BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ HUỲNH TRẦN QUỐC NAM NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE CỦA NGƯỜI DÂN TẠI PHƯỜNG
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
HUỲNH TRẦN QUỐC NAM
NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE CỦA NGƯỜI DÂN TẠI PHƯỜNG HƯNG PHÚ, QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
NĂM 2017
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y HỌC DỰ PHÒNG
CẦN THƠ – NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
HUỲNH TRẦN QUỐC NAM
NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH
PHÒNG CHỐNG BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE CỦA NGƯỜI DÂN TẠI PHƯỜNG HƯNG PHÚ,
QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Hiệu, Phòng đào tạo đại
học, Khoa Y tế công cộng Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ đã tạo điều kiện
thuận lợi để chúng tôi có thể thực hiện và hoàn thành tốt nghiên cứu này
Chúng tôi xin tỏ lòng biết ơn các thầy cô Khoa Y tế công cộng đã hướng
dẫn và trực tiếp giảng dạy để chúng tôi có đủ kiến thức và kỹ năng hoàn thành
tốt trong việc nghiên cứu tại cộng đồng
Ngoài ra, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, nhân viên, các
cộng tác viên của Trung tâm y tế dự phòng thành phố Cần Thơ, Trung tâm y tế
quận Cái Răng, Trạm y tế phường Hưng Phú - quận Cái Răng và người dân tại
địa phương đã hợp tác nhiệt tình để việc thu thập số liệu của chúng tôi được tiến
hành thuận lợi
Đặc biệt, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đối với
giảng viên hướng dẫn ThS Huỳnh Ngọc Thanh đã có những góp ý, hướng dẫn
và chỉ đạo tận tình trong suốt thời gian chúng tôi thực hiện nghiên cứu
Mặc dù đã cố gắng trong suốt quá trình nghiên cứu song nghiên cứu của
chúng tôi không tránh khỏi sai sót và còn tồn tại nhiều hạn chế, rất mong sự góp
ý của quý thầy cô và bạn bè Chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày 18 tháng 6 năm 2018 Sinh viên thực hiện
Huỳnh Trần Quốc Nam
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong nghiên cứu này là trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nghiên cứu nào Nếu có gì sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Cần Thơ, ngày tháng năm 2018 Sinh viên thực hiện
Huỳnh Trần Quốc Nam
Trang 5MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết Dengue 3
1.2 Ảnh hưởng của SXHD đến kinh tế, xã hội 8
1.3 Bệnh sốt xuất huyết Dengue 9
1.4 Những nghiên cứu có liên quan đến đề tài 14
CHƯƠNG 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Đối tượng nghiên cứu 17
2.2 Phương pháp nghiên cứu 17
2.3 Nội dung nghiên cứu 19
2.4 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu 25
2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 26
2.6 Sai số và cách khắc phục 26
2.7 Đạo đức trong nghiên cứu 27
CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 28
3.2 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về SXHD 31
3.3 Thái độ của đối tượng nghiên cứu đối với SXHD 34
3.4 Thực hành của đối tượng nghiên cứu về phòng chống SXHD 36
Trang 63.5 Một số yêu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống Sốt
xuất huyết Dengue 38
CHƯƠNG 4 – BÀN LUẬN 45
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 45
4.2 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về SXHD 47
4.3 Thái độ của đối tượng nghiên cứu đối với SXHD 50
4.4 Thực hành của đối tượng nghiên cứu trong việc phòng chống SXHD 52
4.5 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành chưa đúng về phòng chống SXHD 54
KẾT LUẬN 59
KIẾN NGHỊ 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Diễn giải
SXHD Sốt xuất huyết Dengue
WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới) WPRO World Health Organization in Western Pacific
(Tổ chức Y tế thế giới tại Tây Thái Bình Dương)
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Thống kê số ca mắc sốt xuất huyết Dengue trên địa bàn nghiên cứu 8
Bảng 3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 28
Bảng 3.2 Đặc điểm HGĐ của đối tượng nghiên cứu 29
Bảng 3.3 Đặc điểm tiếp cận thông tin về bệnh SXHD 30
Bảng 3.4 Kiến thức về muỗi truyền bệnh SXHD 32
Bảng 3.5 Kiến thức về phòng chống SXHD 33
Bảng 3.6 Kiến thức về bệnh SXHD 33
Bảng 3.7 Kiến thức chung về phòng chống SXHD 34
Bảng 3.8 Thái độ của đối tượng nghiên cứu đối với SXHD 34
Bảng 3.9 Thái độ chung của đối tượng về phòng chống SXHD 35
Bảng 3.10 Thực hành phòng chống SXHD qua phỏng vấn 36
Bảng 3.11 Thực hành phòng chống SXHD qua quan sát 37
Bảng 3.12 Thực hành chung phòng chống SXHD 37
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa tuổi, giới, nghề nghiệp với kiến thức phòng chống SXHD 38
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa đặc điểm hộ gia đình với kiến thức phòng chống SXHD 39
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa tuổi, giới, nghề nghiệp với thái độ phòng chống SXHD 40
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa đặc điểm hộ gia đình với thái độ phòng chống SXHD 41
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa tuổi, giới, nghề nghiệp với thực hành phòng chống SXHD 42
