của quốc gia;- Sinh viên hình thành được tư duy pháp lý thông qua việc nghiên cứu các án lệ quốc tế và đánh giá được mối liên hệ, xu hướng phát triển của pháp luật dựa trên sự phát triển
Trang 1ĐẠI HỌC DUY TĂN
Trang 42.4.1 Nội dung của nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế 61
2.4.2.
Ĩ3Ị DUY TAN KHOA
LUÃT
SIŨNIVERSITY RXNWRT LU“‘
Trang 52.4.3
Trang 62.4.6 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ MÔN HỌC
I MỤC TIÊU GIẢNG DẠY
2.4.7 a về kiến thức:
- Trang bị cho sinh viên những vấn đề lý luận chung về hệ thống luật quốc tế(khái niệm, đặc điểm, cấu trúc, nguồn pháp lý)
- Giúp cho sinh viên phân biệt sự khác nhau giữa luật quốc tế và luật quốc gia
và mối quan hệ biện chứng giữa hai hệ thống pháp luật này
- Giúp sinh viên nắm được những vấn đề lý luận cơ bản về quốc gia với tưcách là chủ thể cơ bản của luật quốc tế
- Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về lý luận nguồn của Luậtquốc tế và mối quan hệ giữa các loại nguồn
- Giúp sinh viên nắm vững hệ thống các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế,
và sự dẫn chiếu của hệ thống nguyên tắc cơ bản này đến toàn bộ hệ thống
quốc tế và mối quan hệ quốc tế của các quốc gia
- Giúp sinh viên nắm chắc kiến thức lý luận chung về luật quốc tế để làm nềntảng nghiên cứu các vấn đề pháp lý cụ thể của hệ thống pháp luật quốc tế
- Trang bị cho sinh viên các kiến thức lý luận và pháp lý cơ bản về yếu tố dân
cư trong quan hệ giữa các quốc gia với nhau, những nguyên nhân của tìnhtrạng
nhiều quốc tịch, không quốc tịch và hướng giải quyết tình trạng này và
đề cơ bản về quốc tịch
- Trang bị cho sinh viên các kiến thức pháp luật quốc tế nền tảng về vấn đề
Trang 7của quốc gia;
- Sinh viên hình thành được tư duy pháp lý thông qua việc nghiên cứu các án
lệ quốc tế và đánh giá được mối liên hệ, xu hướng phát triển của pháp luật
dựa trên sự phát triển của luật pháp quốc tế;
- Đánh giá đúng về các vấn đề pháp lý quốc tế hiện tại của Việt Nam như vấn
đề biên giới, giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, bảo hộ công dân đối
trường hợp lao động ở nước ngoài,
- Có kỹ năng lập luận, thuyết trình và làm việc nhóm, về các vấn đề liên quantới công pháp quốc tế
II NỘI DUNG MÔN HỌC
2.4.14 Chương I: Khái luận chung về luật quốc tế và nguồn của luật quốc tế 2.4.15 Chương II: Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế
2.4.16 Chương III: Chủ thể của luật quốc tế
2.4.17 Chương IV: Lãnh thổ và biên giới quốc gia trong luật quốc tế
2.4.18 Chương V: Dân cư trong luật quốc tế
2.4.19 Chương VI: Luật ngoại giao và lãnh sự
Trang 82.4.20 Câu hỏi và bài tập 2.4.21. ThS Lê Thị Xuân Phương
Trang 9-2 Nguyễn Bá Diến (2013), Giáo trình Công pháp quốc tế, Nhà xuất bản đạihọc quốc gia Hà Nội.
2.4.26 A2 VĂN BẢN PHÁP LUẬT
1 Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982
2 Công ước năm 1946 về quyền ưu đãi và miễn trừ của Liên hợp quốc
3 Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao
4 Công ước Viên năm 1963 về quan hệ lãnh sự
5 Công ước Viên năm 1973 về ngăn ngừa và trừng trị tội phạm chống những
cá nhân được hưởng sự bảo hộ quốc tế
6 Công ước Viên về kế thừa điều ước quốc tế năm 1978
7 Công ước Viên về kế thừa tài sản, hồ sơ lưu trữ và công nợ quốc gia năm1983
ThS Lê Thị Xuân
Phương
Trang 108 Hiến chương liên hợp quốc 1945.
