BÀI TẬP TÌNH HUỐNG MÔN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ Tình huống 1 Năm 1999, quốc gia Alpha gửi cho quốc gia Bêta một văn kiện ngoại giao trong đó đưa ra đề nghị hoạch định biên giới giữa lãnh thổ của Alpha với vù.
Trang 1BÀI TẬP TÌNH HUỐNG MÔN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ
đồ hoạch định đính kèm Trong văn kiện trả lời, Bêta bày tỏ quan điểm đồng ý với
đề nghị của Alpha Hai quốc gia cũng đã tổ chức họp báo để thông báo chính thức
về nội dung thỏa thuận Năm 2002, Grama tách ra khỏi Bêta và tuyên bố trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền Grama cho rằng thỏa thuận qua các văn kiện ngoại giao giữa Alpha và Bêta không phải là điều ước quốc tế có giá trị ràng buộc giữa các bên Hơn nữa, nếu thỏa thuận năm 1999 là điều ước quốc tế thì với tư cách
là quốc gia mới giành được độc lập, Grama không phải thực hiện các điều ước quốc
tế mà Bêta đã đại diện ký kết trước đó Hãy cho biết:
1 Thỏa thuận giữa Alpha và Bêta trong tình huống nêu trên có phải là điều ước quốc
tế hay không? Vì sao?
2 Sau khi trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền, Grama có phải thực hiện thỏa thuận mà Bêta đã ký với Alpha hay không? Vì sao?
Hướng dẫn:
1 Thỏa thuận giữa Alpha và Bêta trong tình huống nêu trên có phải là điều ước quốc tế hay không? Vì sao?
Theo điểm a, khoản 1, điều 2 Công ước Viên về luật điều ước quốc tế (1969) thì
“thuật ngữ “điều ước” dùng để chỉ một hiệp định quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và bất kể tên gọi riêng của nó là gì” Đồng thời, điều 11 Công ước Viên 1969 cũng quy định:
“Việc một quốc gia đồng ý chịu sự ràng buộc của một điều ước có thể biểu thị bằng việc ký, trao đổi các văn kiện của điều ước phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc
Trang 2gia nhập hoặc bằng mọi cách khác được thỏa thuận” Để xác định thỏa thuận giữa quốc gia Alpha và quốc gia Bêta có phải là điều ước hay không, ta có thể xét đến đặc trưng về mặt hình thức của điều ước quốc tế Ta có thể khẳng định rằng, điều ước quốc tế tồn tại chủ yếu dưới hình thức văn bản, nhưng bên cạnh đó còn có điều ước quân tử tồn tại dưới dạng bất thành văn Như vậy, theo như điều ước quân tử thì điều ước quốc tế không nhất thiết phải tồn tại dưới dạng văn bản Cũng theo định nghĩa
về thuật ngữ “điều ước” quy định tại điểm a, khoản 1, điều 2 Công ước viên 1969 thì điều ước quốc tế không phụ thuộc vào tên gọi của văn bản thỏa thuận này
Hơn nữa, vùng lãnh thổ Grama đã được quốc gia Alpha khai thác và đại diện trong quan hệ quốc tế, ta có thể hiểu là từ trước năm 1999, Grama đã và đang là “thuộc địa” của quốc gia Alpha và Alpha là quốc gia “bảo hộ”, vì vậy vùng lãnh thổ Grama phải tuân thủ theo những cam kết mà Alpha đã ký Như vậy, thỏa thuận giữa quốc gia Alpha với quốc gia Bêta về việc hoạch định biên giới giữa lãnh thổ của quốc gia Alpha với vùng lãnh thổ Grama mà quốc gia Bêta đang khai thác và đại diện trong quan hệ quốc tế hoàn toàn có thể là điều ước quốc tế
2 Sau khi trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền, Grama có phải thực hiện thỏa thuận mà Bêta đã ký với Alpha hay không? Vì sao?
