Luật ngân hàng trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung thực chất là luật quản lí nhà nước về ngân hàng.Do đặc tính của các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực ngân hàng có cùng đặc tính cơ bản với các loại quan hệ tài chính phát sinh trong các lĩnh vực khác như: ngân sách nhà nước, bảo hiểm nhà nước (bảo hiểm thương mại) V.V.. nên ở phần lớn các nước xã hội chủ nghĩa quan niệm bộ phận pháp luật điều chỉnh các quan hệ ngân hàng là bộ phận cấu thành của ngành luật tài chính. Căn cứ vào nội dung củạ luật thực định mà các nhà nghiên cứu đều khẳng định rằng, đối với các quan hệ ngân hàng, Nhà nước sử dụng pháp luật điều chỉnh theo phương pháp của luật kinh tế (phương pháp thoả thuận và phương pháp mệnh lệnh quyền uy).
Trang 1CÂU HỎI LÝ THUYẾT LUẬT NGÂN HÀNG CÓ ĐÁP ÁN
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về ngân hàng và pháp luật ngân hàng
1 Thế nào là hoạt động ngân hàng và đặc điểm hoạt động ngân hàng?
Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ như nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản
+ Hoạt động nhận tiền: Theo khoản 13 điều 4 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 thì hoạt động nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận
Việc nhận tiền gửi được thực hiện diễn ra liên tục và thường xuyên nhất tại Ngân hàng, việc nhận tiền gửi là một trong những hoạt động giúp cho ngân hàng huy động được nguồn tiền, nguồn vốn để duy trì hoạt động khác của ngân hàng
+Hoạt động cấp tín dụng: Theo khoản 14 Điều 4 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 thì hoạt động cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác Đây là hoạt động chủ yếu của ngân hàng, việc cấp tín dụng cho một tổ chức hay cá nhân được phép sử dụng được hiểu như một giao kết qua lại giữa các bên khách hàng và ngân hàng đó
+ Hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản: Căn cứ theo khoản 15 điều 4 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 thì hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản được hiểu là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch
vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng
+ Hoạt động cho vay: Căn cứ tại khoản 16 Điều 4 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 thì hoạt động cho vay được hiểu là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích
Trang 2xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả
cả gốc và lãi
b Đặc điểm hoạt động ngân hàng
– Hoạt động ngân hàng lấy tiền tệ làm đối tượng kinh doanh trực tiếp
– Hoạt động ngân hàng chỉ do các tổ chức tín dụng thực hiện
– Chủ thể quản lý nhà nước là ngân hàng nhà nước
– Hoạt động ngân hàng được điều chỉnh bằng Luật Ngân hàng
– Hoạt động ngân hàng là một hoạt động kinh doanh đặc thù, tính đặc thù thể hiện
ở
chỗ rủi ro cao, khó quản lý, khó giám sát
2 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng Việt Nam?
Từ một nước thuộc địa không có chủ quyền về tiền tệ, ngay sau khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Nhà nước ta đã từng bước thiết lập được một nền tiền tệ và một hệ thống Ngân hàng độc lập với những bước đi phù hợp sáng tạo Tháng 12/1945 Nhà nước cho phát hành đồng bạc Việt Nam đầu tiên được nhân dân ta hưởng ứng và hoan nghênh, gọi là “Tờ giấy bạc cụ Hồ” Sự ra đời của đồng tiền cách mạng đã góp phần quan trọng trong quá trình đấu tranh với địch trên mặt trận tiền tệ, phát triển sản xuất và lưu thông hàng hoá, ổn định giá cả, đồng thời đảm bảo cho chi tiêu ngân sách
Ngày 3/2/1947 tổ chức tín dụng đầu tiên của Việt Nam: Nha tín dụng sản xuất được thành lập nhằm “giúp vốn cho nhân dân phát triển sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, đồng thời hạn chế cho vay nặng lãi ở nông thôn và làm hậu thuẫn cho chính sách giảm tức và hướng dẫn nhân dân đi vào con đường làm ăn tập thể” Ngày 6/5/1951 tại Hang Bòng thuộc xã Tân trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam Ngân hàng Quốc gia Việt nam là cơ quan ngang Bộ, Tổng Giám đốc Ngân hàng Quốc gia là thành viên Chính phủ Tổng Giám đốc đầu tiên của ngành Ngân hàng là Cố Phó Chủ tịch nước Nguyễn Lương Bằng và Phó Tổng Giám đốc
Trang 3là đồng chí Lê Viết Lượng Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ban đầu có những nhiệm vụ chủ yếu là: Quản lý việc phát hành giấy bạc và tổ chức lưu thông tiền tệ; quản lý Kho bạc Nhà nước; huy động vốn và cho vay phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hoá; quản lý kim dung bằng biện pháp hành chính; quản lý ngoại hối
và các khoản giao dịch bằng ngoại tệ và đấu tranh tiền tệ với địch Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ra đời thật sự là một bước ngoặt lịch sử trong quá trình phát triển nền tiền tệ – ngân hàng của Việt Nam
Tuy nhiên từ ngày đầu thành lập, hệ thống Ngân hàng đã phải đối mặt với nhiều khó khăn thử thách, bởi một nền kinh tế tiểu nông lạc hậu, tự cung, tự cấp, thị trường nhỏ bé, phân tán và bị chia cắt, chi phối bởi chiến tranh; ngân sách bội chi lớn, lạm phát gia tăng, nền kinh tế mất cân đối gay gắt Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo của Chính phủ ngành Ngân hàng đã vượt qua mọi khó khăn thử thách, ngày càng khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của mình, góp phần tích cực vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
Sau năm 1954, miền Bắc được giải phóng, tiến hành khôi phục kinh tế, chuyển sang thời kỳ quá độ lên CNXH Hệ thống Ngân hàng trở thành công cụ đắc lực của Nhà nước dân chủ nhân dân trong việc tiếp quản vùng giải phóng, khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh, thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất (1960-1965) và phục vụ công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Ngày 21/01/1960 Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để phù hợp với Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
1959 Từ 1960 toàn Ngành đã có 221 Chi điếm Ngân hàng huyện, 41 Chi nhánh nghiệp vụ Ngân hàng quận, thị xã và các trung tâm kinh tế ở miền Bắc Ngoài ra có trên 7.000 HTX tín dụng được thành lập và hoạt động trên địa bàn nông thôn Trải qua 2 cuộc chiến tranh khốc liệt với những nhiệm vụ hết sức nặng nề nhưng được Đảng giáo dục, rèn luyện cả hồng và chuyên, đội ngũ cán bộ Ngân hàng ngày càng được trưởng thành trên mọi lĩnh vực hoạt động, góp phần xứng đáng vào thắng lợi vẻ vang của sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc và giải phòng miền Nam thống nhất đất nước, làm tốt nghĩa vụ Quốc tế với cách mạng Lào và Cămpuchia Hàng trăm cán bộ Ngân hàng (trong đó có một số đồng chí Lãnh đạo)
đã được Đảng điều vào Nam công tác, trực tiếp tham gia cuộc đấu tranh trên mặt
Trang 4trận tiền tệ với địch và 104 cán bộ Ngân hàng đã anh dũng hy sinh cho sự nghiệp cách mạng của Đảng
Sau ngày đất nước thống nhất (1975) hệ thống tiền tệ Ngân hàng đã được áp dụng thống nhất trong cả nước Nhưng do hậu quả của cuộc chiến tranh kéo dài, thiên tai liên tục, nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái, lạm phát phi mã với 3 con số (năm 1986 lạm phát lên tới 774%) đã làm đình trệ sản xuất, đời sống của đại bộ phận dân cư gặp nhiều khó khăn
Để khắc phục tình trạng đó, Đảng và Nhà nước đã có nhiều giải pháp trong lĩnh vực phân phối lưu thông (cải cách giá, tiền lương – tiền) Đặc biệt từ Đại hội VI của Đảng (họp năm 1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, mang tính chiến lược, mở ra thời kỳ phát triển mới của đất nước Ngành ngân hàng thực hịên chương trình cải cách, chuyển dần từ tập trung bao cấp sang hạch toán kinh doanh XHCN
Từ bước khởi đầu thành công theo NĐ 53 ngày 26/3/1988 của Chính phủ về tách
hệ thống Ngân hàng thành Ngân hàng 2 cấp, ngày 24/5/1990 Nhà nước ban hành 2 Pháp lệnh Ngân hàng, đổi mới căn bản và toàn diện hệ thống Ngân hàng Việt Nam Theo Pháp lệnh, hệ thống Ngân hàng gồm 2 cấp: Ngân hàng Nhà nước làm nhiệm
vụ quản lý Nhà nước về tiền tệ, tín dụng và là Ngân hàng Trung ương; Các Ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng Sau một thời gian được thực tiễn kiểm nghiệm, 2 Pháp lệnh Ngân hàng
đã được tổng kết lên thành 2 Luật Ngân hàng, được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ 01/10/1998 (và đã được sửa đổi bổ sung lần thứ nhất vào năm 2003)
Trong suốt thời kỳ đổi mới (1986-2010), hệ thống Ngân hàng đã không ngừng phát triển cả về mạng lưới tổ chức và nội dung hoạt động Đến nay trên cả nước đã có 5 NHTM Nhà nước; 36 NHTM cổ phần, 48 Chi nhánh NH nước ngoài, 05 Ngân hàng liên doanh, 48 Văn phòng Đại diện nước ngoài; 17 Công ty tài chính; 13 Công ty cho thuê Tài chính và trên 1000 QTDND cơ sở hoạt động rộng khắp từ thành thị đến nông thôn Các nghiệp vụ ngân hàng đã trở nên đa dạng, phong phú
và quy mô tăng lên nhanh chóng
Trải qua nhiều thời kỳ, ngành Ngân hàng Việt Nam đã có nhiều đóng góp to lớn và
có hiệu quả trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Bên cạnh những đóng
Trang 5góp to lớn, hiệu quả đối với nền kinh tế, hàng năm ngành Ngân hàng là một trong những ngành đi đầu và thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ đối với Ngân sách Nhà nước (thông qua nộp các loại thuế và lợi nhuận) Bằng nguồn quỹ phúc lợi và sự đóng góp của cán bộ, CNV, người lao động, ngành Ngân hàng đã có nhiều đóng góp tích cực vào các hoạt động xã hội khác, như xây nhà tình nghĩa, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, ủng hộ các quỹ từ thiện, khuyến học chăm sóc trẻ em, khắc phục hậu quả thiên tai, xoá đói giảm nghèo …
Công tác quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng không ngừng được hoàn thiện Việc điều hành chính sách tiền tệ theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước ngày càng đạt hiệu quả cao; góp phần tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát theo từng thời kỳ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã và đang làm tốt vai trò đại diện của Chính phủ tại các Tổ chức tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu á (ADB), cũng như các tổ chức song phương và đa phương khác Đồng thời góp phần quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trên mọi lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng
Trong những năm gần đây, hệ thống Ngân hàng Việt Nam (NHNN và các TCTD)
đã có nhiều thành tích trong việc điều hành và thực thi các chính sách tiền tệ nhằm phục vụ mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát, từng bước nâng cao giá trị của đồng tiền Việt Nam
Từ năm 2011 đến nay, Ngành Ngân hàng Việt Nam vừa tích cực triển khai thực hiện nhiệm vụ theo tinh thần 2 Luật: Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các Tổ chức tín dụng (được Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XII thông qua ngày 16/6/2010,
có hiệu lực từ ngày 01/01/2011), vừa cùng với cả hệ thống chính trị nổ lực thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội (nói rõ nhiệm vụ nhiệm kỳ 2010-2015 và 2015-2020)