Trang 119 Tuyên bố năm 1970 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc về các nguyên tắc củaLuật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù
Hiến chương Liên hợp quốc
10.Công ước Montevideo ngày 26/12/1933 về quyền và nghĩa vụ của quốcgia
2.4.29 B HỌC LIỆU THAM KHẢO
1 Hugh Thirlway (2019), The Sources of Tnternational Law (2nd Edition),
Oxford University Press
2 Malcolm Shaw, Tnternational law, Cambridge University Press, Sixth
edition
3 Ngô Hữu Phước (2010), Luật quốc tế, NXB chính trị quốc gia.
4 Nguyễn Hồng Thao (1997), Những điều cần biết về luật biển, NXB Công
an nhân dân
5 Nguyễn Hồng Thao (2000), Tòa án công lý quốc tế, NXB Chính trị quốc
gia
6 Nguyễn Minh Tuấn (2006), Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật thế
giới, Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội.
7 Nguyễn Thị Kim Ngân, Chu Mạnh Hùng (2012), Giáo trình Luật quốc tế,
NXB Giáo dục Việt Nam
8 Vũ Dương Huân (2010), Ngoại giao và công tác ngoại gia, NXB Chính trịQuốc gia
ThS Lê Thị Xuân
Phương
Trang 12on Law of the Sea
2.4.48. International Court of
2.4.58. Most famoured nation
Trang 132.4.60.
2.4.62.CHƯƠNG 1 KHÁI LUẬN CHUNG VỀ LUẬT QUỐC TẾ VÀ
NGUỒN CỦA LUẬT QUỐC TẾ
2.4.63 ^ Mục tiêu cần đạt được của chương:
- Phân biệt được công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế, hiểu được bản chấtcủa môn công pháp quốc tế là luật quốc tế
- Nắm được nguồn gốc hình thành và pháp triển của hệ thống pháp luậtquốc tế nói chung và luật quốc tế hiện đại nói riêng
- Nắm được định nghĩa, đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh, mốiquan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia
- Xác định được các vấn đề cơ bản liên quan đến nguồn của luật quốc tế
- Nêu và phân tích được vai trò và tầm quan trọng của các nguồn cơ bảncủa luật quốc tế
- Xác định được các nguồn bổ trợ của luật quốc tế, thứ tự áp dụng cácnguồn này trong quan hệ pháp lý quốc tế
1.1 Khái quát chung về luật quốc tế
1.1.1 Nguồn gốc hình thành và phát triển của luật quốc tế
2.4.64.Trên cơ sở chủ nghĩa Mac-Lenin, khẳng định, sự ra đời của nhà nước và
pháp luật là một hiện tượng khách quan, là sản phẩm tất yếu của một xã hội cógiai cấp Chính vì vậy, lịch sử hình thành của pháp luật quốc tế cũng không nằmngoài quy luật phát triển chung của nhà nước và pháp luật1 Bởi lẽ, nếu không có
1Nguyễn Minh Tuấn, Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội,
2016, trang 40 - 41.
Trang 14sự hình thành của nhà nước và pháp luật của mỗi quốc gia sẽ không có sự hìnhthành và phát triển của luật pháp quốc tế.
2.4.65.Xét trên phương diện lịch sử, việc hình thành hệ thống pháp luật quốc
gia
là tiền đề cho sự ra đời, và phát triển của hệ thống pháp luật quốc tế Chính sựxuất hiện của nhà nước và pháp luật ở các khu vực địa lý khác nhau trên thế giới
Trang 152.4.66. đã làm phát sinh nhu cầu liên kết, hợp tác giữa các quốc gia nhằm thiết
mối quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia và hình thành một trật tự chung đểgiải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến các vấn đề như: phân định biêngiới, lãnh thổ; trao đổi hàng hóa; giải quyết các vấn đề về chiến tranh và hòabình, Đây là những tiền đề quan trọng làm cơ sở cho sự hình thành và pháttriển hệ thống các quy tắc ứng xử giữa các quốc gia với nhau, hay nói cách khácluật quốc tế hình thành và phát triển là một tất yếu khách quan của lịch sử, làmột sản phẩm của xã hội có giai cấp và gắng liền với sự hình thành, tồn tại vàphát triển của nhà nước và pháp luật nói chung.2
2
Ngô Hữu Phước, Luật quốc tế, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2010, trang 18.
