tương Phố, Vân Đài, Anh Thơ, Ngân Giang…Từ sau cách mạng tháng Tám 1945, nhất là sau năm 1954, văn đàn Việt Nam đã xuất hiện nhiều cây bút nữ xuất sắc Về thơ có thể kể đến: Ý Nhi, Phan Thị Thanh Nhàn, Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ…Về văn xuôi, có thể kể đến: Vũ Thị Thường, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Dương Thị Xuân Quý, Nguyễn Thị Như Trang…Rõ ràng, cách mạng đã giải phóng, đã chắp cánh và mở rộng tâm hồn cho người phụ nữ, để họ có một vị trí xứng đáng hơn trong mọi lĩnh vực kể cả lĩnh vực văn chương nghệ thuật Đặc biệt, trong khoảng thời gian gần đây, số lượng các cây bút nữ mới xuất hiện có xu hướng phát triển mạnh cả ở lĩnh vực thơ và văn xuôi Về văn xuôi có Nguyễn Thị Ấm, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phạm Thị Hoài…Về thơ, phải kể đến một số tác giả trẻ tự xưng là “dòng thơ nữ thời @” như Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly…

Như vậy, nhìn vào đội ngũ các nhà thơ nữ Việt Nam ta dễ nhận thấy sự lớn mạnh, trưởng thành của các cây bút nữ trên văn đàn Thế nhưng, để có vị trí xứng đáng trong nền văn học nước nhà như hôm nay, nguyên nhân sâu xa không chỉ là sự gia tăng về số lượng

mà quan trọng hơn là do các nhà thơ, nhà văn nữ đã tạo nên được một “dàn đồng ca” của giới mình mang những nét riêng trong bức tranh chung của nền văn học Việt Nam

Đặc điểm nổi bật dễ nhận thấy trong sáng tác của các nữ văn sĩ chính là màu sắc tự truyện Nguyên nhân sâu xa của đặc điểm này, theo chúng tôi là do diện sống của người phụ nữ không được mở rộng là bao dẫn đến sự hạn chế ở góc độ quan sát hiện thực Nữ phê bình Đặng Anh Đào đã từng nhận định: “Phụ nữ thường mạnh ở chỗ đưa tất cả cuộc đời và tâm hồn họ vào trang sách… Đọc Phạm Thị Hoài, Phan Thị Vàng Anh khá hào hứng, tuy nhiên, phải nói là ở mỗi người, nguy cơ lặp lại mình, nguy cơ ấy khá rõ” [18, tr 59]

Cũng do tính chất tự truyện chi phối khá đậm nét trong tư tưởng và phong cách mà sáng tác của các bút nữ thường tập trung vào đề tài tình yêu Nói như vậy không có nghĩa là tất cả các sáng tác của họ đều tập trung xoay quanh vấn đề độc nhất là tình yêu Thế nhưng

sự thật đã chứng minh rằng số lượng tác phẩm viết về đề tài tình yêu chiếm tỉ lệ lớn trong

Trang 15

số lượng tác phẩm văn học nói chung Để giải thích rõ đặc điểm trên, ta có thể mượn lời nhận xét của Heghel khi ông cho rằng: “Tình yêu được biểu hiện rất đẹp ở nữ giới bởi vì họ

đã đem toàn bộ hiện thực và tinh thần tập trung vào tình yêu, hoặc triển khai ra cũng thành tình yêu” [18,Tr 261] Tình yêu trong tác phẩm của các nữ văn sĩ được biểu hiện ở tất cả các cung bậc khác nhau song họ đều gặp nhau ở trái tim khao khát yêu, khao khát được yêu đến nồng nàn, cháy bỏng Khi yêu, người phụ nữ sống hết mình với tình yêu, họ ước muốn được vượt qua cái hữu hạn của lòng người để đi đến tận cùng hạnh phúc, tình yêu Tác giả Đoàn Thị Đặng Hương rất có lý khi phát biểu rằng: “Có lẽ có một lĩnh vực, nơi mà sự từng trải không cứu cánh được cho sự khờ dại, cho sự cả tin và cho cả sự ngây thơ nữa cho trái tim con người: đó là trong tình yêu” [23, Tr.73)] Gửi gắm quá nhiều mà nhận không được bao nhiêu, đợi chờ, mong ngóng và ảo vọng quá lớn mà cuối cùng chỉ nhận được cái bóng

mờ ảo của tình yêu Vậy nên, hiện hữu trong sáng tác của các cây bút nữ là những mối tình đẹp nhưng dang dở, chia lìa mặc dù người trong cuộc vẫn tha thiết yêu thương và muốn đem lại hạnh phúc cho nhau Trong các tác phẩm đó, một mặt chất chứa những hoài niệm

và ước mơ về một tình yêu, hạnh phúc, một mặt luôn bị ám ảnh về sự tàn phá của thời gian,

sự thay đổi của lòng người và sự mong manh của tình yêu, hạnh phúc Tất cả những điều đó đều được thể hiện rất đậm nét trong các sáng tác của nữ văn sĩ thế giới và trong nước Ngay

cả một số cây bút nữ mới xuất hiện ở Việt Nam gần đây, dưới những góc nhìn cuộc sống và cung bậc tình cảm nhất định đều chọn tình yêu làm điểm nhấn trong tác phẩm của mình

Có thể kể đến một số truyện ngắn của Nguyễn Thị Ấm: Những kẻ ra đi, Nguyệt cầm, Chiếc

lá xanh hạnh phúc; Võ Thị Xuân Hà: Bạn gái, Vĩnh biệt giấc mơ ngọt ngào; Võ Thị Hảo

với Người sót lại của rừng cười; Nguyễn Thị Thu Huệ với Cát đợi, Tình yêu ơi ở đâu?,

Hậu thiên đường; hay thơ của Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh…

Một đặc điểm nữa của các nhà văn nữ Việt Nam được thể hiện đậm đặc ở các cây bút trẻ với sự táo bạo, tự tin bộc lộ cá tính sáng tạo và bước đầu định hình được một số nét phong cách Dấu hiệu đầu tiên dễ nhận ra là sự quan sát tinh tế, nhạy cảm phát hiện ra những thay đổi hoặc những điều lí thú ở những sự việc, những con người cụ thể Ví như ở truyện ngắn Hậu thiên đường của Nguyễn Thị Thu Huệ, tác giả chứng tỏ là cây bút rất tài năng và tinh tế khi xây dựng nhân vật “Tôi” – bà mẹ đang đứng ở “góc buồn” của thời kỳ hậu thiên đường nhìn thấy con đường mình đã đi qua giờ đây con đang dẫm lên, muốn

“ngăn nó lại mà không ngăn được” Bà mẹ có đủ nhạy cảm và kinh nghiệm để nhận ra sự

Trang 16

thay đổi âm thầm trong con gái khi con từ “thiên đường trở về” Những lời xin lỗi lúng búng, hành động chui vào chăn, quay vào tường im lặng, ánh nhìn ngơ ngác, khuôn mặt ngây dại vì hạnh phúc, ánh mắt như “người có lỗi” rồi ngượng ngùng, đờ đẫn khi bắt gặp ánh nhìn của mẹ…Tất cả diễn biến tâm trạng đó của con làm bà mẹ xót xa, cay đắng và cũng thương con đến vô cùng Chỉ vậy thôi cũng đủ làm cho bà mẹ có dự cảm về thời kỳ hậu thiên đường mà con sắp rơi xuống Cái đã qua và cái đang tới làm cho bà mẹ hốt hoảng,

lo sợ, đau đớn, quặn thắt…Và cũng chỉ chừng ấy thôi cũng đủ để nhận định rằng Nguyễn Thị Thu Huệ là nhà văn của tình yêu, nơi mà thiên đường và hậu thiên đường là những ranh giới rất mong manh

Dấu hiệu nữa giúp ta nhận ra nét phong cách của một số cây bút nữ trẻ có cá tính là việc sử dụng hình ảnh gây sock mạnh Có thể tìm thấy điều này trong các truyện ngắn của

Phạm Thị Hoài như: Kiêm ái, Mười ngày; I am đàn bà của Y Ban, hoặc một số tác giả nữ trẻ thế hệ 8X, tự xưng là “dòng thơ nữ thời @” Có những hình ảnh thơ:

Em cào ngực/ Không có anh trong da thịt/ Anh ở trong mồ hôi chân – gác trên bồn

tắm – đã thoa kem – hát rằng: “Sáng mùa đông” (Điệp khúc sáng mùa đông, Phan Huyền

Thư)

Hay: Trong dữ dội, em khao khát bình yên/ em muốn được ngủ bên anh như rễ cây

trong đất…/… Đất của em ơi! Hàng triệu tú cầu cùng đêm trườn qua ngón mềm khi chúng mình gắn nhau bằng hơi thở/ Ngón mềm trườn trên thân thể/ Tất cả tan vào tha thiết nguồn

yêu…(Một mình tháng tư, Vi Thùy Linh)

Đó chỉ là một số ít dấu ấn mà theo chúng tôi, nó đánh dấu phong cách của các cây bút nữ trẻ Có thể thấy rằng, các cây bút trẻ hôm nay rất tự tin, bản lĩnh để lại dấu ấn nhất định trong lòng bạn đọc Thế nhưng, theo chúng tôi tự tin một cách lộ liễu, đặc biệt với thơ

ca thì rất dễ rơi vào sự phản ánh kiểu tự nhiên chủ nghĩa Phải chăng đó cũng là điểm hạn chế mà một số cây bút nữ mới xuất hiện cần thẳng thắn nhìn lại? Dẫu vậy, không thể phủ nhận sạch trơn những gì các nữ văn sĩ đã thể hiện được qua các sáng tác, với tài năng, sự nỗ lực và sự nhiệt huyết vì nghệ thuật, chúng ta có thể tin những điểm hạn chế ở các sáng tác của nữ văn sĩ sẽ dần được thay thế bằng những giá trị sáng tạo nghệ thuật đích thực trong quá trình bình đẳng hóa trên mọi cấp độ và bình diện giữa hai giới trong xã hội… Điều đồng nghĩa với sự khẳng định những đóng góp của nữ giới trong tương lai cho nền văn học thế giới nói chung, văn học Việt Nam nói riêng