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa đặc điểm hộ gia đình với thực hành phòng chống SXHD 43
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa kiến thức và thái độ 44
Trang 9Bảng 3.20 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành 44 Bảng 3.21 Mối liên quan giữa thái độ và thực hành 44
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Số ca mắc và số quốc gia lưu hành sốt xuất huyết Dengue trên thế
giới từ năm 1955 đến năm 2007 3 Biểu đồ 1.2: Số ca mắc và tỷ lệ chết do SXHD ở khu vực Tây Thái Bình Dương
từ năm 2000-2012 5 Biểu đồ 1.3: Số ca mắc SXHD năm 2016 so với năm 2015 và trung bình các
năm từ 2011-2015 7 Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ người dân đã từng nghe/đọc về bệnh SXHD 29 Biểu đồ 3.2: Kiến thức của người dân về loài muỗi gây SXHD 31
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Sốt xuất huyết Dengue là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút Dengue gây ra, bệnh đã lan rộng ở nhiều khu vực trên toàn thế giới, có thể hình thành các vụ dịch lớn và có tỉ lệ tử vong tương đối cao Vi rút Dengue được lây truyền
chủ yếu bởi trung gian truyền bệnh là muỗi cái Aedes Aegypti và ở mức độ thấp hơn là loài Aedes Albopictus - hai loài muỗi này cũng là hai loài muỗi truyền các
bệnh Chikugunya, Sốt vàng da và vi rút Zika [40]
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì tỷ lệ mắc sốt xuất huyết Dengue đã tăng lên đáng kể trên toàn thế giới trong những thập kỷ gần đây đặc biệt là ở các khu vực có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới, nhiều nhất ở vùng Đông Nam Á, Tây Thái Bình Dương, châu Mỹ và châu Phi Có khoảng 3,9 tỷ người ở 128 quốc gia nằm trong vùng có nguy cơ bị lây nhiễm vi rút Dengue Số lượng bệnh nhân sốt xuất huyết Dengue chưa được báo cáo đầy đủ và nhiều trường hợp bị phân loại sai Một ước tính gần đây cho thấy có khoảng 284-528 triệu trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết Dengue mỗi năm, trong đó có khoảng 67-136 triệu trường hợp có biểu hiện lâm sàng (với những biểu hiện cấp tính) phần lớn là trẻ
em dưới 15 tuổi, tỷ lệ tử vong trung bình mỗi năm do sốt xuất huyết Dengue khoảng 2,5-5% [1], [40]
Tại Việt Nam, sốt xuất huyết Dengue lưu hành ở hầu hết các tỉnh, thành phố trên cả nước, tập trung chủ yếu tại các tỉnh miền Nam và miền Trung, trung bình mỗi năm cả nước ghi nhận khoảng 100.000 trường hợp mắc và gần 100 trường hợp tử vong [3]
Tại quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ, theo thống kê của Trung tâm y tế quận, những năm gần đây tình hình bệnh sốt xuất huyết Dengue có dấu hiệu tăng mạnh Cụ thể năm 2017, số ca mắc là 118, tăng gấp đôi so với năm 2015 với 57 ca, trong đó phường Hưng Phú là một trong những điểm nóng bùng phát
Trang 12của dịch sốt xuất huyết Dengue, năm 2015 số ca mắc của phường chỉ là 7 nhưng đến hết năm 2017 số ca mắc lên đến 19, tăng gần gấp 3 lần [30], [34]
Phường Hưng Phú là một phường thuộc Quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ Phường có hơn 18.000 dân, với địa bàn rộng, mương rãnh nhiều, điều kiện
vệ sinh chưa được đảm bảo,… nên rất khó khăn trong công tác phòng, chống dịch bệnh sốt xuất huyết Dengue [12] Nhận thấy sốt xuất huyết Dengue đang có chiều hướng gia tăng trong những năm gần đây và vẫn đang là vấn đề thời sự cấp bách trong công tác phòng chống các bệnh lây truyền trong cộng đồng tại
phường Hưng Phú nên chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu kiến thức, thái
độ, thực hành phòng chống bệnh Sốt xuất huyết Dengue của người dân tại phường Hưng Phú, Quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ, năm 2017” nhằm
đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành của người dân trong việc phòng chống sốt xuất huyết Dengue và là cơ sở khoa học để địa phương có thể tham khảo cho việc triển khai công tác phòng chống sốt xuất huyết Dengue một cách kịp thời
và hiệu quả Nghiên cứu được thực hiện với 2 mục tiêu sau:
1 Xác định tỷ lệ người dân có kiến thức, thái độ, thực hành đúng về việc phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue tại phường Hưng Phú, Quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ năm 2017
2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành chưa đúng trong phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue của người dân tại phường Hưng Phú, Quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ năm 2017
Trang 13CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết Dengue:
1.1.1 Tình hình trên thế giới
Trước năm 1970, chỉ có 9 quốc gia đã trải qua những đợt sốt xuất huyết Dengue Ngày nay, khoảng 2,5 tỷ người (40% dân số thế giới) sống ở những nơi
có nguy cơ lây truyền bệnh SXHD
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính hàng năm có từ 50 đến 100 triệu
ca nhiễm bệnh, bao gồm 500.000 trường hợp mắc bệnh SXHD và 22.000 ca tử vong, chủ yếu là ở trẻ em
(Nguồn WHO)
Biểu đồ 1.1: Số ca mắc và số quốc gia lưu hành SXHD trên thế giới từ năm
1955 đến năm 2007 [38]
Các vụ dịch trên khắp châu Mỹ, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương
