1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI tập NHÓM môn CÔNG PHÁP QUỐC tế đề bài phân tích case study về quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao

16 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 43,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các quyền của cá nhân viên chức ngoại giao Các cá nhân là đối tượng hưởng quyền miễn trừ, ưu đãi ngoại giao Điều 1 của Công ước Viên về Quan hệ ngoại giao năm 1963 quy định viên chức ngo

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ

BÀI TẬP NHÓM MÔN: CÔNG PHÁP QUỐC TẾ GIẢNG VIÊN: NGUYỄN THỊ NHƯ QUỲNH LỚP: CÔNG PHÁP QUỐC TẾ(221)_02

ĐỀ BÀI: Phân tích case study về quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao.

Nhóm 7

Nguyễn Thị Linh Chi Trần Thị Hồng Nhung

Vũ Thị Vân Nguyễn Thị Trang Cao Đức Hòa

Lê Thị Lan Anh

Hà Nội, 2022

Trang 2

MỤC LỤC

I TÓM TẮT VỤ KIỆN

1 Bối cảnh

2 Thủ tục

3 Nhận định của Tòa án:

II MỘT SỐ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN ƯU ĐÃI VÀ MIỄN TRỪ NGOẠI GIAO

1 Lý luận về Quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao - Diplomatic Immunity

1.1.Khái niệm

1.2.Nguồn luật

1.3.Các quyền đối với trụ sở và tài liệu của phái đoàn ngoại giao

1.4.Các quyền của cá nhân viên chức ngoại giao

2 Lý luận về Quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao kéo dài

III PHÂN TÍCH PHÁN QUYẾT CỦA TÒA ÁN

1. Phán quyết của Tòa đối với đơn kiện đầu tiên của Swarna ngày 12/5/2002

2. Phán quyết của Tòa đối với đơn kiện lần thứ hai của Swarna ngày 23/6/2006

2.1. Các bị đơn có quyền kháng cáo đối với phán quyết mặc định của Tòa án

2.2. Phán quyết của Tòa án đối với kháng cáo của Al-Awadi

3. Phán quyết của Tòa án đối với đơn kiện nhà nước Kuwait của Swarna ngày 13/2/2008

3.1 Đối với ngoại lệ ‘’hành vi mang hành hạ’’

3.2 Đối với ngoại lệ ‘’hoạt động thương mại của quốc gia nước ngoài thực hiện tại Hoa Kỳ’’

KẾT LUẬN

Trang 3

I TÓM TẮT VỤ KIỆN

1 Bối cảnh

- 1995, Swarna rời Ấn Độ để trở thành người lao động của Kuwait và rất hài lòng về sự sắp xếp này

- Al-Awadi (Thư ký của Phái đoàn Thường trực Nhà nước Kuwait tại Mỹ trụ sở ở New York) và vợ là Al-Shaitan đã đề nghị Swarna một vị trí tại đây 2 người này hứa hẹn sẽ trả Swarna

2000 USD/tháng để cô có thể trang trải cho chuyến bay về nhà mỗi năm của mình, đồng thời hứa cô

sẽ được nghỉ phép vào mỗi chủ nhật để đến nhà thờ, Swarna ngay lập tức đồng ý

- Họ đưa Swarna tới Đại sứ quán Kuwait tại Mỹ để đăng ký visa G-5, chiếc thẻ sẽ cho phép Swarna làm việc như một người giúp việc của nhà ngoại giao Trong đơn xin thị thực, hai vợ chồng

sẽ đại diện cho Đại sứ quán Mỹ đã hứa sẽ trả cô 2000 USD/tháng và cung cấp cho cô đầy đủ những điều kiện hợp pháp để cô có thể làm việc tại đây Đơn thị thực của cô được chấp nhận vào 8/9/1996

- Tuy nhiên trên thực tế, Swarna đã bị đối xử vô cùng tệ trong suốt quá trình cô làm việc tại đây:

Bên bị đơn đã tịch thu hộ chiếu và thị thực của Swarna

Swarna thực chất chỉ được trả 200 USD và số tiền này được gửi về cho gia đình cô ở

Ấn Độ, vậy nên cô cũng không hề có một khoản tiền riêng cho bản thân ở Hoa Kỳ

Swarna đã bị cấm trở về nước hàng năm và bị cấm không được đến nhà thờ vào mỗi Chủ nhật