Theo tiến sĩ Kaikobad (1983): “Quy tắc chung của luật quốc tế tập quán về vấn đề này là, về nguyên tắc, khi kế thừa từ người tiền nhiệm: quốc gia hưởng không hơn
và không kém lãnh thổ đó"
Hội nghị lần thứ 53 năm 1968 của Hội Luật gia quốc tế đã thông qua nghị quyết về
sur kế thừa của các quốc gia mới: “Khi một hiệp định quy định việc phân định biên giới quốc gia giữa hai quốc gia đã được thực hiện, theo đó đường biên giới đã được hình thành thì không cần phải làm gì thêm nữa và phạm vi lãnh thổ quốc gia cũng
đã được xác lập”
Điều 11 Công ước Viên về kế thừa nhà nước 1978 quy định:
Sự kế thừa quốc gia không ảnh hưởng tới:
a) một đường biên giới đã được xác định bởi một hiệp định; hay
Trang 3b) các nghĩa vụ và quyền được xác định bởi một hiệp định liên quan tới thể chế biên giới Những quy định này là sự khẳng định chính thức nguyên tắc duy trì biên giới
ổn định khi xuất hiện sự kế thừa nhà nước
Như vậy, sau khi vùng lãnh thổ Grama trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền thì Grama vẫn phải thực hiện đầy đủ các điều ước quốc tế về biên giới lãnh thổ mà Bêta đã ký kết thay Grama, trong đó có điều ước với Alpha Quốc gia Grama không
có quyền chọn lựa có thừa kế hay không mà buộc phải thừa kế, vì những điều ước
về biên giới lãnh thổ thường có giá trị rất bền vững mang tính ổn định cho dù 1 trong
2 bên có mất tư cách chủ thể thì quốc gia mới vẫn buộc phải thừa kế
Tình huống 2
Năm 1960, quốc gia A gửi cho quốc gia B thư đề nghị hoạch định biên giới giữa lãnh thổ của quốc gia B với vùng lãnh thổ C mà quốc gia A đang khai thác và đại diện trong quan hệ quốc tế Trong thư đó, quốc gia A nêu rõ nguyên tắc, cách thức hoạch định và có bản đồ hoạch định đính kèm Trong thư trả lời, quốc gia B bày tỏ quan điểm đồng ý với đề nghị của quốc gia A Hai quốc gia cũng đã tổ chức họp báo để thông báo chính thức về nội dung thỏa thuận Tranh chấp lãnh thổ bắt đầu nảy sinh sau khi vùng lãnh thổ C trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền Quốc gia C cho rằng thỏa thuận qua thư giữa quốc gia A và quốc gia B không phải là điều ước quốc tế có giá trị ràng buộc giữa các bên Hơn nữa, nếu thỏa thuận năm 1960 là điều ước quốc tế thì với tư cách là quốc gia mới ra đời, quốc gia C không phải kế thừa tất
cả các điều ước quốc tế mà quốc gia A đã đại diện ký kết Hãy cho biết:
1 Theo quy định của Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốc tế, thỏa thuận giữa hai quốc gia A và B trong tình huống nêu trên có là điều ước quốc tế hay không? Giải thích tại sao?
2 Sau khi độc lập, quốc gia C có phải thực hiện thỏa thuận về biên giới lãnh thổ mà quốc gia A đã ký kết với quốc gia B hay không? Giải thích tại sao?
Hướng dẫn:
Trang 41 Theo quy định của Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốc tế, thỏa thuận giữa hai quốc gia A và B trong tình huống nêu trên có là điều ước quốc
tế hay không? Giải thích tại sao?
Có thể khẳng định: thỏa thuận giữa hai quốc gia A và B trong tình huống nêu trên là điều ước quốc tế
Theo Công ước Viên về luật điều ước quốc tế (1969) thì “thuật ngữ “điều ước” dùng
để chỉ một hiệp định quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và bất kể tên gọi riêng của nó là gì”
Về bản chất, điều ước quốc tế là sự thỏa thuận dựa trên ý chí tự nguyện của các bên liên quan Chủ thể của điều ước quốc tế là các quốc gia Điều ước quốc tế tồn tại dưới hình thức văn bản đã được kí kết Điều ước quốc tế gồm có 3 loại: điều ước quốc tế được kí kết với danh nghĩa Nhà nước, điều ước quốc tế được kí kết với danh nghĩa Chính phủ và điều ước quốc tế được kí kết với danh nghĩa Bộ, ngành Các điều ước quốc tế được kí kết với danh nghĩa Nhà nước là các điều ước về hoà bình, an ninh, biên giới, lãnh thổ, chủ quyền quốc gia; về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, về tương trợ tư pháp và về các tổ chức quốc tế phổ cập và tổ chức khu vực quan trọng
Căn cứ theo đề bài, thỏa thuận giữa hai quốc gia A và B trong tình huống nêu trên hoàn toàn có đủ căn cứ để trở thành một điều ước quốc tế Đây là điều ước quốc tế nhằm hoạch định biên giới lãnh thổ Việc phân định biên giới lãnh thổ này đã được hai quốc gia thỏa thuận và đi đến kí kết Điều ước quốc tế này được ghi nhận dưới hình thức văn bản
2 Sau khi độc lập, quốc gia C có phải thực hiện thỏa thuận về biên giới lãnh thổ
mà quốc gia A đã ký kết với quốc gia B hay không? Giải thích tại sao?
Căn cứ vào đề bài, ta có thể thấy đây là trường hợp hình thành quốc gia mới bằng đấu tranh giải phóng dân tộc hoặc qua cách mạng xã hội Về nguyên tắc, quốc gia C
Trang 5không phải kế thừa toàn bộ các điều ước do quốc gia A kí kết với quốc gia B Tuy nhiên, nhằm mục đích không làm xáo trộn trật tự pháp lý quốc tế, và nếu điều ước
đã kí không đi ngược lại quyền lợi của quốc gia C thì quốc gia C vẫn có thể tuyên bố
kế thừa trong lĩnh vực biên giới lãnh thổ
Cơ sở pháp lý cần thiết đảm bảo tính hợp pháp của nghị quyết do Hội đồng bảo
an thông qua
Tình huống 3
Năm 2012, tại quốc gia A xảy ra nội chiến Hàng ngàn người nổi dậy đã tiến hành đập phá các cửa hàng, nhà kho, sân bãi nhằm tăng sức ép đề nghị chính phủ đương nhiệm phải từ chức Cuộc giao tranh giữa Chính phủ đương nhiên và phe nổi dậy ngày càng căng thẳng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hòa bình và an ninh trong khu vực cũng như đe dọa sự an toàn của những người nước ngoài đang có mặt trên lãnh thổ quốc gia A Trước tình hình nguy cấp này, Hội động bảo an Liên hợp quốc, với
tư cách là cơ quan thực hiện chức năng duy trì hòa bình và an ninh thế giới, đã có những cuộc họp nhằm xem xét vấn đề của quốc gia Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng bảo an trong đó đề cập đến việc áp dụng các biện pháp cần thiết, kể cả các biện pháp về quân sự, đối với quốc gia A cũng đã được soạn thảo Trong thời gian chờ đợi nghị quyết được thông qua, với tư cách là Ủy viên thường trực Hội đồng bảo an quốc gia X đã cho một số tàu quân sự của mình tiến sâu vào neo đậu trong lãnh hải của quốc gia A để sẵn sàng thực hiện Nghị quyết của Hội đồng bảo an Hãy cho biết:
1 Hành vi của quốc gia X có phù hợp với quy định của Công ước luật biển 1982 hay không? Tại sao?
2 Các cơ sở pháp lý cần thiết đảm bảo tính hợp pháp của Nghị quyết do Hội đồng bảo an thông qua?
Hướng dẫn:
1 Hành vi của quốc gia X có phù hợp với quy định của Công ước luật biển 1982 hay không? Tại sao?
Trang 6Trả lời: Hành vi của quốc gia X không phù hợp với quy định của Công ước luật biển
vì gặp những sự cố thông thường về hàng hải hoặc vì một trường hợp bất khả kháng hay mắc nạn hoặc vì mục đích cứu giúp người, thuyền hay phương tiện bay đang lâm nguy hoặc mắc cạn mà vì để chuẩn bị sẵn sàng thực hiện Nghị quyết của Hội đồng bảo an
Bên cạnh đó, quốc gia X đã vi phạm quy định của công ước Luật biển 1982 việc đi qua của tàu thuyền nước ngoài bị coi là phương hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh của quốc gia ven biển, nếu như trong lãnh hải, tàu thuyền này tiến hành các hoạt động quy định tại khoản 2 Điều 19 Công ước Luật Biển 1982 Cụ thể việc đưa quân
sự vào khu vực lãnh hãi của quốc gia A là hành vi đe dọa hoặc dùng vũ lực chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, điều này càng vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc của Luật quốc tế – nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ luật quốc tế Việc quốc gia X đưa tàu quân sự vào khu vực lãnh hải của quốc gia A
để sẵn sàng thực hiện nghị quyết của Hội đồng bảo an là không có căn cứ vì Nghị Quyết của Hội đồng bảo an chưa được thông qua Nghị quyết của HĐBA được thông qua khi có 9 ủy viên của Hội dồng bảo an, trong đó có tất cả các ủy viên thường trực
bỏ phiếu thuận (Điều 27 Hiến chương liên hợp quốc)
Như vậy, hành vi của quốc gia X không phù hợp với Công ước Luật Biển 1982
2 Các cơ sở pháp lý cần thiết đảm bảo tính hợp pháp của Nghị quyết do Hội đồng bảo an thông qua?
Trang 7Dẫn chiếu theo chương 7 Hiến chương Liên hợp quốc (từ Điều 39 đến Điều 51) về hành động trong trường hợp hòa bình bị đe dọa, phá hoại hoặc có hành vi xâm lược Theo đó, Nghị quyết của Hội đồng bảo an trong đó đề cập đến việc áp dụng các biện pháp cần thiết, kể cả các biện pháp về quân sự, đối với quốc gia A là hoàn toàn phù hợp Cụ thể, theo quy định tại Điều 39, Điều 41 Hội đồng có thẩm quyền quyết định những biện pháp áp dụng không liên quan tới việc sử dụng vũ lực để thực hiện nghị quyết của Hội đồng, và yêu cầu các thành viên Liên hợp quốc áp dụng biện pháp đó Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 42 Hiến chương thì nếu những biện pháp được nói tại Điều 41 mà không thích hợp hoặc mất hiệu lực thì Hội đồng bảo an có thẩm quyền
áp dụng mọi hành động của hải, lục, không quân nếu Hội đồng bảo an cho rằng đó
là cần thiết Những hành động này có thể là những cuộc biểu dương lực lượng, phong tỏa và những cuộc hành quân khác, do các lực lượng hải, lục, không quân của các nước thành viên Liên hợp quốc thực hiện Mặt khác, theo quy định tại Điều 51 Hiến chương nếu quốc gia thành viên của LHQ bị tấn công vũ trang mà cho tới khi HĐBA chưa áp dụng được các biện pháp cần thiết để duy trì hòa bình, an ninh quốc tế thì những biện pháp mà quốc gia thành viên của LHQ áp dụng để thực hiện quyền tự vệ chính đáng phải được báo ngay cho HĐBA, do đó, có thể dùng biện pháp quân sự tương xứng nếu trong trường hợp bị tấn công vũ trang
Hội đồng bảo an xác định tình hình nội chiến trên lãnh thổ quốc gia A không còn là công việc nội bộ của quốc gia A bởi tình hình nội chiến tại quốc gia A có ảnh hưởng nghiêm trọng đến hòa bình và an ninh trong khu vực cũng như đe dọa sự an toàn của những người nước ngoài đang có mặt trên lãnh thổ quốc gia A Do đó, sự can thiệp của HĐBA LHQ trong trường hợp này không được coi là vi phạm nguyên tắc của luật quốc tế về “Không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác”
Để nghị quyết của HĐBA được thông qua thì cần 9 ủy viên của HĐBA, trong đó có tất cả các ủy viên thường trực bỏ phiếu thuận (Điều 27 Hiến chương Liên hợp quốc)
Tình huống 4
Trang 8Hundu và Renda đều là hai quốc gia thành viên của Công ước về chống khủng bố quốc tế Tháng 4/2011, Chính phủ Hundu nhận được báo cáo của Cục tình báo quốc gia về việc phát hiện ra nơi ẩn náu trên lãnh thổ Renda của tên trùm khủng bố (bị truy nã toàn cầu) mà quốc gia này đang tìm kiếm Chính phủ Hundu ngay lập tức bí mật điều động máy bay quân sự với tần số siêu âm, thoát khỏi sự kiểm soát của rada trinh thám Renda, vượt biên giới, tiến vào lãnh thổ nước này và tấn công nơi ở của tên trùm khủng bố, đồng thời tiêu diệt tên này
Phát hiện ra hành vi của Hundu, Renda đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ Phía Renda cho rằng hành vi này đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia Tuy nhiên, Hundu cho rằng hành vi của quốc gia này là nhằm thực hiện nghĩa vụ thành viên của Công ước về chống khủng bố Hơn nữa, Tổng thống Hundu đã thực hiện cuộc điện đàm chính thức với Tổng thống Renda và ông này hứa sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hoạt động chống khủng bố được thực hiện bởi Hundu Hãy cho biết:
1 Tính hợp pháp trong hành vi của Hundu? Vì sao?
2 Cuộc điện đàm chính thức giữa Tổng thống của hai quốc gia có xác lập nghĩa vụ của Renda trong việc tạo điều kiện cho Hundu tấn công và tiêu diệt trùm khủng bố trên lãnh thổ Renda không? Vì sao?
Hướng dẫn:
1 Tính hợp pháp trong hành vi của Hundu? Vì sao?
Hành vi của Hundu là không hợp pháp Vì:
Hành vi của Hundu đã vi phạm nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia của luật quốc tế Chính phủ Hundu khi nhận được báo cáo của Cục tình báo quốc gia về việc phát hiện ra nơi ẩn náu trên lãnh thổ Randa của tên Trùm khủng bố (bị truy nã toàn cầu) mà quốc gia này đang tìm kiếm Chính phủ Hundu ngay lập tức bí mật điều động máy bay quân sự với tần số siêu âm, thoát khỏi sự kiểm soát của rada trinh thám Renda, vượt biên giới, tiến vào lãnh thổ nước này và tấn công nơi ở của tên trùm khủng bố, đồng thời tiêu diệt tên này đã vi phạm nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là điều thiêng liêng
Trang 9của mỗi dân tộc, lãnh thổ là biểu hiện của nền độc lập dân tộc và bất khả xâm phạm của mỗi quốc gia Bảo vệ biên giới, lãnh thổ chính là bảo vệ chủ quyền quốc gia chống lại mọi hình thức ngoại xâm Tuyên bố về những nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc năm 1970 cũng đã quy định rõ nội dung nguyên tắc này Như vậy, trong tình huống này thì Hundu đã xâm phạm chủ quyền quốc gia Renda vì hành động bí mật điều động máy quân sự tiến vào Renda Bên cạnh đó còn vi phạm nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế, nguyên tắc này được quy định trong Tuyên bố năm 1970 của Liên hợp quốc về những nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị hợp tác giữa các quốc gia Hành vi Hundu bí mật điều động máy bay quân sự với tần số siêu âm, thoát khỏi sự kiểm soát của rada trinh thám Renda, vượt biên giới, tiến vào lãnh thổ Renda có thể bị coi là một hành vi sử dụng vũ lực với quốc gia Renda cho dù có mục đích chỉ là bắt tên khủng bố, nhưng nó làm ảnh hưởng tới nền an ninh của Renda khi có quốc gia dùng lực lượng quân sự tiến vào lãnh thổ mình bí mật như vậy Tuy luật quốc tế không quy định rõ về định nghĩ thế nào là “vũ lực” nhưng theo các văn kiện của Liên hợp quốc thì vũ lực được hiểu là sức mạnh về quân sự, chính trị, kinh tế hoặc ngoại giao
mà quốc gia này sử dụng bất hợp pháp đối với quốc gia khác Hundu và Renda đều
là thành viên của Công ước về chống khủng bố quốc tế nên khi tên khủng bố này đang ẩn náu trên lãnh thổ Renda thì Renda phải có nghĩa vụ cùng hợp tác với Hundu
để bắt tên trùm khủng bố này chứ Hundu không được bí mật điều động máy bay quân
sự tiến vào Renda để tiêu diệt tên khủng bố Điều này vi phạm nghiêm trọng đến nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế, ảnh hưởng tới nền an ninh quốc gia của Renda
2 Cuộc điện đàm chính thức giữa Tổng thống của hai quốc gia có xác lập nghĩa
vụ của Renda trong việc tạo điều kiện cho Hundu tấn công và tiêu diệt trùm khủng bố trên lãnh thổ Renda không? Vì sao?