đã vượt mức 1,2 triệu trong năm 2008 và hơn 3,2 triệu vào năm 2015 (dựa trên
số liệu chính thức do các quốc gia thành viên đệ trình) Gần đây, số ca báo cáo
Trang 14đã tiếp tục gia tăng Vào năm 2015, 2,35 triệu trường hợp mắc bệnh SXHD đã được báo cáo ở Châu Mỹ, trong đó 10.200 trường hợp được chẩn đoán là bệnh SXHD nặng gây ra 1.181 ca tử vong
Không chỉ số ca bệnh gia tăng khi bệnh lan rộng đến các khu vực mới, mà các vụ bùng phát đang xảy ra Mối đe dọa của một cơn sốt Dengue có thể xảy ra
ở châu Âu do việc lây truyền tại một số quốc gia đã được báo cáo lần đầu tiên ở Pháp và Croatia vào năm 2010 và các trường hợp du nhập đã được phát hiện ở 3 quốc gia châu Âu khác Năm 2012, dịch sốt Dengue trên đảo Madeira của Bồ Đào Nha đã dẫn đến hơn 2.000 trường hợp và các trường hợp du nhập đã được phát hiện ở Bồ Đào Nha và 10 quốc gia khác ở Châu Âu Trong số những người trở về từ các nước thu nhập thấp và trung bình, sốt Dengue là nguyên nhân thứ hai được chẩn đoán sốt sau sốt rét
Năm 2013, nhiều trường hợp đã xảy ra ở Florida (Hoa Kỳ) và tỉnh Vân Nam của Trung Quốc Dengue cũng tiếp tục ảnh hưởng đến một số nước Nam
Mỹ, đặc biệt là Costa Rica, Honduras và Mexico Vào năm 2014, các xu hướng cho thấy số trường hợp mắc bệnh ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Quần đảo Cook, Fiji, Malaysia và Vanuatu tăng lên, với Dengue Type 3 (DEN-3) ảnh hưởng đến các quốc đảo Thái Bình Dương sau một thời gian dài hơn 10 năm Dengue cũng được báo cáo ở Nhật sau khi mất hiệu lực hơn 70 năm
Vào năm 2015, Delhi, Ấn Độ, ghi nhận vụ dịch tồi tệ nhất kể từ năm 2006 với hơn 15.000 trường hợp Đảo Hawaii, Hoa Kỳ, bị ảnh hưởng bởi một vụ bùng
nổ với 181 trường hợp được báo cáo vào năm 2015 và đang lan truyền trong năm 2016 Các đảo ở Thái Bình Dương của Fiji, Tonga và Polynesia thuộc Pháp tiếp tục ghi lại các ca bệnh
Trang 15Vào năm 2017 (chẳng hạn như Tuần lễ Dịch tễ học 11), khu vực Châu Mỹ
đã báo cáo 50.172 trường hợp mắc bệnh SXHD, giảm xuống so với các giai đoạn tương ứng trong các năm trước Vùng Tây Thái Bình Dương đã báo cáo
Trang 16dịch bệnh SXHD ở một số quốc gia thành viên ở Thái Bình Dương, cũng như việc phát hành các serotype DEN-1 và DEN-2 [40]
1.1.2 Tình hình khu vực Đông Nam Á
Tình hình dịch bệnh SXHD không ổn định phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời tiết khí hậu, lượng mưa trong năm Theo thông báo của Tổ chức Y tế thế giới ngày 08/9/2015, năm 2015, SXHD có biểu hiện gia tăng ở rất nhiều quốc gia, đặc biệt tại khu vực châu Á Thái Bình Dương
Tại Malaysia, với dân số 26 triệu người, tuy nhiên số ca mắc và tử vong do
số xuất huyết, tính đến ngày 12/9/2015 đã ghi nhận 85.488 trường hợp mắc, trong đó số ca tử vong là 234 trường hợp (tăng 21.5% so với cùng kỳ năm 2014 (70.337) Riêng trong tuần từ 6-12/9/2015, ghi nhận 2.604 trường hợp (tăng 17% so với tuần trước, tăng 21,5% so với cùng kỳ năm 2014 và tăng 300% so với cùng kỳ năm 2013
Tính đến tháng 9/2015, tại Philippines ghi nhận 65.421 trường hợp mắc SXH, trong đó có 193 trường hợp tử vong (tăng 10.2% so với cùng kỳ năm ngoái) Tại Singapore, tính đến ngày 19/9/2015, Singapore đã ghi nhận 7.136 trường hợp mắc SXH Trong tuần từ 13-19/9/2015, 303 trường hợp mắc được báo cáo, tăng 85 ca so với tuần trước Tại Campuchia, quốc gia Đông Nam Á này với dân số 6 triệu người, tính đến tháng 9/2015, nước này đã ghi nhận 7.799 trường hợp mắc SXHD, trong đó có 16 trường hợp tử vong, số mắc tangw 350%
Trang 17như: An Giang, Đồng Tháp, Thành phố Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định Nguyên nhân số ca SXHD tăng, đặc biệt là khu vực Tây Nguyên là
do đang vào mùa mưa, vào thời điểm này năm trước, dịch bắt đầu gia tăng, đạt đến đỉnh vào những tháng cuối năm 2015 sau đó giảm dần và đuôi dịch tiếp tục kéo dài sang những tháng đầu năm 2016 Năm 2016, hiện tượng El nino xảy ra tại Việt Nam làm tăng nhiệt độ trung bình của môi trường là điều kiện cho muỗi phát sinh phát triển El nino gây hạn hán trên diện rộng làm cho các hộ gia đình tăng việc trữ nước tại các dụng cụ chứa nước tạo thuận lợi cho muỗi đẻ trứng [5]
Trang 18miền Bắc từ tháng 7 tới tháng 11, các đỉnh dịch lớn và tương đối lớn rơi vào các năm 1987, 1998, 2007, trong khi các đỉnh dịch nhỏ gặp vào các năm 1991, 2004 [35]
1.3.1.2 Tình hình tại địa bàn nghiên cứu:
Tại thành phố Cần Thơ, số ca mắc SXHD năm 2017 là 1210 ca, không có
ca tử vong, so với cùng kỳ năm 2016 số ca mắc tăng 1,46 lần Số ca bệnh SXHD tại thành phố Cần Thơ thấp thứ 17 trong 20 tỉnh thành khu vực phía Nam Số ca mắc SXHD tập trung vào các tháng 3, 5, 6, 7, 8 và 9 [30]
Theo thống kê của trung tâm y tế dự phòng thành phố Cần Thơ 5 năm gần đây thì số ca bệnh đang có chiều hướng gia tăng
Bảng 1 Thống kê số ca mắc SXHD trên địa bàn nghiên cứu
1.2 Ảnh hưởng của SXHD đến kinh tế, xã hội:
Theo nghiên cứu của Bộ Y tế tại một số bệnh viện thuộc khu vực miền Nam, trung bình mỗi người bệnh SXHD phải nghỉ từ 7-14 ngày để điều trị bệnh, người thân phải nghỉ việc từ 7-9 ngày để chăm sóc người bệnh Chi phí cho một người bệnh SXHD giao động từ 40,7 USD đến 126,2 USD (nghĩa là từ 900.000 đến 2.700.000 đồng) tùy theo độ nặng và tuổi của người bệnh, các chi phí bao gồm các chi phí trực tiếp cho y tế như khám, xét nghiệm, điều trị và chi phí gián tiếp như mua vật dụng, đi lại, ăn uống, chi cho người chăm sóc, chi phí bị mất
do nghỉ việc và các khoản chi phí khác Bên cạnh đó còn các khoản chi phí của
Trang 19Chính phủ để duy trì hoạt động của hệ thống khám chữa bệnh chưa được tính đến
Chỉ tính riêng số bệnh nhân nhập viện điều trị, giai đoạn 2010-2012, với 95.000 người bệnh mỗi năm trong, ước tính người dân đã phải chi phí khoảng 7-
8 triệu đô la Mỹ tương đương 140-160 tỷ đồng Việt Nam một năm cho việc điều trị bệnh SXHD tại bệnh viện Ngoài ra còn một số lượng lớn người bệnh tự điều trị tại cộng đồng không đến cơ sở y tế nên chưa được thống kê
Với mức chi phí như trên, người dân sẽ giảm được gần 16 tỷ đồng chi phí cho mỗi 10.000 trường hợp mắc bệnh được phòng ngừa Như vậy, năm 2013 đã giảm được gần 50 tỷ đồng và năm 2014 đã giảm được gần 100 tỷ đồng chi phí của người dân cho việc chăm sóc, điều trị bệnh SXHD tại bệnh viện so với giai đoạn 2010-2012
Hiện nay, trên thực tế chưa phải tất cả mọi người đã ý thức được lợi ích và
ý nghĩa của việc làm tốt công tác phòng bệnh và một số địa phương chưa ý thức được trách nhiệm đầu tư cho công tác phòng bệnh, sự huy động nguồn lực cho phòng chống sốt xuất huyết Dengue còn gặp không ít khó khăn Để giảm số người mắc SXHD hằng năm, giảm số người bệnh phải vào viện điều trị và góp phần giảm gánh nặng cho công tác điều trị đồng thời giảm quá tải bệnh viện cũng như là giảm thiểu tối đa gánh nặng kinh tế và sức lao động của người dân cần có sự quan tâm đầu tư của chính quyền các cấp và ý thức phòng bệnh của mỗi người dân trong cộng đồng [6]
1.3 Bệnh sốt xuất huyết Dengue:
1.3.1 Sự nguy hiểm của bệnh SXHD
Bệnh sốt xuất huyết là một bệnh truyền nhiễm cấp tính có thể gây thành dịch do vi rút gây ra Bệnh lây từ người bệnh sang người lành do muỗi vằn đốt/chích, bệnh có tỷ lệ mắc và tử vong rất cao
Trang 20Bệnh xảy ra quanh năm, ở hầu hết các tỉnh/thành phố ở Việt Nam và phát triển nhiều vào mùa mưa
Hiện nay chưa có vắc xin phòng bệnh và thuốc điều trị đặc hiệu, diễn biến bệnh thì rất phức tạp, nếu phát hiện trễ thì việc điều trị sẽ khó khăn và dễ tử vong [7] Ai cũng có thể mắc bệnh, đặc biệt là trẻ em dưới 15 tuổi nếu mắc bệnh
sẽ nặng hơn [29]
1.3.2 Nguồn lây
Ổ chứa: Người vừa là ổ chứa vừa là nguồn truyền nhiễm chủ yếu của bệnh
SXHD trong chu trình “người - muỗi Aedes aegypti” ở khu vực thành thị và
nông thôn Ngoài bệnh nhân, người mang vi rút Dengue không triệu chứng cũng
có vai trò truyền bệnh quan trọng Với ổ dịch SXHD cứ 1 trường hợp bệnh điển hình có hàng chục trường hợp mang vi rút tiềm ẩn, không có triệu chứng
Thời gian ủ bệnh: Từ 3-14 ngày, thông thường từ 5-7 ngày
Thời kỳ lây truyền: Bệnh nhân SXHD là nguồn lây truyền ngay trước khi xuất hiện cơn sốt cho tới khi hết sốt, trung bình khoảng 6-7 ngày Người mang
vi rút không triệu chứng thường có thời kỳ lây truyền ngắn hơn Muỗi Aedes aegypti nhiễm vi rút từ 6-12 ngày sau khi hút máu và có khả năng truyền bệnh
suốt đời [35]
1.3.3 Trung gian truyền bệnh (vector)
Aedes aegypti (muỗi vằn) là trung gian chủ yếu làm lây truyền vi rút
Dengue từ người bệnh sang người lành Thực tế muỗi truyền bệnh SXHD nhìn bằng mắt thường cũng khá giống các loại muỗi khác và chỉ phân biệt dễ dàng nếu nhìn qua kính hiển vi Thông thường, nếu chúng ta tìm thấy muỗi trong nhà
và đốt vào ban ngày thì rất có thể là muỗi Aedes aegypti (muỗi vằn)
Muỗi Aedes aegypti còn được gọi là muỗi vằn do chúng có vằn đen trắng
quanh các chi Khác với một số loài muỗi khác, muỗi vằn thường sống trong nhà, gần người, ví dụ như ở gần tủ quần áo, chăn màn Nó thích đẻ trứng ở
Trang 21những dụng cụ chứa nước sạch và những nơi nước đọng ở lốp xe, chậu cây cảnh, dụng cụ phế thải quanh nhà có nước đọng Chúng thường đốt người vào sáng sớm và chiều tối Chỉ muỗi cái mới đốt người vì chúng cần protein trong máu để đẻ trứng
Trong môi trường phát triển thuận lợi, chỉ sau khoảng 10-15 ngày, từ trứng, muỗi sẽ phát triển thành bọ gậy, quăng, muỗi non và trở thành muỗi trưởng thành
- Muỗi cái sau khi nở từ trứng chỉ từ khoảng 5-8 ngày sau đã trở thành muỗi trưởng thành và có thể hút máu (chích) người và tìm nơi đẻ trứng trong các dụng cụ chứa nước
- Sau từ 1-3 ngày, trứng sẽ nở thành bọ gậy, và từ bọ gậy để trở thành quăng thì cần khoảng 5-8 ngày
- Khoảng 2-3 ngày sau, con quăng sẽ thành muỗi non và tiếp tục chu trình phát triển thành muỗi trưởng thành, đẻ trứng, trứng phát triển thành bọ gậy, lăng quăng, muỗi
Hiện tại không có bất kỳ một biện pháp nào giúp loại bỏ muỗi ra khỏi môi trường sống một cách triệt để Các biện pháp hiện đang sử dụng phổ biến như nằm màn, dùng vợt điện, thả cá, súc rửa dụng cụ chưa nước, bôi kem chỉ hạn chế phần nào số lượng muỗi hoặc khả năng bị muỗi đốt Ngay cả việc dùng bình xịt hay hoá chất cũng chỉ đem lại hiệu quả tức thì tại thời điểm ứng dụng, sau
đó, nếu gặp thời tiết thuận lợi, muỗi lại sinh sôi nảy nở
