1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) tập bài GIẢNG môn CÔNG PHÁP QUỐC tế

207 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tập Bài Giảng Môn Công Pháp Quốc Tế
Người hướng dẫn ThS. Lê Thị Xuân Phương
Trường học Đại Học Duy Tân
Chuyên ngành Công Pháp Quốc Tế
Thể loại Tập bài giảng
Năm xuất bản 2021
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 207
Dung lượng 889,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là những tiền đề quan trọng làm cơ sở cho sự hình thành và pháttriển hệ thống các quy tắc ứng xử giữa các quốc gia với nhau, hay nói cách khácluật quốc tế hình thành và phát triển là

Trang 1

ĐẠI HỌC DUY TÂN

Trang 2

MỤC LỤC

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ MÔN HỌC 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 11

CHƯƠNG 1 KHÁI LUẬN CHUNG VỀ LUẬT QUỐC TẾ VÀ NGUỒN CỦA LUẬT QUỐC TẾ 12

1.1 Khái quát chung về luật quốc tế 12

1.1.1 Nguồn gốc hình thành và phát triển của luật quốc tế 12

1.1.2 Định nghĩa và đặc điểm của luật quốc tế 16

1.1.3 Đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế 19

1.2 Mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia 20

1.2.1 Học thuyết nhất nguyên luận 20

1.2.2 Học thuyết nhị nguyên luận 20

1.2.3 Quan điểm khoa học luật quốc tế hiện đại 20

1.3 Khái quát chung về nguồn của Luật quốc tế 22

1.3.1 Khái niệm nguồn của luật quốc tế 22

1.3.2 Cơ sở pháp lý xác định nguồn của luật quốc tế 23

1.3.3 Phân loại nguồn của luật quốc tế 24

1.4 Một số nguồn cơ bản của luật quốc tế 24

1.4.1 Điều ước quốc tế 24

1.4.2 Tập quán quốc tế 27

1.4.3 Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tế 29

1.5 Các phương tiện bổ trợ nguồn của luật quốc tế 30

1.5.1 Nguyên tắc pháp luật chung 31

1.5.2 Án lệ 32

1.5.3 Nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ 33

Trang 3

1.5.4 Hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia 34

1.5.5 Các học thuyết về luật quốc tế 35

1.6 Vấn đề pháp điển hóa luật quốc tế 38

CÂU HỎI ÔN TẬP 40

CHƯƠNG 2 CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT QUỐC TẾ 47

2.1 Khái quát chung về các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế 47

2.1.1 Định nghĩa các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế 47

2.1.2 Cơ sở pháp lý của các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế 48

2.1.3 Đặc điểm của các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế 49

2.1.4 Vai trò của các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế 51

2.2 Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia 52

2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia 52

2.2.3 Nội dung của nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia 53

2.2.3 Ngoại lệ của nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia 54

2.3 Nguyên tắc không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế 54

2.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển của nguyên tắc không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế 54

2.3.2 Nội dung của nguyên tắc không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế 56

2.2.3 Ngoại lệ của nguyên tắc không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế 58

2.4 Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế 60

2.4.1 Lịch sử hình thành và phát triển của nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế 60

Trang 4

2.4.2 Nội dung của nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế 61

2.4.3 Các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế 62

2.5 Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác 63

2.5.1 Lịch sử hình thành nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác 63

2.5.2 Nội dung của nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác 64

2.5.3 Ngoại lệ của nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác 65

2.6 Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác 66

2.6.1 Lịch sử hình thành nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác 66

2.6.2 Nội dung của nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác 67

2.7 Nguyên tắc dân tộc tự quyết 68

2.7.1 Lịch sử hình thành nguyên tắc dân tộc tự quyết 68

2.7.2 Nội dung của nguyên tắc dân tộc tự quyết 68

2.8 Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế 70

2.8.1 Lịch sử hình thành nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế 70

2.8.2 Nội dung nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế 71

2.8.3 Ngoại lệ của nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác 72

CÂU HỎI ÔN TẬP 73

CHƯƠNG 3 CHỦ THỂ CỦA LUẬT QUỐC TẾ 81

3.1 Khái quát chung về chủ thể của luật quốc tế 81

3.2 Quốc gia 82

Trang 5

3.2.1 Các vấn đề cơ bản về quốc gia trong luật pháp quốc tế 82

3.2.2 Công nhận quốc gia trong luật pháp quốc tế 86

3.2.3 Kế thừa quốc gia trong luật pháp quốc tế 88

2.2.4 Quyền và nghĩa vụ của quốc gia trong pháp luật quốc tế 91

3.3 Tổ chức quốc tế liên chính phủ 93

3.3.1 Khái quát chung về tổ chức quốc tế liên chính phủ 93

3.3.2 Địa vị pháp lý của tổ chức quốc tế liên chính phủ 94

3.4 Các dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết 95

3.5 Tòa thánh Vatican 97

CÂU HỎI ÔN TẬP 98

CHƯƠNG 4 LÃNH THỔ VÀ BIÊN GIỚI QUỐC GIA TRONG LUẬT QUỐC TẾ 103

4.1 Những vấn đề pháp lý cơ bản về lãnh thổ quốc gia 103

4.1.1 Khái quát chung về lãnh thổ quốc gia 103

4.1.2 Các bộ phận cấu thành lãnh thổ quốc gia 104

4.1.3 Bản chất pháp lý của lãnh thổ quốc gia 108

4.1.4 Vấn đề thay đổi lãnh thổ quốc gia 111

4.1.5 Vấn đề xác lập chủ quyền lãnh thổ 112

4.2 Những vấn đề pháp lý cơ bản về biên giới quốc gia 118

4.2.1 Khái quát chung về biên giới quốc gia 118

4.2.2 Các bộ phận cấu thành biên giới quốc gia 119

4.2.3 Các kiểu biên giới quốc gia 120

4.2.4 Phương thức xác định biên giới quốc gia 121

4.2.5 Quy chế pháp lý của biên giới quốc gia 123

4.3 Việt Nam và vấn đề xác định biên giới quốc gia 125

Trang 6

4.4 Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia 129

4.4.1 Nội thuỷ 129

4.4.2 Lãnh hải 139

4.5 Các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia 143

4.5.1 Vùng tiếp giáp lãnh hải 143

4.5.2 Vùng đặc quyền kinh tế 145

4.5.3 Vùng thềm lục địa 147

CÂU HỎI ÔN TẬP 152

CHƯƠNG 5 DÂN CƯ TRONG LUẬT QUỐC TẾ 160

5.1 Khái quát chung về dân cư trong luật quốc tế 160

5.2 Quyền của quốc gia đối với dân cư 161

5.2.1 Quốc tịch 161

5.2.2 Bảo hộ công dân 169

5.3 Địa vị pháp lý của người nước ngoài 171

5.3.1 Khái niệm và phân loại về người nước ngoài 171

5.3.2 Các chế độ pháp lý của người nước ngoài 171

5.3.3 Quyền cư trú của người nước ngoài theo pháp luật quốc tế 173

CÂU HỎI ÔN TẬP 176

CHƯƠNG 6 LUẬT NGOẠI GIAO VÀ LÃNH SỰ 181

6.1 Khái quát chung luật ngoại giao và lãnh sự 181

6.1.1 Khái niệm luật ngoại giao và lãnh sự 181

6.1.2 Nguồn của Luật ngoại giao và lãnh sự 182

6.1.3 Các nguyên tắc cơ bản của luật ngoại giao, lãnh sự 183

6.2 Cơ quan đại diện ngoại giao 186

Trang 7

6.2.1 Khái niệm cơ quan đại diện ngoại giao 186

6.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đại diện ngoại giao 187

6.2.3 Thành viên cơ quan đại diện ngoại giao 188

6.2.4 Đoàn ngoại giao 189

6.2.5 Quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao 190

6.3 Cơ quan lãnh sự 195

6.3.1 Khái niệm về cơ quan lãnh sự 195

6.3.2 Chức năng của cơ quan lãnh sự 196

6.3.3 Cấp lãnh sự và người đứng đầu cơ quan lãnh sự 198

6.3.4 Thành viên của cơ quan lãnh sự 198

6.3.5 Bổ nhiệm lãnh sự 199

6.3.6 Kết thúc chức năng lãnh sự 199

6.3.7 Khu vực lãnh sự 200

6.3.8 Đoàn lãnh sự 200

6.3.9 Quyền ưu đãi và miễn trừ lãnh sự 200

CÂU HỎI ÔN TẬP 202

Trang 8

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ MÔN HỌC

I MỤC TIÊU GIẢNG DẠY

a Về kiến thức:

- Trang bị cho sinh viên những vấn đề lý luận chung về hệ thống luật quốc tế(khái niệm, đặc điểm, cấu trúc, nguồn pháp lý)

- Giúp cho sinh viên phân biệt sự khác nhau giữa luật quốc tế và luật quốc gia

và mối quan hệ biện chứng giữa hai hệ thống pháp luật này

- Giúp sinh viên nắm được những vấn đề lý luận cơ bản về quốc gia với tưcách là chủ thể cơ bản của luật quốc tế

- Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về lý luận nguồn của Luậtquốc tế và mối quan hệ giữa các loại nguồn

- Giúp sinh viên nắm vững hệ thống các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế,

và sự dẫn chiếu của hệ thống nguyên tắc cơ bản này đến toàn bộ hệ thống pháp luậtquốc tế và mối quan hệ quốc tế của các quốc gia

- Giúp sinh viên nắm chắc kiến thức lý luận chung về luật quốc tế để làm nềntảng nghiên cứu các vấn đề pháp lý cụ thể của hệ thống pháp luật quốc tế