3 Tại sao nói NHNN là NH của các NH?
– Xuất phát từ vị trí pháp lý là ngân hàng trung ương, NHNN quản lý các NHTM theo một số cách
Trang 6+ Bắt buộc các NHTM phải lập một tài khoản tiền gửi thanh toán tại NH trung ương
+ Bắt buộc các NHTM phải lập một tài khoản dự trữ bắt buộc tại NH trung ương – Bên cạnh đó,
+ NH trung ương còn thực hiện vai trò “Cứu cánh cuối cùng” (trường hợp NH bị mất khả năng chi trả, có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống các TCTD àNHNN cho vay tiền)
+ NH trung ương thực hiện tái cấp vốn cho các NH
Trong khi đó hệ thống ngân hàng 2 cấp
– Có sự vượt chội hơn hẳn như có sự phân định rõ ràng giữa 2 chức năng kinh doanh của hệ thống ngân hàng và chức năng quản lí nhà nước
Trang 7Trong đó ngân hàng tw phát hành tiền là ngân hàng của các ngân hàng,ngân hàng của chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước các hoạt động về tiền tệ và hệ thống trong phạm vi quốc gia Chức năng kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng thuộc về các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng chính ví thế sư phù hợp với nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, kinh tế thị trường nên ngân hàng 2 cấp phải là ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
5 So sánh hệ thống ngân hàng một cấp và hệ thống ngân hàng hai cấp
6 Hệ thống ngân hàng Việt Nam từ năm 1951 đến năm 1988 là hệ thống ngân hàng mấy cấp? Tại sao mô hình này lại hoạt động hiệu quả trong giai đoạn này?
Đại hội Đảng lần thứ II (tháng 2/1951) đã đề ra những chủ trương chính sách mới
về tài chính – kinh tế; trong đó chính sách tài chính có nội dung cơ bản là: chính sách tài chính phải kết hợp chặt chẽ với chính sách kinh tế, tăng thu trên cơ sở đẩy mạnh tăng gia sản xuất; giảm chi bằng cách tiết kiệm, thực hiện dân chủ hoá chế
độ thuế, quy định rõ Ngân sách trung ương, Ngân sách địa phương; thành lập Ngân hàng Quốc gia, phát hành đồng bạc mới để ổn định tiền tệ, cải tiến chế độ tín dụng Trên cơ sở đó, sự ra đời và phát triển của hệ thống Ngân hàng Việt Nam có thể được khái quát thành 2 giai đoạn:
Trang 8a) Thời kỳ năm 1951 đến năm 1975
* Ở miền Bắc
Ngày 06/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam quy định: “Mọi công việc của Nha ngân khố Quốc gia và Nha tín dụng sản xuất trao cho Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đã đảm nhiệm hai chức năng khác nhau: một là chức năng của Ngân khố, hai là chức năng của Ngân hàng Đến năm 1960 Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, được tổ chức thành hệ thống thống nhất từ trung ương đến địa phương,
do Nhà nước độc quyền sở hữu và quản lý Hệ thống Ngân hàng này được tổ chức theo mô hình hệ thống Ngân hàng một cấp Hệ thống này tiếp tục tồn tại đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (ngày 30 tháng 4 năm 1975) và tiếp quản hệ thống Ngân hàng Sài Gòn cũ ở miền Nam cho đến năm 1988
* Ở miền Nam
Ngày 31 tháng 12 năm 1954 Bảo Đại ký quyết định số 48 thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ở miền Nam Từ năm 1954 đến năm 1975 hệ thống ngân hàng
ở miền Nam Việt Nam được tổ chức theo mô hình ngân hàng tư bản chủ nghĩa, tức
mô hình hệ thống ngân hàng hai cấp, bởi lẽ nền kinh tế ở miền Nam trong giai đoạn này bao gồm: Ngân hàng Quốc gia Việt Nam và các Ngân hàng chuyên nghiệp
b) Thời kỳ từ năm 1975 đến năm 1990
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, các ngân hàng nước ngoài và các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đã rút khỏi miền Nam Việt Nam Nhà nước ta đã tiến hành quốc hữu hóa hệ thống Ngân hàng của chế độ Sài Gòn, còn đối với các Ngân hàng tư nhân nhà nước tổ chức thanh lý, bởi lẽ các chủ Ngân hàng này đã tẩu tán tài sản và chạy trốn ra nước ngoài Nói chung, các Ngân hàng này đều rơi vào tình trạng mất khả năng chi trả, tổng số nợ đối với nhân dân lớn hơn tài sản còn lại
Đặc điểm của hệ thống Ngân hàng trong giai đoạn năm 1975 – năm 1988 được tổ chức theo mô hình ngân hàng một cấp, giống như mô hình ngân hàng từ năm 1951
Trang 9– năm 1975 ở miền Bắc Vị trí và chức năng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được xác định như sau:
– Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không những là một cơ quan ngang Bộ, có trách nhiệm quản lý các chính sách tiền tệ, tín dụng của nhà nước, mà còn là một tổ chức kinh doanh theo chế độ hoạch toán kinh tế xã hội chủ nghĩa để phục vụ các tổ chức
và các ngành kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh
– Chức năng chủ yếu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là phân phối vốn tiền tệ
và giám đốc bằng tiền mọi hoạt động trong nền kinh tế
– Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện vai trò trung tâm tiền mặt, trung tâm tín dụng và trung tâm thanh toán trong nền kinh tế quốc dân
Như vậy, sau 30 năm, trải qua 02 cuộc chiến tranh giải phóng đất nước, từ một TCTD đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là Nha tín dụng, được thành lập 1947 Đây là tiền thân của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với hệ thống các chi nhánh tỉnh và chi điếm huyện, đã từng là tổ chức tín dụng lớn nhất và duy nhất trong hàng chục năm Chức năng chính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là huy động tiền gửi của các doanh nghiệp, các cơ quan đoàn thể, các tổ chức kinh tế và dân cư để cho vay Ngân hàng Nhà nước vừa
là cơ quan quản lý tiền tệ tín dụng vừa là tổ chức kinh doanh không vì mục tiêu lợi nhuận