Tuy nhiên, việc duy trì thói quen sử dụng các biện pháp xua muỗi, diệt muỗi vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc phòng chống bệnh SXH và các bệnh truyền nhiễm khác [9]
1.3.4 Tính cảm nhiễm và khả năng mắc Sốt xuất huyết Dengue
Mọi chủng người, giới tính, lứa tuổi đều có thể nhiễm vi rút và mắc bệnh SXHD nếu chưa có miễn dịch Ở vùng bệnh lưu hành nặng (miền Nam và Nam
Trang 22Trung Bộ nước ta), tỷ lệ mắc bệnh của trẻ em (dưới 15 tuổi) thường cao hơn [28], còn ở vùng lưu hành nhẹ, khả năng mắc của trẻ em và người lớn như nhau tuy bệnh cảnh trên người lớn thường nặng hơn Người từng nhiễm vi rút Dengue hoặc đã mắc bệnh thường có miễn dịch lâu dài với vi rút cùng týp huyết thanh Tuy nhiên, nếu nhiễm lại một týp vi rút dengue khác với týp đã từng nhiễm thường xuất hiện bệnh cảnh nặng hơn, dễ trở thành SXHD hoặc sốc Dengue do
cơ chế hình thành các phức hợp miễn dịch trong máu
Các yếu tố khác như chủng vi rút Dengue (D1, D2, D3, D4) khi chúng luân phiên gây dịch, giới tính, chủng người, thể trạng và dinh dưỡng của trẻ, bệnh đi kèm cũng có thể ảnh hưởng tới tính cảm nhiễm với vi rút Dengue và mức độ nặng của bệnh SXHD [35]
1.3.5 Biểu hiện của SXHD và cách xử trí
- Đến ngay cơ sở y tế để khám khi có dấu hiệu nghi ngờ mắc Sốt xuất huyết
- Trường hợp được chỉ định là điều trị tại nhà, cần thực hiện như sau:
+ Dùng thuốc và hạ sốt theo hướng dẫn của cán bộ y tế
Trang 23+ Cho người bệnh uống nhiều nước (Oresol, nước cháo, nước dừa, nước ép trái cây,…)
+ Cho ăn thức ăn dễ tiêu: sữa, cháo hoặc súp
+ Đưa ngay đến cơ sở y tế khi có dấu hiệu trở nặng của bệnh như: sốt cao, li
bì, bứt rứt, vật vã, chân tay lạnh, nôn nhiều hoặc có biểu hiện xuất huyết nặng [8], [29]
1.3.6 Các biện pháp phòng chống
Biện pháp phòng bệnh tốt nhất ở những vùng có nhiều muỗi Aedes là loại
bỏ nơi đẻ trứng của chúng – gọi là giảm nguồn lây Giảm số lượng trứng, bọ gậy
và lăng quăng sẽ giúp làm giảm số lượng muỗi trưởng thành và giảm sự lây truyền bệnh Loại bỏ nơi sinh sản của muỗi, diệt lăng quăng/bọ gậy bằng cách [39]:
+ Đậy kín tất cả các DCCN để muỗi không vào đẻ trứng
+ Thả cá vào các dụng chụ chứa nước lớn (bể, giếng, chum, vại ) để diệt lăng quăng/bọ gậy
+ Thay rửa các DCCN vừa và nhỏ (lu, khạp…) hàng tuần
+ Thu gom, hủy các vật dụng phế thải trong nhà và xung quanh nhà như chai, lọ, mảnh chai, mảnh lu vỡ, vỏ dừa, lốp/vỏ xe cũ, hốc tre, bẹ lá , dọn
vệ sinh môi trường, lật úp các DCCN khi không dùng đến
+ Bỏ muối hoặc dầu vào bát nước kê chân chạn/tủ đựng chén bát, thay nước bình hoa/bình bông
Biện pháp bảo vệ cá nhân và hộ gia đình
Tự bảo vệ mình tránh bị muỗi đốt là cách phòng bệnh hữu hiệu nhất, bằng cách giảm chỗ da hở cho muỗi đốt Mặc quần dài, áo dài tay và dùng kem xua muỗi (có chứa DEET, IR3535 hay Icaridin) là những lựa chọn khả thi nhất
Sử dụng rèm cửa ra vào và cửa sổ, và điều hòa nhiệt độ đều làm giảm nguy
cơ muỗi bay vào nhà và đốt mọi người trong gia đình Ngủ mùng (và/hoặc mùng
Trang 24tẩm hóa chất diệt côn trùng) cũng là một biện pháp bổ sung để tránh bị muỗi đốt khi ngủ ban ngày, hoặc để tránh bị các loại muỗi khác đốt khi ngủ ban đêm (như muỗi truyền bệnh sốt rét) Bình xịt côn trùng trong nhà, nhang muỗi hay các bình phun thuốc diệt côn trùng khác đều có thể làm giảm hoạt động đốt chích của muỗi [23], [36]
Tích cực phối hợp với chính quyền và ngành y tế trong các đợt phun hóa chất phòng, chống dịch
1.4 Những nghiên cứu có liên quan đến đề tài:
- Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Bé Hai “Nghiên cứu kiến thức, thái
độ, thực hành của người dân về phòng chống SXHD tại huyện Bình Minh, Vĩnh Long năm 2012” cho thấy tỉ lệ người dân có kiến thức đúng chiếm 80,3%, thái
độ đúng là 73,6% và thực hành đúng là 24% [10]
- Luận văn chuyên khoa cấp I “Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan về phòng chống SXH của người dân phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang năm 2012” của Nguyễn Thị Hân ghi nhận tỉ lệ người dân có kiến thức đúng là 67,5%, thái độ đúng là 48,8% và thực hành đúng là 94% [14]
- Nghiên cứu của tác giả Trương Trần Nguyên Thảo “Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan đến phòng chống SXHD của người dân tại 4 phường, xã Giai Xuân, Nhơn Nghĩa, An Hòa, An Hội thành phố Cần Thơ năm 2013” với kết quả người dân có thái độ đúng về phòng chống SXH là 53%, thực hành đúng là 58% [31]
- Luận văn chuyên khoa cấp I của tác giả Lê Thu Thủy “Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống SXHD của người dân Thị xã Ngã Bảy tỉnh Hậu Giang năm 2014” có 88,1% người dân có kiến thức đúng về phòng chống SXH, thái độ đúng là 98.8%, thực hành đúng là 88,7% [21]
Trang 25- Luận án chuyên khoa cấp II “Nghiên cứu chỉ số bọ gậy và kiến thức, thái
độ, thực hành phòng chống SXHD trước và sau can thiệp của người dân tại huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng năm 2014-2015” của tác giả Nguyễn Văn Thêm cho kết quả tỷ lệ người dân có kiến thức đúng về phòng chống SXHD là 42,3%, thái độ đúng là 49,6% và thực hành đúng là 37,6% [25]