- Trang bị cho sinh viên các kiến thức lý luận và pháp lý cơ bản về yếu tố dân

cư trong quan hệ giữa các quốc gia với nhau, những nguyên nhân của tình trạngnhiều quốc tịch, không quốc tịch và hướng giải quyết tình trạng này và những vấn

đề cơ bản về quốc tịch

- Trang bị cho sinh viên các kiến thức pháp luật quốc tế nền tảng về vấn đềlãnh thổ, biên giới quốc gia, các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền vàquyền tài phán của quốc gia ven biển

- Giúp cho sinh viên nắm được một cách khái quát và tổng thể về các kiếnthức pháp lý trong điều chỉnh các quan hệ ngoại giao và lãnh sự giữa các quốc gia

và các chủ thể khác, trình tự thiết lập các cơ quan quan hệ đối ngoại ở nước ngoài

và quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao, lãnh sự 

Trang 9

- Sinh viên hình thành được tư duy pháp lý thông qua việc nghiên cứu các án

lệ quốc tế và đánh giá được mối liên hệ, xu hướng phát triển của pháp luật quốc giadựa trên sự phát triển của luật pháp quốc tế;

- Đánh giá đúng về các vấn đề pháp lý quốc tế hiện tại của Việt Nam như vấn

đề biên giới, giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, bảo hộ công dân đối với cáctrường hợp lao động ở nước ngoài,

- Có kỹ năng lập luận, thuyết trình và làm việc nhóm, về các vấn đề liên quantới công pháp quốc tế

c Về phẩm chất đạo đức:

Người học có đạo đức, tư cách tốt, có trình độ chuyên môn về pháp luật tronglĩnh vực công pháp quốc tế (luật quốc tế), hình thành được quan điểm đúng đắn vềcác quan hệ quốc tế từ đó có cách ứng xử phù hợp trong quan hệ quốc tế, quan hệ

xã hội

II.NỘI DUNG MÔN HỌC

Chương I: Khái luận chung về luật quốc tế và nguồn của luật quốc tế

Chương II: Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế

Chương III: Chủ thể của luật quốc tế

Chương IV: Lãnh thổ và biên giới quốc gia trong luật quốc tế

Chương V: Dân cư trong luật quốc tế

Chương VI: Luật ngoại giao và lãnh sự

Câu hỏi và bài tập

Trang 10

III.PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY

A2 VĂN BẢN PHÁP LUẬT

1 Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982

2 Công ước năm 1946 về quyền ưu đãi và miễn trừ của Liên hợp quốc

3.Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao

4 Công ước Viên năm 1963 về quan hệ lãnh sự

5 Công ước Viên năm 1973 về ngăn ngừa và trừng trị tội phạm chống những

cá nhân được hưởng sự bảo hộ quốc tế

6 Công ước Viên về kế thừa điều ước quốc tế năm 1978

7 Công ước Viên về kế thừa tài sản, hồ sơ lưu trữ và công nợ quốc gia năm1983

8 Hiến chương liên hợp quốc 1945

Trang 11

9 Tuyên bố năm 1970 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc về các nguyên tắc củaLuật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp vớiHiến chương Liên hợp quốc.

10 Công ước Montevideo ngày 26/12/1933 về quyền và nghĩa vụ của quốcgia

B HỌC LIỆU THAM KHẢO

1 Hugh Thirlway (2019), The Sources of International Law (2nd Edition),

Oxford University Press

2 Malcolm Shaw, International law, Cambridge University Press, Sixth

edition

3 Ngô Hữu Phước (2010), Luật quốc tế, NXB chính trị quốc gia.

4 Nguyễn Hồng Thao (1997), Những điều cần biết về luật biển, NXB Công

an nhân dân

5 Nguyễn Hồng Thao (2000), Tòa án công lý quốc tế, NXB Chính trị quốc

gia

6 Nguyễn Minh Tuấn (2006), Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật thế

giới, Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội.

7 Nguyễn Thị Kim Ngân, Chu Mạnh Hùng (2012), Giáo trình Luật quốc tế,

NXB Giáo dục Việt Nam

8 Vũ Dương Huân (2010), Ngoại giao và công tác ngoại gia, NXB Chính trịQuốc gia

Trang 12

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

tắt

1 UNCLOS Công ước của Liên hợp quốc về

luật biển

United Nations Convention

on Law of the Sea

3 ICJ Tòa án công lý quốc tế International Court of

Trang 13

CHƯƠNG 1 KHÁI LUẬN CHUNG VỀ LUẬT QUỐC TẾ VÀ NGUỒN CỦA LUẬT QUỐC TẾ

 Mục tiêu cần đạt được của chương:

- Phân biệt được công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế, hiểu được bản chấtcủa môn công pháp quốc tế là luật quốc tế

- Nắm được nguồn gốc hình thành và pháp triển của hệ thống pháp luậtquốc tế nói chung và luật quốc tế hiện đại nói riêng

- Nắm được định nghĩa, đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh, mốiquan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia

- Xác định được các vấn đề cơ bản liên quan đến nguồn của luật quốc tế

- Nêu và phân tích được vai trò và tầm quan trọng của các nguồn cơ bảncủa luật quốc tế

- Xác định được các nguồn bổ trợ của luật quốc tế, thứ tự áp dụng cácnguồn này trong quan hệ pháp lý quốc tế

1.1 Khái quát chung về luật quốc tế

1.1.1 Nguồn gốc hình thành và phát triển của luật quốc tế

Trên cơ sở chủ nghĩa Mac-Lenin, khẳng định, sự ra đời của nhà nước vàpháp luật là một hiện tượng khách quan, là sản phẩm tất yếu của một xã hội cógiai cấp Chính vì vậy, lịch sử hình thành của pháp luật quốc tế cũng không nằmngoài quy luật phát triển chung của nhà nước và pháp luật1 Bởi lẽ, nếu không có

sự hình thành của nhà nước và pháp luật của mỗi quốc gia sẽ không có sự hìnhthành và phát triển của luật pháp quốc tế

Xét trên phương diện lịch sử, việc hình thành hệ thống pháp luật quốc gia

là tiền đề cho sự ra đời, và phát triển của hệ thống pháp luật quốc tế Chính sựxuất hiện của nhà nước và pháp luật ở các khu vực địa lý khác nhau trên thế giới

1 Nguyễn Minh Tuấn, Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội,

2016, trang 40 - 41

Trang 14

đã làm phát sinh nhu cầu liên kết, hợp tác giữa các quốc gia nhằm thiết lập mộtmối quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia và hình thành một trật tự chung đểgiải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến các vấn đề như: phân định biêngiới, lãnh thổ; trao đổi hàng hóa; giải quyết các vấn đề về chiến tranh và hòabình, Đây là những tiền đề quan trọng làm cơ sở cho sự hình thành và pháttriển hệ thống các quy tắc ứng xử giữa các quốc gia với nhau, hay nói cách khácluật quốc tế hình thành và phát triển là một tất yếu khách quan của lịch sử, làmột sản phẩm của xã hội có giai cấp và gắng liền với sự hình thành, tồn tại vàphát triển của nhà nước và pháp luật nói chung.2

Tóm lại, có thể khẳng định rằng, nguồn gốc xuất hiện của hệ thống phápluật quốc tế chính là nguồn gốc xuất hiện của nhà nước và pháp luật quốc gia

Có thể khái quát lịch sử hình thành và phát triển của luật quốc tế qua 04giai đoạn sau đây:

(1) Luật quốc tế thời cổ đại

Luật quốc tế thời cổ đại hay còn gọi là luật quốc tế thời kỳ chiếm hữu nô lệđược hình thành đầu tiên tại khu vực Lưỡng Hà và Ai Cập, nơi hình thành hainền văn minh của thế giới vào khoảng thế kỷ thứ XL (40) đầu thế kỷ thứ XXXtrước công nguyên Tiếp theo đó, luật quốc tế được hình thành ở một số nền vănminh khác của thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc ở Phương Đông hay Hy Lạp,

La Mã ở Phương Tây, Có thể kể đến một trong những văn bản pháp lý quốc tếđược hình thành sớm nhất trên thế giới là hiệp ước giữa những người cai trịLagash và Umma (khu vực Lưỡng Hà) vào khoảng năm 2100 Trước côngnguyên về phân định biên giới giữa các bên.3

Trong giai đoạn này, luật quốc tế được hình thành trên nền tảng kinh tếthấp kém, mối quan hệ giữa các quốc gia yếu ớt và rời rạc, bị cản trở bởi cácđiều kiện tự nhiên và phát triển xã hội còn nhiều hạn chế nên luật quốc tế thời

kỳ này chủ yếu mang tính khu vực, khép kín, tồn tại chủ yếu dưới dạng các luật

2 Ngô Hữu Phước, Luật quốc tế, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2010, trang 18

3 Malcolm Shaw, International law, Cambridge University Press, Sixth edition, p14.

Trang 15

lệ, tập quán về chiến tranh và phân định lãnh thổ Nhìn chung, trong thời kỳ này,khoa học luật quốc tế chưa được hình thành Tuy nhiên việc xuất hiện của một

số chế định cũng cho thấy sự tiến bộ trong nên lập pháp thời kỳ cổ đại Có thể

kể đến như: tính nhân đạo trong việc quy định cấm dùng thuốc độc và vũ khítẩm thuốc độc khi đánh nhau tại vùng La Mã, Hy Lạp, hay quy định “hai nướcgiao tranh không giết sứ giả” giữa Trung Quốc và một số quốc gia trong khuvực