Trang 17

2.1.2 Các phương diện biểu hiện tính nữ trong sáng tác của các nhà văn nữ Việt Nam

Xét một cách tổng thể trên tất cả các tác phẩm của các nữ văn sĩ trong nền văn học Việt Nam, ta có thể nhận thấy rằng tính nữ là yếu tố rất quan trọng được xuất hiện thường xuyên và khá sắc nét tạo nên điểm nhấn có giá trị góp phần dựng xây bức chân dung riêng cho mỗi nhà văn nữ Ở mức độ đậm nhạt khác nhau, ở mỗi góc nhìn khác nhau, ở bút pháp nghệ thuật và thông điệp cuộc sống khác nhau mà tính nữ được biểu hiện trong tác phẩm của nhà văn nữ ở các phương diện khác nhau Theo chúng tôi, có một số phương diện biểu hiện tính nữ như sau:

Rung động nhẹ nhàng trước vẻ đẹp của thiên nhiên, nhạy cảm trước mọi biến thái cuộc đời

Có thể nói rằng, phụ nữ rất nhạy cảm, dễ xúc động Bởi chăng, họ thường tìm thấy cái nhìn đồng cảm với cảnh vật xung quanh, vui buồn nhanh chóng trước những biến thái

dù là rất nhỏ của sự vật, đặc biệt, tâm hồn đa cảm của họ thường tìm về cái Đẹp của thiên nhiên, rung động nhẹ nhàng trước cái đẹp hữu tình ấy

Tác giả của Bức tranh quê duyên dáng và đằm thắm từng để lại dấu ấn đậm nét trong

làng thơ Mới từng tâm sự: “Tôi thích nhất được thỏa thuê trong không khí đầy hoa cau, hoa ngâu, hoa sói, được lũ chim gà quấn quýt bên chân, được xem chúng ăn hăm hở Tôi thích nhất là được đi giữa cảnh rộn ràng người đi chợ Những bà đội hàng chồng thúng ngất nghểu vừa đi vừa nói tục thành vần Những gánh thóc tấm đỏ như son Những mẹt thị thơm phức mùa hè…” Bởi thế mà thơ chị thường đưa con người trở về với thiên nhiên, tạo vật, gợi lên tâm hồn bạn đọc xúc cảm về những hình ảnh của cuộc sống thư thả, thanh bình ở mọi miền quê vùng đồng bằng Bắc Bộ Cảnh vật trong thơ chị vận động rất nhịp nhàng, có hồn, cái “hồn” được thổi vào thơ bằng chính tài quan sát tinh tế, bằng sự nhạy cảm và niềm rung cảm sâu sắc của tâm hồn thi sĩ trước tạo vật, và hơn hết là sự gắn bó, tình yêu quê hương, yêu cuộc đời đến thiết tha và sâu nặng của tác giả Đây là một trong rất nhiều hình ảnh gợi dáng quê, hồn quê:

Hoa mướp rụng từng đóa vàng rải rác

Lũ chuồn chuồn nhớ nắng ngẩn ngơ bay

Hay từ những làn khói xám bay lên từ mỗi nóc nhà trong buổi sớm mùa hè cũng

khiến cho hồn thơ của chị xao xuyến bâng khuâng: Làn khói xám từ nóc nhà lặng lẽ/ Vươn

mình lên như những giấc mê say

Trang 18

Đó là những hình ảnh gợi sự hòa quyện thiên nhiên với tâm hồn con người rất bình

dị nhưng cũng rất đỗi sống động, lạ thường

Hoặc là cảnh chiều xuân được khắc họa như là một bức tranh thủy mặc với những nét chấm pha đầy thi vị Ẩn hiện đằng sau bức tranh với làn mưa bụi giăng giăng, với con

đò buông thả, quán tranh vắng lặng và hoa xoan rụng tơi bời là điệu hồn thi nhân lấp lánh

trên từng câu chữ: “Mưa đổ bụi êm đềm trên bến vắng/Đò biếng lười nằm mặc nước sông

trôi/ Quán tranh đứng im lìm trong vawngs lặng/ Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời”

Trái tim giàu tình thương yêu, tâm hồn nhạy cảm trước cái Đẹp còn được gửi gắm

trong thơ của Bà huyện Thanh Quan (Thăng Long thành hoài cổ, Qua đèo Ngang…), trong thơ của Vân Đài (Trà Vinh thương nhớ, Tết giữa rừng xuân…), Xuân Quỳnh (Gửi

mẹ, Ý nghĩ về thành phố lúc vào xuân, Tình ca trong lòng vịnh, Mùa hạ ), Lâm Thị Mỹ Dạ (Giấc ngủ mặt trời, Như lá, Một ngày Đà Lạt…) Và ngay ở mảng văn xuôi, những rung

cảm tinh tế trước thiên nhiên, tạo vật cũng được biểu hiên rất rõ qua một số đoạn văn trong một số tác phẩm của các nhà văn nữ Chẳng hạn, đọc truyện ngắn của Vũ Thị Thường, ta thấy yêu biết mấy cái làng quê giản dị, thanh bình của mình với những cảnh vật rất đỗi gần gũi, thân thương: Một cái lều vịt bé nhỏ chơ vơ giữa cánh đồng bát ngát, một cái cầu ao có

bà lão đang cặm cụi ngồi sát ốc xào xạo, một ngõ vắng đầy hoa dâm bụt đỏ có những bé gái thơ thẩn ngắt lá giả làm trâu hay bắt ốc sên chơi Đó là những ánh nhìn chan chứa yêu thương, dạt dào niềm hòa cảm của các nữ sĩ đối với thiên nhiên, với cuộc đời nói chung, và chính điều này cũng góp phần không nhỏ vào sự thành công cho thi phẩm của họ

Luôn quan tâm đến số phận con người, đặc biệt là người phụ nữ, thấu hiểu và diễn tả tận tường mọi diễn biến nội tâm đang diễn ra trong họ

Là nhà văn nhà thơ, thiên chức của họ là tái hiện những mảnh đời lên trang giấy, gửi gắm những rung cảm sâu xa từ những trải nghiệm cuộc đời và nâng nó lên tầm nghệ thuật, các nữ văn sĩ của chúng ta cũng vậy, họ đã lột tả một cách chân thật và hiệu quả nhất mọi thanh âm cuộc sống ở mỗi tác phẩm Hơn thế nữa, là những người phụ nữ, các chị đã từng nếm trải những đắng cay nhọc nhằn, những hạnh phúc mong manh, những ước vọng không thành…trong cuộc sống thường nhật, điều đó khiến cho các nữ văn sĩ dễ có cái nhìn thấu hiểu và cảm thông với người phụ nữ Từ đó, ngòi bút của các nhà văn nữ thường hướng về người phụ nữ, bênh vực và bảo vệ quyền bình đẳng cho họ Đặc điểm này được thể hiện rất

rõ trong các sáng tác của các nữ văn sĩ từ trước tới nay Ở thời kỳ phong kiến, người phụ nữ

Trang 19

không có được một vị trí tương xứng trong xã hội, họ được xem là “người sau cánh cửa”, nhưng đã có một Hồ Xuân Hương đầy bản lĩnh khi khẳng định giá trị bất biến của người

phụ nữ: Thân em vừa trắng lại vừa tròn/ Bảy nổi ba chìm với nước non/ Rắn nát mặc dầu

tay kẻ nặn/ Mà em vẫn giữ tấm lòng son (Bánh trôi nước) Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm cũng có

thi phẩm dịch xuất sắc, cảm động về nỗi niềm của người chinh phụ khi chinh phu của mình

đi trận từ nguyên tác Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn Đó là tình cảnh lẻ loi, là

cảm giác cô đơn, trống vắng, là tâm trạng mong ngóng, đợi chờ, hy vọng, rồi thất vọng của người chinh phụ khi chồng đi biền biệt không trở lại Từ đó, chúng ta cảm được tình cảm,

sự thấu hiểu của tác giả đối với nhân vật của mình - những người trong cuộc – như một sự nói hộ cho khát vọng hạnh phúc lứa đôi đã, đang và sẽ bùng cháy mãnh liệt trong trái tim mỗi người – đặc biệt là người phụ nữ

Cách mạng giải phóng dân tộc, cùng với nó là giải phóng người phụ nữ ra khỏi những ràng buộc của lễ giáo phong kiến đã trở nên lạc hậu, thiếu tinh thần nhân văn, nhân

ái, dần đưa họ lên những vị trí nhất định trong xã hội Trong điều kiện có những thuận lợi

đó, bản thân mỗi người phụ nữ đã tự vượt lên chính mình, vượt lên những khó khăn trong cuộc sống nắm giữ những vị trí quan trọng trong xã hội, và cũng chính cuộc sống mới đã tạo điều kiện cho các chị em có nhiều điều kiện thuận lợi dể phát huy khả năng và có những cống hiến cho xã hội Những dấu hiệu tích cực đánh dấu sự vươn lên của người phụ nữ, những bước chuyển đầy nhân văn về vị thế của người phụ nữ… Tất cả đều ẩn hiện qua những trang văn thấm đẫm ân tình của một số nhà văn mới nữa xuất hiện vào thời kỳ 1954 – 1975 như Vũ Thị Thường, Nguyễn Thị Ngọc Tú…