Swarna thực tế đã làm đến 17 tiếng một ngày, tất cả các ngày trong tuần

Bên bị đơn không cho phép Swarna được rời khỏi nơi ở mà không có sự giám sát Duy chỉ có một lần Swarna được phép rời nơi ở nhưng bị yêu cầu phải nhìn xuống đất và không được tiếp xúc bằng mắt với bất cứ ai Cô thường bị nhốt ở trong nhà, không

được phép dùng điện thoại hoặc nói chuyện với bất cứ ai ngoài gia đình bị đơn Cô bị giam trong phòng bất cứ khi nào có người tới

3

Trang 4

Bị đơn cũng ngăn cấm Swarna xem các chương trình Tiếng Anh để cô không thể học được ngôn ngữ này Bị đơn can thiệp vào tất cả các cuộc điện thoại của cô về nhà, đọc mọi mail và mọi lá thư của Swarna trước khi cô gửi

Swarna không nhận được nhiều thư của gia đình và các bị đơn thường không gửi mail hoặc không gửi thư của Swarna đi

Bên bị đơn liên tục hành hung, lạm dụng Swarna cả về thể chất lẫn tinh thần Swarna

bị dọa sẽ bị cắt lưỡi và bị kéo đi nhiều lần Bên bị đơn coi cô như một con vật và ép cô phải cắt tóc (một thứ rất quan trọng với cô)

Năm 1998, Swarna từ một người nặng 150 pounds trước khi làm việc, chỉ còn 100

pounds và trong vô cùng ốm yếu

Tháng 9/1998, bị đơn đã cưỡng hiếp Swarna và dọa sẽ giết chết cô nếu cô nói với bất

cứ ai đặc biệt là vợ của bị đơn Sau đó bị đơn còn cưỡng hiếp cô rất nhiều lần sau đó bất cứ khi nào vợ bị đơn không có nhà

Tình trạng bị ngược đãi thường xuyên đã khiến Swarna bị rụng tóc, gặp ác mộng và suy giảm sức lao động, tới mức tính tới chuyện tự sát

Bị đơn đã hành hung Swarna và doạ nếu cô không tiếp tục làm việc cho họ họ sẽ gây tổn hại đến gia đình cô trong chuyến đi trở lại Kuwait Bởi họ là gianđình rất có “thế lực” đối với cảnh sát

Swarna sau đó đã chớp lấy cơ hội lấy trộm hộ chiếu của cô bị họ để quên trong phòng ngủ và lẻn ra khỏi căn hộ Cô không có tiền và nơi để đi nên đã nhờ 1 tài xế taxi đưa tới 1 ngôi đền nơi cô tạm trú

2 Thủ tục

- Swarna đâm đơn kiện cá nhân những người đã ngược đãi cô vào 15/5/2002 Tòa án nhận định khi đó chưa thể kết tội Al-Awadi bởi khi đó ông ta đang được hưởng miễn trừ trách nhiệm Swarna có thể tiếp tục vụ kiện sau khi Nhiệm vụ của Al-Awadi kết thúc

Trang 5

- Swarna tiếp tục quay lại kiện Awadi vào 23/6/2006 khi quyền miễn trừ của Al-Awadi đã hết nhưng khi ấy các bị cáo đều đã đang ở Pháp và không ai có sự phản hồi đối với Swarna

- 13/2/2008 Swarna tiếp tục đệ đơn để kiện Nhà nước Kuwait và cả các cá nhân đã ngược đãi cô

3 Nhận định của Tòa án:

- Tòa án đã nhận đơn kiện của Swarna đối với các cá nhân đã ngược đãi cô bởi nó không trái với Công ước Viên Đồng thời, tòa cũng thụ lý đơn kiện với bên bị đơn không có phản hồi đối với đơn kiện của Swarna

- Tuy vậy, tòa từ chối đơn kiện của Swarna đối với nhà nước Kuwait bởi gặp rào cản khi tham chiếu bộ Luật FSIA

II MỘT SỐ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN ƯU ĐÃI VÀ MIỄN TRỪ NGOẠI GIAO

1 Lý luận về Quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao - Diplomatic Immunity

1.1 Khái niệm

Quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao là quyền đặc biệt mà nước tiếp nhận dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và thành viên của các cơ quan này đóng tại nước mình nhằm tạo điều kiện để họ hoàn thành chức năng ngoại giao