(2) Luật quốc tế thời kỳ trung đại

Luật quốc tế trong thời kỳ này phản ánh tính chất phức tạp và vô cùng đadạng của xã hội phong kiến, luật quốc tế trong thời kỳ này cũng mang bản chấtphong kiến, phần lớn thể hiện ý chí của giai cấp thống trị Trong thời kỳ này,việc phân quyền, cát cứ và chiến tranh xảy ra liên miên, cùng với đó tôn giáongày càng phát triển mạnh và ảnh hưởng sâu sắc đến các mối quan hệ và nềntảng xã hội Chính vì vậy, tôn giáo có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc hìnhthành các quan hệ quốc tế giữa các quốc gia

Cũng trong thời kỳ này, nền kinh tế của các quốc gia có sự phát triển hơn

so với giai đoạn trước, chính vì vậy nhu cầu trao đổi hàng hóa đã vượt tra khỏikhuôn khổ khu vực, bước đầu hình thành tính liên khu vực, liên quốc gia trongquan hệ quốc tế Một số trung tâm luật quốc tế đã được hình thành tại Châu Âu,Nga, Tây Nam Địa Trung Hải, Ấn Độ, Trung Hoa Khoa học luật quốc tế trongthời kỳ này cũng được hình thành với sự xuất hiện của nhiều học giả tiêu biểuvới các tác phẩm pháp lý quốc tế quan trong làm tiền đề cho sự phát triển củamột số nguyên tắc, chế định pháp lý quốc tế hiện tại Có thể kể đến các tác phẩmcủa Hugo Grotius, cha đẻ của Luật quốc tế như: De Jure Belli ac Pacis (1625,

Về quy luật của Chiến tranh và Hòa bình); Mare Liberum (1609, Về Tự do biểncả).4

(3) Luật quốc tế thời kỳ cận đại

4 Ngô Hữu Phước, Luật quốc tế, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2010, trang 21 - 22

Trang 16

Trong thời kỳ này, luật quốc tế có sự phát triển đáng kể, vượt ra ngoàikhuôn khổ khu vực và liên khu vực và hướng đến việc xây dựng các trật tựchung của thế giới Luật quốc tế trong giai đoạn này có sự phát triển rực rỡ,trong đó, phải kể đến sự ra đời của các nguyên tắc mới về luật quốc tế như:nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ củanhau, … Luật quốc tế trong giai đoạn này cũng phát triển trên 02 phương diện:luật thực định và khoa học pháp lý quốc tế

Đáng chú ý hơn, trong giai đoạn này cũng đã đánh dấu sự ra đời của một số

tổ chức quốc tế đầu tiên như: Liên minh điện tín quốc tế (1865), Liên minh bưuchính thế giới (1879) Điều này cho ta thấy quan hệ giữa các quốc gia trongcộng đồng quốc tế lúc bấy giờ đã phát triển vượt bậc Đặt nền móng cho sự pháttriển của các tổ chức quốc tế liên chính phủ sau này, đây cũng là một loại chủthể đặc biệt trong luật quốc tế

Tuy nhiên, đặc trưng cơ bản của luật quốc tế thời kỳ này là luật quốc tế củacác quốc gia tư bản vì chỉ có các quốc gia được gọi là văn minh mới có quyềntham gia vào các quan hệ quốc tế với tư cách là chủ thể của luật quốc tế Do đó,luật quốc tế thời kỳ này vẫn còn tồn tại những học thuyết, những tư tưởng mangtính chất lạc hậu như chế độ bảo hộ, nô dịch, quyền chiến tranh bị hạn chếnhưng chưa được ngăn cấm một cách triệt để

(4) Luật quốc tế thời kỳ hiện đại

Luật quốc tế hiện đại bắt đầu từ những thay đổi sâu sắc trong quan hệ quốc

tế giữa các quốc gia và thành quả của cuộc Cách mạng tháng mười Nga 1917.Trong gia đoạn này, hàng loạt các quốc gia trên thế giới đứng lên đấu tranhgiành quyền độc lập đã tác động tích cực và ảnh hưởng tiến bộ đến sự phát triểncủa luật quốc tế thông qua việc các quốc gia tham gia ngày càng nhiều hơn vàocác diễn đàn, hội nghị, tổ chức quốc tế và ký kết các điều ước quốc tế songphương đa phương Cũng trong giai đoạn này, các nguyên tắc cơ bản của luậtquốc tế được các quốc gia xây dựng và ghi nhận trong Hiến chương LHQ

Trang 17

Bên cạnh đó, các ngành luật độc lập của pháp luật quốc tế như luật điềuước quốc tế, Luật ngoại giao lãnh sự, Luật biển quốc tế, Luật hàng không dândụng quốc tế, Luật môi trường quốc tế, Luật nhân đạo quốc tế, và các nguyêntắc, quy phạm tiến bộ trước đó ngày càng được cũng cố, hoàn thiện, có tính kếthừa để điều chỉnh các quan hệ quốc tế phát sinh trong thời kỳ mới, đảm bảo hòabình, an ninh và tiến bộ của xã hội.5

1.1.2 Định nghĩa và đặc điểm của luật quốc tế

Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng cùng tồn tại và phát triển Nhànước hình thành và phát triển không thể thiếu pháp luật Ngược lại, pháp luậtđược ban hành bởi nhà nước Do đó, không có nhà nước thì sẽ không có phápluật Các quan hệ xã hội trong một quốc gia được điều chỉnh bởi hệ thống phápluật quốc gia còn quan hệ giữa các quốc gia với nhau được điều chỉnh bởi một

hệ thống pháp luật đặc biệt còn gọi là luật quốc tế Hệ thống pháp luật này tuyđược hình thành và tồn tại độc lập, khác hẳn với trình tự và thẩm quyền lập phápcủa pháp luật quốc gia nhưng nó có quan hệ tác động qua lại với hệ thống phápluật quốc gia

Luật quốc tế được phân chia thành luật xung đột (hay còn gọi là Tư phápquốc tế) và công pháp quốc tế (hay còn gọi là luật quốc tế) Trong đó, đối tượngđiều chỉnh của tư pháp quốc tế là các quan hệ dân sự - kinh tế - thương mại,quan hệ lao động, quan hệ hôn nhân và gia đình mang yếu tố nước ngoài Ngoài

ra tư pháp quốc tế còn điều chỉnh các vấn đề liên quan đến thẩm quyền xét xửcủa cơ quan tư pháp đối với các lĩnh vực nêu trên Trong khi đó, công pháp quốc

tế, hay luật quốc tế trong khuôn khổ của môn học này điều chỉnh các quan hệphát sinh giữa các quốc gia, các quan hệ mang tính liên chính phủ phát sinhtrong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, giữa các quốc gia và vùng lãnhthổ với nhau.6

5 Ngô Hữu Phước, Luật quốc tế, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2010, trang 42

6 Nguyễn Bá Diến, Giáo trình công pháp quốc tế, Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội, năm 2014, trang 26-27.

Trang 18

Giống như hầu hết các hệ thống pháp luật khác, hệ thống pháp luật quốc tếcũng bao gồm một hệ thống các nguyên tắc, quy phạm pháp luật được các chủthể của luật quốc tế ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ

xã hội phát sinh trong các quan hệ quốc tế Xét dưới khía cạnh ban hành phápluật, hệ thống pháp luật quốc tế được ban hành bởi các chủ thể của luật quốc tế

mà trước tiên và chính yếu nhất là các quốc gia, bên cạnh đó, luật quốc tế cònđược ban hành bởi các chủ thể đặc biệt khác bao gồm các tổ chức liên chính phủ

và các dân tộc đang đấu tranh giành quyền độc lập Ngoài ra, xuất phát từ vai tròbình đẳng giữa các quốc gia trong quan hệ luật quốc tế, việc ban hành hệ thốngpháp luật quốc tế cũng được tiến hành dựa trên nguyên tắc bình đẳng thông quacác thỏa thuận song phương và đa phương giữa các quốc gia

Từ đó, có thể đi đến kết luận chung về định nghĩa của luật quốc tế như sau:

“Luật quốc tế là một hệ thống các nguyên tắc và các quy phạm pháp luật, được

các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận xây dựng trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng nhằm điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa các chủ thể của luật quốc tế trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế”

Qua đó, luật quốc tế góp phần đóng góp to lớn vào sự hình thành và pháttriển của hệ thống pháp luật trên toàn cầu với các vai trò cụ thể sau đây:

(1) Là công cụ điều chỉnh các quan hệ quốc tế nhằm bảo vệ lợi ích của mỗichủ thể của luật quốc tế trong quan hệ quốc tế

(2) Là công cụ, là nhân tố quan trọng nhất để bảo vệ hòa bình và an ninhquốc tế

(3) Có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển văn minh của nhân loại,thúc đẩy cộng đồng quốc tế phát triển theo hướng ngày càng văn minh

(4) Thúc đẩy việc phát triển các quan hệ hợp tác quốc tế đặc biệt là quan hệkinh tế quốc tế trong bối cảnh hiện nay

Đặc điểm của Luật quốc tế

Trang 19

Như đã khẳng định, pháp luật quốc tế có những đặc điểm hoàn toàn khácbiệt với hệ thống pháp luật quốc gia, Những nét đặc trưng cơ bản của Luật quốc

tế thể hiện ở các khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, luật quốc tế được xây dựng trên cơ sở thỏa thuận, thể hiện sự

thống nhất ý chí của các chủ thể Điều này xuất phát từ việc chủ thể của luậtquốc tế là các quốc gia, các tổ chức liên chính phủ với địa vị pháp lý quốc tếngang nhau, do đó không có sự áp đặt, duy ý chí trong việc xây dựng và hìnhthành pháp luật Hệ thống pháp luật quốc tế chỉ thực sự có hiệu lực khi được sựchấp thuận của các quốc gia thông qua việc ký kết, phê chuẩn, gia nhập các điềuước quốc tế