Đến với truyện ngắn của Vũ Thị Thường, ta thấy được khả năng khắc họa chân dung những người phụ nữ nông thôn với tâm tư, tình cảm, ước vọng vừa mang đặc trưng tính cách, vừa mang đậm màu sắc dân tộc lại ngời lên phẩm chất của “con người mới” Truyện

Hai chị em là một ví dụ, bên cạnh tình chị em yêu thương, gắn bó với nhau vừa chân thật,

vừa cảm động, tác giả còn tái hiện sự khác nhau giữa hai cuộc đời ở hai chế độ Là con người của chế độ mới, cách sống của Tuyết khác hẳn với chị Nếu như trước kia, chị của Tuyết chịu ép mình trong cuộc sống gia đình chật hẹp, chịu bó buộc trong những tư tưởng,

lề thói phong kiến đã lạc hậu, thì giờ đây, Tuyết đã hoàn toàn thoát ra khỏi sự ràng buộc của

xã hội cũ, cô không còn bị đè nặng bởi những dằn vặt riêng tư mà thay vào đó là cách nhìn, cách nghĩ rộng lớn hơn… Qua hai cuộc đời của hai chị em, tác giả đã khéo léo đấu tranh

Trang 20

cho một quan niệm hôn nhân mới, đấu tranh cho quyền bình đẳng của người phụ nữ, đồng thời, thể hiện một cách tự nhiên bản chất của chế độ mới Đến với Cái hom giỏ, ta gặp một

cô Thắm hiền dịu nhưng biết đấu tranh với ông bố lạc hậu để làm tốt vai trò xung kích của

thanh niên trong cải tiến kỹ thuật và vận động gia đình vào tổ đổi công Còn Mùi trong Câu

chuyện xảy ra không biến thoái khỏi cái bóng quá lớn của chồng trong công việc khi kiên

quyết bảo vệ ý kiến của mình trong cuộc họp, biết nhận ra những điều mà từ trước đến nay hai vợ chồng tưởng như hiểu nhau lắm nhưng giờ đây cần phải nhìn nhận lại… Câu chuyện như lời nhắc nhở nhẹ nhàng tất cả những người làm chồng trong khi giúp đỡ vợ phải hết sức bình đẳng, tôn trọng vợ đúng mức

Những câu chuyện trên cũng như những câu chuyện khác nữa của Vũ Thị Thường

như Hai bà cháu, Gánh vác, Theo chồng… là những truyện mà tác giả đã xây dựng thành

công hình ảnh người phụ nữ mới và nêu lên được những khía cạnh mới mẻ có liên quan khăng khít với vấn đề giải phóng phụ nữ, dặc biệt là đông đảo nữ nông dân

Cũng viết về cuộc sống lao động và đời sống tinh thần của người phụ nữ nông thôn,

Đất làng của Nguyễn Thị Ngọc Tú cũng là một trường hợp tiêu biểu Với sự am hiểu sâu

sắc về tất cả các vấn đề đang diễn ra ở nông thôn phía Bắc, với sự cảm thông và thấu hiểu tận tường từng nếp cảm, nếp nghĩ, những đắn đo, do dự, những mong muốn thầm kín mà sâu xa của người phụ nữ nông dân, nhà văn đã đem đến cho người đọc những bức chân dung sinh động và cực kỳ chân thực về nhiều đối tượng phụ nữ trong hợp tác xã nông nghiệp đang đổi mới từng ngày Viết về người phụ nữ, một mặt tác giả phát hiện ra những mặt tích cực, những nét đẹp về phẩm chất, những tiến bộ nhanh chóng trong quá trình lao động tập thể Mặt khác, chị còn phát hiện ra những bước chuyển không hề đơn giản, dễ dàng trong quá trình hòa chung với không khí lao động tập thể của người phụ nữ nông thôn

Điển hình của lớp nữ thanh niên trong hợp tác xã Trung Dũng là Bưởi Ở hoàn cảnh

là một nữ thanh niên còn rất trẻ, lại vấp phải sự cản trở của bà mẹ lạc hậu nhưng với sức trẻ

và tinh thần cầu tiến, cô đã phấn đấu và trở thành một đảng viên trẻ tuổi nhất trong chi bộ , một đội trưởng trẻ nhất trong 10 đội trưởng và còn là phó bí thư của chi đoàn Trung Dũng Gạt đi những nỗi buồn riêng, cô lúc nào cũng hăng say công tác Năng nổ và mềm dẻo, Bưởi đã kiên trì đến từng nhà vận động từng người đóng góp vào công việc hợp tác… Cảm động nhất là khi cô lo lắng cho công việc chung đến nỗi có cái áo khâu dở cũng bỏ đấy mãi đến khi người yêu về chơi mới cuống quýt đi nhờ người sửa để khâu nốt

Trang 21

Ở mảng thơ, với bản năng của người phụ nữ trong tư cách là người vợ, người bạn gái thân thương, các chị luôn dành những trang thơ thấm đẫm tình cảm để viết về những người thân với những tình cảm tha thiết nhất Đây là một trong những nguồn cảm xúc dồi dào trong thơ các chị Với trái tim phụ nữ giàu yêu thương và những xúc cảm đời thường chân thật, tiếng thơ các chị viết về người thân yêu đã làm dịu đi nỗi đau của các cuộc chiến tranh

ác liệt Các chị viết về những người mẹ, những đứa con, về người em trai, về em gái, về người bạn thân yêu, về người bà gắn với những kỷ niệm tuổi thơ Ở các nhà thơ nữ, đã có

sự kết hợp khéo léo giữa những công việc đời thường và những điều cao cả Trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, đó là lời thì thầm của đứa cháu mong mỏi tìm thấy hình ảnh son trẻ trên mái tóc của bà:

Làm sao thấy ngoại thuở còn xuân

Má căng tròn môi thắm đỏ Làm sao thấy ánh mắt bà rạng rỡ Ngước nhìn lên lời hẹn ban đầu

(Thời tuổi trẻ bà đâu – Lâm Thị Mỹ Dạ)

Trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, tình cảm đối với người bà gắn liền với nỗi khát khao được chia sẻ những khó khăn của một thời tuổi trẻ của người bà, cùng với tình yêu đối với

bà là một tâm hồn đa cảm sớm ưu tư trước những bước đi của thời gian:

Hai tuổi trẻ hai quãng đời xa quá Biết làm sao chia sẻ bà ơi!

(Thời tuổi trẻ bà đâu - Lâm Thị Mỹ Dạ)

Trong thơ Xuân Quỳnh, hình ảnh người bà gắn với những thanh âm cuộc sống rất đỗi bình thường nhưng cũng sâu sắc biết bao:

Tiếng gà trưa Mang bao nhiêu hạnh phúc Đêm cháu về nằm mơ Giấc ngủ hồng sắc trứng

(Tiếng gà trưa)

Bên cạnh đó là những câu thơ viết về người mẹ, đối với những nhà thơ nữ thì điều này lại gần gũi, tha thiết và thiêng liêng hơn ai hết Hình ảnh người mẹ trong thơ Lâm Thị

Trang 22

Mỹ Dạ hiện lên với đầy đủ những đắng cay nhưng luôn dành trọn tình yêu, niềm tin cho con, sẵn sàng nhận tất cả sự thua thiệt về mình:

Thác ghềnh nước cả sông sâu Chống chèo mình mẹ đương đầu bão giông Buồn lo mẹ dấu trong lòng

Nuôi em trong dạ mẹ mong tháng ngày Nỗi mình biết ngỏ ai hay

Bao đêm nước mắt vơi đầy mẹ ơi

(Trái tim sinh nở)

Ta dễ hiểu tại sao người mẹ lại được ví như là “hoa chắt chiu”:

Con gọi hoa chắt chiu là hoa của mẹ Bởi tin hoa, như đời mẹ, mẹ ơi

(Hoa chắt chiu – Lâm Thị Mỹ Dạ)

Đó chỉ là một số ít trong rất nhiều những câu thơ viết về người thân của các tác giả

nữ Việt Nam Bằng tiếng thơ trìu mến, gần gũi, các chị đã dành những câu thơ chứa đầy sức nặng tình cảm để viết về những người thân yêu của mình Tiếng thơ của các nữ sĩ mang bản sắc riêng, tạo nên giọng điệu trữ tình sâu lắng Cùng với những tình cảm đó là chuỗi dài những khát vọng riêng tư Trong thơ của các nhà thơ nữ, tình yêu hạnh phúc luôn gắn liền với khát vọng một cuộc sống bình yên Tiếng thơ khát khao hạnh phúc ấy không giới hạn ở những người phụ nữ làm thơ mà là tiếng nói chung cho bao trái tim phụ nữ đang thổn thức

Dù ở cung bậc nào, tiếng thơ của các chị cũng xuất phát từ những cảm xúc chân thực, sâu lắng của những trái tim nữ đa mang, giàu tình cảm Tiếng thơ các chị như được chắt lọc từ trong máu thịt, tiếng nói của con tim luôn khao khát tình yêu, hạnh phúc trọn vẹn dành cho người mình yêu:

Trước cỏ cây vô tư em chẳng dấu Nỗi nhớ anh nỗi nhớ khôn cùng

(Xuân Quỳnh)

Đó là nỗi nhớ khôn nguôi, nỗi nhớ dạt dào trong từng trang viết:

Những con đường mở ra trăm lối nhỏ Nhớ anh nhiều đến thế là em

Trang 23

Nỗi nhớ tràn ngập không gian, thời gian, mãnh liệt, nồng nàn Nhưng những vần thơ của các chị bao giờ cũng chứa đựng sự bao dung, dịu dàng, nhạy cảm:

Ước chi làm chiếc nón che anh Đêm lạnh giá em xin làm ngọn lửa

(Xuân Quỳnh) Hay trong thơ Phan Thị Thanh Nhàn là một cô gái e ấp, dịu dàng, bẽn lẽn và duyên dáng:

Cô gái như chùm hoa lặng lẽ Nhờ hương thầm nói hộ tình yêu

(Hương thầm)

Qua một số tác giả, tác phẩm cả thơ và văn xuôi, qua hệ thống các nhân vật nữ, các nhà văn, nhà thơ nữ đã khám phá nhiều tính cách, số phận, cuộc đời, sự giằng xé nội tâm trong quá trình đấu tranh với chính mình và với ngoại cảnh để trở thành người phụ nữ của thời đại mới Họ đã sống và viết, đã lăn lộn vào thực tế, đã thâm nhập và thấu hiểu những tâm tư, tình cảm, khát khao của người phụ nữ để từ đó cất lên tiếng nói đầy nhân văn với tinh thần đồng cảm, sẻ chia và chứa đựng khát vọng hạnh phúc rất đời thường…Những điều đó cũng góp phần chứng minh cho biểu hiện của tính nữ trong sáng tác của các nhà văn nữ

2.1.3 Một vài biểu hiện tính nữ trong sáng tác của một số nhà thơ nữ Việt Nam thời kỳ hậu hiện đại

Như đã giới thiệu ở trên, vấn đề đội ngũ những cây bút nữ ở Việt Nam cũng không nằm ngoài tình hình chung của văn đàn thế giới Trước Cách mạng tháng Tám, khi chế độ phong kiến với những thế lực cường quyền, nam quyền và thần quyền từ bao đời nay ràng buộc người phụ nữ phương Đông vào cuộc sống gia đình, bóp nghẹt tài năng và khát vọng sáng tạo nghệ thuật của họ thì những khuôn mặt điển hình trong “làng văn” là phụ nữ rất hiếm hoi Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhất là sau năm 1954, thi đàn Việt Nam đã xuất hiện một số cây bút nữ xuất sắc như Ý Nhi, Phan Thị Thanh Nhàn, Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Đoàn Thị Lam Luyến Đặc biệt, trong thời gian gần đây, số lượng các cây bút nữ mới xuất hiện có xu hướng phát triển mạnh Về thơ phải kể đến các tác giả trẻ như Dư Thị Hoàn, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh

Trang 24

Bước vào một giai đoạn mới của lịch sử, thơ ca cũng bộc lộ rõ hơn ý thức về cái tôi,

về giá trị bản thân, về quyền sống, quyền làm người Thơ đang muốn hòa nhập vào hơi thở của thời đại Nhiều nhà thơ vừa tự phát hiện ra mình, tự chán ghét lối thơ công thức, sơ lược đồng thời họ cũng xác nhận trách nhiệm và địa vị nhà thơ đối với lịch sử Với các nhà thơ nữ trẻ nói riêng, họ viết nhiều hơn về vấn đề tình yêu cũng trong xu hướng của sự đổi mới, cách tân ở nhiều phương diện Sự xuất hiện ồ ạt các tập thơ tình trong vài năm gần đây như là đòi hỏi bức thiết của con người trong đời sống riêng sau chiến tranh Tình yêu thời chiến có đặc thù rất rõ: là nơi của sự yên tĩnh, là sự thanh thản, là phút lặng trong chiến tranh, là biểu hiện của sự sống bất diệt trong bom đạn, là hậu phương, nơi gửi gắm hy vọng, đợi chờ của người ra trận Đó là loại tình yêu mang lí tưởng xã hội cao cả, mang nét chung của một thế hệ, một giai đoạn lịch sử

Tình yêu hiện nay là một cõi miền rất riêng với nhiều dạng thức tồn tại của nó: mất mát, tan vỡ, hòa hợp, hờn giận, nỗi đau đớn tinh thần, sự trống rỗng vô vọng, niềm khắc khoải Nó phức tạp hơn và trần tục hơn

Thơ tình của các tác giả nữ hiện nay đáng chú ý bởi cách nói táo bạo, thẳng thắn về những bi kịch và những ước muốn cá nhân (Xuân Quỳnh, Dư Thị Hoàn, Hồng Ngát, Ngọc Liên, Thảo Phương, Đinh Thị Thu Vân ) Nhưng ẩn đằng sau tất cả những cái mạnh mẽ,

dữ dội ấy là ý thức sâu xa về thân phận, về những nỗi bất hạnh muôn đời của kiếp phụ nữ

đã từng có trong thơ xưa Bên cạnh nhu cầu về hạnh phúc đời thường, tình yêu trần thế, sự thức tỉnh những nhu cầu cá nhân còn biểu hiện ở nội dung: khẳng định cá tính Con người

cá tính hiện nay đang được khẳng định như một giá trị Đó là nhu cầu ý thức về mình, xác định chỗ đứng của mình trước thế giới và trong các quan hệ xã hội, cá nhân Ở giai đoạn

1945 -1975 cái tôi trữ tình trong thơ mang sức mạnh của cả dân tộc, giai cấp, thời đại, nó hòa vào cái chung Trở về đời thường, cái tôi phải dựa vào chính bản thân mình, cá nhân mình

Nữ nhà thơ Dư Thị Hoàn là minh chứng cho một kiểu phụ nữ đầy mâu thuẫn của nhiều con người trong một con người: vừa có sự chọn lựa quyết liệt, vừa có giọt nước mắt tủi thân mặc cảm, vừa có cái kiêu hãnh tự tin, vừa rụt rè, lặng lẽ, vừa có cái nồng nàn, táo bạo lại vừa có cái lạnh lùng của người từng trải:

Có lối nhỏ chia đôi thảm cỏ

Em thả bước chán chường

Trang 25

Có lối nhỏ gập ghềnh sỏi đá Bước chân em nện xuống dữ dằn

(Lối nhỏ - Dư Thị Hoàn)

Ở “Lối nhỏ” còn ẩn chứa một tâm sự buồn của một cái tôi tự thể hiện Sự buồn phảng phất niềm cô đơn là điều xuất hiện một cách thường trực trong tâm hồn những người nhạy cảm:

Có lối nhỏ vương cây xấu hổ

Em sợ nó khép cánh Biết làm sao bây giờ Chính lối này đưa em đến anh

(Lối nhỏ) Người phụ nữ ấy vẫn tôn trọng tình yêu dù đã là quá khứ Đối với người phụ nữ hiện đại yêu tha thiết vẫn còn chưa đủ mà còn phải chu đáo:

Tất cả rồi dễ qua đi Chúng mình sẽ thành chồng, thành vợ Nếu không có một lần

Một lần như đêm nay Sau phút giây êm đềm trên ghế đá Anh không cài khuy áo ngực cho em

(Tan vỡ - Dư Thị Hoàn) Dẫu sao thì những câu thơ như trên của Dư Thị Hoàn vẫn gây nhiều ít phản cảm cho người đọc Phụ nữ truyền thống Việt Nam ưa hơn một sự kín đáo, tinh tế chứ không phải là

một sự chu đáo kiểu “trần tục”: “Anh không cài khuy áo ngực cho em”

Ở một nhà thơ trẻ khác là Vi Thùy Linh, thơ chị đã thể hiện rất táo bạo những khát khao bản năng của con người, đặc biệt là người con gái đang yêu Thơ trữ tình là tiếng nói của cái tôi trữ tình có cảm xúc, chủ thể trữ tình có nhu cầu được bộc lộ, giãi bày bằng cách nào đó:

Đêm song song phố ướt – cặp đùi dài Nàng đếm ngày người yêu về lại Đếm những ngón tay như những phím cầm nâu của anh Đôi chân chưa nhìn thấy

Trang 26

Ngày anh về chưa biết rõ Phố đầy cây phượng gọi anh từ mùa hoa này Nơi bây lên bầy vú thiếu nữ

Con đường đêm héo như quả phượng già Tháng chín nhớ về chín nhịp phồn sinh trong tiếng gọi đóa đóa hoa kèn tháng

tư nở vào mùa thu tinh khiết Con đường trỗi cặp chân dài

(Mùa thụ mầm – Vi Thùy Linh) Vấn đề không phải chỉ là cảm xúc trong thơ mà là viết gì vào thơ và viết như thế nào Cách nghĩ, cách cảm cũng như cách thể hiện của những nhà thơ trẻ như thế quả đã gây những bất ngờ cho người đọc Cả khi viết về người mẹ, về một mối quan hệ tình cảm vốn được ca tụng vào bậc nhất xưa nay thì Thùy Linh cũng thể hiện theo kiểu:

Con có thể kiêu hãnh về mẹ và cha

Từ lúc con nằm trong cha và mẹ

Mẹ viết đến tiều tụy

Dù vì thế, mẹ phải sớm lìa đời

Con Ước mơ vĩ đại, dẫu cho ngay tuyệt diệt Giữa những ước mơ hỗn độn và giả tạo đầy rấy xung quanh Cánh tay mệt lả của mẹ vẫn là đôi cánh bền vững

Hãy bay cao từ khi đôi bàn chân bé nhỏ của con bấm vào ngực mẹ

(Đôi cánh của mẹ - Vi Thùy Linh)