Trang 10Cuộc điện đàm này không xác lập nghĩa vụ của Renda trong việc tạo điều kiện cho Hundu tấn công và tiêu diệt tên trùm khủng bố trên lãnh thổ Renda Vì:
Theo nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác (quy định tại Điều 55, 56 Hiến chương Liên hợp quốc) thì Renda và Hundu phải hợp tác với nhau trong việc bắt tên trùm khủng bố đó nhằm duy trì hòa bình và an ninh quốc tế Sự nỗ lực và thiện chí hợp tác của Renda với Hundu phải dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế sẽ loại bỏ được các hợp tác trái với luật quốc tế và các vấn đề toàn cầu được giải quyết, đây vừa là lợi ích chung của các quốc gia vừa là lợi ích cho sự phát triển của các quốc gia đó Tuy nhiên như phân tích ở ý thứ nhất thì Hundu đã vi phạm hai nguyên tắc cơ bản luật quốc tế nên sự hợp tác này đã không còn là sự hợp tác dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế nữa, hành vi của Hundu đã gây phương hại tới Renda Bên cạnh đó, Hundu
bí mật kế hoạch hành động của mình đó là bí mật điều động máy bay quân sự với tần
số siêu âm, thoát khỏi sự kiểm soát của rada trinh thám Renda, vượt biên giới, tiến vào lãnh thổ nước Renda và tấn công nơi ở của tên trùm khủng bố, đồng thời tiêu diệt tên trùm khủng bố Điều này đã cho thấy Hundu chưa thiện chí trong hợp tác với Renda vẫn cho Renda là “ngoài cuộc”, cuộc điện đàm này như một lời cam kết Renda
sẽ hợp tác tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động chống khủng bố được thực hiện bởi Hundu Tuy nhiên, cách thức, mức độ hợp tác còn phụ thuộc vào yêu cầu, khả năng của Renda và Hundu cũng cần tôn trọng và tuân thủ theo đúng mức độ hợp tác giữa hai nước và luật pháp quốc tế Như vậy trong trường hợp này cuộc điện đàm không làm phát sinh nghĩa vụ đối với bên Renda trong việc tạo điều kiện cho Hundu tấn công và tiêu diệt trùm khủng bố trên lãnh thổ Renda
Thỏa thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa hai quốc gia có phải điều ước quốc tế
Tình huống 5
Năm 1970, quốc gia A gửi cho quốc gia B văn bản đề nghị xác định biên giới trên biển giữa quốc gia B và vùng lãnh thổ thuộc địa C mà quốc gia A đang khai thác và đại diện trong quan hệ quốc tế Trong thư đó, quốc gia A có nêu rõ nguyên tắc, cách
Trang 11thức phân định và có bản đồ phân định đính kèm Trong thư trả lời, quốc gia B bày
tỏ quan điểm đồng ý với đề nghị của quốc gia A
Tuy nhiên, tranh chấp đến biên giới trên biển lại nảy sinh khi C trở thành quốc gia độc lập, có chủ quyền Quốc gia C cho rằng: thỏa thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa quốc gia A và quốc gia B không phải là điều ước quốc tế có giá trị ràng buộc giữa các bên Hơn nữa, với tư cách quốc gia mới ra đời sau cách mạng giải phóng, quốc gia C không phải kế thừa tất cả các điều ước quốc tế mà A đã đại diện
ký kết Hãy cho biết:
1 Thỏa thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa quốc gia A và B có phải điều ước quốc tế có giá trị ràng buộc giữa các bên hay không? Tại sao?
2 Quốc gia C có nghĩa vụ phải kế thừa tất cả các thỏa thuận quốc tế mà quốc gia A
đã đại diện ký kết, trong đó có thỏa thuận xác định biên giới trên biển hay không? Tại sao?
Theo điểm a khoản 1 Luật công ước Viên năm 1969, Điều ước quốc tế dùng để chỉ
“một hiệp định quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và bất kể tên gọi riêng của nó là gì” Thoả thuận quốc tế sẽ trở thành điều ước quốc tế và có giá trị ràng buộc khi nó đảm bảo các trình tự tạo nên một điều ước quốc tế, cụ thể như phải đảm bảo các giai đoạn: Giai đoạn 1: Giai đoạn hình thành các văn bản điều ước: Trong giai đoạn này, các bên sẽ thực hiện các hành vi như: đàm phán, soạn thảo và thông qua văn bản điều
Trang 12ước Thực hiện xong các hành vi này, điều ước quốc tế vẫn chưa phát sinh hiệu lực, tuy nhiên nếu thiếu các hành vi này thì một điều ước quốc tế không thể được hình thành
Giai đoạn 2: giai đoạn thực hiện các hành vi nhằm thể hiện sự ràng buộc của quốc gia với điều ước quốc tế và có giá trị tạo ra hiệu lực thi hành của điều ước đó Giai đoạn này có 4 hành vi được thực hiện đó là: hành vi ký, phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế [Theo “Luật Quốc tế” Ts Ngô Hữu Phước]
Các thoả thuận giữa các quốc gia chưa thể trở thành một điều ước quốc tế khi thiếu các trình tự trên
Tuy nhiên, các quy định tại công ước Viên năm 1969 chỉ bắt đầu có hiệu lực từ năm
1980 Trước khi công ước Viên năm 1969 có hiệu lực, trong quan hệ quốc tế, điều ước quốc tế là sự thỏa thuận giữa các quốc gia – có thể bằng hình thức văn bản hoặc