Thứ hai, hệ thống luật quốc tế không có hệ thống cơ quan tư pháp như đối

với pháp luật quốc gia Theo quy chế của các thiết chế tài phán quốc tế như ICJ,Tòa trọng tài quốc tế, Tòa án luật biển quốc tế, tòa án chỉ có thẩm quyền xét

xử khi được sự chấp thuận thẩm quyền của các bên tranh chấp Nói cách khác,thẩm quyền của Tòa án chỉ phát sinh dựa trên cơ sở sự đồng ý, chấp thuận rõràng giữa các quốc gia

Thứ ba, luật quốc tế có hệ thống chế tài đặc biệt, phong phú Mặc dù hệ

thống pháp luật quốc tế được xây dựng dựa trên cơ sở sự thỏa thuận giữa cácquốc gia và mối quan hệ giữa các quốc gia là bình đẳng trong quan hệ quốc tế.Tuy nhiên, trong trường hợp các chủ thể vi phạm các cam kết và nghĩa vụ quốc

tế thì họ phải gánh chịu những trách nhiệm những trách nhiệm pháp lý tươngứng, hay nói cách khác là phải chịu những chế tài của luật quốc tế Các chế tàicủa Luật quốc tế thể hiện qua các đặc điểm sau:

(1) Chế tài của luật quốc tế do chính các quốc gia tự thực hiện theo nhữngcách thức riêng lẻ hoặc tập thể, trong một số trường hợp chế tài của luật quốc tếđược thực hiện bởi các cơ quan tài phán quốc tế Xuất phát từ việc luật phápquốc tế không có một cơ quan hành pháp riêng biệt, do đó trong một số trường

Trang 20

hợp việc thực thi pháp luật của luất quốc tế được tiến hành thông qua việc huyđộng các lực lượng quân đội từ chính các quốc gia thành viên

(2) Các chế tài do quốc gia áp dụng trong trường hợp có vi phạm pháp luậtcủa một chủ thể khác Các chủ thể của luật quốc tế áp dụng nhiều cách thức,biện pháp khác nhau để đảm bảo cho việc thực thi hệ thống pháp luật quốc tế.Bên cạnh các biện pháp mang tính pháp lý, các chủ thể này còn sử dụng các yếu

tố chính trị - xã hội để tạo sự hiệu quả trong việc thực thi pháp luật quốc tế Cóthể khái quát cá chế tài của luật quốc tế qua các hình thức chính sau: (i) Chế tàiphi hình sự: công khai xin lỗi, cắt đứt quan hệ ngoại giao, cấm vận, (ii) Chếtài hình sự: áp dụng đối với các tội ác chống lại loài người, tội diệt chủng, Vídụ: Tòa án xét xử tội ác Khmer Đỏ (ECCC) được thành lập tại Campuchia năm

2018 dưới sự bảo trợ của LHQ đã tuyên Pol Pot và các đồng phạm tội diệtchủng và áp dụng chế tài hình sự đối với một số đối tượng thuộc tổ chức tộiphạm này; (iii) Chế tài quân sự: áp dụng các biện pháp trừng phạt bằng lựclượng vũ trang đối với các quốc gia vi phạm hòa bình hoặc đe dọa hòa bình

Điều 42 Hiến chương LHQ quy định: “Hội đồng bảo an có quyền áp dụng mọi

hành động của hải, lục, không quân mà Hội đồng bảo an xét thấy cần thiết cho việc duy trì hoặc khôi phục hòa bình và an ninh quốc tế.”

1.1.3 Đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế

Mỗi ngành luật đều có đối tượng điều chỉnh riêng, trong đó đối tượng điềuchỉnh của từng ngành luật là một hệ thống các quan hệ xã hội nhất định có mốiquan hệ gần gũi và có tính chất giống nhau, đối tượng điều chỉnh của pháp luậtcũng là một trong những tiêu chí quan trọng để phân chia các ngành luật Luậtquốc tế là một ngành luật đặc biệt, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trongđời sống quốc tế Có thể khái quát các quan hệ phát sinh trong đời sống quốc tếbao gồm: quan hệ chính trị, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hóa, xã hội giữacác quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế với nhau, các quan hệ này

Trang 21

mang tính liên quốc gia, liên chính phủ, phát sinh trong mọi mặt của đời sốngquốc tế.7

Tóm lại, đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế là các quan hệ liên quốc gia,liên chính phủ giữa các chủ thể của luật quốc tế phát sinh trong quá trình quan

hệ quốc tế giữa các chủ thể của luật quốc tế với nhau ở những cấp độ và khuônkhổ hợp tác khác nhau trong mọi lĩnh vực về kinh tế, văn hóa, xã hội,

1.2 Mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia

Có nhiều học thuyết khác nhau liên quan đến mối quan hệ giữa luật quốc tế

và luật trong nước: Học thuyết nhất nguyên luận và học thuyết nhị nguyên luận

và quan điểm của khoa học luật quốc tế hiện đại

1.2.1 Học thuyết nhất nguyên luận

Trường phái này cho rằng luật quốc tế và pháp luật trong nước là hai bộphận của một hệ thống pháp luật thống nhất, trong đó bộ phận này phù thuộcvào bộ phận kia

Ở trong nội bô của trường phái này lại tồn tại hai quan điểm khác nhau, cụthể là: Một nhóm đại biểu cho rằng lật quốc tế phải được đặt lên trên pháp luậttrong nuớc Ngược lại, một nhóm đại biểu khác thì có quan điểm cho rằng phápluật trong nước phải được đặt lên trên luật quốc tế

1.2.2 Học thuyết nhị nguyên luận

Trường phái này cho rằng luật quốc tế và pháp luật trong nước là hai hệthống pháp luật khác nhau, song song cùng tồn tại nhưng biệt lập với nhau

1.2.3 Quan điểm khoa học luật quốc tế hiện đại

Quan điểm hiện nay, được đa số nhà nghiên cứu luật tán thành cho rằngluật quốc tế và pháp luật trong nước là hai hệ thống pháp luật khác nhau, songsong cùng tồn tại có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Luật quốc gia có ảnhhưởng, mang tính quyết định việc hình thành và phát triển của luật quốc tế và

7 Nguyễn Bá Diến, Giáo trình Công pháp quốc tế, Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội, năm 2014, trang 34.

Trang 22

luật quốc tế có tác động tích cực đến sự phát triển và hoàn thiện pháp luật quốcgia

Sự độc lập, khác nhau của luật trong nước và luật quốc tế thể hiện ở cáctiêu chuẩn như đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh, trình tự lập pháp,nguồn và các biện pháp đảm bảo thi hành….của hai hệ thống pháp luật này

Về quan hệ tác động qua lại lẫn nhau: Cả luật quốc tế và pháp luật trongnước đều chính là công cụ để thực hiện chính sách đối nội và đối ngoại của quốcgia

Đối với luật quốc tế, luật quốc gia có ảnh hưởng rất lớn trong qua trình đámphán, ký kết các điều ước quốc tế Trước tiên có thể nói đến trình tự, thủ tục vàthẩm quyền đàm phán Khi tiến hành đàm phán, ký kết điều ước quốc tế thì điềuước quốc tế đó phải phù hợp với pháp luật trong nứơc về trình tự, thẩm quyếnđàm phán và ký kết Do đó, nếu pháp luật quốc gia không rõ ràng và đầy đủ vềvấn đề trình tự, và thẩm quyền đàm phán, ký kết thì sẽ ảnh hưởng đến giá trịpháp lý của điều ước quốc tế nói riêng và luật quốc tế nói chung Ngoài ra, nếuquốc gia đàm phán tốt thì những quy định của pháp luật quốc gia mình có thểtrùng với những quy định của điều ước quốc tế Lúc đó, luật quốc gia sẽ đượctrở thàng những quy phạm pháp lý quốc tế Ngược lại, luật quốc tế ảnh hưởngrất lớn đến luật quốc gia Cụ thể, luật quốc tế khi được xây dựng, các quốc giathành viên phải tuân thủ bằng nguyên tắc tận tâm thực hiện các cam kết quốc tế(pacta sunt servande) Do đó, các quốc gia phải áp dụng luật quốc tế khi trongquan hệ với chủ thể mà mình đã thỏa thuận với nhau bằng những điều ứơc quốc

tế Nếu thấy rằng những quy định của điều ứơc quốc tế sẽ có lợi và làm cho hệthống pháp luật của quốc gia phát triển, phù hợp với xu thế phát triển của thờiđại thì các quốc gia phải nội luật hóa Có nghĩa là chuyển hóa các quy định củađiều ứơc quốc tế mà mình là thành viên hoặc những quy định của các điều ướcquốc tế tiến bộ khác thành những quy định của pháp luật trong nước

Trang 23

Ở Việt Nam, trong thời kỳ hội nhập quốc tế, vấn đề mối quan hệ giữa luậtquốc tế và luật quốc gia và giá trị pháp lý của hai hệ thống pháp luật này đang làvấn đề mang tính thời sự Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên của rất nhiềuđiều ước quốc tế đa phương và song phương Khi đã tham gia vào điều ước quốc

tế thì Việt Nam phải tuân thủ triệt để nguyên tắc Pacta sunt servanda - một trongnhững nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại Để đảm bảo tuân thủ nguyêntắc này, Việt Nam đã xây dựng cho mình những quy phạm pháp luật quốc gia về

ký kết và thực hiện điều ứơc quốc tế Đồng thời, trong các văn bản quy phạmpháp luật của quốc gia, Việt Nam đã nội luật hóa rất nhiều những quy định tiến

bộ của các điều ứơc quốc tế mà Việt Nam là thành viên Đối với những vấn đề

mà Việt Nam không thể nội luật hoá được do có sự khác nhau giữa các điều ướcquốc tế và bảo đảm điều chỉnh đối với những quan hệ pháp luật thì một giảipháp hữu hiệu để tuân thủ nguyên tắc Pacta sunt servanda là quy định trong cácvăn bản về giá trị pháp lý của các điều ước quốc tế khi có sự mâu thuẫn với điềuước quốc tế Ví dụ : Khi có sự mâu thuẫn giữa điều ước quốc tế với văn bản nàythì áp dụng điều ước quốc tế