1.2 Nguồn luật

Quyền miễn trừ ngoại giao được điều chỉnh bằng các quy định tập quán quốc tế và hai Công ước: Công ước Viên về Quan hệ ngoại giao năm 1961 và Công ước Viên về Quan hệ lãnh sự năm 1963 Công ước Viên về Quan hệ ngoại giao năm 1961 có hiệu lực vào năm 1964, hiện có 191 quốc gia thành viên, Việt Nam gia nhập vào năm 1980 Công ước Viên về Quan hệ lãnh sự năm 1963 có hiệu lực vào năm 1967, hiện có 179 quốc gia thành viên, Việt Nam gia nhập vào năm 1992

1.3 Các quyền đối với trụ sở và tài liệu của phái đoàn ngoại giao

Quyền bất khả xâm phạm của trụ sở phái đoàn

Trang 6

Khoản 1 Điều 22 của Công ước Viên năm 1963 quy định trụ sở của phái đoàn ngoại

giao là bất khả xâm phạm (inviolable), không ai được phép vào nếu không có sự đồng

ý của trưởng phái đoàn ngoại giao Quyền bất khả xâm phạm này đi kèm với nghĩa vụ của quốc gia tiếp nhận phải “thực hiện tất cả các bước phù hợp để bảo vệ trụ sở của phái đoàn không bị xâm nhập hay thiệt hại và ngăn chặn bất kỳ hành vi gây rối trật tự của phái đoàn hoặc gây tổn hại đến danh dự của phái đoàn.”

Quốc gia tiếp nhận cũng không được phép lục soát, tạm giữ, tịch thu hay cưỡng chế đối với trụ sở, vật dụng hay các tài sản bên trong trụ sở và phương tiện di chuyển của phái đoàn ngoài giao Quyền bất khả xâm phạm đối với trụ sở là quyền tuyệt đối, không có ngoại lệ Kể cả trong trường hợp khẩn cấp như hỏa hoạn hay nguy hiểm đến tính mạng con người, việc đi vào trụ sở ngoại giao cũng khó có cơ sở pháp lý, theo cả tập quán quốc tế và Công ước Viên năm 1961

Quyền bất khả xâm phạm về hồ sơ lưu trữ và tài liệu Quyền miễn thuế và lệ phí

Quyền tự do thông tin liên lạc Quyền bất khả xâm phạm về bưu phẩm và thư tín ngoại giao Quyền treo quốc kỳ, quốc huy

1.4 Các quyền của cá nhân viên chức ngoại giao

Các cá nhân là đối tượng hưởng quyền miễn trừ, ưu đãi ngoại giao

Điều 1 của Công ước Viên về Quan hệ ngoại giao năm 1963 quy định viên chức ngoại

giao bao gồm những thành viên phái đoàn ngoại giao (members of the mission), cụ thể bao gồm: Trưởng phái đoàn (head of mission) và nhân viên phái đoàn ngoại giao (the members of the staff of the mission) Trong nhân viên của phái đoàn ngoại giao được chia làm ba nhóm: Viên chức ngoại giao có hàm ngoại giao (members of diplomatic staff), Nhân viên hành chính và kỹ thuật (members of the administrative and technical staff), và Nhân viên phục vụ (members of the service staff) Trưởng phái đoàn và các viên chức ngoại giao được gọi chung là cán bộ ngoại giao (diplomatic agents).

Trang 7

Quyền bất khả xâm phạm và miễn trừ tài phán của viên chức ngoại giao Điều 29 của

Công ước năm 1961 quy định viên chức ngoại giao cũng có quyền bất khả xâm phạm, không bị bắt giữ hay tạm giữ Điều 31 trao cho viên chức ngoại giao có quyền miễn trừ tài phán hình sự Viên chức ngoại giao cũng được miễn trừ tài phán dân sự nói chung, trừ trường hợp liên quan đến bất động sản tư nhân, thừa kế, các hoạt động thương mại, nghề nghiệp Quyền miễn trừ ngoại giao này cũng áp dụng đối với các biện pháp cưỡng chế Điều 30 quy định thêm về quyền bất khả xâm phạm đối với nơi ở riêng, tài liệu, thư tín và tài sản của viên chức ngoại giao