7 Vị trí pháp lí và chức năng của ngân hàng?
Phân tích vị trí pháp lý và chức năng của NHNN VN
a Vị trí pháp lý:
Vị trí và chức năng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đuợc quy định tại Điều 2 Luật Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam 2010 với nội dung như sau:
– Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan ngang bộ
của Chính phủ, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 10– Ngân hàng Nhà nước là pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước, có trụ sở chính
tại Thủ đô Hà Nội
Theo khoản 1 điều 1 LNHNN thì:
NHNN vừa có vị trí pháp lý của cơ quan thuộc bộ máy hành pháp (cơ quan của chính phủ)
NHNN vừa có vị trí pháp lý của NH trung ương
b Chức năng của NHNN: theo Nghị định 16/2017/NĐ-CP
• Chức năng quản lý nhà nước
– Xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển
– Xây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia
– Xây dựng pháp luật, ban hành văn bản quy phạm pháp luật
– Cấp, thu hồi các loại giấy phép liên quan đến hoạt động ngân hàng
– Kiểm tra, thanh tra
– Quản lý, vay, trả nợ nước ngoài
• Chức năng ngân hàng trung ương
– Phát hành tiền
+ Qua kênh của tổ chức tín dụng
+ Qua kênh của ngân sách nhà nước
– Là ngân hàng đối với chính phủ
– Điều hành trung tâm tiền tệ, nghiệp vụ thanh toán mở
– Kiểm soát dự trữ quốc tế, quản lý dự trữ ngoại hối, cung ứng dịch vụ thông tin
Trang 118 Có ý kiến cho rằng khái niệm hoạt động tổ chức tín dụng hiện nay còn quá hẹp, gây khó khăn cho các tổ chức tín dụng khi muốn mở rộng hoạt động kinh doanh của mình Anh (chị) có nhận xét gì về ý kiến này
Sự gia tăng nhanh chóng các loại hình TCTD là điều cần thiết để thị trường tín dụng phát triển Các TCTD đang có xu hướng mở rộng địa bàn hoạt động bằng việc thành lập và phát triển thêm nhiều chi nhánh, thậm chí trên cùng một địa bàn nhỏ (trong cùng một đơn vị hành chính loại nhỏ cấp huyện, thị xã nhưng cũng có đến 2 – 3 chi nhánh của cùng một ngân hàng được thành lập có tính độc lập trong kinh doanh với nhau) Hậu quả của việc mở rộng quá mức hệ thống tổ chức mạng lưới chi nhánh do thiếu sự tính toán và phân chia hợp lý địa bàn hoạt động, đang là một cảnh báo cho sự tranh giành khách hàng, cạnh tranh thiếu bình đẳng, mất đi tính hợp tác và cộng đồng tài trợ, điều hết sức cần thiết của hoạt động tín dụng ngân hàng trong cơ chế thị trường
Về cơ cấu các thành phần tham gia thị trường tín dụng, trên thực tế nhiều tổ chức chính trị – xã hội như Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội cựu chiến binh, Uỷ ban dân tộc miền núi, một số Tổ chức phi Chính phủ nước ngoài, Dự án tín dụng Việt – Bỉ, Dự án hoạt động tiết kiệm tín dụng của UNLCEF… tham gia hoạt động tín dụng, nhưng chưa có sự quản lý của Nhà nước theo Luật các TCTD Bên cạnh đó, các tổ chức kinh tế của Nhà nước như Kho bạc Nhà nước, Quỹ hỗ trợ phát triển và Quỹ bảo lãnh tín dụng cũng có những hoạt động nghiệp vụ tín dụng, nhưng tổ chức và hoạt động cũng không bị điều chỉnh bởi Luật các TCTD Vì vậy, hoạt động tín dụng của các tổ chức trên đã làm cho thị trường tín dụng đa dạng nhưng phức tạp, thiếu sự quản lý và cạnh tranh bình đẳng trong quan hệ tín dụng trên cùng một địa bàn, cùng một đối tượng vay vốn…
Mặc dù hiện nay thị trường tín dụng khá sôi động, nhưng nhìn chung chưa quán xuyến được toàn bộ nhu cầu vốn thông qua kênh tíndụng ngân hàng đối với nềnkinh tế Khả năng và tính linh hoạt của thị trường tín dụng còn nhiều hạn chế, nhiều nhu cầu vay vốn chưa được đáp ứng, nhất là vốn trung, dài hạn và các nhu cầu vốn nhỏ, lẻ và thời vụ trong nông nghiệp, nông thôn
Theo ước tính của nhiều chuyên gia kinh tế, các nguồn vốn tín dụng ngân hàng mới chỉ đáp ứng khoảng 30-35% nhu cầu vốn tín dụng trong những khu vực nông nghiệp, nông thôn Vì vậy, thị trường tín dụng ngầm vẫn tồn tại như một tất yếu
Trang 12với tình trạng cho vay nặng lãi dưới nhiều hình thức: hụi họ, cho vay nóng, cho vay cầm cố… trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, nhất là kinh tế tư nhân Các hình thức tín dụng ngoài khuôn khổ pháp luật nàyđã phá hoại rất nghiêm trọng lực lượng sản xuất xã hội, đặc biệt đối với các hộ dân cư nghèo đói ở cả thành thị và nông thôn
9 Chủ thể thực hiện hoạt động ngân hàng? Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có kinh doanh tiền tệ hay không?
Chủ thể thực hiện Hoạt động ngân hàng phải là các ngân hàng, hoặc các tổ chức tín dụng, được nhà nước cho phép hoạt động
Ngân hàng lấy tiền tệ làm đối tượng kinh doanh trực tiếp, hoạt động ngân hàng chỉ
do các tổ chức tín dụng thực hiện, chủ thể quản lý ngân hàng là ngân hàng nhà nước, được điều chỉnh bởi luật Ngân hàng
Đối với đối tượng kinh doanh là tiền tệ, đây là đối tượng kinh doanh trực tiếp đối với hoạt động ngân hàng thương mại Bởi tiền lệ đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập nên các hoạt động khác của ngân hàng như:
a) Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá;
b) Chiết khấu giấy tờ có giá;
c) Các hình thức tái cấp vốn khác
+ Lãi suất
1 Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản và các loại lãi suất khác để điều hành chính sách tiền tệ, chống cho vay nặng lãi
Trang 132 Trong trường hợp thị trường tiền tệ có diễn biến bất thường, Ngân hàng Nhà nước quy định cơ chế điều hành lãi suất áp dụng trong quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau và với khách hàng, các quan hệ tín dụng khác
Như vậy ta có thể thấy, đối với hoạt động của ngân hàng việc xác định đối tượng kinh doanh chính là việc vô cùng quan trọng Bởi nói giúp cho các hoạt động còn lại của ngân hàng được diễn ra trôi chảy và liên tục xoay vòng
10 Tại sao nói hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh có điều kiện?
Bởi đây là lĩnh vực kinh doanh có điều kiện tức là có yêu cầu về vốn pháp định cũng như phải thực hiện thủ tục xin giấy phép kinh doanh để có thể thực hiện hoạt động kinh doanh
Quy định của pháp luật về điều kiện tiến hành hoạt động Ngân hàng
1 Để tiến hành các hoạt động ngân hàng, tổ chức tín dụng được cấp giấy phép phải
có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có điều lệ được Ngân hàng Nhà nước chuẩn y;
b) Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, có đủ vốn pháp định và có trụ sở phù hợp với yêu cầu hoạt động ngân hàng;
c) Phần vốn pháp định góp bằng tiền phải được gửi vào tài khoản phong toả không được hưởng lãi mở tại Ngân hàng Nhà nước trước khi hoạt động tối thiểu 30 ngày
Số vốn này chỉ được giải toả sau khi tổ chức tín dụng hoạt động;
d) Đăng báo trung ương, địa phương theo quy định của pháp luật về những nội dung quy định trong giấy phép
2 Để tiến hành các hoạt động ngân hàng, tổ chức không phải là tổ chức tín dụng được cấp giấy phép hoạt động ngân hàng phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, có trụ sở kinh doanh phù hợp với yêu cầu hoạt động ngân hàng;
b) Đăng báo trung ương, địa phương theo quy định của pháp luật về những nội dung quy định trong giấy phép
Trang 143 Trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép, tổ chức được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép phải hoạt động
11 Điểm khác nhau cơ bản giữa hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác là gì? Nhận xét về điểm khác nhau này?
12 Anh chị hiểu thế nào là tiền? Giấy tờ có giá (Sec, Hối phiếu, Trái phiếu, Kỳ phiếu…) có phải là tiền không?
*Tiền: Theo Mác thì tiền tệ là một thứ hàng hóa đặc biệt, được tách ra khỏi thế giới hàng hóa, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hóa khác Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa
*Giấy tờ có giá không phải là tiền theo Khoản 8, Điều 6, Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010; Khoản 1, Điều 3 Thông tư 04/2016/TT-NHNN và Khoản 1 Điều 2 thông tư 01/2012/TT-NHNN quy định: „‟ Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”
Căn cứ vào nội dung giải đáp về giấy tờ có giá tại công văn 141/TAND-KHXX có liệt kê một số loại giấy tờ có giá như sau:
Trang 15„‟ 1 Điều 163 của Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Theo quy định tại điểm 8 Điều 6 của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 thì giấy tờ có giá là “bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy
tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác” Căn
cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành, thì giấy tờ có giá bao gồm:
a) Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác được quy định tại Điều 1 của Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005;
b) Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 của Pháp lệnh ngoại hối năm 2005;
c) Tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và công cụ khác làm phát sinh nghĩa
vụ trả nợ được quy định tại điểm 16 Điều 3 của Luật quản lý nợ công năm 2009; d) Các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; Hợp đồng góp vốn đầu tư; các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định) được quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật chứng khoán năm 2006 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2010);
đ) Trái phiếu doanh nghiệp được quy định tại Điều 2 của Nghị định số 52/2016/NĐ-CP ngày 19/5/2006 của Chính phủ về “Phát hành trái phiếu doanh nghiệp”…‟‟
Như vậy thì chỉ những loại giấy tờ được nêu trên mới được pháp luật thừa nhận là giấy tờ có giá
13 Theo anh (chị) đặc điểm gì cần quan tâm nhất khi thực hiện hoạt động ngân hàng? Lý giải đặc điểm đó?
Hoạt động ngân hàng mang tính rủi ro cao:
– Hoạt động ngân hàng là “chỗ trũng” của nền kinh tế do mội rủi ro trong nên kinh
tế đều “chảy” về ngân hàng
Trang 16– Hoạt động ngân hàng mang tính cạnh tranh cao giữa các ngân hàng trong hệ thống ngân hàng
– Hoạt động ngân hàng có liên hệ mật thiết với các hoạt động tài chính tiền tệ khác vốn có tính rủi ro tự thân như thị trường chứng khoán, thị trường vàng, thị trường dầu mỏ, thị trường bất động sản…
– Hoạt động ngân hàng là hoạt động mang tính “nhạy cảm” với các biến động của kinh tế- chính trị- xã hội Hoạt động ngân hàng dễ chịu sự tác động của các quy luật mang tính nhạy cảm như: quy luật
lây lan, tâm lý đám đơng Ví dụ: tình trạng rút tiền hàng loạt ở một số ngân hàng như Á Châu ACB năm 2003, Quy luật tương hỗ có mối quan hệ chặt chẽ với các thị trường tài chính, tiền tệ, quy luật