CHƯƠNG 2 NGUỒN CỦA LUẬT QUỐC TẾ

1.3 Khái quát chung về nguồn của Luật quốc tế

1.3.1 Khái niệm nguồn của luật quốc tế

Nguồn của luật quốc tế là những hình thức biểu hiện sự tồn tại của luậtquốc tế, chứa đựng các nguyên tắc và các quy phạm pháp lý quốc tế nhằm điềuchỉnh các quan hệ quốc tế do chính các chủ thể xây dựng (ví dụ: điều ước quốctế) hoặc thừa nhận (ví dụ: tập quán quốc tế) trên cơ sở tự nguyện và bình đẳngnhằm điều chỉnh các quan hệ quốc tế giữa những chủ thể của luật quốc tế Nhưvậy, về cơ bản luật quốc tế được hình thành trên cơ sở sự thỏa thuận của cácquốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế

Trang 24

Trong khoa học pháp luật quốc tế hiện đại, có nhiều quan điểm khác nhau

về khái niệm nguồn của luật quốc tế Tuy nhiên, đều nằm trong 02 phạm vi sauđây:

Theo nghĩa hẹp, nguồn của luật quốc tế là hình thức chứa đựng, ghi nhậntất cả các nguyên tắc quy phạm pháp lý quốc tế nhằm xác định quyền và nghĩa

vụ pháp lý của các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế khi tham gia vàocác quan hệ quốc tế Theo đó, luật quốc tế gồm 02 loại nguồn cơ bản bao gồm:điều ước quốc tế và tập quán quốc tế.8

Theo nghĩa rộng, và được áp dụng rộng rãi hơn đối với hệ thống pháp luậtquốc tế hiện đại, nguồn của luật quốc tế là tất cả các nguyên tắc, quy phạm màcác thiết chế tài phán quốc tế và cơ quan có thẩm quyền có thể dựa vào đó đểđưa ra các quyết định pháp lý, các phán quyết quốc tế.9

1.3.2 Cơ sở pháp lý xác định nguồn của luật quốc tế

Đến thời điểm hiện tại việc viện dẫn, áp dụng các loại nguồn của luật quốc

tế hiện tại vẫn dựa trên khoản 1, Điều 38 Quy chế Toà ICJ như điểm bắt đầuthảo luận về nguồn của luật quốc tế Trong đó, khoản 1, Điều 38 Quy chế ToàICJ quy định10:

Tòa án, với chức năng là giải quyết phù hợp với luật quốc tế các vụ tranhchấp được chuyển đến Tòa án, sẽ áp dụng:

a Các điều ước quốc tế, chung hoặc riêng, đã quy định về những nguyên tắc được các bên đang tranh chấp thừa nhận;

b Các tập quán quốc tế như những chứng cứ thực tiễn chung, được thừa nhận như những quy phạm pháp luật;

c Nguyên tắc chung của luật được các quốc gia văn minh thừa nhận;

8 Nguyễn Bá Diến (2013), Giáo trình Công pháp quốc tế, Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội, trang 40

9 Hugh Thirlway (2019), The Sources of International Law (2nd Edition), Oxford University Press, p 1 - 2

10 International court of justice (1945), Statute of the International court of justice, Article 38 (1),

https://www.icj-cij.org/en/statute.

Trang 25

d Với điều kiện nêu ở Điều 59 quy chế Tòa, các án lệ và các học thuyết của các chuyên gia có chuyên môn cao nhất về luật quốc tế của các quốc gia khác nhau được coi là phương tiện để xác định các qui phạm pháp luật.

Như vậy, về cơ bản khoản 1, Điều 38 liệt kê khá đầy đủ các nguồn của luậtquốc tế Ngoài ra, chỉ có điều ước quốc tế và tập quán quốc tế mới được xem lànguồn chính thống của luật quốc tế,các nhóm còn lại chỉ được xem là phươngtiện bổ trợ nguồn

1.3.3 Phân loại nguồn của luật quốc tế

Căn cứ vào Điều 38, Quy chế ICJ cũng như hình thức biểu hiện sự tồn tạicủa các loại nguồn có thể phân chia nguồn của luật quốc tế thành 02 loại lànguồn thành văn và nguồn bất thành văn với nội dung chứa đựng các quy phạmpháp lý quốc tế, điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các quốc gia và các chủ thểkhác của luật quốc tế Trong đó: nguồn thành văn chính là các nguyên tắc, quyphạm pháp luật quốc tế chứa đựng trong các điều ước quốc tế song phương và

đa phương được các bên tham gia, ký kết thừa nhận Nguồn bất thành văn baogồm các tập quán quốc tế và các nguyên tắc pháp luật chung được các dân tộcvăn minh thừa nhận

Ngoài ra, trong quá trình thực hiện các chức năng của mình, ICJ và cácthiết chế tài phán quốc tế khác có thể sử dụng các án lệ, các học thuyết của cácchuyên gia có chuyên môn cao, các nguyên tắc pháp luật chung và các hình thứckhác được hình thành trong thực tiễn phát triển của luật quốc tế như các nghịquyết không bắt buộc của các tổ chức quốc tế, hành vi pháp lý đơn phương củacác quốc gia, được xem là những phương tiện bổ trợ nguồn của luật quốc tế

1.4 Một số nguồn cơ bản của luật quốc tế

1.4.1 Điều ước quốc tế

1.4.1.1 Khái niệm điều ước quốc tế

Trang 26

Điều ước quốc tế là nguồn cơ bản của luật quốc tế hiện đại Chúng là sựthỏa thuận giữa các chủ thể của luật quốc tế với nhau trên cơ sở tự nguyện, bìnhđẳng nhằm xác lập, thay đổi, hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ giữa các chủthể đối với nhau

Theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 2, Công ước Viên về Luật điềuước quốc tế năm 1969 thì “Thuật ngữ “điều ước” dùng để chỉ một thỏa thuậnquốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tếđiều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai haynhiều văn kiện có quan hệ với nhau và với bất kể tên gọi riêng của nó là gì.”11

Như vậy, Công ước Viên chỉ mới dừng lại ở vấn đề liên quan đến hình thức màchưa đề cập đến nội dung của điều ước quốc tế Mặc khác công ước cũng chỉmới dừng lại ở việc đề cập đến các quốc gia là chủ thể của việc ký kết các điềuước quốc tế mà chưa đề cập đến các chủ thể còn lại của luật quốc tế

Do đó, có thể mở rộng ra một cách phổ quát nhất, điều ước quốc tế là

những thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể đó với nhau thông qua các quy phạm pháp lý quốc tế bắt buộc được gọi là quy phạm điều ước

Hai yếu tố quan trọng nhất để một thỏa thuận có được xem là một điều ướcquốc tế hay không là (i) chủ thể ký kết phải là chủ thể của luật pháp quốc tế, (ii)việc ký kết điều ước quốc tế phải dựa trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng và (iii)luật điều chỉnh phải là luật pháp quốc tế Có nghĩa là, nếu các chủ thể ký kết mộtthoả thuận mà ghi nhận luật điều chỉnh là một hệ thống pháp lý khác với luậtpháp quốc tế (ví dụ như luật quốc gia của một bên) thì thoả thuận đó khôngđược xem là điều ước quốc tế Thoả thuận được luật quốc tế điều chỉnh mới làmphát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các chủ thể của luậtpháp quốc tế, và theo đó, mới được xem là điều ước quốc tế

11 United Nations, Vienna Convention on the Law of Treaties 1969, Article 2 Use of terms,

https://legal.un.org/ilc/texts/instruments/english/conventions/1_1_1969.pdf

Trang 27

Một điểm đáng lưu ý khác về hình thức của điều ước quốc tế, theo quy địnhcủa Công ước Viên về luật điều ước quốc tế năm 1969 (Công ước Viên năm1969) và Công ước Viên về luật điều ước giữa các quốc gia và các tổ chức quốc

tế năm 1986 (Công ước Viên năm 1986), điều ước quốc tế chỉ yêu cầu phải làthoả thuận bằng văn bản Tuy nhiên, tại Điều 3 của cả 02 công ước khi quy định

về nhưng hiệp định quốc tế không thuộc phạm vi của công ước đã không loại trừnhững điều điều ước quốc tế phi văn bản, nói cách khách, yêu cầu hình thức củamột điều ước quốc tế phải là văn bản không phải là một quy tắc bất di bất dịch.Tuy nhiên, trên thực tế, đến thời điểm hiện tại, hệ thống pháp luật quốc tế hiệnđại không tồn tại bất kỳ điều ước quốc tế nào nằm ngoài hệ thống điều ước quốc

tế thành văn

1.4.1.2 Điều kiện trở thành nguồn luật quốc tế của điều ước quốc tế

Khẳng định điều ước quốc tế là nguồn cơ bản và chủ yếu của hệ thống phápluật quốc tế Tuy nhiên, trên thực tế, không phải mọi điều ước quốc tế đều trởthành nguồn của luật quốc tế Để trở thành nguồn của luật quốc tế các điều ướcquốc tế cần đáp ứng được những điều kiện sau:

(1) Điều ước quốc tế phải được ký kết trên cơ sở tự nguyện và bình đẳnggiữa các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế với nhau

(2) Điều ước được ký kết phải phù hợp và tuân theo quy định có liên quantrong pháp luật của các bên ký kết về thẩm quyền, thủ tục ký kết

(3) Điều ước quốc tế được ký kết phải có nội dung phù hợp với nhữngnguyên tắc cơ bản và quy phạm Jus cogens của pháp luật quốc tế

(4) Chủ thể ký kết các điều ước quốc tế phải là chủ thể của luật quốc tế

1.4.1.3 Phân loại điều ước quốc tế

Căn cứ vào tên gọi, điều ước quốc tế có nhiều loại tên gọi khác nhau nhưcông ước, hiệp ước, hiệp định, nghị định thư, tuyên bố, hiến chương … Luậtquốc tế không có quy phạm bắt buộc về việc xác định tên gọi của các điều ước

Trang 28

quôc tế Các chủ thể liên quan căn cứ vào mức độ, nội dung và tập quán mà đặttên cho điều ứơc quốc tế mà mình đàm phán, ký kết Về hình thức cũng vậy,điều ước quốc tế không bắt buộc có những điều khoản rõ ràng như văn bản phápluật trong nước Có những điều ước quốc tế chỉ có nội dung cam kết giữa cácbên mà không có điều khoản nào cả Các điều ước này thông thường là nhữngtuyên bố của các tổ chức quốc tế.