Trang 162.4.67.Tóm lại, có thể khẳng định rằng, nguồn gốc xuất hiện của hệ thống
pháp
luật quốc tế chính là nguồn gốc xuất hiện của nhà nước và pháp luật quốc gia
2.4.68.Có thể khái quát lịch sử hình thành và phát triển của luật quốc tế qua 04
giai đoạn sau đây:
(1) Luật quốc tế thời cổ đại
2.4.69.Luật quốc tế thời cổ đại hay còn gọi là luật quốc tế thời kỳ chiếm hữu
được hình thành đầu tiên tại khu vực Lưỡng Hà và Ai Cập, nơi hình thành hainền văn minh của thế giới vào khoảng thế kỷ thứ XL (40) đầu thế kỷ thứ XXXtrước công nguyên Tiếp theo đó, luật quốc tế được hình thành ở một số nền vănminh khác của thế giới như Ân Độ, Trung Quốc ở Phương Đông hay Hy Lạp,
La Mã ở Phương Tây, Có thể kể đến một trong những văn bản pháp lý quốc tếđược hình thành sớm nhất trên thế giới là hiệp ước giữa những người cai trịLagash và Umma (khu vực Lưỡng Hà) vào khoảng năm 2100 Trước côngnguyên về phân định biên giới giữa các bên.3
3
Malcolm Shaw, International law, Cambridge University Press, Sixth edition, p14.
Trang 172.4.70.Trong giai đoạn này, luật quốc tế được hình thành trên nền tảng kinh tế
thấp kém, mối quan hệ giữa các quốc gia yếu ớt và rời rạc, bị cản trở bởi cácđiều kiện tự nhiên và phát triển xã hội còn nhiều hạn chế nên luật quốc tế thời
kỳ này chủ yếu mang tính khu vực, khép kín, tồn tại chủ yếu dưới dạng các luật
Trang 182.4.71. lệ, tập quán về chiến tranh và phân định lãnh thổ Nhìn chung, trong
khoa học luật quốc tế chưa được hình thành Tuy nhiên việc xuất hiện của một
số chế định cũng cho thấy sự tiến bộ trong nên lập pháp thời kỳ cổ đại Có thể
kể đến như: tính nhân đạo trong việc quy định cấm dùng thuốc độc và vũ khítẩm thuốc độc khi đánh nhau tại vùng La Mã, Hy Lạp, hay quy định “hai nướcgiao tranh không giết sứ giả” giữa Trung Quốc và một số quốc gia trong khuvực
(2) Luật quốc tế thời kỳ trung đại
2.4.72.Luật quốc tế trong thời kỳ này phản ánh tính chất phức tạp và vô cùng
đa
dạng của xã hội phong kiến, luật quốc tế trong thời kỳ này cũng mang bản chấtphong kiến, phần lớn thể hiện ý chí của giai cấp thống trị Trong thời kỳ này,việc phân quyền, cát cứ và chiến tranh xảy ra liên miên, cùng với đó tôn giáongày càng phát triển mạnh và ảnh hưởng sâu sắc đến các mối quan hệ và nềntảng xã hội Chính vì vậy, tôn giáo có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc hìnhthành các quan hệ quốc tế giữa các quốc gia
2.4.73.Cũng trong thời kỳ này, nền kinh tế của các quốc gia có sự phát triển
hơn
so với giai đoạn trước, chính vì vậy nhu cầu trao đổi hàng hóa đã vượt tra khỏikhuôn khổ khu vực, bước đầu hình thành tính liên khu vực, liên quốc gia trongquan hệ quốc tế Một số trung tâm luật quốc tế đã được hình thành tại Châu Âu,Nga, Tây Nam Địa Trung Hải, Ấn Độ, Trung Hoa Khoa học luật quốc tế trongthời kỳ này cũng được hình thành với sự xuất hiện của nhiều học giả tiêu biểu
Trang 202.4.74.Trong thời kỳ này, luật quốc tế có sự phát triển đáng kể, vượt ra ngoài
khuôn khổ khu vực và liên khu vực và hướng đến việc xây dựng các trật tựchung của thế giới Luật quốc tế trong giai đoạn này có sự phát triển rực rỡ,trong đó, phải kể đến sự ra đời của các nguyên tắc mới về luật quốc tế như:nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ củanhau, Luật quốc tế trong giai đoạn này cũng phát triển trên 02 phương diện:luật thực định và khoa học pháp lý quốc tế