cung cầu…
14 Rủi ro trong hoạt động ngân hàng xuất phát từ đâu?
1.2.4.1 Rủi ro do nguyên nhân khách quan
Các nguyên nhân gây nên rủi ro có thể xuất phát từ yếu tố thị trường và chính sách của nhà nước bao gồm: rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định, rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi
1.2.4.2 Rủi ro do nguyên nhân chủ quan
– Nguyên nhân từ phía khách hàng vay Các nguyên nhân này được sắp xếp theo 2 nhóm chính là nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan
Nhóm nguyên nhân khách quan thể hiện tác động ngoài ý chí của khách hàng Nhóm nguyên nhân này vẫn có thể dược ngân hàng nhận biết được các nhân tố gây
ra rủi ro nếu có một bộ phận thẩm định nhận biết được các yếu tố gây ra rủi ro và
có kế hoạch đề phòng hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay
Nhóm nguyên nhân chủ quan được hiểu là hành vi cố ý vi phạm nghĩa vụ trả nợ của khách hàng Đây là nguyên nhân chính gây ra rủi ro trong hoạt động cho vay của NH
– Nguyên nhân từ phía ngân hàng cho vay
Trang 17Có thể nói rằng, các rủi ro trong hoạt động cho vay của NH trước hết bắt nguồn từ nguyên nhân do lỗi nghiệp vụ, Các nguyên nhân này thường bao gồm: Do ngân hàng lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ, do sự hạn chế về năng lực nghiệp vụ
và đạo đức của nhân viên tín dụng, do ngân hàng buông lỏng quản lý và giám sát nguồn vốn sau khi cho vay, do sự hợp tác giữa NH quá lỏng lẻo, vai trò của CIC chưa thực sự hiệu quả
[/notes]
15 Tại sao nói NHNN là NH của Chính Phủ?
-NHNN là cơ quan của chính phủ, nằm trong cơ cấu bộ máy của chính phủ và chịu
sự điều hành của chính phủ; thống đốc NHNN địa vị ngang hàng với bộ trưởng và thủ trưởng các cơ quan ngang bộ
– NHNN chịu trách nhiệm báo cáo cho CP, thống đốc chịu TN trước TTCP và QH
về lĩnh vực mình phụ trách
– NHNN Làm thủ quỹ cho kho bạc Nhà nước
– NHNN Đảm bảo quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia
– NHNN Xây dựng và tư vấn cho Nhà nước về các chính sách tiền tệ quốc gia – NHNN Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng và ngân hàng…
– NHNN Cho chính phủ vay và nhận lãi suất từ khoản cho vay
– NHNN cũng là đại lý của Chính phủ trong việc phát hành thanh toán các loại chứng khoán chính phủ trên thị trường sơ cấp và thứ cấp
– NHNN cố vấn cho chính phủ về các chính sách tài chính , tiền tệ , ngân hàng
16 Nêu các thẩm quyền of NHNN trong thực hiện chức năng quản lý NN và trình bày cơ sở để pháp luật giao thẩm quyền cho NHNN quản lý?
Theo khoản 1 điều 5 LNHNN:
Trang 18– Tham gia xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước Vì hoạt động của ngân hàng NN có tác động mạnh mẽ đối với sự ổn định và phát triển của nền kinh tế và đời sống xã hội
– Xây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia để trình Chính phủ
(Điều 3 và điều 5 Luật ngân hàng)
– Xây dựng các dự án luật , pháp lệnh và các dự án khác về tiền tệ và hoạt động ngân hàng Ban hành các văn bản qui phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ ngân hàng theo thẩm quyền
– Cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động cho các tổ chức tín dụng (trừ trường hợp do Thủ tướng Chính phủ quyết định); cấp, thu hồi giấy phép hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác Quyết định giải thể, chia tách, hợp nhất các tổ chức tín dụng
– Kiểm tra thanh tra hoạt động ngân hàng, kiểm soát tín dụng, xử lý các vi phạm trong lĩnh vực ngân hàng, tiền tệ, và hoạt động ngân hàng theo thẩm quyền
– quản lý việc vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp theo quy định của chính phủ
– chủ trì lập và theo dõi kết quả thực hiện cán cân thanh toán quốc tế
– Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
– Ký kết và tham gia các điều ước quốc tế về hoạt động ngân hàng và tiền tệ
– Đại diện cho nhà nước CHXHCNVN tại các tổ chức tiền tệ và ngân hàng quốc
tế trong trường hợp được Chủ tịch nước, Quốc hội ủy quyền
-Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ ngân hàng; nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ ngân hàng
* Cơ sở để nhà nước giao thẩm quyền cho NHNN quản lý:
– NHNN là cơ quan của chính phủ à Theo quy định của Hiến pháp 1992, Luật tổ chức chính phủ, luật NHNN VN, NHNN là cơ quan ngang bộ có chức năng quản
lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng à Với tư cách là cơ quan quản lý
Trang 19Nhà nước về tiền tệ và hoạt động Ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý về Nhà nước
– Hoạt động của NHNN có tác động mạnh mẽ đối với sự ổn định và phát triển của nền kinh tế và đời sống xã hội Do đó việc tham gia của NHNN vào việc xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước là rất cần thiết – Việc giao quyền quản lý nhà nước cho NHNN còn nhằm thực hiện nguyên tắc nhà nước thống nhất, quản lý mọi hoạt động ngân hàng
– NHNN hoạt động vì lợi ích chung của quốc gia à NHNN mang tính công quyền à Thực hiền quyền quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng
17 Nêu sự giống và khác nhau cơ bản giữa chi nhánh NHNN với văn phòng đại diện của NHNN?
+ VP đại diện: ko được tiến hành hoạt động nghiệp vụ ngân hàng
18 Phân tích vai trò quan trọng của hoạt động ngân hàng đối với nền kinh tế Việt Nam Cho ví dụ chứng minh
Trang 20Thứ nhất, NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, hiệu quả, duy trì được sự ổn định của thị trường tiền tệ, tiếp tục kiểm soát được lạm phát ở mức 3,53%, thấp hơn mục tiêu Quốc hội đề ra, tạo dư địa để Chính phủ điều chỉnh giá các mặt hàng Nhà nước quản lý và tạo điều kiện thuận lợi cho chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác phát huy tác dụng Từ đó tạo nền tảng duy trì
ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát ở mức thấp trong trung và dài hạn Thứ hai, tỷ giá, thị trường ngoại tệ, thị trường vàng được điều hành ổn định và diễn biến tích cực, tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ xuất khẩu, thực hiện tốt mục tiêu chống
đô la hóa, vàng hóa Thủ tướng nhấn mạnh: “Chính sách tỷ giá hợp lý đã giúp tăng nhanh quỹ dự trữ ngoại hối nhà nước lên trên 53 tỷ USD, mức cao nhất từ trước đến nay, góp phần huy động được nguồn lực ngoại tệ, củng cố vị thế, tăng tiềm lực
và uy tín quốc gia, tạo lòng tin cho các nhà đầu tư ngoài nước, ngưởi dân trong nước”
Thứ ba, ngành Ngân hàng tiếp tục phát huy vai trò là kênh cung ứng vốn chủ yếu cho nền kinh tế với tổng dư nợ tín dụng đến cuối năm 2017 đạt trên 6,5 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 18%, tức là đã cung ứng thêm 1,2 triệu tỷ đồng nguồn vốn cho nền kinh tế trong năm 2017 Kết quả này đã góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng đạt 6,81%, vượt kế hoạch đề ra
Cơ cấu tín dụng đã có sự chuyển dịch tích cực, vốn tín dụng tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên với nhiều chương trình tín dụng ưu đãi được triển khai tích cực tạo động lực hỗ trợ trực tiếp cho các ngành, lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế Tín dụng đối với doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp, công nghiệp phụ trợ, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa… đều đạt mức tăng trưởng cao Tín dụng đối với các lĩnh vực rủi ro (chứng khoán, bất động sản…) được kiểm soát tương đối tốt Chính sách lãi suất được điều hành hợp lý Lãi suất cho vay trong năm qua đã giảm 0,5-1% giúp doanh nghiệp giảm bớt chi phí vốn Các ngân hàng cam kết sau Hội nghị này tiếp tục giảm tiếp 0,5%
Các chương trình tín dụng cho vay người nghèo và các đối tượng chính sách tiếp tục phát huy hiệu quả và đóng góp tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo bền vững, đảm bảo an sinh xã hội của đất nước, xây dựng nông thôn mới và hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi ở vùng nông thôn
Trang 21Thứ tư, quá trình cơ cấu lại hệ thống các TCTD và xử lý nợ xấu giai đoạn 2 2020) được ngành Ngân hàng quan tâm triển khai ngay từ đầu nhiệm kỳ Ngành Ngân hàng đã tích cực xây dựng, trình Chính phủ ban hành Đề án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu và chủ động đề xuất hoàn thiện hành lang pháp lý giúp đẩy nhanh quá trình này với 2 văn bản pháp lý quan trọng được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 3 và thứ 4 là Nghị quyết 42 về thí điểm xử lý nợ xấu và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Các TCTD
(2016-Chính sách tốt sẽ làm cho hoạt động Ngành tốt, tiếp tục củng cố niềm tin đối với
hệ thống ngân hàng, góp phần đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu nền kinh tế
Kết quả tái cơ cấu và xử lý nợ xấu bước đầu đã giúp hệ thống ngân hàng tiếp tục duy trì được sự ổn định, ngăn ngừa được nguy cơ gây mất an toàn hệ thống và từng bước cải thiện tình hình hoạt động của các tổ chức tín dụng yếu kém; đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho các NHTMCP lành mạnh cải thiện chất lượng hoạt động kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh Qua đó tiếp tục củng cố niềm tin của người dân đối với hệ thống ngân hàng và đóng góp thiết thực vào quá trình tái
cơ cấu tổng thể nền kinh tế
Thứ năm, công tác cải cách hành chính và cải thiện môi trường kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng tiếp tục đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, có ý nghĩa thiết thực tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận với nguồn vốn tín dụng và dịch vụ ngân hàng Nhờ đó, chỉ số “Tiếp cận tín dụng” của Việt Nam đã tăng 3 bậc và đứng thứ 4 trong ASEAN Năm 2017 cũng là năm thứ hai liên tiếp NHNN dẫn đầu các Bộ, ngành về chỉ số cải cách hành chính
Thứ sáu, hệ thống NHTM đã thực hiện các hoạt động an sinh xã hội rất kịp thời cho vùng khó khăn Có những ngân hàng làm tới hàng chục trường học, làm hàng trăm ngôi nhà cho vùng bão lũ Các ngân hàng đã chia sẻ lợi ích của mình cho người nghèo, vùng thiên tai bão lũ