- Luận văn chuyên khoa cấp I của Phan Văn Ê “Nghiên cứu kiến thức, thái
độ, thực hành và các yếu tố liên quan về phòng chống SXHD của người dân tại
xã Tân Thạnh, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp năm 2013” tỷ lệ người dân
có kiến thức đúng là 63,1%, thái độ đúng là 55,6%, thực hành đúng là 55,9% [11]
- Luận văn chuyên khoa cấp I của tác giả Lê Hoàng Rong “Nghiên cứu kiến thức, thực hành phòng chống SXH của người dân Thành phố Vị Thanh năm 2013” có kết quả tỷ lệ người dân có kiến thức đúng về phòng chống SXH là 41%, thực hành đúng là 41,17% [18]
- Luận văn tốt nghiệp cử nhân y tế công cộng của Trần Song Toàn “Nghiên cứu chỉ số lăng quang và kiến thức thái độ thực hành về phòng chống SXHD của người dân xã Nhơn Nghĩa huyện Phong Điền thành phố Cần Thơ 2015” có tỷ lệ kiến thức chung đúng là 66,1%, thái độ chung đúng là 69,6% và thực hành chung đúng là 79,6% [26]
- “Nghiên cứu kiến thức, thực hành phòng chống Sốt xuất huyết Dengue của người dân và chỉ số côn trùng tại hộ gia đình của xã Trường Long, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2012” luận văn chuyên khoa cấp I của Trần Văn Tuấn với 26,2% người dân thực hành đúng phòng chống SXH [27]
- “Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh sốt xuất huyết của người dân tại xã Trường Long, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2017” luận văn tốt nghiệp bác sĩ y học dự phòng của Lê Thị Anh Phương có tỷ
Trang 26lệ người dân có kiến thức đúng phòng chống SXH là 60%, thái độ đúng là 71,7% và thực hành đúng là 58,9% [17]
- Luận văn tốt nghiệp bác sĩ y học dự phòng của Trịnh Thị Ý Nhi “Nghiên cứu chỉ số bọ gậy và kiến thức, thực hành phòng bệnh sốt xuất huyết của người dân tại xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2016” có tỷ lệ kiến thức đúng là 64% và thực hành đúng là 59,3% [16]
- Luận văn tốt nghiệp bác sĩ y học dự phòng của Nguyễn Mai Triết “Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt xuất huyết của người dân và chỉ số lăng quăng tại xã Đông Phước A, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang năm 2016” có kiến thức đúng là 45%, thái độ đúng là 56% và thực hành đúng là 43,5% [24]
Trang 27CHƯƠNG 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu:
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Người dân đang sinh sống tại phường Hưng Phú, Quận Cái Răng, Thành phố Cần Thơ
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
Người trả lời phỏng vấn là chủ hộ hoặc người đại diện chủ hộ đủ 18 tuổi có
hộ khẩu thường trú và hiện đang sinh sống tại HGĐ trong thời gian tiến hành nghiên cứu
Hộ gia đình sinh sống tại địa phương trên 6 tháng từ thời điểm điều tra
Có khả năng tiếp xúc trả lời phỏng vấn
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
Những người không đồng ý tham gia nghiên cứu
Những người mắc các bệnh về tâm thần hoặc trạng thái tâm thần không ổn định (như già lẫn, say rượu, thiếu bình tĩnh,…) hoặc có khiếm khuyết về thể chất ảnh hưởng đến việc phỏng vấn điều tra (câm, điếc, mù…)
2.1.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 8 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018 tại phường Hưng Phú, Quận Cái Răng, Thành phố Cần Thơ
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang có phân tích
2.2.2 Cỡ mẫu
Sử dụng công thức cỡ mẫu ước lượng cho một tỉ lệ:
n =
Z(1−α 2)
2 p(1 − p)
d2
Trang 28Trong đó:
n: cỡ mẫu cần nghiên cứu
Với α = 0,05 (độ tin cậy là 95%) Z(1-α/2) = 1,96
d: mức sai số chấp nhận được (d = 0,07)
p: tỷ lệ người dân có thái độ đúngt phòng chống sốt xuất huyết Dengue
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Thêm “Nghiên cứu chỉ số bọ gậy
và kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống SXHD trước và sau can thiệp của người dân tại huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng năm 2014-2015” cho kết quả trước can thiệp tỷ lệ người dân có kiến thức đúng về phòng chống SXH là 42,3%, thái
độ đúng là 49,6% và thực hành đúng là 37,6% [25], vậy ta có: p=0,423 hoặc p = 0,496 hoặc p = 0,376 Thay vào công thức tính được n = 196 hoặc n = 191 hoặc
n = 184 Vậy ta chọn n = 196 (để đạt được cỡ mẫu lớn nhất) nhân với hiệu lực thiết kế DE = 2 ta được 392 ta làm tròn thành 400 Vậy cỡ mẫu nghiên cứu cần thu thập là 400 mẫu [15]
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Áp dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn:
Bước 1: Bốc thăm ngẫu nhiên 4/11 khu vực thuộc phường Hưng Phú, Quận Cái Răng Chọn ra được 4 khu vực là khu vực 3, khu vực 4, khu vực 8 và khu vực 10 thì mỗi khu vực sẽ chọn ra 100 HGĐ
Bước 2: Bắt đầu từ nhà thông tin của mỗi khu vực, điều tra viên chọn ngẫu nhiên 1 HGĐ có đối tượng đủ tiêu chuẩn để chọn vào mẫu
Bước 3: Sau khi đã chọn được HGĐ có đối tượng đủ tiêu chuẩn đầu tiên,
sử dụng phương pháp nhà liền nhà (hai nhà được xác định là liền kề nếu khoảng cách từ cửa chính của nhà đã được chọn sang cửa nhà chưa được chọn là nhỏ nhất) để tiếp tục thu thập thông tin ở HGĐ kế tiếp có đối tượng đủ tiêu chuẩn chọn vào mẫu Lặp lại các bước chọn này cho đến khi có đủ số mẫu cần điều tra