Căn cứ vào số lượng chủ thể tham gia, điều ước quốc tế được phân thành:(1) Điều ước quốc tế đa phương, là điều ước quốc tế có sự tham gia của ít nhất

03 chủ thể của luật quốc tế: một số dạng thức của điều ước quốc tế đa phương

có thể kể đến như: (i) điều ước quốc tế phổ cập (Hiến chương LHQ, UNCLOS

1982, ), (ii) điều ước quốc tế khu vực (Tuyên bố về ứng xử của các bên ở BiểnĐông DOC, Hiến chương ASEAN) (2) Điều ước quốc tế song phương: là vănbản được ký kết bởi 02 quốc gia hoặc chủ thể khác của luật quốc tế

Căn cứ vào nội dung của điều ước quốc tế: điều ước quốc tế được phânthành điều ước chính trị, điều ước kinh tế - thương mại, điều ước tương trợ tưpháp,

1.4.1.4 Giá trị pháp lý của điều ước quốc tế

Xuất phát từ bản chất của điều ước quốc tế là sự thỏa thuận của các quốcgia và chủ thể khác của luật quốc tế, điều ước quốc tế có những giá trị pháp lý

cơ bản như sau12:

(1) Là hình thức pháp luật cơ bản chứa đựng các quy phạm pháp luật quốc

tế để tạo cơ sở pháp lý cho các quan hệ pháp luật quốc tế hình thành và pháttriển,

(2) Là công cụ, phương tiện để duy trì và tăng cường các quan hệ hợp tácgiữa các chủ thể

(3) Là cơ sở pháp lý quan trọng để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp củacác chủ thể

12 Nguyễn Bá Diến (2013), Giáo trình Công pháp quốc tế, Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội, trang 43.

Trang 29

(4) Là công cụ để xây dựng khung pháp luật hiện đại và tiến hành phápđiển hóa luật quốc tế

1.4.2 Tập quán quốc tế

1.4.2.1 Khái niệm tập quán quốc tế

Tập quán quốc tế là nguồn của luật quốc tế Nó ra đời ngay từ thời kỳ đầutiên trong quá trình phát triển của luật quốc tế, sớm hơn nhiều so điều ước quốc

Nói một cách tổng quát, tập quán quốc tế là hình thức pháp lý chứa đựng

quy tắc xử sự chung, hình thành trong thực tiễn quốc tế và được các chủ thể của luật quốc tế thừa nhận rộng rãi như là quy phạm pháp lý có tính chất bắt buộc 1.4.2.2 Điều kiện trở thành nguồn luật quốc tế của tập quán quốc tế

Cũng giống như điều ước quốc tế, không phải tất cả các tập quán quốc tếđều được công nhận là nguồn của luật quốc tế Một tập quán được xem là nguồncủa Luật quốc tế phải thỏa mãn các điều kiện sau:14

(1) Phải là quy tắc xử sự chung, hình thành trong quan hệ giữa các quốcgia, được các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế tuân thủ và áp dụng mộtcách tự nguyện

(2) Quy tắc xử sự được coi là tập quán quốc tế phải được các chủ thể củaluật quốc tế thừa nhận rộng rãi như những quy phạm pháp luật sử dụng lặp đilặp lại nhiều lần, trải qua một quá trình lâu dài

13 International court of justice (1945), Statute of the International court of justice, Article 38 (1) b,

https://www.icj-cij.org/en/statute.

14 Vụ liên quan đến các hoạt động quân sự và bán quân sự của Mỹ bên trong và chống lại Nicaragua (Nicaragua

v Mỹ), Phán quyết về nội dung của Tòa ICJ năm 1986, đoạn 183.

Trang 30

(3) Tập quán quốc tế phải có nội dung phù hợp với những nguyên tắc cơbản và những quy phạm Jus Cogens của luật quốc tế.

1.4.2.3 Giá trị pháp lý của tập quán quốc tế

Tập quán quốc tế có giá trị độc lập với điều ước quốc tế và các nguyên tắccủa luật quốc tế Tập quán quốc tế có vai trò quan trọng trong việc hình thànhnên các quy phạm pháp lý quốc tế trong các điều ước quốc tế Bởi vì các chủ thểcủa luật quốc tế mong muốn các tập quán này được thể hiện dưới hình thức vănbản để không phải giải thích hoặc xảy ra bất đồng quan điểm trong quá trình ápdụng Do đó, khi đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế thì các chủ thể thôngthường chuyển hóa những tập quán đã và đang tồn tại trên thực tế thành nhữngđiều khoản trong điều ước quốc tế

Tập quán quốc tế là nguồn điều chỉnh hữu hiệu quan hệ quốc tế giữa cácchủ thể khi những quan hệ đó không có quy phạm điều ước điều chỉnh Điều này

có nghĩa là khi có sự mâu thuẫn giữa tập quán quốc tế và điều ước quốc tế thìđiều ước quốc tế sẽ được các chủ thể áp dụng

1.4.3 Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tế

Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tế là mối quan hệbiện chứng, tác động qua lại với nhau, không loại trừ giá trị áp dụng của nhau.Mối quan hệ này được biểu hiện trên các phương diện sau:

(1) Tập quán quốc tế là cơ sở hình thành điều ước quốc tế và ngược lại Mối quan hệ này là mối quan hệ có tính biện chứng, thể hiện sự phát triểntiến bộ của luật quốc tế, nhiều quy phạm tập quán được thay thế hoặc phát triểnthành quy phạm điều ước quốc tế Ví dụ tập quán về nguyên tắc tự do biển cảtrong luật biển quốc tế được phát triển thành các quy phạm cụ thể trongUNCLOS thành các quyền tự do hàng hải, tự do hàng không, tự do đánh bắt hảisản, tự do nghiên cứu khoa học, tự do lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm và tự doxây dựng đảo nhân tạo và các công trình khác được pháp luật cho phép

Trang 31

(2) Tập quán có thể bị thay đổi, hủy bỏ bằng điều ước quốc tế và ngược lại

có trường hợp điều ước bị thay đổi, hủy bỏ bằng tập quán quốc tế (Ví dụ: Hìnhthành các quy phạm Jus cogens mới của luật quốc tế dưới dạng tập quán quốctế)

(3) Tập quán quốc tế tạo điều kiện mở rộng hiệu lực của điều ước quốc tế(Hiệu lực của điều ước quốc tế với bên thứ ba do việc viện dẫn quy phạm điềuước dưới dạng tập quán quốc tế)

1.5 Các phương tiện bổ trợ nguồn của luật quốc tế

Bên cạnh hai loại nguồn cơ bản của luật quốc là là điều ước quốc tế và tậpquán quốc tế, việc hình thành và phát triển của luật quốc tế còn dựa trên hệthống các phương tiện bổ trợ nguồn khác Theo đó, khoa học pháp lý quốc tếhiện đại ghi nhận các nguồn bổ trợ của hệ thống pháp luật quốc tế bao gồm: (1) Các nguyên tắc pháp luật chung được các dân tộc văn minh thừa nhận;(2) Các án lệ của các thiết chế tài phán quốc tế;

(3) Nghị quyết của các tổ chức quốc tế;

(4) Hành vi pháp lý đơn phương của các quốc gia;

(5) Các học thuyết về luật quốc tế

Sở dĩ các loại phương tiện bổ trợ nguồn này không thể tạo thành nguồn của

hệ thống pháp luật quốc tế là vì chúng không chứa đựng các nguyên tắc và cácquy phạm pháp luật quốc tế Tuy nhiên trong thực tiễn áp dụng pháp luật quốc tếcủa các chủ thể, các loại phương tiện bổ trợ nguồn này được cân nhắc sử dụngkhi mối quan hệ luật quốc tế cần điều chỉnh không có nguyên tắc hoặc quyphạm pháp luật quốc tế nào đề cập Đặc biệt, các phương tiện bổ trợ nguồn cógiá trị ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển của luật quốc tế, và có ýnghĩa quan trọng đối với thực tiễn xét xử và đưa ra các ý kiến tư vấn của cácthiết chế tài phán quốc tế

Trang 32

Các loại phương tiện bổ trợ nguồn này không được sử dụng để điều chỉnhtrực tiếp các quan hệ pháp luật quốc tế mà chỉ góp phần làm sáng tỏ tính chấtpháp lý của việc vận dụng các nguồn cơ bản của luật quốc tế vào thực tiễn màthôi