2.4.75.Đáng chú ý hơn, trong giai đoạn này cũng đã đánh dấu sự ra đời của
tổ chức quốc tế đầu tiên như: Liên minh điện tín quốc tế (1865), Liên minh bưuchính thế giới (1879) Điều này cho ta thấy quan hệ giữa các quốc gia trongcộng đồng quốc tế lúc bấy giờ đã phát triển vượt bậc Đặt nền móng cho sự pháttriển của các tổ chức quốc tế liên chính phủ sau này, đây cũng là một loại chủthể đặc biệt trong luật quốc tế
2.4.76.Tuy nhiên, đặc trưng cơ bản của luật quốc tế thời kỳ này là luật quốc tế
của
các quốc gia tư bản vì chỉ có các quốc gia được gọi là văn minh mới có quyềntham gia vào các quan hệ quốc tế với tư cách là chủ thể của luật quốc tế Do đó,luật quốc tế thời kỳ này vẫn còn tồn tại những học thuyết, những tư tưởng mangtính chất lạc hậu như chế độ bảo hộ, nô dịch, quyền chiến tranh bị hạn chếnhưng chưa được ngăn cấm một cách triệt để
(4) Luật quốc tế thời kỳ hiện đại
2.4.77.Luật quốc tế hiện đại bắt đầu từ những thay đổi sâu sắc trong quan hệ
quốc
Trang 21các diễn đàn, hội nghị, tổ chức quốc tế và ký kết các điều ước quốc tế songphương đa phương Cũng trong giai đoạn này, các nguyên tắc cơ bản của luậtquốc tế được các quốc gia xây dựng và ghi nhận trong Hiến chương LHQ.
Trang 222.4.78. Bên cạnh đó, các ngành luật độc lập của pháp luật quốc tế như
ước quốc tế, Luật ngoại giao lãnh sự, Luật biển quốc tế, Luật hàng không dândụng quốc tế, Luật môi trường quốc tế, Luật nhân đạo quốc tế, và các nguyêntắc, quy phạm tiến bộ trước đó ngày càng được cũng cố, hoàn thiện, có tính kếthừa để điều chỉnh các quan hệ quốc tế phát sinh trong thời kỳ mới, đảm bảo hòabình, an ninh và tiến bộ của xã hội.5
1.1.2 Định nghĩa và đặc điểm của luật quốc tế
2.4.79. Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng cùng tồn tại và phát
5
Ngô Hữu Phước, Luật quốc tế, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2010, trang 42.
Trang 23triển Nhànước hình thành và phát triển không thể thiếu pháp luật Ngược lại, pháp luậtđược ban hành bởi nhà nước Do đó, không có nhà nước thì sẽ không có phápluật Các quan hệ xã hội trong một quốc gia được điều chỉnh bởi hệ thống phápluật quốc gia còn quan hệ giữa các quốc gia với nhau được điều chỉnh bởi một
hệ thống pháp luật đặc biệt còn gọi là luật quốc tế Hệ thống pháp luật này tuyđược hình thành và tồn tại độc lập, khác hẳn với trình tự và thẩm quyền lập phápcủa pháp luật quốc gia nhưng nó có quan hệ tác động qua lại với hệ thống phápluật quốc gia
2.4.80. Luật quốc tế được phân chia thành luật xung đột (hay còn gọi là
quốc tế) và công pháp quốc tế (hay còn gọi là luật quốc tế) Trong đó, đối tượngđiều chỉnh của tư pháp quốc tế là các quan hệ dân sự - kinh tế - thương mại,quan hệ lao động, quan hệ hôn nhân và gia đình mang yếu tố nước ngoài Ngoài
ra tư pháp quốc tế còn điều chỉnh các vấn đề liên quan đến thẩm quyền xét xửcủa cơ quan tư pháp đối với các lĩnh vực nêu trên Trong khi đó, công pháp quốc
tế, hay luật quốc tế trong khuôn khổ của môn học này điều chỉnh các quan hệphát sinh giữa các quốc gia, các quan hệ mang tính liên chính phủ phát sinhtrong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, giữa các quốc gia và vùng lãnhthổ với nhau.6
6
Nguyễn Bá Diến, Giáo trình công pháp quốc tế, Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội, năm 2014, trang 26-27.