Từ xưa tới nay, thơ Việt Nam đặc biệt là các nhà thơ nữ vẫn thường lựa chọn cách thể hiện đậm chất nữ tính truyền thống: kín đáo, tế nhị dù là cảm hứng thế sự hay đời tư Phải chăng đó là khi cuộc sống đang hướng về cái ta chung của cộng đồng dân tộc, của những gì khuôn thước và mẫu mực vốn có từ ý thức hệ phong kiến và tư tưởng Nho giáo? Bước vào thời kỳ mới, con người có nhiều điều kiện, nhiều khả năng hơn để hội nhập, giao lưu, để nới rộng đường biên giao tiếp vốn rất khắt khe từ quá khứ giữa con người cá nhân với nhau và với toàn xã hội Con người ở vào thế chủ động hơn và cũng tự do hơn Vi Thùy

Trang 27

Linh là một trong số có những biểu hiện như đã bàn Về bản chất, các cây bút này muốn

“tạo nên màu sắc nổi loạn, thủ tiêu mọi nhân quả vẫn thường thấy trong thơ ca truyền

thống, sử dụng những liên tưởng trái chiều và nhiều kênh ngôn ngữ khác lạ để tạo nên cái mới trong thơ” [35, Tr.382]

Thơ vi Thùy Linh đã gây không ít xôn xao dư luận Công chúng từ lâu đã rất quen với nếp nghĩ, nếp cảm của người phụ nữ Việt Nam truyền thống Cũng viết về tình yêu, về người yêu, ta hãy xem những người trẻ nói thế nào:

Tôi đã nói với người đàn ông đầu tiên tôi yêu

“Em có thể chết nếu bị anh phản bội ”

Khi bị phản bội Tôi giằng chiếc nhẫn anh tặng khỏi tay mình

(Im lặng – Vi Thùy Linh)

Vi Thùy Linh đã quyết tránh xa những “mô phạm và sáo mòn, ngụy tạo và hèn nhát” để trở thành một nhà thơ sôlô như chị từng tuyên bố Nữ nhà thơ trẻ này còn gây sôck với độc giả khi cô bước lên sân khấu thơ không phải với vẻ đoan trang kín đáo như bao cô gái Việt Nam truyền thống Người phụ nữ ấy sẵn sàng phơi trần những khát khao, đam mê, không phải nhờ vào “hương thơm nói hộ tình yêu” mà là một sự ngang nhiên phơi trải lòng mình:

Em yêu anh cuồng điên Yêu đến tan cả em

Ào trong kí ức

(Người dệt tầm gai – Vi Thùy Linh) Phụ nữ vẫn là phái yếu, và hầu như họ đã bị đói xử như công cụ phục vụ cả về dục tính cho nam giới Cuộc đấu tranh cho quyền phụ nữ trong suốt thế kỷ qua đã dần dần nâng giá trị và quyền hạn của người đàn bà lên gần ngang hàng nam giới Quả thật, sự giải phóng cho nữ giới là giải phóng trên tất cả các phương diện trong đó có phương diện này Hiểu vấn đề như thế người đọc sẽ có cái nhìn đồng cảm với Vi Thùy Linh hơn Sự xuất hiện con người tự nhiên ở khía cạnh tình dục trong thơ họ được sự cổ vũ nhiệt tình của một số nhà thơ đồng thời chịu sự công kích mạnh mẽ của không ít người đọc khác Những đam mê cháy bỏng, sự khát tình, khát dục:

-Cứ để chăn trễ nại

Trang 28

Biết đâu Một tối trở về Chồng nằm trong đó

- Khỏa thân trong chăn Thèm chồng

-Với em anh là dấu ấn lớn nhất

Em luôn thấy anh cùng những mạch máu của anh chạy suốt em

Một trường hợp nữa cũng rất đáng chú ý trong làng thơ nữ trẻ Việt Nam thời kỳ hậu

hiện đại là nữ nhà thơ Phan Huyền Thư Nằm nghiêng của Phan Huyền Thư là một tập thơ

tương đối “lạ”, đặc biệt với những độc giả đã nạng lòng với kiểu thơ truyền thống ở Việt Nam Người phụ nữ làm thơ đó phải chăng đã viết bằng cả “tâm hồn và cơ thể”:

chỉ ăn cắp người ta

(Thị Mầu 97 – Phan Huyền Thư) Những nhận thức về hiện thực cuộc sống đã đi vào thơ bằng một khả năng diễn đạt lạnh lùng, tỉnh táo Điều này người đọc ít gặp trong thơ ca những năm kháng chiến dù sống trong mưa bom bão đạn, thế hệ Xuân Quỳnh, Lâm Thị mỹ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn vẫn rất nhẹ nhàng với bao ước vọng ngày mai:

Làng tôi đây sao anh lại ngạc nhiên Giặc phá hết không còn gì nữa Chỉ có tấm lòng và cây súng trong tay Uống nước hố bom đánh giặc đêm ngày

Và khi ngủ gối đầu lên bao đạn

(Làng – Xuân Quỳnh) Đến Phan Huyền Thư thì “làng” cũng đã khác xa rồi:

Tôi đi trên đường đầy rơm đồng quê đang cựa quậy

Trang 29

thôn nữ quần Jeans giầy da làm sao để cấy cày

trai làng ngày đêm vỉa hè đợi việc chầu chực một tương lai đô thị hóa nông thôn

xe Dream phóng thẳng vào thế kỷ hai mốt

Quả thực, thế hệ trẻ hôm nay trong đó có những nhà thơ nữ đã tỏ ra rất táo bạo trong việc chiếm lĩnh hiện thực cuộc sống Họ không ngại nói ra những điều xưa nay phụ nữ vẫn thường dè dặt cả trong cuộc sống lẫn văn chương Xin trích dẫn mấy câu thơ sau của Phan Huyền Thư như một minh chứng nữa cho sự giải phóng tư tưởng, nhận thức và nữ quyền của người phụ nữ trong thơ:

Tôi nhường em phản xạ yêu đương câu thơ gỡ nút áo

Tôi nhường chị sang sớm bên chồng

cạ mình dụi nách những đêm đông cái liếm môi quy hoạch

tôi nhường đàn ông

(Tự nguyện – Phan Huyền Thư) Như vậy, nhìn vào thực tế văn học có thể nhận ra một điều rằng, các nhà thơ nữ hôm nay đang vượt thoát ra những biểu hiện mang tính truyền thống của những tính nữ ở người phụ nữ Việt Nam: những thuộc tính tự nhiên, bản năng của người phụ nữ lại được thể hiện

ở một phạm trù khác, cách thức thể hiện khác Về điều này chúng tôi không bàn luận một cách cụ thể, chi tiết mà chỉ nhìn nhận vấn đề ở mức khái lược để giúp cho việc tìm hiểu tính

nữ trong thơ của hai nhà thơ rất tiêu biểu trong nền văn học Việt Nam hiện đại: Xuân

Quỳnh và Lâm Thị Mỹ Dạ

Trang 30

Chương 2 TÍNH NỮ TRONG THƠ XUÂN QUỲNH VÀ THƠ LÂM THỊ MỸ

Trong thực tế, nhiều cuộc đời thi sĩ gắn liền với đời thơ như hình với bóng Nhà thơ

là nhân vật chính, là hình bóng trung tâm, là cái tôi bao quát trong toàn bộ sáng tác Những

sự kiện, hành động và tâm tình của cuộc đời riêng đã in đậm nét trên những trang thơ Dường như mỗi phong cách sống đều có một dáng dấp riêng trong thơ và ngược lại Thơ trữ tình của Gớt, Puskin, Lecmôntôp trong văn học nước ngoài hay Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Tú Xương, Nguyễn Khuyến, Phan Bội Châu, Tố Hữu, Xuân Diệu…cũng chứa đựng những nỗi niềm tâm sự của riêng từng tác giả Thậm chí có khi từng

Trang 31

chi tiết nhỏ trong cuộc đời, kỷ niệm về một mối tình, một chuyến đi xa, một tình bạn thời thơ ấu…đều có thể xem là ngọn nguồn của những tâm trạng trong thơ Có thể nói thơ là phiên bản trung thành và sáng tạo của bản thân nhà thơ

2.1.2 Các dạng thức của cái tôi trữ tình trong thơ

Trong thơ trữ tình, chúng ta có thể nhận thấy hai kiểu nhân vật trữ tình: Nhân vật trữ tình chính tác giả và nhân vật trữ tình hóa thân nhập vai Tuy nhiên, cũng không thể đồng nhất cái tôi của nhà thơ trong đời sống với cái tôi trữ tình trong tác phẩm Thực tế cũng có những khác biệt giữa nhà thơ – con người của của cuộc sống thực – với thế giới nội tâm thơ mộng mà nhà thơ sáng tạo nên Trong di sản thơ ca để lại, một số nhà thơ có hiện tượng mâu thuẫn, khác biệt thậm chí đối lập nhau về tư tưởng và tình cảm trong sáng tác, vì thế không thể đồng nhất cái tôi của nhà thơ trong đời sống với cái tôi trữ tình trong tác phẩm, bởi đồng nhất có thể dẫn tới phủ nhận những đặc trưng của quy luật điển hình hóa nghệ thuật và có thể dẫn tới những suy diễn mang tính áp đặt Cái tôi trữ tình bộc lộ trong thơ với nhiều dạng thức Có khi dưới dạng trực tiếp của một tình cảm riêng tư, một câu chuyện, một cảnh ngộ, một sự việc gắn với một cuộc đời riêng của tác giả, thường biểu hiện qua chữ

“tôi” hoặc chữ “ta”

Trường hợp thứ hai là cảnh ngộ, sự việc trong thơ không phải là cảnh ngộ riêng của tác giả Nhà thơ nói lên cảm nghĩ về những sự kiện mà mình có dịp trải qua hoặc chứng kiến như một kỷ niệm, một quan sát Do vậy, cái tôi trữ tình là nhân vật trữ tình chủ yếu của sáng tác