1.5.1 Nguyên tắc pháp luật chung

Theo Điều 38 Quy chế tòa ICJ, bên cạnh điều ước quốc tế và tập quán quốc

tế, Tòa ICJ áp dụng những “nguyên tắc pháp luật chung được các dân tộc vănminh thừa nhận” Các nguyên tắc pháp luật chung được xem là một nguồn đểlấp khoảng trống pháp lý khi một tranh chấp không có quy định điều ước haytập quán điều chỉnh

Trên thực tế, những quy định trong hệ thống pháp luật quốc tế hiện hànhkhông đưa ra giải thích về khái niệm nguyên tắc pháp luật chung Do đó, trongkhoa học pháp lý quốc tế vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về vấn đềnày Tuy nhiên quan điểm được thừa nhận khá rộng rãi hiện nay chính là quanđiểm cho rằng, các nguyên tắc pháp luật chung chính là các nguyên tắc đượccông nhận bởi đa số hệ thống pháp luật trên thế giới mà các thiết chế tài phánquốc tế sử dụng để giải thích và làm sáng tỏ nội dung quy phạm pháp luật quốc

tế Nguyên tắc pháp luật chung được áp dụng sau điều ước quốc tế và tập quánquốc tế với ý nghĩa để giải thích và làm sáng tỏ nội dung của quy phạm luậtquốc tế Các nguyên tắc pháp luật chung có hiệu lực ràng buộc với tất cả cácquốc gia, và không có ngoại lệ

Một số nguyên tắc pháp luật chung được áp dụng rộng rãi hiện nay có thể

kể đến như: Nguyên tắc “không ai có thể trao quyền cho người khác hơn nhữngquyền mà mình có” (Nemo plus iuris transfere (ad alium) potest quam ipsehabet), nguyên tắc “người gây thiệt hại phải bồi thường” (Principe de laréparation du préjudice causé),

Về mặt lý luận, các nguyên tắc pháp luật chung có vai trò đặc biệt quantrọng trong việc định hướng tư tưởng cho hoạt động xây dựng, giải thích và thực

Trang 33

hiện pháp luật trên thực tế Việc hiểu đúng và vận dụng đúng tinh thần, nội dungcủa các nguyên tắc chung của luật quốc tế sẽ thúc đẩy việc xây dựng, giải thích

và thực hiện pháp luật quốc tế thống nhất, đồng bộ và chính xác hơn

1.5.2 Án lệ

Án lệ, hay còn được hiểu là các quyết định của các thiết chế tài phán quốc

tế trong quá trình xét xử, giải quyết tranh chấp giữa các chủ thể của luật quốc tế.Các án lệ chỉ là những giải pháp của các thiết chế tài phán đối với những vấn đề

cụ thể và chỉ có giá trị đối với bên cam kết (res inter alios acta) Cụ thể Điều 59,Quy chế tòa ICJ nêu rõ “Quyết định của Tòa án chỉ có giá trị ràng buộc đối vớicác bên tham gia vụ án và chỉ liên quan đến vụ án cụ thể đó”

Tuy nhiên trên thực tế, các giải thích pháp lý trong các phán quyết có phạm

vi áp dụng vượt ra khỏi khuôn khổ của các bên tham gia vào vụ kiện Các giảithích pháp luật quốc tế trong các án lệ đã góp phần định hình các nguyên tắc,quy phạm được giải thích và có tác động đối với cả các quốc gia tham gia ký kếtcác điều ước quốc tế có liên quan hoặc chấp nhận thẩm quyền của thiết chế tàiphán đó mà không phải là một bên tham gia vụ kiện Các thiết chế tài phán quốc

tế cũng sử dụng những án lệ trước đó để giải thích và xác định những quy tắcpháp lý Vì vậy, án lệ là một nguồn bổ trợ để xác định các quy tắc luật.15

Bên cạnh đó, một số phán quyết quan trọng đã góp phần làm sáng tỏ nộidung của một số quy phạm pháp luật quốc tế, là cơ sở để hình thành một số quyphạm pháp lý quốc tế mới và có tác động tích cực đến các quan điểm, cách ứng

xử của các chủ thể luật quốc tế với nhau, cũng như có những bổ sung nhất địnhcho những khiếm khuyết trong hệ thống pháp luật quốc tế

Trong các thiết chế tài phán quốc tế, Tòa ICJ là cơ quan tài phán quantrọng, đây là cơ quan tài phán chính của LHQ và được thành lập theo Điều 92,Hiến chương LHQ Các phán quyết của thiết chế tài phán này đã góp phần làmsáng tỏ thêm luật quốc tế (Ví dụ: phán quyết vụ eo biển Crofu năm 1949 của

15 Nguyễn Hồng Thao, Tòa án công lý quốc tế, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000

Trang 34

Tòa đã góp phần làm sáng tỏ khái niệm eo biển quốc tế và nguyên tắc quyền điqua không gây hại qua eo biển quốc tế).16

1.5.3 Nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ

Nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chỉnh phủ là các quyết định được

tổ chức quốc tế đưa ra hoặc được các cơ quan của tổ chức đó đưa ra trong phạm

vi quyền hạn của mình theo quy định của tổ chức quốc tế Các quyết định nàythể hiện ý chí của tổ chức quốc tế đó và quan trọng hơn là các quốc gia thànhviên của tổ chức Tổ chức quốc tế càng phổ quát thì ý chí chung đó càng mangtính đại diện cao trong cộng đồng quốc tế

Mặc dù tại điểm d, khoản 1, Điều 38 Quy chế ICJ khi quy định về cácnguồn áp dụng của Tòa không đề cập đến nghị quyết của các tổ chức quốc tếliên chính phủ, tuy nhiên trên thực tế phương tiện bổ trợ nguồn này có đóng góplớn cho việc giải thích và áp dụng hệ thống pháp luật quốc tế

Các văn kiện của tổ chức quốc tế liên chính phủ có hiệu lực không đồngnhất gồm: nghị quyết có hiệu lực bắt buộc và nghị quyết không có hiệu lực bắtbuộc đối với các thành viên Trong đó, những nghị quyết mang tính chất khuyếnnghị có vai trò nhất định trong việc giải thích và áp dụng các quy phạm phápluật quốc tế, tạo tiền đề cho việc ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế.Ngược lại, những nghị quyết có giá trị bắt buộc sẽ là nguồn luật được viện dẫn

để giải quyết các quan hệ phát sinh của giữa các quốc gia thành viên của tổ chứcđó

Bên cạnh hiệu lực ràng buộc, vai trò của các nghị quyết của tổ chức quốc tếnằm ở việc thể hiện ý chí chung của các quốc gia thành viên, ví dụ như nghịquyết của Đại hội đồng LHQ có thể đại diện cho 194 quốc gia Và chính điềunày có tác động đến phương hướng mà luật pháp quốc tế sẽ phát triển trongtương lai

16 International Court of Justice (ICJ), Judgment (1949), Case Corfu Channel (United Kingdom of Great Britain

and Northern Ireland v Albania).

Trang 35

Một số nghị quyết điển hình hay được viện dẫn trong quá trình giải thích và

áp dụng pháp luật quốc tế có thể kể đến như: Tuyên bố của Đại hội đồng LHQ

về trao trả độc lập cho các quốc gia và các dân tộc thuộc địa năm 1960; Tuyên

bố của Đại hội đồng LHQ về những nguyên tắc của luật quốc tế năm 1970;Tuyên bố năm 1974 về định nghĩa xâm lược;

1.5.4 Hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia

Hành vi pháp lý đơn phương là hành vi do các chủ thể có thẩm quyền củaquốc gia thể hiện nhằm mục đích xác lập về quyền và nghĩa vụ pháp lý cho quốcgia

Hành vi pháp lí đơn phương là sự độc lập thể hiện ý chỉ của một chủ thểluật luốc tế Một hành vi được coi là hành vi pháp lí đơn phương của quốc gianếu đồng thời thỏa mãn 3 yếu tố sau:

(1) Hành vi đó phải do những người hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyềnđại diện của quốc gia đưa ra;

(2) Hành vi đó phải hướng đến các chủ thể cụ thể của Luật quốc tế;

(3) Hành vi đó phải làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ nhất định choquốc gia đó

Hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia thể hiện ở một số dạng chủ yếusau đây17:

(1) Hành vi công nhận: là hành vi thể hiện một cách minh thị, rõ ràng xácnhận một sự kiện hay một yêu cầu nào đó diễn ra trong các mối quan hệ củapháp luật quốc tế là phù hợp với luật pháp quốc tế (Ví dụ: hành vi công nhậnmột quốc gia mới)

(2) Hành vi cam kết: là hành vi tạo ra các nghĩa vụ mới bằng một cam kếtđơn phương chấp nhận sự ràng buộc đối với một nghĩa vụ pháp lý quốc tế

17 Nguyễn Bá Diến (2013), Giáo trình công pháp quốc tế, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, trang 48

Trang 36

(3) Hành vi phản đối: là cách thức để một quốc gia bày tỏ ý chí không côngnhận đối với một sự kiện, một hoàn cảnh, một yêu cầu hoặc một thái độ xử sựcủa một chủ thể khác Ví dụ: Ngày 30/3/2020, Phái đoàn thường trực Việt Namtại LHQ đã gửi bản Công hàm để phản bác lại các lập luận của phía Trung Quốc

về vấn đề Biển Đông

(4) Hành vi từ bỏ: là hành vi thể hiện ý chí độc lập của chủ thể tự nguyện từ

bỏ các quyền nhất định Kết quả của hành vi này là việc chấm dứt các quyền củachủ thể đối với một đối tượng hay một lĩnh vực nào đó Hành vi từ bỏ đượccông nhận phải là hành vi được thể hiện một cách công khai minh bạch