Trang 29Nếu đoạn đường có số nhà liền kề không đủ để chọn cho cỡ mẫu cần điều tra thì quay lại nhà thông tin và chọn ngẫu nhiên 1 hộ gia đình ở dãy nhà khác dãy nhà đã chọn để tiếp tục chọn đối tượng có đủ tiêu chuẩn chọn vào mẫu cho đến khi đủ mẫu
2.3 Nội dung nghiên cứu:
2.3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
+ Trên cấp 3: trung cấp nghề, cao đẳng, đại học, sau đại học
- Nghề nghiệp: là công việc hiện tại mà đối tượng được phỏng vấn làm nhiều nhất trong ngày và tạo ra thu nhập cho đối tượng, xếp vào 6 nhóm: + Nông dân
+ Nội trợ
Trang 30+ Không nghèo: thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 900.000 đồng trở lên
(Nếu không hỏi được thu nhập tháng, người điều tra sẽ hỏi xem hộ gia đình đó có được địa phương nơi cư trú cấp sổ hộ ngheo hay không)
- Người được phỏng vấn có từng nghe về bệnh SXH, có 2 giá trị :
Trang 31+ Sách báo/Tranh ảnh/tờ rơi/áp phích…
+ Người thân, bạn bè, hàng xóm
+ Cán bộ Y tế/Tình nguyện viên
+ Khác (ban ngành đoàn thể/nơi làm việc,…)
2.3.2 Các biến số nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống SXHD
Dựa vào các tài liệu phòng chống sốt xuất huyết của Sở y tế thành phố Cần Thơ, Trung tâm truyền thông giáo dục sức khoẻ trung ương, Cục y tế dự phòng
và các hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh sốt xuất huyết Dengue của Bộ Y tế, cùng nhiều luận văn luận án các cấp của các tác giả, chúng tôi xây dựng được bộ biến số với nội dung như sau:
2.3.2.1 Biến số về kiên thức
- Đường lây truyền SXHD có 3 giá trị: 1 Muỗi đốt; 2 Bọ chét cắn; 3 Khác (kiến thức đúng khi chọn “1 Muỗi đốt”)
- Loài muỗi truyền bệnh SXHD có 4 giá trị: 1 Muỗi vằn (Aedes aegypti); 2
Muỗi Anopheles; 3 Muỗi cỏ và khác (kiến thức đúng khi biết là “1 Muỗi
vằn Aedes Aegypti”)
- Thời gian hoạt động của muỗi truyền bệnh SXHD: là thời gian muỗi hoạt động mạnh trong ngày, có 4 giá trị: 1 Cả ngày và đêm; 2 Sáng sớm và chập choạng tối; 3 Buổi tối; 4 Khác (kiến thức đúng khi chọn “sáng sớm
Trang 32khạp, DCCN không có nắp đậy; 2 Bình cắm hoa tươi, chum vại; 3 Vật phế thải có chứa nước như vỏ xe, chén bể; 4 Các hốc chứa nước tự nhiên)
- Nơi muỗi truyền bệnh SXHD thường hay trú ẩn có 3 giá trị: 1 Quần áo, chăn màn, chỗ tối, ẩm thấp trong nhà; 2 Buội cây rậm rạp; 3 Khác (kiến thức đúng khi chọn “1 Quần áo, chăn màn, chỗ tối, ẩm thấp trong nhà)
- Bệnh SXHD có thể phòng tránh được có 3 giá trị: 1 Có; 2 Không; 3 Không biết (kiến thức đúng khi chọn “1 Có”)
- Có những cách nào để phòng tránh muỗi đốt (nhiều lựa chọn) có 6 giá trị:
1 Ngủ mùng cả ngày và đêm; 2 Mặc quần áo dài tay; 3 Dùng nhang trừ muỗi, hóa chất diệt muỗi; 4 Kem chống muỗi; 5 Dùng vợt bắt muỗi; 6 Quạt gió (kiến thức đúng khi trả lời được ít nhất 3/6 lựa chọn trên)
- Các biện pháp diệt lăng quăng (nhiều lựa chọn) có 7 giá trị: 1 Đậy kín DCCN dùng trong ăn uống; 2 Cọ rửa DCCN thường xuyên (ít nhất 1 lần/tuần); 3 Thường xuyên thay nước lọ cắm hoa, chun nước cúng, khay nước tủ lạnh,…(ít nhất 1 lần/tuần); 4 Bỏ muối, hóa chất vào các chén chống kiến; 5 Không vứt vật dụng có thể chứa nước bừa bãi; 6 Thả cá ăn lăng quăng; 7 Khác (kiến thức đúng khi trả lời được ít nhất 3/7 lựa chọn trên)
- Những biểu hiện sớm của bệnh SXHD (nhiều lựa chọn) có 5 giá trị: 1 Bình thường, không có biểu hiện gì; 2 Sốt cao liên tục 2–7 ngày; 3 Nhức đầu, có xuất huyết dưới da; 4 Tím tái, vẻ mặt thờ ơ; 5 Khác (kiến thức đúng khi trả lời có ít nhất 1 trong 2 “2 Sốt cao liên tục 2-7 ngày” hoặc “3 Nhức đầu, có xuất huyết dưới da”)
- Những biểu hiện của trẻ ở giai đoạn nặng (sốc) của SXHD (nhiều lựa chọn) có 6 giá trị, kiến thức đúng khi trả lời được 1 trong 5 lựa chọn: “1 Trẻ ói mữa, đau bụng, bứt rứt; 2 Da lạnh, tím tái, vẻ mặt đờ đẫn, vả mồ
Trang 33hôi; 3 Chảy máu mũi, chảy máu chân răng, ói ra máu, đi tiêu ra máu; 4 Tiểu ít, khát nhiều; 5 Sốt cao”, là chưa đúng khi chọn “6 Khác”
- Làm gì nếu có trẻ có những biểu hiện có SXHD có 5 giá trị: 1 Lau mát và
hạ sốt cho trẻ bằng thuốc hạ sốt (Paracetamol); 2 Theo dõi bệnh tại nhà, cho trẻ nghỉ ngơi, uống nhiều nước; 3 Đưa trẻ ngay đến các cơ sở y tế khi
có dấu hiệu của bệnh; 4 Cạo gió, mặc nhiều áo, kiêng ăn uống; 5 Khác (kiến thức đúng khi chọn “3 Đưa trẻ ngay đến các cơ sở y tế khi có dấu hiệu của bệnh” và kiến thức là chưa đúng nếu chọn bất kì các đáp án còn lại)
- Hiện tại có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh SXHD có 3 giá trị: 1 Có, 2 Không, 3 Không biết, kiến thức đúng khi chọn “2 Không”
- Hiện tại có vắc xin phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue có 3 giá trị: 1 Có,
2 Không, 3 Không biết, kiến thức đúng khi chọn “2 Không”
Đánh giá kiến thức chung đúng khi trả lời đúng ít nhất 9/13 câu, và chưa đúng khi trả lời đúng ít hơn 9/13 câu [19]
- Có nên thường xuyên cập nhật kiến thức phòng tránh SXHD
- Việc đậy kín các DCCN và súc rửa DCCN thường xuyên là phòng được bệnh SXHD
Trang 34- Cho trẻ mặc áo dài tay, ngủ mùng cả ngày và đêm thì có thể tránh được muỗi đốt
- Về việc các cơ quan chức năng, cơ sở Y tế địa phương tổ chức các đợt phun xịt hóa chất diệt muỗi trên diện rộng