Trường hợp nữa là những bài thơ trữ tình viết về một loại nhân vật nào đó, có khi là những điển hình có thật ở ngoài đời Đó là nhân vật trữ tình của tác phẩm tồn tại bên cạnh cái tôi trữ tình của nhà thơ

Các trường hợp trên, cái tôi trữ tình của nhà thơ không bộc lộ trực tiếp, nhưng qua sáng tác vẫn nổi rõ cái tôi trữ tình Cái tôi trữ tình là cái tôi của tác giả được nghệ thuật hóa

Đó là nhân vật trữ tình quan trọng trong thơ Sự hiện diện này bộc lộ rõ cốt cách, bản sắc của một lối cảm nghĩ, sâu xa hơn chính là nội dung của đời sống tâm hồn, vì thế đã tạo nên những cái tôi trữ tình cho mỗi nhà thơ, góp phần quyết định những tiếng nói thơ ca khác nhau Đó có thể là cái tôi trữ tình công dân, chính trị; cái tôi trữ tình thế sự - đời tư; cái tôi trữ tình chiêm nghiệm, triết lý…

Trang 32

2.2 Điểm tương đồng của biểu hiện tính nữ qua hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Xuân Quỳnh và thơ Lâm Thị Mỹ Dạ

2.2.1 Cái tôi trữ tình say đắm trước thiên nhiên

Thiên nhiên vốn là nguồn thi hứng bất tận của văn chương nghệ thuật Sự cảm thụ thiên nhiên nhiều khi còn phụ thuộc vào tâm thế cá nhân, quan niệm thi ca của thời đại và

cả đặc điểm giới tính nữa Dẫu vậy, nhìn thiên nhiên từ phương diện nào đi nữa thì nó vẫn đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thể hiện tâm hồn, cảm xúc của nhà văn trước cuộc đời Cả Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ Dạ đều là những nhà thơ nhạy cảm trước thiên nhiên và dễ rung động trước những biến thái của cuộc đời Khám phá thiên nhiên trong thơ Xuân Quỳnh và thơ Lâm Thị Mỹ Dạ là con đường để ta tiếp cận với tâm hồn phong phú, giàu rung cảm của các chị Thiên nhiên trong thơ các chị luôn song hành với những cảm xúc, suy tư, ao ước, trăn trở…và nó như có mặt trong những khoảnh khắc hạnh phúc hay khổ đau của tác giả

2.2.1.1 Bức tranh thiên nhiên với những đường nét hài hòa, tươi tắn sắc màu

Trước hết, ta đến với thế giới thiên nhiên trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ Bước vào thế giới thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ là bước vào không gian của sắc màu Dưới cái nhìn của chị, không chỉ thiên nhiên cảnh vật mà không gian, thời gian thậm chí cả tâm trạng của con người cũng mang màu sắc Trong cái nhìn nghệ thuật của Mỹ Dạ, cuộc sống là muôn màu,

do vậy từ cảnh vật đến tâm trạng đều mang màu sắc Nhưng trong không gian đầy màu sắc của thơ chị thì màu xanh vẫn có thể xem là gam màu chủ đạo Gam màu đó là màu của ruộng đồng dân dã, màu của sự sống, của tuổi trẻ, của hy vọng, của sự yên bình Đó là xanh

trời, xanh biển, , xanh tre trúc, xanh của đồng ruộng: “Biển xanh đến tận sắc trời” (Trước

Nha Trang); “Tiếng chim gù xanh biếc đồng quê” (Mẹ ngày xưa) Thậm chí, mặt trăng

cũng có màu xanh:

Vầng trăng xanh với con ngựa trắng Đêm bình yên ngựa gặm cỏ trên đồi

(Giấc ngủ mặt trời)

Và một màu xanh bao trùm:

Thơ xanh biếc - quả địa cầu xanh biếc Quay dịu dàng giữa vũ trụ tình yêu

(Tôi không tin có ngày tận thế)

Trang 33

Ngay cả khi nói về màu xanh của thiên nhiên thì màu sắc ấy cũng đã thể hiện rõ cái nhìn nghệ thuật của nhà văn về cuộc sống Với Lâm Thị Mỹ Dạ, màu xanh bao phủ không gian của quê hương, đất nước Có thể màu xanh ấy mang nhiều hàm nghĩa, có những nét nghĩa kế thừa truyền thống, có những hàm nghĩa là sáng tạo riêng của chị nhưng tựu chung màu xanh là biểu hiện của một tâm hồn trẻ trung, đầy sức sống Và đây là hình ảnh của lá:

“Cánh rừng xanh lá nõn ánh trời xuyên”, “Đường đan bóng lá lung linh”(Đường tới thủ

đô) Hay là:

Thuở nhỏ nhìn sao Soi nghiêng kẽ lá

(Hương cau) Hình ảnh thiên nhiên qua cái nhìn của Mỹ Dạ bên cạnh thể hiện sự phong phú sinh động như chính sự tồn tại của nó thì mặt khác nó còn mang tâm trạng của một sinh thể sống

có linh hồn:

Con người không có tình yêu Như trái đất này không có lá

Là hơi thở đất đai không thể thiếu

Lá dịu dàng, sâu thẳm của tôi ơi!

(Như lá)

Phải chăng lá trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ tượng trưng cho sự non tơ, trẻ trung của

một tâm hồn trong sáng, hồn nhiên Nữ thi sỹ tìm đến lá như một giải pháp để tìm về sự trong sáng của tâm hồn, giữ cho tâm hồn được trẻ mãi, được thanh thản tâm hồn trước cuộc sống không thiếu những phức tạp, xô bồ cũng như trước sự tàn phá của thời gian:

Ta thành trái mà hồn còn như lá

Cứ xanh hoài chồi biếc thuở non tơ

(Ngoảnh lại)

Trước thiên nhiên đầy hương sắc, lòng người không khỏi nao nao:

Thoảng một mùi hương nghe lòng nao nao

Ta bỗng nhận ra mùa sen đã nở Thành phố với bao sắc màu rực rỡ Phượng đỏ trôi như trong dịp ve ran

(Hoa mùa hạ)

Trang 34

Hình ảnh hoa xuất hiện trong thơ chị khá nhiều, và thế giới hoa trong thơ Lâm Thị

Mỹ Dạ tạo nên không gian nên thơ, lãng mạn để con người có thể mộng mơ, thưởng ngoạn,

để thanh lọc tâm hồn Tuy vậy đó không phải là không gian siêu thực bởi nó được tạo nên

từ những loài hoa quanh ta, trên mọi miền quê của đất nước và nhiều hơn cả là những loài hoa bình dị Vì vậy khi đắm mình trong không gian đó, người đọc như đang sống trong một không gian thân thuộc nhưng cũng rất thú vị, nên thơ Hoa ngoài vẻ đẹp tự nhiên vốn có của

nó, có khi nhà thơ còn sử dụng như những biểu tượng: vẻ đẹp tinh túy của tạo hóa – sự chắt

lọc từ những vất vả, nhọc nhằn, có khi đó là hoa của “niềm tin yêu”: Và mỗi năm hoa xương

rồng lại nở/ Niềm tin yêu trắng ngát cả thời gian (Một cuộc đời âm vang), có khi hoa còn

là biểu tượng của tuổi trẻ, của quá khứ êm đềm, tươi đẹp:

Cái quãng đời vô tư, trong sáng Lại rộn ràng từ hoa cỏ mọc lên

(Khoảng thời gian xanh biếc)

Và dù khi miêu tả vẻ đẹp của hoa hay sử dụng hình ảnh hoa như một biểu tượng, một ẩn dụ về con người, về cuộc sống, người đọc vẫn nhận ra dấu ấn rất riêng của Lâm Thị

Mỹ Dạ Đó là một thế giới hoa đầy màu sắc, vừa phong phú, đa dạng, vừa gần gũi, thân thuộc Thế giới ấy vừa rất tiêu biểu cho thế giới hoa ngoài đời vừa rất riêng biệt, vừa rất tự nhiên, sinh động Bước vào không gian ấy, người đọc bắt gặp cái tôi cô đơn nhưng trong sáng của nhà thơ đang đối diện với chính mình để tự vấn, để giãi bày lòng mình đầy khẩn thiết Đó là một cái tôi chân thành với tình yêu quê hương, với Tổ quốc, với bạn bè, với mẹ, với người yêu, với con và với cả chính mình Đó là cái tôi luôn khắc khoải về lẽ sống, về cuộc đời, về thơ Vì vậy, hình ảnh hoa vừa rất đa dạng, vừa rất thống nhất trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ: đa dạng về cách kết hợp, ý nghĩa; thống nhất ở vẻ đẹp mềm mại và là không gian nghệ thuật riêng để cái tôi của nhà thơ bộc lộ mình một cách đầy chân thật Điều này góp phần tạo nên nét độc đáo, vẻ đẹp dịu dàng, nữ tính cho thơ chị

Cũng như Lâm Thị Mỹ Dạ, bước vào thế giới thơ Xuân Quỳnh, ta bắt gặp một không gian rộng lớn, nhiều chiều với vẻ đẹp tự nhiên nguyên sơ của nó Bức tranh thiên nhiên đó ngoài sự phong phú đa dạng, nó còn rất rực rỡ và tươi tắn sắc màu Nét đep, chất thơ, sức hấp dẫn của thiên nhiên được Xuân Quỳnh tạo dựng không phải bằng sự dụng công cầu kỳ

mà hiện hình ngay từ loài hoa cỏ dại rất tự nhiên, bình dị, gần gũi và cũng có sức sống trong lòng người đọc