Trang 242.4.81.Giống như hầu hết các hệ thống pháp luật khác, hệ thống pháp luật quốc
2.4.82.Từ đó, có thể đi đến kết luận chung về định nghĩa của luật quốc tế như
sau:
“Luật quốc tế là một hệ thống các nguyên tắc và các quy phạm pháp luật, được các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận xây dựng trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng nhằm điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa các chủ thể của luật quốc tế trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế”.
2.4.83.Qua đó, luật quốc tế góp phần đóng góp to lớn vào sự hình thành và
phát
triển của hệ thống pháp luật trên toàn cầu với các vai trò cụ thể sau đây:
Trang 25(1) Là công cụ điều chỉnh các quan hệ quốc tế nhằm bảo vệ lợi ích của mỗichủ thể của luật quốc tế trong quan hệ quốc tế.
(2) Là công cụ, là nhân tố quan trọng nhất để bảo vệ hòa bình và an ninhquốc tế
(3) Có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển văn minh của nhân loại,thúc đẩy cộng đồng quốc tế phát triển theo hướng ngày càng văn minh
(4) Thúc đẩy việc phát triển các quan hệ hợp tác quốc tế đặc biệt là quan hệkinh tế quốc tế trong bối cảnh hiện nay
2.4.84.Đặc điểm của Luật quốc tế
Trang 262.4.85.Như đã khẳng định, pháp luật quốc tế có những đặc điểm hoàn toàn
khác
biệt với hệ thống pháp luật quốc gia, Những nét đặc trưng cơ bản của Luật quốc
tế thể hiện ở các khía cạnh sau đây:
2.4.86.Thứ nhất, luật quốc tế được xây dựng trên cơ sở thỏa thuận, thể hiện sự
thống nhất ý chí của các chủ thể Điều này xuất phát từ việc chủ thể của luậtquốc tế là các quốc gia, các tổ chức liên chính phủ với địa vị pháp lý quốc tếngang nhau, do đó không có sự áp đặt, duy ý chí trong việc xây dựng và hìnhthành pháp luật Hệ thống pháp luật quốc tế chỉ thực sự có hiệu lực khi được sựchấp thuận của các quốc gia thông qua việc ký kết, phê chuẩn, gia nhập các điềuước quốc tế
2.4.87.Thứ hai, hệ thống luật quốc tế không có hệ thống cơ quan tư pháp như
2.4.88.Thứ ba, luật quốc tế có hệ thống chế tài đặc biệt, phong phú Mặc dù hệ
thống pháp luật quốc tế được xây dựng dựa trên cơ sở sự thỏa thuận giữa cácquốc gia và mối quan hệ giữa các quốc gia là bình đẳng trong quan hệ quốc tế.Tuy nhiên, trong trường hợp các chủ thể vi phạm các cam kết và nghĩa vụ quốc
tế thì họ phải gánh chịu những trách nhiệm những trách nhiệm pháp lý tươngứng, hay nói cách khác là phải chịu những chế tài của luật quốc tế Các chế tài
Trang 27được thực hiện bởi các cơ quan tài phán quốc tế Xuất phát từ việc luật phápquốc tế không có một cơ quan hành pháp riêng biệt, do đó trong một số trường
Trang 282.4.90. hợp việc thực thi pháp luật của luất quốc tế được tiến hành thông qua
động các lực lượng quân đội từ chính các quốc gia thành viên
2.4.91.(2) Các chế tài do quốc gia áp dụng trong trường hợp có vi phạm pháp
luật
của một chủ thể khác Các chủ thể của luật quốc tế áp dụng nhiều cách thức,biện pháp khác nhau để đảm bảo cho việc thực thi hệ thống pháp luật quốc tế.Bên cạnh các biện pháp mang tính pháp lý, các chủ thể này còn sử dụng các yếu