19 Tại sao ví hoạt động ngân hàng như “chỗ trũng của nền kinh tế”?
Ví hoạt động ngân hàng như “chỗ trũng của nền kinh tế” bởi hđ của ngân hàng đã kiểm soát được rủi ro thông qua hoạt động cho vay, do đó nó đóng góp vai trò rất lớn trong nền kinh tế
Vai trò đối với nền kinh tế
Trang 22* Cho vay góp phần thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tế
Do đặc điểm cho vay là quy mô rộng, khách hàng đa dạng mặt khác nó là hình thức kinh doanh chủ yếu của ngân hàng Với vai trò là trung gian tài chính ngân hàng đóng vai trò là cầu nối vốn cho nền kinh tế, giữa người thừa vốn và người cần vốn để đầu tư
“Tiền có giá trị theo thời gian” các nguồn vốn nhàn rỗi được tập hợp và đầu tư cho các phương án, dự án kinh doanh khác nhau đang cần vốn để thực hiện dự án Đáp ứng được nhu cầu vốn của dự án nghĩa là phương án, dự án đó được giải quyết về vấn đề vốn Đây là yếu tố khó khăn, Quan trọng để biến ý tưởng kinh doanh thành thực tế Và chính nó giải quyết được các vấn đề kinh tế xã hội như tăng trưởng, phát triển kinh tế Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động…
* Hoạt động cho vay góp phần mở rộng sản xuất, thúc đẩy đổi mới công nghệ, thiết
bị, cải tiến khoa học kỹ thuật…
Việc vay vốn không những giải quyết được nhu cầu vốn kinh doanh mà còn làm thay đổi cách nghĩ, cách làm … làm thế nào để sử dụng vốn có hiệu quả kinh tế và vấn đề phần mì rộng sản xuất, thúc đẩy đổi mới công nghệ, thiết bị, cải tiến khoa học kỹ thuật sẽ làm tiền đề cho sự phát triển có hiệu quả đó Trong đó vốn quyết định mọi vấn đề trong kinh doanh Đặc biệt trong xu thế hội nhập nền kinh tế thị trường thì đây là vấn đề quan trọng cần giải quyết của các doanh nghiệp Việt Nam Lợi ích của ngân hàng
Hoạt động cho vay là hoạt động chứa nhiều rủi ro tiềm ẩn, nhưng nó lại là hoạt động chính của ngân hàng cho vay Bên cạnh rủi ro tiềm ẩn thì ngân hàng cho vay thu được lãi suất phù hợp với các khoản vay đó và đó cũng là thu nhập chính của ngân hàng cho vay
Đối với ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường, cho vay là chức năng kinh tế cơ bản của ngân hàng Đối với các hầu hết các ngân hàng, dư nợ tín dụng chiếm tới hơn 50% tổng tài sản
có và thu nhập từ hoạt động cho vay chiếm khoảng từ ½ đến 2/3 tổng thu nhập của ngân hàng Mặt khác rủi ro trong họat động cho vay có xu hướng tập chung chủ yếu vào danh mục cho vay
Trang 23Khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng, thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động cho vay của ngân hàng, việc ngân hàng không thu hồi được vốn, có thể là do ngân hàng buông láng quản lý, cấp tín dụng không minh bạch, áp dụng một chính sách tín dụng kém hợp lý, hay do nền kinh tế đi xuống không lường trước hay do nguyên nhân chủ quan từ phía hach hàng …
20 Có nhận xét: “Hầu hết các cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội, chính trị đều xuất phát từ tâm điểm là cuộc khủng hoảng tài chính” Anh (chị) có bình luận
gì về nhận xét trên? Cho ví dụ thực tiễn
Thị trường hàng hoá, tiêu thụ thu hẹp: khủng hoảng kinh tế toàn cầu làm cho thị trưòng tiêu thụ hàng hoá thu hẹp, do sản xuất của doanh nghiệp; thu nhập người dân giảm mạnh Vì vậy nhu cầu về tiêu thụ hàng hoá sản phẩm giảm mạnh Đây là tác động rõ nét và cơ bản nhất đối với kinh tế đất nước, mà lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh xuất khẩu – là lĩnh vực chịu tác động lớn nhất Khó khăn này càng gia tăng, khi tổng giá trị xuất khẩu của nước ta chiếm tới 60% -70% GDP Hiệu ứng của khó khăn này tác động đến nền kinh tế và hoạt động ngân hàng là không nhỏ: hoạt động sản xuất kinh doanh thu hẹp; giá trị sản xuất công nghiệp giảm; tỷ
lệ thất nghiệp gia tăng và khó khăn trong quan hệ tín dụng ngân hàng – khách hàng (do doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm….);
+ Những diễn biến này đã và đang tác động mạnh đến hoạt động ngân hàng theo
xu hướng không tích cực Đặc biệt là trong lĩnh vực hoạt động tín dụng ngân hàng
Xu hướng tín dụng tăng trưởng chậm lại và nợ xấu phát sinh – là 02 biểu hiện rõ nét và có tác động ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của các NHTM: + Tín dụng tăng trưởng chậm, một mặt do các NHTM thận trọng trong cho vay vì thị trường biến động mạnh Mặt khác chính các Doanh nghiệp đã và đang hạn chế
mở rộng sản xuất kinh doanh do khó khăn thị trường, do khó khăn trong hoạt động tiêu thụ và ký kết hợp đồng Trong năm 2008 tín dụng trên địa bàn tăng 23,5% Trong khi đó tỷ lệ này năm 2007 là 64,4%; năm 2006 là 31% Tốc độ tăng trưởng 23,5 % của tín dụng ngân hàng, chủ yếu là do tăng trưởng cao trong các tháng đầu năm 2008 Trong các tháng cuối năm, tốc độ tăng trưởng tín dụng đã chậm lại và giảm so với các tháng đầu năm
+ Chất lượng tín dụng bị ảnh hưởng: Diễn biến này gắn liền với nguyên nhân khách quan từ quá trình luân chuyển vốn chậm của nền kinh tế, của doanh nghiệp
Trang 24(do sản xuất kinh doanh tăng trưởng chậm, do hàng hoá khó tiêu thụ…) dẫn đến khả năng thanh toán bị hạn chế, một số doanh nghiệp ứ đọng hàng hoá (đặc biệt là các doanh nghiệp ngành nhựa; doanh nghiệp kinh doanh sắt thép và lương thực….), do vậy ảnh hưởng trực tiếp đến các khoản tín dụng có liên quan
+ Bên cạnh đó tín dụng bất động sản luân chuyển chậm Nguyên nhân chính của tình hình này do thị trường bất động sản vẫn chưa khởi sắc: giá bất động sản giảm
và khó bán là 02 yếu tố tác động trực tiếp người vay, đến các khoản nợ cho vay bất động sản Đặc biệt là các khoản nợ cho vay kinh doanh bất động sản Chất lượng tín dụng bất động sản sẽ tiếp tục phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển, tăng trưởng trở lại của thị trường này
2 Nguồn vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là đầu tư trực tiếp giảm Đây cũng là tác động ảnh hưởng lớn Những khó khăn về tài chính của các tổ chức, doanh nghiệp, của chủ đầu tư nước ngoài trong điều kiện khủng hoảng tài chính là không nhỏ, điều này làm ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, theo xu hướng giảm về số lượng và quy mô vốn Qúa trình này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động đầu tư; sản xuất kinh doanh trong nước có liên quan đến vốn đầu tư nước ngoài Thông qua đó tác động trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng
và phát triển của nền kinh tế
3 Khủng hoảng kinh tê – tài chính toàn cầu có tác động gián tiếp đến thị trường tài chính tiền tệ và hoạt động ngân hàng Tác động này phản ánh trên 03 phương diện sau:
+ Dòng vốn đầu tư gián tiếp biến động mạnh Trong thời gian qua, thị trường chứng khoán trong nước liên tục điều chỉnh, với nhiều yếu tố tác động Trong đó việc bán ròng của các nhà đầu tư nước ngoài có tác động ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường, tạo hiệu ứng mạnh đến tâm lý nhà đầu tư, và làm cho thị trường liên tục giảm điểm trong thời gian qua Việc các tổ chức tài chính –chi nhánh hoặc công ty con đang hoạt động ở Việt Nam, rút vốn về nước nhằm cứu nguy hoặc đảm bảo an toàn cho các công ty mẹ Bên cạnh đó khủng hoảng tài chính cũng tạo tâm lý bảo toàn vốn; tâm lý nắm giữ tiền mặt hơn là cổ phiếu của các Nhà đầu tư – Đây là 02 nguyên nhân cơ bản mà nhà đầu tư nước ngoài bán ròng trong thời gian qua, có tác động ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán trong nước
Trang 25+ Các hoạt động đầu tư, liên kết góp vốn mua cổ phần của các nhà đầu tư chiến lược vào hệ thống ngân hàng trong nước giảm và hạn chế hơn Tác động mang tính gián tiếp này, chủ yếu ảnh hưởng đến chiến lược tăng trưởng vốn điều lệ của một
số NHTMCP ; hoặc không đạt được theo kế hoạch kỳ vọng Qua đó ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chiến lược đổi mới công nghệ ; phát triển dịch vụ cũng như tiếp cận và học tập kinh nghiệm quản trị, quản lý ngân hàng hiện đại của các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài Đây là tác động tạm thời và mang tính ngắn hạn + Những biến động của lãi suất; của giá vàng; của đồng Dolla Mỹ… trên các thị trường tiền
tệ thế giới trong điều kiện khủng hoảng thường biến động nhanh, liên tục và khó
dự báo Điều này tạo môi trường cho các hoạt động đầu cơ, và tác động ảnh hưởng nhất định đến thị trường tiền tệ ; thị trường ngoại hối…