Có thể nhận thấy, hành vi pháp lý đơn phương của một quốc gia tuy khônglàm phát sinh nhiều vấn đề liên quan đến quy phạm pháp luật quốc tế Tuy nhiênviệc thực hiện các hành vi này của các chủ thể sẽ là cơ sở để các tổ chức quốc tế

sử dụng làm căn cứ để đưa ra các kết luận pháp lý quốc tế

Ví dụ, việc các cơ quan chức năng của Việt Nam liên tục khẳng định ViệtNam có đầy đủ cơ sở pháp lý và lịch sử để khẳng định chủ quyền đối với haiquần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và Việt Nam có chủ quyền đối với hai quầnđảo này trước các sự biến liên quan đến Biển Đông là một hành vi pháp lý đơnphương của Việt Nam Tuy nhiên trên góc độ pháp lý quốc tế, hành vi pháp lýđơn phương này sẽ là cơ sở để các thiết chế tài phán quốc tế, các tổ chức quốc tếlàm căn cứ để xác định yếu tố quản lý công khai, liên tục của Việt Nam đối vớihai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo tinh thần của nguyên tắc chiếm hữuthực sự.18

1.5.5 Các học thuyết về luật quốc tế

Các học thuyết về luật quốc tế là những tư tưởng, quan điểm thể hiện trongcác công trình nghiên cứu, tác phẩm và kết luận của các học giả, luật gia về

18 Nội dung chủ yếu của nguyên tắc “chiếm hữu thực sự” trong luật pháp quốc tế như sau: Việc xác lập chủ quyền lãnh thổ phải do Nhà nước tiến hành; Sự chiếm hữu phải được tiến hành một cách hòa bình trên một vùng lãnh thổ vô chủ (res nullius) hoặc là trên một vùng lãnh thổ đã bị từ bỏ bởi một quốc gia đã làm chủ nó trước đó (derelicto) Việc sử dụng vũ lực để xâm chiếm là hành động phi pháp; Quốc gia chiếm hữu phải thực thi chủ quyền của mình ở những mức độ cần thiết, tối thiểu thích hợp với các điều kiện tự nhiên và dân cư trên vùng lãnh thổ đó; Việc thực thi chủ quyền phải liên tục, hòa bình.

Trang 37

những vấn đề lý luận cơ bản của luật quốc tế Trong đó, các học giả đưa ranhững quan điểm để lý giải và làm sáng tỏ về nội dung của điều ước quốc tế vàtập quán quốc tế, giúp cho việc áp dụng hệ thống pháp luật quốc tế một cáchđúng đắn vào từng trường hợp cụ thể Bên cạnh đó, học thuyết pháp lý quốc tếđôi khi cũng là quan điểm, nhận định của các chuyên gia pháp luật quốc tế vềcác mối quan hệ xã hội mới được phát sinh trong luật quốc tế, hoặc luật quốc tếchưa có điều chỉnh rõ ràng

Ví dụ, quan điểm về việc sử dụng chiến thuật vùng xám trong giai đoạnhiện tại có được xem là việc vi phạm nguyên tắc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sửdụng vũ lực theo quy định của LHQ hay không.19 Trên thực tế, Trung Quốc đãvận dụng triệt để chiến thuật này để khiêu khích gây hấn các quốc gia láng giềng

ở khu vực Biển Đông, Hoa Đông và Hoàng Hải trong đó có Việt Nam Có thể kểđến sự kiện gần đây nhất vào tháng 3/2021, Trung Quốc đã điều động hơn 200tàu cá đến hoạt động tại Đá Ba Đầu thuộc cụm đảo Sinh Tồn ở quần đảo Trường

Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam) nhưng không nhằm mục đích đánh bắt cá.Hành động này được xem là cố tình thách thức yêu sách chủ quyền của ViệtNam trên Biển Đông Do đó, việc các chuyên gia luật quốc tế nghiên cứu vềchiến thuật vùng xám sẽ là tiền đề lý luận cho những kết luận pháp lý trongtương lai

Như vậy, học thuyết về luật quốc tế có ý nghĩa vô cùng quan trọng, ảnhhưởng đến quá trình hình thành nhận thức của con người về luật quốc tế, tácđộng đến quan điểm của các quốc gia về vấn đề pháp lý quốc tế

Tuy nhiên cũng giống như những phương tiện bổ trợ nguồn khác của luậtquốc tế, các học thuyết về luật quốc tế chỉ là nguồn bổ trợ của luật quốc tế vìnhững lý do sau đây:

19 Chiến thuật “vùng xám” được định nghĩa là hành động gây căng thẳng nhưng dưới mức chiến tranh, không tạo

cớ cho xung đột xảy ra, để các nước khác không có cớ can thiệp quân sự chính thức Với chiến thuật này, các nước có thể dùng lực lượng quân sự núp bóng các lực lượng dân sự hoạt động.

Trang 38

(1) Học thuyết về luật quốc tế không phải là văn bản pháp lý ràng buộc cácquốc gia, không thể hiện ý chí của các quốc gia được nâng lên thành luật.

(2) Tự bản thân học thuyết không tạo thành quy phạm pháp lý quốc tế,cũng không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ ràng buộc các quốc gia

(3) Học thuyết về luật quốc tế không có sự công nhận hoặc không côngnhận chính thức từ các quốc gia và không được áp dụng thường xuyên trongquan hệ quốc tế

Tóm lại, các nguồn bổ trợ nêu trên chỉ mang tính tham khảo Tuy nhiênthực tiễn áp dụng pháp lý quốc tế hiện đại đã chỉ ra rằng một số nguồn bổ trợnày nếu được các quốc gia cùng thừa nhận áp dụng lâu dài, không trái nhau vềcách áp dụng và quan điểm thi các nguồn này có thể trở thành tập quán quốc tếhoặc được chính các chủ thể của luật quốc tế xây dựng nên các quy phạm trongđiều ước quốc tế trên cơ sở thỏa thuận của các bên liên quan Do đó, ranh giớigiữa nguồn cơ bản và nguồn bổ trợ vô hình trung chỉ là cơ sở tạo điều kiện choviệc phân loại nguồn chứ không ảnh hưởng nhiều đến giá trị pháp lý của cácnguồn này trên thực tế, bởi lẽ, luật pháp quốc tế hiện đại cũng đã xác định thứ tự

ưu tiên áp dụng của các loại nguồn này

Hệ thống nguồn bổ trợ của luật pháp quốc tế cũng có mối liên hệ mật thiếtđến nguồn của luật quốc tế, đặc biệt là quá trình hình thành nên các nguồn cơbản của luật quốc tế Cụ thể: (i) Nguồn bổ trợ là cơ sở để hình thành nên nguồn

cơ bản của Luật Quốc tế; (ii) Nguồn bổ trợ là phương tiện chứng minh sự tồn tạicủa nguồn cơ bản; (iii) Nguồn bổ trợ góp phần giải thích, làm sáng tỏ nội dungcủa nguồn cơ bản; (iv) Nguồn bổ trợ bổ sung những nội dung mà Điều ước quốc

tế và Tập quán quốc tế chưa điều chỉnh; Mặc khác, nguồn bổ trợ được áp dụngkhi thiếu vắng nguồn cơ bản

1.6 Vấn đề pháp điển hóa luật quốc tế

Pháp điển hóa là một thuật ngữ đặc thù trong khoa học pháp lý, thể hiệnquá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc tập hợp

Trang 39

các quy định pháp luật hiện có theo một trình tự nhất định, loại bỏ những quyđịnh không còn phù hợp, xây dựng những quy phạm mới để thay thế cho cácquy phạm đã bị loại bỏ và khắc phục những khoảng trống pháp lý trong thựctiễn, trong quá trình tập hợp văn bản, sửa đổi các quy phạm hiện hành

Việc pháp điển hóa pháp luật quốc tế sẽ tạo ra các quy phạm pháp lý quốc

tế mới, đó là những bộ luật, điều ước, quy chế tương ứng với một ngành luậtnhất định hay một lĩnh vực nhất định, trong đó các quy phạm pháp luật được sắpxếp một cách logic, chặt chẽ và nhất quán Có thể gói gọn nội hàm của việcpháp điển hóa trong các nội dung chính sau: (i) Tập hợp các quy định trong cùngmột lĩnh vực; (ii) Chọn lọc để loại bỏ quy định không còn phù hợp; (iii) Đưa ranhững quy định mới; (iv) Sửa đổi những quy định hiện hành theo hướng ngàycàng nâng cao hiệu lực pháp lý, tính hệ thống, tính hoàn chỉnh về cả mặt nộidung lẫn mặt kỹ thuật của chúng

Về cơ sở pháp lý, thuật ngữ pháp điển hóa được quy định tại điểm a, khoản

1, Điều 13, Hiến chương LHQ và được giải thích tại Điều 15 Quy chế ủy banpháp luật quốc tế

Vấn đề pháp điển hóa được tiến hành ở 03 cấp độ:

(1) Cấp song phương: pháp điển hóa luật quốc tế ở cấp độ song phươngđược thể hiện qua ký kết các hiệp định, có thể kể đến như việc ký kết các hiệpđịnh thương mại tự do song phương, hiệp định hữu nghị và hợp tác bảo hộ đầu

tư,

(2) Cấp khu vực: được thể hiện thông qua việc ký kết các điều ước khu vựcnhư hiệp định thương mại tự do ASEAN, Hiệp định về khu vực tự do thươngmại Bắc Mỹ,

(3) Pháp điển hóa ở cấp độ quốc tế hóa phổ cập: việc pháp điển hóa đượcthể hiện thông qua việc ký kết các điều ước quốc tế, các hiệp định đa phương,

Trang 40

03 cấp độ pháp điển hóa pháp luật quốc tế này có mối quan hệ mật thiết vớinhau trong tiến trình thống nhất của việc pháp điển hóa pháp luật quốc tế

Ngày đăng: 08/12/2022, 15:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w