tố chính trị - xã hội để tạo sự hiệu quả trong việc thực thi pháp luật quốc tế Cóthể khái quát cá chế tài của luật quốc tế qua các hình thức chính sau: (i) Chế tàiphi hình sự: công khai xin lỗi, cắt đứt quan hệ ngoại giao, cấm vận, (ii) Chếtài hình sự: áp dụng đối với các tội ác chống lại loài người, tội diệt chủng, Vídụ: Tòa án xét xử tội ác Khmer Đỏ (ECCC) được thành lập tại Campuchia năm
2018 dưới sự bảo trợ của LHQ đã tuyên Pol Pot và các đồng phạm tội diệtchủng và áp dụng chế tài hình sự đối với một số đối tượng thuộc tổ chức tộiphạm này; (iii) Chế tài quân sự: áp dụng các biện pháp trừng phạt bằng lựclượng vũ trang đối với các quốc gia vi phạm hòa bình hoặc đe dọa hòa bình
Điều 42 Hiến chương LHQ quy định: “"Hội đồng bảo an có quyền áp dụng mọi
hành động của hải, lục, không quân mà Hội đồng bảo an xét thấy cần thiết cho việc duy trì hoặc khôi phục hòa bình và an ninh quốc tế”
1.1.3 Đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế
2.4.92.Mỗi ngành luật đều có đối tượng điều chỉnh riêng, trong đó đối tượng
điều
chỉnh của từng ngành luật là một hệ thống các quan hệ xã hội nhất định có mối
Trang 29các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế với nhau, các quan hệ này
Trang 302.4.93. mang tính liên quốc gia, liên chính phủ, phát sinh trong mọi mặt của đờisống
quốc tế.7
2.4.94.Tóm lại, đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế là các quan hệ liên quốc
gia,
liên chính phủ giữa các chủ thể của luật quốc tế phát sinh trong quá trình quan
hệ quốc tế giữa các chủ thể của luật quốc tế với nhau ở những cấp độ và khuônkhổ hợp tác khác nhau trong mọi lĩnh vực về kinh tế, văn hóa, xã hội,
7
Nguyễn Bá Diến, Giáo trình Công pháp quốc tế, Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội, năm 2014, trang 34.
Trang 311.2 Mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia
2.4.95.Có nhiều học thuyết khác nhau liên quan đến mối quan hệ giữa luật
và luật trong nước: Học thuyết nhất nguyên luận và học thuyết nhị nguyên luận
và quan điểm của khoa học luật quốc tế hiện đại
1.2.1 Học thuyết nhất nguyên luận
2.4.96.Trường phái này cho rằng luật quốc tế và pháp luật trong nước là hai bộ
phận của một hệ thống pháp luật thống nhất, trong đó bộ phận này phù thuộcvào bộ phận kia
2.4.97.Ở trong nội bô của trường phái này lại tồn tại hai quan điểm khác nhau,
cụ
thể là: Một nhóm đại biểu cho rằng lật quốc tế phải được đặt lên trên pháp luậttrong nuớc Ngược lại, một nhóm đại biểu khác thì có quan điểm cho rằng phápluật trong nước phải được đặt lên trên luật quốc tế
1.2.2 Học thuyết nhị nguyên luận
2.4.98.Trường phái này cho rằng luật quốc tế và pháp luật trong nước là hai hệ
thống pháp luật khác nhau, song song cùng tồn tại nhưng biệt lập với nhau
1.2.3 Quan điểm khoa học luật quốc tế hiện đại
2.4.99.Quan điểm hiện nay, được đa số nhà nghiên cứu luật tán thành cho rằng
luật quốc tế và pháp luật trong nước là hai hệ thống pháp luật khác nhau, songsong cùng tồn tại có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Luật quốc gia có ảnhhưởng, mang tính quyết định việc hình thành và phát triển của luật quốc tế và
Trang 322.4.100. luật quốc tế có tác động tích cực đến sự phát triển và hoàn thiện pháp luật quốc
Trang 33đại thì các quốc gia phải nội luật hóa Có nghĩa là chuyển hóa các quy định củađiều ứơc quốc tế mà mình là thành viên hoặc những quy định của các điều ướcquốc tế tiến bộ khác thành những quy định của pháp luật trong nước.