Quyền ưu đãi và miễn trừ hải quan

2 Lý luận về Quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao kéo dài

Quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao kéo dài được áp dụng với hành vi của một người trong khi thi hành chức năng của mình với tư cách là thành viên của cơ quan đại diện căn cứ theo Khoản 2 Điều 39 Công ước viên năm 19611

Theo đó, một nhà ngoại giao được hưởng quyền miễn trừ kéo dài đối với quyền tài phán dân sự và hình sự, trong khi đó thực hiện các chứng năng với tư cách là thành viên của cơ quan đại diện Như vậy, để xác định một người có được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao kéo dài hay không cần xem xét hai khía cạnh tư cách và

hành vi của người đó Cụ thể:

- Về tư cách, người đó có mang tư cách là thành viên của cơ quan đại diện hay không?

- Về hành vi, hành vi của người đó có là hành vi thi hành chức năng với tư cách là thành viên của cơ quan đại diện hay không?

Khi chức năng của một người được hưởng các quyền ưu đãi và miễn trừ chấm dứt thì thông thường các quyền ưu đãi và miễn trừ đó cũng chấm dứt vào lúc người đó rời khỏi Nước tiếp nhận, hoặc vào lúc kết thúc một thời hạn hợp lý dành cho họ vì mục đích đó ngay cả khi có xung đột vũ trang Tuy nhiên, nếu người này có nhiệm vụ phục

1 2 Khi chức năng của một người được hưởng các quyền ưu đãi và miễn trừ chấm dứt thì thông thường các quyền ưu đãi và miễn trừ đó cũng chấm dứt vào lúc người đó rời khỏi Nước tiếp nhận, hoặc vào lúc kết thúc một thời hạn hợp lý dành cho họ vì mục đích đó, ngay cả khi có xung đột vũ trang Tuy nhiên, đối với những hành vi của người này trong

khi thi hành chức năng của mình với tư cách là thành viên của cơ quan đại diện, quyền miễn trừ vẫn tiếp tục tồn

Trang 8

vụ mục đích ngoại giao của nhà nước thì quyền ưu đãi và miễn trừ vẫn sẽ được tiếp tục

và được gọi là quyền ưu đãi và miễn trừ kéo dài Như vậy, giả dụ người viên chức ngoại giao vi phạm pháp luật ở nước sở tại nhưng là trong quá trình họ đang phục vụ cho nước của họ, tức là việc vi phạm đấy có liên quan cụ thể đến nhiệm vụ của họ tại quốc gia (VD: nhiệm vụ tình báo) thì họ vẫn sẽ được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ kéo dài Còn trong trường hợp sự vi phạm pháp luật đấy không phục vụ cho nước của

họ mà là phục vụ cho mục đích, yêu cầu của cá nhân họ, những sự vi phạm không liên quan gì tới nhiệm vụ của họ và nhà nước cử họ đi cũng không mong muốn họ tham gia vào sự vi phạm pháp luật tại nước sở tại như vậy thì họ sẽ bị truy tố sau khoảng thời gian nhiệm kỳ

 Một người được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao kéo dài cần hai yếu tố: Người đó phải mang tư cách là thành viên của cơ quan đại diện và đồng thời phải có hành vi thi hành chức năng với tư cách là thành viên của cơ quan đại diện đó

Trang 9

III PHÂN TÍCH PHÁN QUYẾT CỦA TÒA ÁN

1 Phán quyết của Tòa đối với đơn kiện đầu tiên của Swarna ngày 15/5/2002

Trong lần khởi kiện đầu tiên, Tòa án đã phản hồi rằng Al-Awadi và Al-Shaitan đang được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao nên Tòa án sẽ không nhận và giải quyết đơn kiện này

Phán quyết này của Tòa án được dựa trên căn cứ pháp lý là Điều 312và Khoản 1 Điều

37 3 Công ước Viên năm 1961 Theo đó, Tòa án đã giải thích và áp dụng các điều luật này như sau:

Al-Awadi là một viên chức ngoại giao Kuwait, được cử đi làm việc tại Đại sứ quán Kuwait tại Mỹ Vì là một viên chức ngoại giao, Al-Awadi sẽ được hưởng quyền miễn trừ xét xử về hình sự, dân sự và hành chính khi anh ta đang trong nhiệm kỳ làm việc tại Mỹ