là sự thỏa thuận bằng miệng - thỏa thuận này được gọi là “điều ước quân tử”
Thứ hai, xét đến yếu tố chủ thể tham gia trong thỏa thuận này là quốc gia A và quốc gia B đều là chủ thể của luật quốc tế Thỏa thuận này được hình thành dựa trên sự đồng ý của 2 quốc gia (quốc gia A gửi đề nghị và quốc gia B ngỏ ý đồng ý)
Như vậy, căn cứ theo phân tích trên, thỏa thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa quốc gia A và B có thể xem là điều ước quốc tế và có giá trị ràng buộc giữa A và B
2 Quốc gia C có nghĩa vụ kế thừa tất cả các thoả thuận quốc tế mà quốc gia A
đã đại diện ký kết, trong đó có thỏa thuận xác định biên giới trên biển hay không? Tại sao? **
Với thỏa thuận quốc tế, quốc gia C không có nghĩa vụ kế thừa tất cả các thỏa thuận quốc tế mà quốc gia A đã đại diện ký kết (nghĩa là quốc gia C có thể tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đó hoặc không) nhưng với thỏa thuận xác định biên giới trên biển,
C vẫn phải tiếp tục tôn trọng và thực hiện thỏa thuận quốc tế này Vì các lý do như sau:
Trang 13Thứ nhất: Theo luật quốc tế hiện hành, các quốc gia mới thành lập không có nghĩa
vụ phải tiếp tục thực hiện các điều ước quốc tế do quốc gia để lại thừa kế ký kết Căn
cứ vào cơ sở pháp lý tại điều 16 và điều 28 công ước Viên năm 1978:
Điều 16: Đối với những điều ước của các quốc gia tiền nhiệm, quốc gia mới độc lập không bị ràng buộc việc duy trì hiệu lực hoặc phải trở thành thành viên của bất kỳ điều ước nào với lý do điều ước vẫn còn hiệu lực đối với lãnh thổ được ký kết vào thời điểm kế thừa
Điều 28: Điều ước song phương: Điều ước song phương vẫn đang còn hiệu ước hoặc tạm thời áp dụng đối với lãnh thổ được thừa kế vào thời điểm thừa kế sẽ vẫn còn hiệu lực giữa hai bên quốc gia độc lập mới hình thành hoặc quốc gia kia khi:
+ Hai bên khẳng định rõ ràng sự chấp thuận
+ Hai bên bằng hành vi thể hiện sự chấp thuận
Như vậy, đối với các điều ước quốc tế các quốc gia để lại kế thừa, có hai trường hợp:
− Trường hợp 1: Quốc gia mới giành được độc lập không phải tiếp tục thực hiện các điều ước quốc tế trước đây vẫn thi hành tại lãnh thổ quốc gia mới đó
– Trường hợp 2: Đối với các điều ước mà trước đây quốc gia A đã kí kết, quốc gia C
có thể thỏa thuận các điều kiện áp dụng điều ước với quốc gia A Hoặc C sẽ kí kết với A các điều ước đặc biệt, trong những điều ước lại này có ghi nhận việc C sẽ kế thừa tất cả các điều ước còn hiệu lực thi hành do A đã kí kết với B về lãnh thổ vốn
là thuộc địa của A trước đây Thứ hai: Trong trường hợp này C vẫn phải kế thừa điều ước quốc tế xác định biên giới trên biển giữa A và B bởi: những điều ước biên giới
về lãnh thổ thường có giá trị rất bền vững và mang tính ổn định dù hai bên có mất tư cách chủ thể thì quốc gia mới vẫn buộc phải thừa kế Căn cứ theo quy định tại điều
11, 15 và 30 của Công ước Viên năm 1969:
Điều 11: Sự kế thừa quốc gia không ảnh hương đến tới:
Một đường biên giới đã được xác định bởi một hiệp định, hay
Các quyền và nghĩa vụ đã được xác định bởi một hiệp định liên quan đến thể chế biên giới Điều 15: Khi một phần lãnh thổ nhà nước hoặc khi bất cứ phần lãnh thổ
Trang 14nào mà không còn là lãnh thổ của quốc gia đó hoặc trở thành một phần lãnh thổ của quốc gia khác thì
a, Điều ước của quốc gia để lại sẽ ngừng có hiệu lực với phần lãnh thổ mà quốc gia thừa kế có liên quan, kể từ ngày quốc gia thừa kế ra đời
Như vậy, với các điều ước quốc tế khác, quốc gia C không có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện các điều ước này và có thể hiện nó hay không nhưng với thỏa thuận quốc tế về biên giới, quốc gia C buộc phải tôn trọng thực hiện
Hành vi xâm phạm thềm lục địa của quốc gia ven biển
Tình huống 6
Quốc gia Hudu xúc tiến việc lắp đặt các dây cáp ngầm dưới đáy biển ở vị trí cách đường cơ sở của quốc gia Tara 150 hải lý Trong quá trình lắp đặt, các kỹ sư thi công của Hudu nhận thấy rằng cần phải cố định các đường dây cáp bằng cách khoan 10 mũi vào đáy biển và họ gửi đề xuất này tới Chính phủ Hudu Chính phủ Hudu đồng
ý với đề xuất trên, đồng thời cho phép các kỹ sư thi công thăm dò và thực hiện việc khoan cố định 10 mũi vào lòng đất dưới đáy biển nơi đặt dây cáp ngầm Khi phát hiện ra hành vi nói trên, Tara đã yêu cầu Hudu dừng ngay hành vi lắp đặt dây cáp cũng như việc khoan vào lòng đất dưới đáy biển trong vùng biển của Tara Hãy cho biết:
1 Tara yêu cầu Hudu dừng ngay hành vi lắp đặt dây cáp ngầm cũng như việc khoan vào lòng đất dưới đáy biển có phù hợp với luật quốc tế không? Tại sao?