Trang 342.4.104. Ở Việt Nam, trong thời kỳ hội nhập quốc tế, vấn đề mối quan hệ
quốc tế và luật quốc gia và giá trị pháp lý của hai hệ thống pháp luật này đang làvấn đề mang tính thời sự Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên của rất nhiềuđiều ước quốc tế đa phương và song phương Khi đã tham gia vào điều ước quốc
tế thì Việt Nam phải tuân thủ triệt để nguyên tắc Pacta sunt servanda - một trongnhững nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại Để đảm bảo tuân thủ nguyêntắc này, Việt Nam đã xây dựng cho mình những quy phạm pháp luật quốc gia về
ký kết và thực hiện điều ứơc quốc tế Đồng thời, trong các văn bản quy phạmpháp luật của quốc gia, Việt Nam đã nội luật hóa rất nhiều những quy định tiến
bộ của các điều ứơc quốc tế mà Việt Nam là thành viên Đối với những vấn đề
mà Việt Nam không thể nội luật hoá được do có sự khác nhau giữa các điều ướcquốc tế và bảo đảm điều chỉnh đối với những quan hệ pháp luật thì một giảipháp hữu hiệu để tuân thủ nguyên tắc Pacta sunt servanda là quy định trong cácvăn bản về giá trị pháp lý của các điều ước quốc tế khi có sự mâu thuẫn với điềuước quốc tế Ví dụ : Khi có sự mâu thuẫn giữa điều ước quốc tế với văn bản nàythì áp dụng điều ước quốc tế
2.4.105. CHƯƠNG 2 NGUỒN CỦA LUẬT QUỐC TẾ
1.3 Khái quát chung về nguồn của Luật quốc tế
1.3.1 Khái niệm nguồn của luật quốc tế
2.4.106. Nguồn của luật quốc tế là những hình thức biểu hiện sự tồn tại
quốc tế, chứa đựng các nguyên tắc và các quy phạm pháp lý quốc tế nhằm điềuchỉnh các quan hệ quốc tế do chính các chủ thể xây dựng (ví dụ: điều ước quốc
Trang 352.4.107. Trong khoa học pháp luật quốc tế hiện đại, có nhiều quan điểm
tất cả các nguyên tắc quy phạm pháp lý quốc tế nhằm xác định quyền và nghĩa
vụ pháp lý của các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế khi tham gia vàocác quan hệ quốc tế Theo đó, luật quốc tế gồm 02 loại nguồn cơ bản bao gồm:điều ước quốc tế và tập quán quốc tế.8
8
Nguyễn Bá Diến (2013), Giáo trình Công pháp quốc tế, Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội, trang 40.
Trang 362.4.109. Theo nghĩa rộng, và được áp dụng rộng rãi hơn đối với hệ thống
quốc tế hiện đại, nguồn của luật quốc tế là tất cả các nguyên tắc, quy phạm màcác thiết chế tài phán quốc tế và cơ quan có thẩm quyền có thể dựa vào đó đểđưa ra các quyết định pháp lý, các phán quyết quốc tế.9
1.3.2 Cơ sở pháp lý xác định nguồn của luật quốc tế
2.4.110. Đến thời điểm hiện tại việc viện dẫn, áp dụng các loại nguồn của
tế hiện tại vẫn dựa trên khoản 1, Điều 38 Quy chế Toà ICJ như điểm bắt đầuthảo luận về nguồn của luật quốc tế Trong đó, khoản 1, Điều 38 Quy chế ToàICJ quy định10:
9
Hugh Thirlway (2019), The Sources of International Law (2ndEdition), Oxford University Press, p 1 - 2.