21 Hoạt động tín dụng của NHNN có điểm khác biệt nào so với hoạt động tín dụng của TCTD?
Hai hoạt động này có sự khác biệt về bản chất Do hoạt động tín dụng của NHNN nhằm mục tiêu thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm an toàn cho hệ thống tín dụng
– Sự khác biệt:
+ ND hoạt động tín dụng:
_ của NHNN: bảo lãnh, tạm ứng cho ngân sách nhà nước, cho vay; chiết khấu giấy
tờ có giá và thương phiếu
_ của các TCTD: cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá và thương phiếu, bảo lãnh, cho thuê tài chính, hình thức khác
Trang 2622 Khái niệm luật ngân hàng? Khái niệm, phân loại đối tượng điều chỉnh luật ngân hàng? Anh (chị) có nhận xét gì về đối tượng điều chỉnh của luật ngân hàng?
Ở nước ta cũng như ở các quốc gia khác, sử dụng pháp luật để điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực ngân hàng là yêu cầu mang tính khách quan đôi với nhà nước Dựa vào hệ thống pháp luật hiện hành ở nước ta và quan niệm phổ biến ở các nước về mô hình ngành luật ngân hàng, có thể nêu định nghĩa luật ngân hàng như sau:
Luật ngân hàng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước tổ chức và quản lí hoạt động ngân hàng, các quan hệ về tổ chức, hoạt động của các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác
Như vậy, tương tự các ngành luật khác, đối tượng điều chỉnh của luật ngân hàng là các quan hệ xã hội
Căn cứ vào tính chất của quan hệ xã hội do Luật ngân hàng điều chỉnh và phương thức tác động của pháp luật, đối tượng điều chỉnh của Luật ngân hàng gồm hai nhóm chính: các quan hệ quản lí nhà nước về ngân hàng, các quan hệ tổ chức và kinh doanh ngân hàng
Các quan hệ quản lí nhà nước về ngân hàng là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước thực hiện hoạt động quản lí nhà nước đối với các hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế Ví dụ: quan hệ cấp, thu hồi giấy phép hoạt động ngân hàng, quan hệ thanh tra giữa Ngân hàng nhà nước với các tổ chức tín dụng V.V Đối với các quan hệ quản lí nhà nước về ngân hàng phương thức tác động của pháp luật (phương pháp điều chỉnh) là mệnh lệnh phục tùng
Các quan hệ tổ chức và kinh doanh ngân hàng là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, thực hiện hoạt động kinh doanh ngân hàng của các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác
Theo quy định của pháp luật, mô hình và cơ cấu tổ chức của các tổ chức tín dụng
do pháp luật quy định
Trang 27Các quan hệ kinh doanh ngân hàng phát sinh trong kinh doanh của các tổ chức tín dụng hoặc của các tổ chức khác được phép hoạt động ngân hàng được thiết lập trên
cơ sở bình đẳng Phương thức tác động của pháp luật đối với các quan hệ này là phương thức bình đẳng, thoả thuận
Căn cứ vào nội dụng điều chỉnh, đối tượng điều chinh của luật ngân hàng gồm các nhóm quan hệ xã hội sau:
– Quan hệ tổ chức và hoạt động của Ngân hàng nhà nước Việt Nam;
– Quan hệ tổ chức và hoạt động của các tổ chức tín dụng;
– Quan hệ kỉnh doanh ngân hàng của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng nhưng được Nhà nước cho phép thực hiện một số hoạt động kinh doanh ngân hàng
23 Nguồn điều chỉnh của luật ngân hàng là gì?
Nguồn của Luật Ngân hàng bao gồm:
24 Khái niệm, đặc điểm quan hệ pháp luật ngân hàng? Nhận xét gì về mức độ
“tự do ý chí” của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật ngân hàng
so với các quan hệ pháp luật khác?
Quan hệ pháp luật về ngân hàng là những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước về ngân hàng và những quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng được các quy phạm pháp luật ngân hàng điều chỉnh
Trang 28Chủ thể trong quan hệ pháp luật ngân hàng:
– Ngân hàng nhà nước Việt Nam và các Tổ chức tín dụng
– Chủ thể là Pháp nhân
– Chủ thể là cá nhân
Khách thể trong quan hệ pháp luật ngân hàng
– Tiền, hàng, các giấy tờ có giá, vàng và những dịch vụ tiện ích của ngân hàng Nội dung của quan hệ PLNH:
Bao gồm các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào quan hệPLNH cụ thể
25 Địa vị pháp lí của Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xác định rõ địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan của Chính phủ và là Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ Mục tiêu hoạt động của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, góp phần đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa Ngân hàng Nhà nước là một pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước Trên cơ sở địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã quy định rõ những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Ngân hàng Nhà nước
Luật các Tổ chức tín dụng là khuôn khổ pháp lý cơ bản cho việc thành lập, tổ chức, hoạt động của các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác tại nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Luật các Tổ chức tín dụng quy định Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho các tổ chức tín dụng và xác định các tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán Các loại hình tổ
Trang 29chức tín dụng là các tổ chức tín dụng Việt Nam gồm: tổ chức tín dụng nhà nước, tổ chức tín dụng cổ phần của Nhà nước và nhân dân, tổ chức tín dụng hợp tác; tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng phi ngân hàng 100% vốn nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, chi nhánh của ngân hàng nước ngoài Các loại hình tổ chức tín dụng chính là những thành phần kinh tế tham gia trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và thực hiện các chức năng cơ bản của ngân hàng thương mại
Chương 2: Địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
1 Anh (chị) hãy lý giải tại sao Việt Nam lại chọn mô hình ngân hàng trung ương là cơ quan ngang bộ của Chính phủ (không thuộc Quốc hội hay Bộ Tài chính)?
Ngân hàng nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xhcn Việt Nam Ngân hàng Nhà nước là pháp nhân
có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước, có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lí nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối (sau đây gọi là tiền tệ và ngân hàng); thực hiện chức năng của Ngân hàng trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ
Từ khái niệm trên có thể nhận thấy:
– Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Cơ quan quản lý nhà nước Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ, trực thuộc Chính Phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mang hàm Bộ trưởng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo những quy định tại các văn bản pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động của Chính phủ Quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệmThống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam theo các quy định pháp luật hiện hành trong Luật T
ổ chức Quốc hội và Luật tổ chức chính phủ
– Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng Với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sử dụng các phương thức và công cụ quản lý khi thực thi nhiệm vụ của mình,
Trang 30– Ngân hàng nhà nước Việt Nam là Ngân hàng trung ương Đây là điểm khác biệt giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với các Bộ khác trong Chính Phủ Ngân hàng nhà nước Việt Nam còn là một Ngân hàng Ngân hàng này thực hiện một số hoạt động ngân hàng đặc biệt, bao gồm: hoạt động độc quyền phát hành tiền; cung ứng các dịch vụ tài chính, tiền tệ cho Chính phủ và cho các tổ chức tín dụng
2 Tại sao pháp luật ngân hàng Việt Nam lại quy định: “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là một pháp nhân” Hãy chứng minh?
Về mặt dân sự, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là một pháp nhân Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước, Thủ tướng Chính phủ quy định mức vốn pháp định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam p hù hợp trong từng thời kỳ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hoạt động theo nguy ên tắc Chênh lệch thu, chi hàng năm của Ngân hàng Nhà nước được xác định từ nguồn thu về hoạt động nghiệp vụ ngân hàng và các nguồn thu khác, sau khi trừ chi phí hoạt động và khoản dự phòng rủi ro Ngân hàng Nhà nước trích từ chênh lệch thu, chi
để lập quỹ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia theo quy định của Chính phủ; số còn lại phải nộp vào ngân sách nhà nước
Được thành lập một cách hợp pháp Tiền thân của Ngân hàng nhà nước Việt Nam
là Ngân hàng quốc gia Việt Nam, được thành lập theo Sắc lệnh số 15 ngày 06.5.1951 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ Ngân hàng nhà nước Việt Nam được tổ chức thành hệ thống tập trung thống nhất gồm bộ máy điều hành và hoạt động nghiệp vụ tại trụ sở chính, các chỉ nhánh
ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các văn phòng đại điện ở trong nước,
ở ngoài nước và các đơn vị trực thuộc Theo Nghị định số 16/2017/NĐ-CP ngày 17/02/2017 quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có 26 đơn vị trực thuộc, trong đó 20 đơn vị giúp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước và chức năng Ngân hàng trung ương, 6 đơn vị là tổ chức sự nghiệp Trên cơ sở Nghị định số 16/2017/NĐ-CP, các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước được chia thành các vụ như: vụ chính sách tiền tệ; vụ quản lý ngoại hối; vụ thanh toán; vụ tín dụng; vụ tài chính… Có tài sản riêng và tác bạch với tài sản của thành viên và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình Có vốn pháp định, tiền phát hành vào lưu thông để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, tiền gửi của các
Tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà nước, vốn đi vay và vốn khác (theo quy định tại
Trang 31Điều 7 nghị định về chế độ tài chính của Ngân hàng nhà nước Việt Nam) Nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam là ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lí nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng, ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ Khi tham gia vào các quan hệ pháp luật ngân hàng, ngân hàng nhà nước Việt Nam nhân danh chính mình để thực hiện các công việc trên và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình
3 Những khoản vay nước ngoài nào phải thực hiện đăng ký với Ngân hàng Nhà nước?
Trả lời: Khoản vay thuộc đối tượng phải thực hiện đăng ký với Ngân hàng Nhà nước quy định tại Điều 9, Mục 1, Chương III, Thông tư 03/2016/TT-NHNN:
1 Khoản vay trung, dài hạn nước ngoài
2 Khoản vay ngắn hạn được gia hạn mà tổng thời hạn của khoản vay là trên 01 (một) năm
3 Khoản vay ngắn hạn không có hợp đồng gia hạn nhưng còn dư nợ gốc tại thời điểm tròn 01 (một) năm kể từ ngày rút vốn đầu tiên, trừ trường hợp Bên đi vay hoàn thành việc trả nợ khoản vay trong thời gian 10 (mười) ngày kể từ thời điểm tròn 01 (một) năm kể từ ngày rút vốn đầu tiên
4 Chứng minh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xác định rõ địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan của Chính phủ và là Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ Mục tiêu hoạt động của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, góp phần đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa Ngân hàng Nhà nước là một pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước Trên cơ sở
Trang 32địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã quy định rõ những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Ngân hàng Nhà nước
Luật các Tổ chức tín dụng là khuôn khổ pháp lý cơ bản cho việc thành lập, tổ chức, hoạt động của các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác tại nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Luật các Tổ chức tín dụng quy định Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho các tổ chức tín dụng và xác định các tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán Các loại hình tổ chức tín dụng là các tổ chức tín dụng Việt Nam gồm: tổ chức tín dụng nhà nước, tổ chức tín dụng cổ phần của Nhà nước và nhân dân, tổ chức tín dụng hợp tác; tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng phi ngân hàng 100% vốn nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, chi nhánh của ngân hàng nước ngoài Các loại hình tổ chức tín dụng chính là những thành phần kinh tế tham gia trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và thực hiện các chức năng cơ bản của ngân hàng thương mại
5 Trình bày cơ cấu tổ chức, lãnh đạo, điều hành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
*Hệ thống tổ chức của Ngân hàng Nhà nước
Do chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng nhà nước vừa mang tính quản
lí nhà nước chuyên ngành, vừa mang tính điều hành kinh tế nên hệ thống tổ chức
có những khác biệt so với các cơ quan quản lí nhà nước chuyên ngành ở các lĩnh vực khác
Theo quy định của Điều 7 Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam, Ngân hàng nhà nước được tổ chức thành hệ thống tập trung, thống nhất gồm bộ máy điều hành và các đơn vị hoạt động nghiệp vụ tại trụ sở chính, các chi nhánh, văn phòng đại diện, các đơn vị trực thuộc khác
Trụ sở chính của Ngân hàng nhà nước Việt Nam đặt tại Hà Nội, là trung tâm lãnh đạo, điều hành mọi hoạt động của Ngân hàng nhà nước
Trang 33Chi nhánh Ngân hàng nhà nước là đơn vị phụ thuộc của Ngân hàng nhà nước, không có tư cách pháp nhân, chịu sự lãnh đạo và điều hành tập trung thống nhất của thống đốc Chi nhánh Ngân hàng nhà nước thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo uỷ quyền của Thống đốc
Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của Ngân hàng nhà nước, có nhiệm vụ đại diện theo sự uỷ quyền của Thống đốc Khác với chi nhánh Ngân hàng nhà nước, văn phòng đại diện không được tiến hành hoạt động nghiệp vụ ngân hàng
Các đơn vị trực thuộc Ngân hàng nhà nước gồm có các đơn vị sự nghiệp (cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học, cung ứng dịch vụ tin học, thông tin và báo chí chuyên ngành ngân hàng) V.V
* Lãnh đạo và điều hành Ngân hàng nhà nước
Bộ máy lãnh đạo, điều hành ngân hàng trung ương ở các nước có hình thức tổ chức
đa dạng nhưng có thể khái quát thành hai dạng chính là bộ máy lãnh đạo, điều hành tập thể và bộ máy lãnh đạo điều hành theo chế độ một lãnh đạo (thủ trưởng chế) Với mô hình bộ máy lãnh đạo, điều hành ngân hàng trung ương hoạt động theo chế
độ tập thể thì ngoài thống đốc (chủ tịch) là người đại diện của ngân hàng trung ương còn có hội đồng quản trị (hoặc hội đồng chính sách tiền tệ hoặc hội đồng ngân hàng trung ương) Cơ chế hội đồng quản trị thường được áp dụng đối với loại hình ngân hàng trung ương thành lập dưới dạng công ty cổ phần Ví dụ: Hội đồng quản trị của Hệ thống dự trữ liên bang Hoa Kỳ (FED), Hội đồng quản trị của Ngân hàng quốc gia Hungari… Cơ chế hội đồng chính sách tiền tệ hay hội đồng ngân hàng trung ương thường được áp dụng đối với loại hình ngân hàng trung ương thuộc sở hữu nhà nước Ví dụ: Hội đồng chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương Pháp, Ngân hàng trung ương Hàn Quốc… phổ biến ở các nước, hội đồng quản trị, hội đồng chính sách tiền tệ, hội đồng ngân hàng trung ương là cơ cấu có quyền lực đối với hoạt động của ngân hàng trung ương
Với mô hình bộ máy lãnh đạo, điều hành ngân hàng trung ương hoạt động theo chế
độ một lãnh đạo thì thống đốc hoặc chủ tịch ngân hàng trung ương là người duy nhất chịu trách nhiệm trước nhà nước về toàn bộ hoạt động của ngân hàng trung ương Chẳng hạn, theo Điều 10 Luật ngân hàng nhân dân Trung Quốc năm 1995,
Trang 34thống đốc là người lãnh đạo và chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với hoạt động của ngân hàng trung ương trước Nhà nước
Ở Việt Nam trước đây, theo quy định tại Điều 4 và Điều 14 Pháp lệnh Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 1990, việc quản trị Ngân hàng nhà nước do hội đồng quản trị đảm nhiệm còn việc điều hành đặt dưới quyền của Thống đốc
Điều 11 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 1997 quy định: Thống đốc Ngân hàng nhà nước là thành viên Chính phủ, chịu trách nhiệm lãnh đạo và điều hành Ngân hàng nhà nước
Điều 8 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010 quy định:
1 Thống đốc Ngân hàng nhà nước là thành viên của Chính phủ, là người đứng đầu
và lãnh đạo Ngân hàng nhà nước; chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, trước Quốc hội về quản lí nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng
2 Thống đốc Ngân hàng nhà nước có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tổ chức và chỉ đạo thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia theo thẩm quyền;
b) Tổ chức và chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng nhà nước theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan;
c) Đại diện pháp nhân của Ngân hàng nhà nước
Như vậy, cơ chế lãnh đạo Ngân hàng nhà nước ở Việt Nam theo chế độ thủ trưởng chế Thống đốc Ngân hàng nhà nước là chức vụ vừa chịu trách nhiệm trước cơ quan hành pháp (Chính phủ), vừa chịu trách nhiệm trước cơ quan lập pháp (Quốc hội)
*Các Chi nhánh Ngân hàng nhà nước Việt Nam tỉnh, thành phố và văn phòng đại diện
Các Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của NHNN, chịu sự lãnh đạo và và điều hành tập trung của Thống đốc NHNN Chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố không có tư cách pháp nhân Chi nhánh NHNN thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo ủy quyền của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Trang 35Pháp luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam qui định các nhiệm vụ và quyền hạn của Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, văn phòng đại diện như sau[2]:
-Kiểm tra, thanh tra hoạt động ngân hàng trên địa bàn được phân công;
-Cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng của TCTD và giấy phép hoạt động ngân hàng cuả các tổ chức khác; quyết định giải thể, chia tách, hợp nhất, sáp nhập các TCTD trên địa bàn;
-Thực hiện tái cấp vốn và cho vay thanh toán;
-Cung ứng các dịch vụ thanh toán, ngân qũi và các dịch vụ ngân hàng khác cho TCTD và kho bạc nhà nước; Thực hiện các ủy quyền khác theo qui định cuả pháp luật
-Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không thực hiện giao dịch trực tiếp đối với tổ chức, cá nhân không phải là TCTD
Đối với các văn phòng đại diện của Ngân hàng nhà nước Việt Nam trong và ngoài nước là đơn vị phụ thuộc của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, có nhiệm vụ đại diện theo sự uỷ quyền của Thống đốc Văn phòng đại diện không được phép tiến hành các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng
Thời điểm hiện nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có Văn phòng đại diện tại TP HCM
Văn phòng đại diện tại nước ngoài
*Lãnh đạo, điều hành Ngân hàng nhà nước Việt Nam:
Đứng đầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là Thống đốc Ngân hàng Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là thành viên Chính phủ, mang hàm bộ trưởng, chịu trách nhiệm lãnh đạo và điều hành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Thống đốc có nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể:
-Chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn của NHNN
-Chịu trách nhiệm trước Thủ tướng chính phủ và Quốc hội về lĩnh vực mình phụ trách
Trang 36-Đại diện pháp nhân NHNNVN
Giúp việc cho Thống đốc có các Phó thống đốc
Đứng đầu các Vụ là vụ trưởng, chịu trách nhiệm hỗ trợ cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực chuyên môn được phân công Đứng đầu cơ quan ngang
vụ là các giám đốc Đối với chi nhánh của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ở địa phương, đứng đầu là giám đốc chi nhánh
Trong lãnh đạo, điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, chúng ta cũng cần
đề cập tới thanh tra ngân hàng và cơ quan tổng kiểm soát trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Thanh tra ngân hàng Thanh tra ngân hàng là thanh tra nhà nước chuyên ngành về ngân hàng, được tổ chức thành hệ thống thuộc bộ máy thuộc Ngân hàng nhà nước
Về cơ cấu tổ chức thanh tra ngân hàng gồm có:
-Thanh tra NHNN
-Thanh tra Chi nhánh NHNN tỉnh, thành phồ trực thuộc TW
Đối tượng thanh tra của thanh tra ngân hàng:
– Bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của người gửi tiền
– Phục vụ việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
Trang 37Nội dung thanh tra:
-Thanh tra việc chấp hành các qui định pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng – Phát hiện ngăn chặn, xử lý vi phạm (phạt vi phạmhành chánh, kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm…)
– Xác minh, kết luận , kiến nghị việc giải quyết khiếu nại, tố cáo…
*Cơ quan Tổng kiểm soát của thuộc Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Là đơn vị thuộc bộ máy Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có nhiệm vụ:
-Kiểm soát hoạt động của các đơn vị thuộc hệ thống NHNNVN
-Kiểm toán nội bộ với các đơn vị thực hiện nghiệp vụ NHNNVN
Tổ chức và nhiệm vụ của Tổng kiểm soát do Thống đốc NHNN qui định
6 Hội đồng chính sách tiền tệ quốc gia có phải là một bộ phận thuộc ngân hàng Nhà nước hay không? Chức năng của cơ quan này?