2 Hudu có thể thực hiện những quyền gì trong vùng biển trên của Tara? Tại sao?
Hướng dẫn:
1 Tara yêu cầu Hudu dừng ngay hành vi lắp đặt dây cáp ngầm cũng như khoan vào lòng đất dưới đáy biển của Tara hoàn toàn phù hợp với quy định của luật quốc tế
Tại vì hành vi “lắp đặt dây cáp ngầm dưới đáy biển” cũng như “khoan vào đáy biển” của Hudu đã vi phạm quy định của luật quốc tế đồng thời xâm phạm đến quyền của Tara tại vùng thềm lục địa, mà không có sự đồng ý của quốc gia này
Trang 15Trước hết, phải khẳng định vị trí mà Hudu thực hiện các hành vi nêu trên thuộc vùng thềm lục địa của Tara Thềm lục địa quốc gia ven biển theo Điều 76 Công ước 1982 được xác định: “Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn” (khoản 1 Điều 76 Công ước luật biển năm 1982)
Nếu bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia ven biển cách đường cơ sở chưa tới 200 hải lý thì thềm lục địa của nước đó được tính đến 200 hải lý, tức là đến ranh giới phía ngoài của vùng đặc quyền kinh tế Nói cách khác, khi bờ ngoài của rìa lục địa gần hơn, hoặc chỉ cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải một khoảng cách là
200 hải lý (370,4 km) thì ranh giới ngoài của thềm lục địa pháp lý nước này sẽ bằng hoặc mở rộng đến khoảng cách không quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở Khi bờ ngoài của rìa lục địa của một quốc gia ven biển kéo dài tự nhiên vượt quá khoảng cách 200 hải lý tính từ đường cơ sở và dao động ở khoảng cách từ ngoài giới hạn 200 hải lý ra đến các khoảng cách 250 hải lý; 300 hải lý; 350 hải lý hoặc rộng hơn thế Thì theo khoản 5 Điều 76 Công ước luật biển 1982 thì thềm lục địa pháp lý mở rộng ngoài giới hạn 200 hải lý kể từ đường cơ sở được tính từ đường ranh giới phía ngoài lãnh hải cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, nhưng không được vượt quá 350 hải lý (648,2 km) tính từ đường cơ sở hoặc cách đường thẳng sâu 2500m một khoảng cách không vượt quá 100 hải lý (185,2 km)
Như vậy, vị trí mà Hudu lắp đặt dây cáp ngầm cũng như khoan vào đáy biển cách đường cơ sở của Tara 150 hải lý hoàn toàn thuộc vùng thềm lục địa của Tara
Theo quy định tại Điều 79, Công ước 1982 tất cả các quốc gia có quyền lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa, tuy nhiên phải tuân theo điều kiện của quốc gia ven biển khi thực hiện quyền lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa của quốc gia ven biển Quốc gia ven biển có thể không đồng ý cho quốc gia khác lắp đặt
Trang 16dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa của mình khi việc lắp đặt ấy cản trở việc quốc gia ven biển thực hiện quyền của mình tiến hành những biện pháp hợp lý để thăm dò thềm lục địa và để ngăn ngừa hạn chế và chế ngự ô nhiễm do dây cáp và ống dẫn ngầm gây ra (khoản 2 Điều 79) Việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm theo tuyến phải được sự thỏa thuận của quốc gia ven biển (khoản 3 Điều 79) Điều đó cho thấy, quyền của tất cả các quốc gia lắp đặt dây cáp và ống dẫn ở thềm lục địa của quốc gia ven biển không phải là quyền tự do vô điều kiện
Trong trường hợp này, việc Hudu lắp đặt dây cáp ngầm dưới đáy biển thuộc vùng thềm lục địa của Tara mà không thỏa thuận cũng như không có sự đồng ý của Tara tức là đã xâm phạm đến quyền của Tara tại vùng thềm lục địa; Hành vi lắp đặt dây cáp của Hudu khi không thỏa thuận với Tara là vi phạm quy định của pháp luật quốc
tế (khoản 3 Điều 79 Công ước Luật Biển 1982); Hành vi lắp đạt dây cáp ngầm của Hudu có thể cản trở Tara thực hiện quyền của mình khi tiến hành thăm dò thềm lục địa; đồng thời hành vi này cũng có thể gây ô nhiễm môi trường cho vùng biển của Tara và Tara có quyền bảo vệ môi trường biển ở thềm lục địa của mình (theo quy định tại Điểu 208 Công ước 1982) Vì những lý lẽ trên, quốc gia Tara hoàn toàn có quyền yêu cầu dừng ngay hành vi lắp đặt trái phép của Hudu trên vùng thềm lục địa của Tara Quốc gia Tara có đặc quyền cho phép và quy định việc khoan ở thềm lục địa bất cứ vào mục đích gì theo Điều 81 Công ước Luật Biển 1982: “Quốc gia ven biển có đặc quyền cho phép và quy định việc khoan ở thềm lục địa bất kỳ vào mục đích gì.” Như vậy, Hudu tiến hành việc khoan 10 mũi khoan lên vùng thềm lục địa của Tara khi không có sự đồng ý của Tara là hành vi trái với quy định của pháp luật quốc tế, đồng thời vi phạm đến đặc quyền của Tara (Điều 81); Hành vi này cũng có thể gây ô nhiễm cho vùng biển của Tara Vì vậy, quốc gia Tara có quyền yêu cầu Hudu chấm dứt các hành vi vi phạm của mình