Trang 372.4.111. Tòa án, với chức năng là giải quyết phù hợp với luật quốc tế các
chấp được chuyển đến Tòa án, sẽ áp dụng:
a Các điều ước quốc tế, chung hoặc riêng, đã quy định về những nguyên tắc được các bên đang tranh chấp thừa nhận;
b Các tập quán quốc tế như những chứng cứ thực tiễn chung, được thừa nhận như những quy phạm pháp luật;
c Nguyên tắc chung của luật được các quốc gia văn minh thừa nhận;
https://www.icj -cij org/en/statute.
Trang 38d Với điều kiện nêu ở Điều 59 quy chế Tòa, các án lệ và các học thuyết của các chuyên gia có chuyên môn cao nhất về luật quốc tế của các quốc gia khác nhau được coi là phương tiện để xác định các qui phạm pháp luật.
2.4.112. Như vậy, về cơ bản khoản 1, Điều 38 liệt kê khá đầy đủ các
quốc tế Ngoài ra, chỉ có điều ước quốc tế và tập quán quốc tế mới được xem lànguồn chính thống của luật quốc tế,các nhóm còn lại chỉ được xem là phươngtiện bổ trợ nguồn
1.3.3 Phân loại nguồn của luật quốc tế
2.4.113. Căn cứ vào Điều 38, Quy chế ICJ cũng như hình thức biểu hiện
của các loại nguồn có thể phân chia nguồn của luật quốc tế thành 02 loại lànguồn thành văn và nguồn bất thành văn với nội dung chứa đựng các quy phạmpháp lý quốc tế, điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các quốc gia và các chủ thểkhác của luật quốc tế Trong đó: nguồn thành văn chính là các nguyên tắc, quyphạm pháp luật quốc tế chứa đựng trong các điều ước quốc tế song phương và
đa phương được các bên tham gia, ký kết thừa nhận Nguồn bất thành văn baogồm các tập quán quốc tế và các nguyên tắc pháp luật chung được các dân tộcvăn minh thừa nhận
2.4.114. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện các chức năng của mình, ICJ
thiết chế tài phán quốc tế khác có thể sử dụng các án lệ, các học thuyết của cácchuyên gia có chuyên môn cao, các nguyên tắc pháp luật chung và các hình thứckhác được hình thành trong thực tiễn phát triển của luật quốc tế như các nghị
Trang 391.4 Một số nguồn cơ bản của luật quốc tế
1.4.1 Điều ước quốc tế
1.4.1.1 Khái niệm điều ước quốc tế
Trang 402.4.115. Điều ước quốc tế là nguồn cơ bản của luật quốc tế hiện đại.
thỏa thuận giữa các chủ thể của luật quốc tế với nhau trên cơ sở tự nguyện, bìnhđẳng nhằm xác lập, thay đổi, hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ giữa các chủthể đối với nhau
2.4.116. Theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 2, Công ước Viên về
ước quốc tế năm 1969 thì “Thuật ngữ “điều ước” dùng để chỉ một thỏa thuậnquốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tếđiều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai haynhiều văn kiện có quan hệ với nhau và với bất kể tên gọi riêng của nó là gì.”11
Như vậy, Công ước Viên chỉ mới dừng lại ở vấn đề liên quan đến hình thức màchưa đề cập đến nội dung của điều ước quốc tế Mặc khác công ước cũng chỉmới dừng lại ở việc đề cập đến các quốc gia là chủ thể của việc ký kết các điềuước quốc tế mà chưa đề cập đến các chủ thể còn lại của luật quốc tế
2.4.117 Do đó, có thể mở rộng ra một cách phổ quát nhất, điều ước quốc
những thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể đó với nhau thông qua các quy phạm pháp lý quốc tế bắt buộc được gọi là quy phạm điều ước.
2.4.118. Hai yếu tố quan trọng nhất để một thỏa thuận có được xem là một
quốc tế hay không là (i) chủ thể ký kết phải là chủ thể của luật pháp quốc tế, (ii)