- Thái độ đúng khi trả lời câu hỏi việc diệt muỗi và lăng quăng để phòng chống SXHD là trách nhiệm của “Nhà nước và nhân dân cùng làm”
Đánh giá thái độ chung đúng khi có từ 4/6 câu trả lời có thái độ đúng và thái độ chung là chưa đúng khi có ít hơn 4/6 câu có thái độ đúng
2.3.2.3 Biến số về thực hành
- Có cho trẻ ngủ mùng kể cả ban ngày có 3 giá trị: 1 Có, 2 Thỉnh thoảng,
3 Không, thực hành đúng khi trả lời là “1 Có”
- Súc rửa DCCN (lu, khạp, bình cắm hoa,…) bao lâu 1 lần, có 4 lựa chọn:
1 Một tuần/lần, 2 Hai tuần/lần, 3 Một tháng/ lần, 4 Khác, thực hành đúng khi chọn “1 Một tuần/lần”
- Xử lý các vật phế thải như tô, chén bể, gáo dừa, lon sửa bò, vỏ xe cũ,…
có 4 lựa chọn: 1 Vứt ra sân hoặc gom thành đống; 2 Gom lại một chỗ cố định và úp lại; 3 Cho vào thùng rác; 4 Khác (thực hành đúng khi chọn 1 trong 2 đáp án “2 Gom lại thành đống cố định và úp lại” hoặc “3 Cho vào thùng rác” hoặc cả 2)
- Sử biện pháp nào để tránh muỗi đốt có 6 lựa chọn: 1 Nhang trừ muỗi; 2 Thuốc xịt muỗi; 3 Kem chống muỗi; 4 Vợt điện bắt muỗi; 5 Quạt máy; 6 Mùng tẩm hóa chất diệt côn trùng (thực hành đúng khi thực hiện ít nhất 3 biện pháp để tránh muỗi trên)
- Diệt lăng quăng bằng cách có 3 lựa chọn: 1 Thả cá ăn lăng quăng; 2 Súc rửa DCCN ít nhất 1 lần 1 tuần; 3 Đậy kín các DCCN (thực hành đúng khi trả lời ít nhất 2/3 đáp án)
Trang 35- Vệ sinh môi trường xung quanh nhà, phát quan bụi rậm, thu gom phế thải đọng nước, có 3 giá trị: 1 Có, 2 Thỉnh thoảng, 3 Không, thực hành đúng khi chọn “1 Có”
- Sắp xếp các vật dụng và quần áo trong nhà gọn gàng thoáng mát, có 2 giá trị: 1 Có, 2 Không, thực hành đúng khi chọn “1 Có”
- Để muối, dầu vào chén chống kiến chân tủ thức ăn, có 2 giá trị: 1 Có, 2.Không, thực hành đúng khi chọn “1 Có” [19]
- Sắp xếp đồ đạc, vật dụng trong nhà gọn gàng không để muỗi có nơi trú ẩn
có 2 giá trị: 1 Có, 2 Không, thực hành đúng khi quan sát là “1 Có”
Đánh giá về thực hành chung đúng khi có từ 8/12 câu ở cả 2 phần “biến số
về thực hành” và “biến số quan sát” có thực hành đúng và nếu có từ 4/12 câu đánh giá là chưa đúng thì thực hành chung là chưa đúng [33]
2.4 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu:
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn trực tiếp chủ hộ hoặc người đại diện HGĐ theo bộ câu hỏi sẵn có [13]
Phương pháp quan sát: quan sát xung quanh nhà trước, đi vòng từ bên phải kiểm tra các DCCN như lu, khạp, hồ, phuy, lon, gáo dừa,…sau đó vào trong nhà
đi từ trước ra sau, chú ý bình cắm hoa, chén chân tủ, nơi treo quần áo,…
Trang 362.4.2 Công cụ thu thập số liệu
Phỏng vấn trực tiếp đối tượng tại HGĐ dựa trên bộ câu hỏi sẵn có và điều tra viên quan sát trực tiếp các DCCN của HĐG Trung bình 20 phút cho phỏng vấn 1 HGĐ [13]
2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Kiểm tra chất lượng bộ số liệu
- Mỗi phiếu điều tra sau khi phỏng vấn sẽ được kiểm tra ngay về tính hoàn tất và tính phù hợp Những phiếu không hoàn tất hoặc không phù hợp sẽ được phỏng vấn lại Nếu cần thiết sẽ loại bỏ các phiếu có nhiều thông tin bị mất Trong trường hợp này sẽ tiến hành phỏng vấn thêm để đạt cỡ mẫu
Tập huấn kỹ cho điều tra viên phỏng vấn dựa vào bộ câu hỏi phỏng vấn
Trang 37Điều tra viên cố gắng giải thích rõ cho các đối tượng nghiên cứu hiểu, nếu người được phỏng vấn trả lời chưa đầy đủ thì có thể nhắc lại câu hỏi, chờ họ nhớ lại thông tin Điều tra viên khai thác thông tin một cách thân mật, thoải mái, tạo niềm tin cho đối tượng Đối với đối tượng bỏ ngang phỏng vấn, chọn đối tượng khác đủ tiêu chuẩn để thay thế [22]
2.7 Đạo đức trong nghiên cứu:
Nghiên cứu được hội đồng nghiên cứu trường Đại học Y Dược Cần Thơ, khoa Y tế công cộng cho phép tiến hành nghiên cứu
Mọi thông tin của đối tượng thu thập chỉ nhằm mục đích nghiên cứu và hoàn toàn được bảo mật
Bộ câu hỏi không có các vấn đề nhạy cảm, riêng tư nên không ảnh hưởng đến tâm lý và sức khỏe của đối tượng nghiên cứu Trước khi trả lời đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ về mục đích nghiên cứu và có sự chấp thuận tham gia, trường hợp nếu thấy không thích hợp, đối tượng nghiên cứu có thể từ chối không tham gia [2]
Trong quá trình phỏng vấn nếu điều tra viên nhận thấy kiến thức của đối tượng nghiên cứu là chưa đúng thì tuyên truyền và cập nhật kiến thức về phòng chống sốt xuất huyết cho đối tượng nghiên cứu để đối tượng có kiến thức, thái
độ và thực hành đúng về phòng chống sốt xuất huyết
Trang 38CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu:
Bảng 3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Trang 39độ học vấn thì chủ yếu là cấp 1 và cấp 2 với tỷ lệ lần lượt là 34,4% và 31,3% Nghề nghiệp đa số là nội trợ (32%) và buôn bán (31,4%)
Bảng 3.2 Đặc điểm HGĐ của đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ người dân đã từng nghe/đọc về bệnh SXHD
Hầu hết người dân đã từng nghe/đọc về bệnh SXHD (93,3%)
93,3%
6,7%
Trang 40Bảng 3.3 Đặc điểm tiếp cận thông tin về bệnh SXHD
Trong số đó thì nguồn thông tin chủ yếu được các đối tượng nghiên cứu tiếp nhận là từ Ti vi (94,1%), ít hơn là từ loa/đài truyền thanh (41,3%), cán bộ y tế/tình nguyện viên (25,7%)