Al-Shaitan là vợ của viên chức ngoại giao đang trong nhiệm kỳ, không phải công dân của nước Mỹ và sống chung với Al-Awadi, nên Al-Shaitan cũng được hưởng quyền lợi giống như Al-Awadi

2 1 Viên chức ngoại giao được hưởng quyền miễn trừ xét xử về hình sự của Nước tiếp nhận Họ cũng được hưởng quyền miễn trừ xét xử về dân sự và hành chính, trừ những trường hợp sau:

a) Một vụ kiện về tài sản liên quan đến bất động sản tư nhân nằm trên lãnh thổ Nước tiếp nhận, nếu như viên chức ngoại giao sở hữu bất động sản đó không trên danh nghĩa Nước cử đi vì các mục đích của cơ quan đại diện.

b) Một vụ kiện liên quan đến việc thừa kế, trong đó viên chức ngoại giao đứng tên là người thực hiện di chúc, người bảo

hộ, người thừa kế hoặc người thừa tự với tư cách cá nhân chứ không phải nhân danh Nước cử đi.

c) Một vụ kiện liên quan đến bất cứ hoạt động nghề nghiệp hoặc thương mại nào mà viên chức ngoại giao tiến hành ở Nước tiếp nhận ngoài phạm vi những chức năng chính thức của họ.

3 1 Các thành viên gia đình của viên chức ngoại giao cùng sống chung với người đó, nếu không phải là công dân Nước tiếp nhận, được hưởng những quyền ưu đãi và miễn trừ nêu trong các Điều từ 29 đến 36.

Trang 10

2 Phán quyết của Tòa đối với đơn kiện lần thứ hai của Swarna ngày 23/6/2006 Trong

lần khởi kiện thứ hai, Tòa án đã nhận đơn khởi kiện của Swarna về hành vi sai trái của Al-Awadi và

vợ anh ta Có một lưu ý rằng, câu hỏi hai bị cáo có được hưởng quyền miễn trừ trách nhiệm kèo dài hay không phải được đưa ra trước khi đưa ra phán quyết mặc định, nếu các bị cáo thực sự được bảo

vệ bởi quyền miễn trừ còn lại, thì Tòa án sẽ không thể đưa ra phán quyết này Cuối cùng, toà án đã kết luận các bị cáo không được hưởng quyền miễn trừ kéo dài Tại đây, Tòa án đã đưa ra phán quyết mặc định đối với các bị cáo Sau đó, các bị cáo đã kháng cáo lại phán quyết mặc định này

2.1 Các bị đơn có quyền kháng cáo đối với phán quyết mặc định của Tòa án

Trong tình huống này, hành động kháng cáo này của các bị đơn là hợp pháp, vì một phán quyết mặc định, cũng giống như bất kì phán quyết nào khác đều có thể bị kháng cáo lên Toà án này

Phán quyết mặc định là phán quyết cuối cùng của một vụ việc và một lệnh có thể kháng cáo của Toà án Tuy nhiên, vào thời điểm này, việc đưa ra phán quyết mặc định của Toà án là có điều kiện, do đó phán quyết này nên được hiểu chính xác hơn là một

sự “mặc định”

Trong biên bản ghi nhớ và lệnh của toà vào ngày 19/3/2009, Toà án đã đưa ra phán quyết mặc định Tuy nhiên vào thời điểm đó, Toà án vẫn chưa giải quyết được vấn đề

số tiền bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn Do yêu cầu về bồi thường thiệt hại vẫn đang chờ để xử lí, nên dù được gọi là phán quyết mặc định, nhưng phán quyết này của Toà án chưa thể coi là phán quyết cuối cùng Thực tế, phán quyết mặc định ở đây không hơn gì một lệnh tạm thời của Toà án, bởi vì Toà án đã ghi rõ trong phán quyết này rằng sẽ có một cuộc điều tra về thiệt hại và chỉ phán quyết đưa ra sau cuộc điều tra

đó mới là phán quyết cuối cùng

Mặc dù việc đưa ra phán quyết mặc định có điều kiện này là một hành động mang tính tạm thời và do đó thông thường không thể kháng cáo, nhưng kháng cáo này vẫn có thể được tiếp nhận với hai lý do như sau:

Ngày đăng: 14/10/2022, 08:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w