Nhiệm vụ của Hội đồng
Hội đồng thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Điều 2 Quyết định số 1079/QĐ-TTg ngày 17 tháng 6 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về thành lập Hội đồng Cụ thể như sau:
1 Căn cứ vào chương trình công tác hàng năm của Chính phủ, Hội đồng chủ động nghiên cứu đề xuất, có ý kiến tư vấn cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về những vấn đề nêu tại Điều 1 Quy chế này
2 Nghiên cứu, tư vấn một số vấn đề liên quan đến việc thực hiện chính sách và kế hoạch tài chính, tiền tệ, quản lý và phát triển thị trường tài chính và một số vấn đề mới phát sinh trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ theo yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc Chủ tịch Hội đồng
3 Nghiên cứu, tham gia ý kiến vào các báo cáo, đề án, chính sách, cơ chế tài chính, tiền tệ theo đề nghị của các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố để báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định
Trang 384 Tổ chức thảo luận, hội thảo, lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia, các doanh nhân, các nhà khoa học trong và ngoài nước về những chủ trương, chính sách, giải pháp thuộc lĩnh vực tài chính, tiền tệ khi cần thiết
5 Khảo sát, nghiên cứu thực tiễn trong và ngoài nước để có thêm thông tin nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả tư vấn về các vấn đề thuộc chức năng nhiệm vụ của Hội đồng
7 Có ý kiến cho rằng: Việc quy định thành lập chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ở mỗi tỉnh, thành phố như hiện nay là không cần thiết, làm cho bộ máy quản
lý hành chính cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả Anh (chị) có đồng ý với quan điểm trên hay không? Giải thích?
Không đồng ý với quan điểm Việc quy định thành lập chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ở mỗi tỉnh, thành phố như hiện nay là không cần thiết, làm cho bộ máy quản lý hành chính cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả, hoạt động ngân hàng vốn là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro, việc thành lập chi nhánh Ngân hàng nhà nước Việt Nam ở mỗi tỉnh, thành phố trước hết sẽ giúp giảm khối lượng công việc quản lí lớn của trụ sở ngân hàng nhà nước, từ đó nâng cao được hiệu quả quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối…Thêm vào đó, việc thành lập các chi nhánh ở các tỉnh, thành phố sẽ dễ dàng hơn cho công tác bảo đảm sự an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm sự an toàn, hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia vì các chi nhánh ở các tỉnh, thành phố sẽ nắm bắt được tình hình hoạt động của các tổ chức tín dụng tốt hơn
8 Anh (chị) có nhận xét gì về vị trí pháp lý và vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện nay? Có ý kiến cho rằng nên nâng cao hơn nữa vị thế và tính độc lập của ngân hàng Nhà nước trong bộ máy nhà nước ta hiện nay để ngân hàng Nhà nước có thể phát huy tích cực hiệu quả hoạt động của mình Anh (chị) hãy bày tỏ suy nghĩ của mình?
Điều 2 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010 quy định: Ngân hàng nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 39Như vậy, theo quy định này, Ngân hàng nhà nước vừa có vị trí là một bộ trong cơ cấu tổ chức của Chính phủ, vừa có vị trí là ngân hàng trung ương
Với vị trí pháp lí là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Chính phủ, Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Ngân hàng nhà nước là cơ quan ngang bộ có chức năng quản lí nhà nước về tiền tệ và ngân hàng
Với vị trí pháp lí của ngân hàng trung ương, Ngân hàng nhà nước là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và ngân hàng làm dịch vụ tiền
tệ cho Chính phủ
Hoạt động vì lợi ích chung của quốc gia là một trong những dấu hiệu thể hiện tính công quyền của ngân hàng trung ương Chính vì vậy, luật ngân hàng trung ương của các nước thường quy định cụ thể về mục tiêu hoạt động của ngân hàng trung ương Chẳng hạn, Điều 3 Chương I Luật ngân hàng Cộng hoà liên bang Đức (thông qua ngày 26/7/1957) quy định nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động của Ngân hàng Liên bang Đức như sau: Ngân hàng liên bang Đức có nhiệm vụ điều tiết hoạt động lưu thông tiền tệ và cung ứng tín dụng cho nền kinh tế nhằm mục đích ổn định tiền tệ… Còn Ngân hàng quốc gia Hungari, mặc dù được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần nhưng có mục tiêu hoạt động là nhằm hỗ trợ việc thực hiện các chương trình kinh tế của Chính phủ thông qua chính sách tiền tệ và tín dụng,
ổn định và bảo vệ sức mua trong và ngoài nước của đồng tiền quốc gia (Điều 3,4 Luật ngân hàng quốc gia Hungari năm 1991)
9 Thế nào là một NHTW hiện đại?
Câu hỏi tưởng chừng như rất đơn giản này cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng Không chỉ ở Việt Nam, ngay cả ở các nước trên thế giới cũng chưa có một định nghĩa chính thống nào về NHTW hiện đại
Đến nay, trên thế giới đã biết đến 3 mô hình NHTW:
(1) NHTW độc lập với Chính phủ;
(2) NHTW là một cơ quan thuộc Chính phủ;
và (3) NHTW thuộc Bộ Tài chính
Trang 40Liên quan đến việc lựa chọn mô hình NHTW, nhiều chuyên gia kinh tế nhất trí rằng không có mô hình NHTW nào là lý tưởng cho mọi quốc gia Sự lựa chọn này không hoàn toàn nằm trong ý muốn chủ quan mà còn phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch
sử, điều kiện kinh tế- xã hội và thể chế chính trị của từng nước
Điều đó có nghĩa rằng mỗi một quốc gia có thể vận dụng một mô hình NHTW khác nhau phù hợp với điều kiện thực tiễn của mình Ở nước ta, NHNN là cơ quan của Chính phủ và Thống đốc NHNN là thành viên Chính phủ Thời gian qua, khi bàn đến vấn đề cải cách NHNN, một số ý kiến cho rằng chúng ta nên lựa chọn mô hình NHTW độc lập với lý do cơ bản được đưa ra là NHTW càng độc lập thì mục tiêu duy trì tỷ lệ lạm phát thấp càng dễ thực hiện Về mặt lý thuyết, điều này là đúng, tuy nhiên, tác giả cho rằng trong thời điểm hiện nay và có thể trong nhiều năm tới, mô hình NHNN là một cơ quan của Chính phủ như hiện nay vẫn phù hợp với thể chế chính trị, đặc thù kinh tế- xã hội và hệ thống luật pháp của nước ta Tuy nhiên, để tăng cường hiệu quả hoạt động của NHNN với tư cách là một NHTW trong nền kinh tế thị trường, việc nâng cao tính độc lập của NHNN là hết sức cần thiết Nâng cao tính độc lập không có nghĩa là phải tách NHNN ra khỏi bộ máy Chính phủ mà cần phải trao thêm quyền cho Thống đốc- người đứng đầu NHNN- trong việc chủ động lựa chọn và điều hành các công cụ chính sách tiền tệ
10 Chính sách tiền tệ quốc gia là gì? Việc thực hiện chính sách tiền tệ này như thế nào? Bằng hiểu biết của mình, anh (chị) hãy cho ví dụ thực tiễn
Theo quy định tại khoản 1 điều 3 luật ngân hàng 2010 thì chính sách tiền tệ quốc gia được hiểu như sau:
Chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra.`
Công cụ thực hiện chính sách tiền tệ
Công cụ thực hiện chính sách tiền tệ là quá trình quản lý cung tiền của cơ quan quản lý tiền tệ thường là hướng tới một lãi suất mong để đạt được những mục đích
ổn định và tăng trưởng kinh tế như kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định tỷ giá hối