2 Những quyền Hudu có thể thực hiện trên vùng biển trên của Tara
Trang 17Hudu cũng như các quốc gia khác hoàn toàn có quyền đối với vùng nước và vùng trời phía trên thềm lục địa của Tara Việc quy định và thực hiện quyền tài phán của các quốc gia ven biển không làm ảnh hưởng đến quyền tự do của Hudu
– Hudu có quyền lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa của Tara theo quy định tại Điều 79, Công ước 1982 Tuy nhiên, cũng theo Điều 79 thì Hudu phải tuân theo một số điều kiện mà quốc gia Tara đưa ra khi thực hiện quyền lắp đặt dây cáp
và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa của quốc gia ven biển Trước hết, Tara có thể không đồng ý cho Hudu cũng như các quốc gia khác lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa của mình khi việc lắp đặt ấy cản trở việc quốc gia ven biển thực hiện quyền của mình tiến hành những biện pháp hợp lý để thăm dò thềm lục địa và để ngăn ngừa hạn chế và chế ngự ô nhiễm do dây cáp và ống dẫn ngầm gây ra (Khoản
2 Điều 79) Nếu như Hudu tiến hành việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm thì phải theo tuyến đã được sự thỏa thuận với Tara (căn cứ vào khoản 3 Điều 79) Những quy định này chứng tỏ rằng quyền của tất cả các quốc gia lắp đặt dây cáp và ống dẫn ở thềm lục địa của quốc gia ven biển không phải là quyền tự do vô điều kiện Các khoản 2 và 3 của Điều 70 dành quyền quyết định cho quốc gia ven biển Ngoài ra, theo khoản 5 Điều 79, khi lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm thì Hudu phải tiến hành những biện pháp phòng ngừa cần thiết đối với dây cáp và ống dẫn ngầm đã được lắp đặt từ trước, đặc biệt là không làm cho chúng phải sửa chữa lại
– Ngoài ra, Hudu cũng có thể tiến hành việc nghiên cứu khoa học ở thềm lục địa của quốc gia Tara Theo quy định của Công ước thì điều đó về nguyên tắc chỉ có thể xảy
ra khi có sự chấp thuận của Tara Trong những điều kiện bình thường, Tara có thể đồng ý cho Hudu, các nước khác và tổ chức quốc tế tiến hành nghiên cứu khoa học
ở thềm lục địa của mình, nếu việc nghiên cứu này được thực hiện vì mục đích hòa bình và thỏa mãn được các điều kiện khác như Công ước quy định Vì mục đích đó, Tara ban hành các quy tắc, thủ tục và luật lệ để đảm bảo sẽ cho phép trong một thời hạn hợp lý và sẽ không khước từ một cách phi lý (Điều 246 khoản 3)
Trang 18– Hudu có quyền được khoan vào thềm lục địa khi được phép của Tara Tại vì, theo quy định tại Điều 81 Công ước Luật Biển 1982 thì quốc gia ven biển có đặc quyền tài phán và quy định việc khoan ở thềm lục địa vào bất kỳ mục đích gì Điều đó có nghĩa là các quốc gia khác được phép khoan vào thềm lục địa của quốc gia ven biển khi được sự cho phép của quốc gia ven biển và phải tuân thủ quy định do quốc gia ven biển đặt ra Như vậy, Hudu có thể có quyền khoan vào đáy biển trên vùng thềm lục địa của quốc gia Tara khi được quốc gia này đồng ý và phải tuân thủ quy định
Quốc gia A ngay khi ký Hiệp ước đã đưa ra bảo lưu đối với điều khoản áp dụng biện pháp tử hình Sau đó, ngày 19/11/2004, cả 3 quốc gia A, B và C đã phê chuẩn Hiệp ước mà không có bảo lưu (quốc gia A khi ký có bảo lưu nhưng khi phê chuẩn không nhắc lại bảo lưu đó) Quốc gia D đã gửi kèm văn kiện phê chuẩn một tuyên bố bảo lưu: “Các điều khoản của Hiệp ước ràng buộc quốc gia D, trừ điều khoản áp dụng biện pháp tử hình” Quốc gia C phản đối bảo lưu này của quốc gia D và tuyên bố hai bên không có quan hệ điều ước Quốc gia B cũng phản đối bảo lưu nhưng không phản đối Hiệp ước có hiệu lực giữa quốc gia B và D Quốc gia A im lặng Hãy phân tích và xác định hiệu lực của Hiệp ước hợp tác chống khủng bố và điều khoản áp dụng biện pháp tử hình trong mối quan hệ giữa bốn quốc gia A, B, C, D
Hướng dẫn:
Lý luận chung