Trang 35

Xuân Quỳnh giống như bao người phụ nữ, với con mắt tinh tế và trái tim nhạy cảm, chị thường thêu dệt những hình ảnh thơ rất động, giàu giá trị biểu đạt, gợi sự rung cảm sâu

xa Xuất hiện khá nhiều trong thơ chị là những chi tiết được chắt lọc ra từ đời sống: đó là những cỏ cây, sự vật quen thuộc của đời thường: rau cỏ, hoa, lá, trời, mây, con đường, dòng sông, cánh buồm, góc phố…Và chỉ bằng vài nét chấm phá giản đơn và từ một đôi chi tiết trong thế giới thiên nhiên muôn màu, muôn vẻ đó, Xuân Quỳnh có khả năng gợi khung

cảnh và ấn tượng đậm nét Chẳng hạn, chỉ với một hình ảnh “Hoa mẫu đơn xơ xác nở bên

đồi” thì khung cảnh đồi núi trước mắt ta đã khác hẳn, nên thơ và hữu tình hơn rất nhiều

Hoặc chỉ với chi tiết “Hoa sấu rụng trên trái nhà đã cũ”, Xuân Quỳnh đã gợi được không

khí yên ấm, hạnh phúc từ những nếp nhà đã cũ trong những góc phố thanh bình giữa phố phường Hà Nội…Tất cả như giản đơn mà chân thực, có sức gợi đến bất ngờ Chính lẽ đó

mà đoi khi người đọc không phân định được rõ ràng là cảm xúc của Xuân Quỳnh nảy sinh

từ cuộc sống hay hình tượng thiên nhiên được gợi đến những rung cảm sâu sắc của chị Đó cũng là một dấu ấn ghi nhận sức hấp dẫn của bức tranh thiên nhiên mang đậm chất nữ tính vụt sáng lên từ hồn thơ tự nhiên chân chất đến độ “bản năng” này của chị

Ta dễ dàng bắt gặp sự tương đồng trong thơ Xuân Quỳnh và thơ Lâm Thị Mỹ Dạ là hình ảnh hoa khi nói đến thiên nhiên tạo vật Có thể nói rằng, tâm điểm của thiên nhiên trong thơ Xuân Quỳnh là “hoa” Hoa rực rỡ sắc màu, tỏa ngát hương thơm, tô điểm thêm cho bức tranh cuộc sống thêm màu sắc và hương sắc Cũng như Mỹ Dạ, các loài hoa trong thơ của Xuân Quỳnh hầu hết đều rất gần gũi, thân quen mà bất cứ đi đâu qua mỗi góc phố,

đường làng ta đều dễ dàng nhận ra Đó là hoa phượng, hoa sen: “Khắp một trời phượng đỏ

mênh mông/ Hoa sen hồng mặt nước thì trong/ Cây tường vi mọc gần cây sấu” (Không

đề)

Là hoa cúc, hoa đào:

Trên khắp nẻo lại bắt đầu mùa cúc Rồi hoa đào lại hồng tươi nô nức

Là bạt ngàn màu trắng dâu da:

Em về hoa trắng dâu da Vỉa than đên óng, chuyến phà nước êm

(Tình ca trong lòng vịnh)

Trang 36

Thậm chí đó là những loài hoa dại, cỏ dại mọc lên bên đường mà đôi khi vô tình người ta không để ý tới hoặc gặp một lần rồi lãng quên: “Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ may”

hoặc “Mấy ai nhớ về ngọn cỏ/ Mọc vô tình trên lối ta đi/ Dẫu nhỏ nhoi không nhớ làm chi/

không nghĩ đến nhưng mà vẫn có” (Cỏ dại) Và chính những loài cỏ dại vô danh đó lại

chứa một sức sống tiềm tàng, mãnh liệt, nó được ươm mầm từ những cỗi cằn, chai sạn, nó làm “xanh” lên sự sống ở những nơi bom đạn khốc liệt, ở những vùng đất tưởng như là “đã

chết”: “Trong bom đạn bỗng biết ơn màu cỏ/ Cỏ làm bớt hoang tàn/ Cỏ làm bớt thương

đau” (Em có đem gì đâu)

Trong thơ Xuân Quỳnh, không chỉ các loài hoa dại, cỏ dại được tôn vinh mà ngay cả những loài rau cũng được nhắc đến với niềm thương yêu vô hạn: rau dền, rau dệu, vị gừng, vết lấm, cái bống, cái bang…Tất cả đều trở thành đối tượng tự ca hát của đời chị Điều đó không đơn thuần chỉ là sự đắm say ngây ngất trước thế giới cỏ cây, hoa lá bình dị mà sâu xa hơn là sự “hóa thân” của Xuân Quỳnh vào thế giới ấy, chị nhìn thấy chúng và vận vào mình Âu đó cũng là sự liên tưởng đến tội nghiệp của người phụ nữ cả lo, cả nghĩ!

Thiên nhiên trong thơ Xuân Quỳnh có khi là sự vụt sáng của một hay vài chi tiết có sức gợi nhưng có khi lại là một bức tranh toàn cảnh hài hòa của cả cỏ cây, hoa lá, chim

muông Mùa xuân với: “Tháng giêng bỡ búp măng non/ Nhiều tre con và nhiều chim sẻ”

nên lúc nào cũng tươi mới, tràn trề sức sống, lấp lánh sắc màu và ngào ngạt hương thơm:

Sớm xuân này mặt đất đầy hoa Những gương mặt rạng ngời qua cửa kính Bãi ngô mượt mặt sông Hồng lấp lánh

(Mùa hạ)

Hạ qua và thu tới, đây là mùa có sự hòa điệu sâu sắc với những rung cảm da diết trong tâm hồn của chị Trong thơ Xuân Quỳnh, mùa xuân thường trong trẻo, suy tư, giàu

Trang 37

nhạc điệu Nó gợi đến trong chị bước gấp gáp của thời gian, nó gieo vào trong sâu thẳm trái tim người đàn bà đa đoan này một nỗi tiếc nuối cay đắng và hồi hộp trước sự trôi chảy của thời gian:

Cuối trời mây trắng bay

Lá vàng thưa thớt quá Phải chăng lá về rừng Mùa thu đi cùng lá

(Thơ tình cuối mùa thu)

Thiên nhiên ấy còn là hình ảnh của quê hương đã trở nên máu thịt trong tâm hồn của chị:

Bờ đê cỏ ướt

Lá tre xào xạc đường làng Sông Nhuệ đò sang

Hoa xoan tím ngõ Cánh cò trắng xóa Như lời ru của mẹ bay về

(Gửi mẹ)

Tình yêu đối với cuộc đời trước hết được biểu hiện qua tình cảm đối với quê hương,

nó đã hóa “tâm hồn” chị khi đi xa nên mỗi hình ảnh nói về quê hương trong thơ chị đều rưng rưng một nỗi xúc động Nếu trước đây, người đọc có ấn tượng mạnh trước một tính cách phụ nữ mạnh mẽ, dữ dội làm cho thiên nhiên cũng đầy ắp cá tính, luôn cựa quậy trong thơ, nội lực trào cả ra ngoài thì bây giờ người đọc cũng sẽ hoàn toàn bị chinh phục với vẻ đẹp dịu dàng, đôn hậu trước thế giới thiên nhiên trong thơ Xuân Quỳnh Phải chăng đó cũng

là một trong những nét đẹp góp phần tạo nên sức sống bất diệt cho hồn thơ Xuân Quỳnh trước bước đi nghiệt ngã của thời gian?

2.2.1.2 Thiên nhiên – tấm gương phản chiếu tâm hồn tác giả

Thiên nhiên vẫn luôn là điểm tựa cho thơ ca cất cánh, ngược lại nỗi lòng của nhà thơ thổi hồn vào thiên nhiên làm cho thiên nhiên thêm đẹp, thêm gần gũi Mang trong mình trái tim phụ nữ nhạy cảm, Xuân Quỳnh gửi vào thiên nhiên cảm thức về cuộc đời, về tình yêu, hạnh phúc, niềm lo âu, trắc ẩn, nỗi khát khao vô tận, vô cùng nhưng vẫn biết trân trọng hạnh phúc giản dị đang hiện hữu hàng ngày

Trang 38

Lâm Thị Mỹ Dạ cũng tìm về thiên nhiên, về với quê hương như tìm về miền bình yên để lấy lại sự thăng bằng, sự điềm tĩnh cần có để hướng tới tương lai như một nhu cầu tất yếu:

Khóm cây ngày ấy mẹ trồng Mới đó đã thành bóng mát Bóng mát mỗi ngày mỗi lớn Cái vườn mỗi ngày trẻ ra

Xao xuyến cả một vùng

(Tiếng mùa xuân)

Tiếng gà đã gọi dậy, làm sáng bừng cả một vùng, đánh thức kỷ niệm, tình yêu cuộc sống, trở thành tiếng gọi của mùa xuân, tiếng gọi của sức sống, niềm yêu đời Như đã nói ở trên, Mỹ Dạ nói nhiều đến màu xanh ở trong thơ Với chị, màu xanh bao phủ không gian của quê hương, đất nước, điều đó vừa phù hợp với thực tế đất nước vừa thể hiện sự lựa chọn nghệ thuật của nhà thơ Màu xanh ấy tượng trưng cho sự sống, cho cuộc sống yên bình, cho không gian của mộng mơ Màu xanh ấy như được tâm lí hóa:

Theo bài ca tôi về tìm lại Khoảng thời gian xanh biếc dưới cỏ mềm

(Khoảng thời gian xanh biếc) Bên cạnh xanh thời gian là không gian xanh:

Bài thơ tâm hồn anh Như một khoảng biếc xanh Xao động hồn chiến sỹ

(Bài thơ không năm tháng) Cũng vậy, nữ sỹ Xuân Quỳnh cũng thừa nhận mình là con người “nhìn đâu cũng thấy mình”, hay soi ngắm mình trước thiên nhiên Với hồn thơ chân thật, hồn nhiên, thiết

Trang 39

tha với cuộc đời, với lối giãi bày, kể lể gần gũi với ngôn ngữ dân gian thì hiếm hình thức nào thể hiện tốt hơn là ngôn ngữ thiên nhiên Thiên nhiên là kiểu biểu tượng trung thực và tươi sáng, có khả năng khai thác đời sống nội tâm của con người ở mức thuyết phục, đồng thời nó cũng là lối biểu hiện nguyên sơ nhất và cũng nói hộ lòng người được thật nhiều [23, Tr.22]

Là người phụ nữ gặp nhiều trắc trở, bão giông trong cuộc sống: mồ côi mẹ từ nhỏ, hạnh phúc đầu đời lỡ dở…, hồn thơ Xuân Quỳnh không tránh khỏi sự mặc cảm thân phận, những phấp phỏng lo âu về sự mỏng manh của tình yêu, hạnh phúc, những ý nghĩ đó luôn

ám ảnh trong tâm hồn chị, làm cho chị có cảm giác nhìn đâu quanh mình cũng thấy bóng hình mình trong đó Chị bắt gặp bóng dáng tuổi thơ côi cút của mình trong thế giới hoa dại,

cỏ dại: “Hoa tường vi thời trẻ dại của tôi/ Bên mái rạ một mảnh vườn hẻo lánh” (Hoa tường vi), hay “Hoa nếp mỏng manh trước tầm gió thổi/ Hoa diếp vàng cô độc giữa thâm

u/ Và bên đường hoa nghệ dại ngẩn ngơ/ Hoa sim tím một nỗi buồn hoang dã” (Hoa dại

núi Hoàng Liên)

Điểm gặp gỡ rõ nét giữa hai tâm hồn Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ Dạ đó là cả hai đều không để nỗi bất hạnh làm cho trái tim mình cằn cỗi Các chị học được ở thiên nhiên sự

vị tha, nhân hậu, chị biết tự gìn giữ mình, chắt lọc những gì trong trẻo chân thực tự tâm hồn:

Mây trắng bay đi cùng với gió Lòng như trời biếc lúc nguyên sơ Đắng cay gửi lại bao mùa cũ Thơ viết đôi dòng theo gió xa

(Hoa cỏ may)

Đáng quý nhất trong hồn thơ Xuân Quỳnh chính là một niềm tin mãnh liệt vào sự toàn vẹn và bất tử của tình yêu bởi hơn ai hết qua những thay đổi của thiên nhiên chị cũng ý thức được sự thay đổi không thể kìm hãm lại của tuổi xuân, sắc đẹp và…cả lòng người nữa:

“Lối cũ em về nay đã thu” Nữ sỹ còn mượn hình tượng thiên nhiên để vĩnh viễn hóa

khoảnh khắc hạnh phúc của tình yêu Đó có thể là một màu hoa rất trắng:

Một tình yêu như thế vẫn nguyên Chỉ còn lại một màu hoa rất trắng

Và:

Trang 40

Em yêu giây phút chúng mình có nhau Ngàn xưa cho tới mai sau

Vịnh xanh như buổi ban đầu tình yêu

(Tình ca trong lòng vịnh)

Như vậy, ngoài việc xét đoán cuộc sống một cách tỉnh táo, lí trí, ta còn bắt gặp trong hồn thơ Xuân Quỳnh niềm tin trong trẻo, dịu dàng về những “điều không thể mất” Chị đã tìm đến một hình thức bất biến cho những gì chị hằng tin yêu, đó là sự gắn kết, hòa đồng, những giá trị tinh thần ấy trong các sự vật, hiện tượng tự nhiên, nói cách khác, Xuân Quỳnh

đã lấy cách thức tồn tại của vũ trụ song hành với những điều mà với chị không thể mất đi: Tình yêu như hoa cúc vàng, tuổi trẻ như thành phố màu xanh, và khát vọng tình yêu như những con sóng đại dương…

Với tâm hồn say đắm trước thiên nhiên, với độ nhạy cảm tới mức “bản năng” trong trái tim người phụ nữ, cả Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ Dạ đều tạo dựng cho mình những bức tranh thơ về thiên nhiên tươi đẹp, rực rỡ sắc màu và cũng đầy tâm trạng, suy tư của những người phụ nữ nhạy cảm, cả lo, cả nghĩ Sự hòa nhập tâm hồn vào thiên nhiên tạo vật, cảm nhận tinh tế và sâu sắc những tinh túy của thiên nhiên, tạo vật để kết tinh những đóa hoa thơ đã đem đến cho hai nữ thi sỹ nét chung trong phong cách nghệ thuật: chân thực, tự nhiên, đầy nữ tính và cũng rất hiện đại

2.2.2 Tâm hồn người mẹ giàu tình thương, trách nhiệm

Các nhà thơ nữ thế hệ chống Mỹ với bản năng của người phụ nữ trong tư cách là người vợ, người mẹ, người bạn gái thân thương, các chị luôn dành những trang thơ thấm đẫm tình cảm khi viết về những người thân yêu với những tình cảm tha thiết nhất Đây dường như là nguồn đề tài không hề vơi cạn và nó cũng tạo nên dấu ấn riêng trong thơ các chị Với trái tim phụ nữ giàu tình thương và những xúc cảm đời thường chân thật, tiếng thơ các chị đã làm dịu đi nỗi đau của cuộc chiến tranh ác liệt, và cả khi tiếng súng không còn, sức lay động của nó đối với cuộc sống vẫn vô cùng lớn lao, sâu nặng Nổi bật hơn cả vẫn là hình ảnh người mẹ với tình yêu con vô bến vô bờ

Có thể nói rằng, Xuân Quỳnh là một trong những người dành nhiều trang viết cho con nhất, “trong tư cách người mẹ, Xuân Quỳnh để lại một gia tài thơ viết cho con”

Chu Văn Sơn đã rất có lý khi nhận xét rằng chất thơ Xuân Quỳnh là “chất thơ từ tổ ấm” Tổ ấm trong thơ Xuân Quỳnh là biểu tượng sống động của sự gắn bó, chở che Với

Ngày đăng: 04/10/2021, 17:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aristote (1999), Nghệ thuật thơ ca, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Aristote
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1999
2. Vũ Tuấn Anh (1979), Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1954 – 1975, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1954 – 1975
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1979
3. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
4. Nguyễn Phan Cảnh (1998), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn học Hà Nội
Năm: 1998
5. Martha Collins (2005), “Cốm non của Lâm Thị Mỹ Dạ được dịch sang Tiếng Anh”, http://www.VnExpress.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cốm non của Lâm Thị Mỹ Dạ được dịch sang Tiếng Anh
Tác giả: Martha Collins
Năm: 2005
6.Mai Ngọc Chừ (2005), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2005
7. Lâm Thị Mỹ Dạ, Ý Nhi (1974), Trái tim sinh nở, Nỗi nhớ con đường, Nxb Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trái tim sinh nở, Nỗi nhớ con đường
Tác giả: Lâm Thị Mỹ Dạ, Ý Nhi
Nhà XB: Nxb Văn học Hà Nội
Năm: 1974
8. Lâm Thị Mỹ Dạ (1983), Bài thơ không năm tháng, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài thơ không năm tháng
Tác giả: Lâm Thị Mỹ Dạ
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1983
9.Lâm Thị Mỹ Dạ (1998), Hái tuổi em đầy tay, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hái tuổi em đầy tay
Tác giả: Lâm Thị Mỹ Dạ
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1998
10. Lâm Thị Mỹ Dạ (1998), Đề tặng một giấc mơ, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tặng một giấc mơ
Tác giả: Lâm Thị Mỹ Dạ
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1998
11. Lâm Thị Mỹ Dạ, Hoàng Dạ Thi (1996), Mẹ và con, Nxb Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mẹ và con
Tác giả: Lâm Thị Mỹ Dạ, Hoàng Dạ Thi
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1996
12. Lâm Thị Mỹ Dạ (2002), “Phụ nữ phải kiêu hãnh trong tình yêu”, http://www.VnExpress.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ phải kiêu hãnh trong tình yêu”
Tác giả: Lâm Thị Mỹ Dạ
Năm: 2002
13. Lâm Thị Mỹ Dạ (2004), “Muốn có thơ hay phải sống thật với chính mình”, http://tin.Vietbao.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Muốn có thơ hay phải sống thật với chính mình”
Tác giả: Lâm Thị Mỹ Dạ
Năm: 2004
15. Phan Huy Dũng (1999), “Nhận diện nhịp điệu trong thơ trữ tình”, Thông báo khoa học Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện nhịp điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 1999
16. Trần Quang Đạo (2007), “Lâm Thị Mỹ Dạ tìm lối rẽ trên đường sáng tạo”, http://www.qdnn.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm Thị Mỹ Dạ tìm lối rẽ trên đường sáng tạo”
Tác giả: Trần Quang Đạo
Năm: 2007
17. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
18. Hà Minh Đức (1993), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
19. Hà Minh Đức (1996), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
20. Hồ Thế Hà (2003), “Khuynh hướng hiện đại trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ” Văn học (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuynh hướng hiện đại trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
Tác giả: Hồ Thế Hà
Năm: 2003
76. Thơ Phan Huyền Thư - Việt Kiếm Forum, http://www.vietkiem.com Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w