TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- ĐẶNG THỊ THÚY DIỄM NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC TIẾP CẬN VÀ SỬ DỤNG BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN CỦA NGƯỜI DÂN Ở NÔNG THÔN HIỆN NAY Nghiên
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐẶNG THỊ THÚY DIỄM
NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC TIẾP CẬN VÀ SỬ DỤNG BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN CỦA NGƯỜI DÂN Ở NÔNG THÔN
HIỆN NAY (Nghiên cứu trường hợp người dân tại xã Hòa Phong,
huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐẶNG THỊ THÚY DIỄM
NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC TIẾP CẬN VÀ SỬ DỤNG BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN CỦA NGƯỜI DÂN Ở NÔNG THÔN
HIỆN NAY (Nghiên cứu trường hợp người dân tại xã Hòa Phong,
huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên)
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐẶNG THỊ THÚY DIỄM
NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC TIẾP CẬN VÀ SỬ DỤNG BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN CỦA NGƯỜI DÂN Ở NÔNG THÔN
HIỆN NAY (Nghiên cứu trường hợp người dân tại xã Hòa Phong,
huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên)
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, đề tài nghiên cứu này chưa có ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác
Số liệu được phân tích và dẫn chứng trong đề tài là kết quả nghiên cứu thực nghiệm của tôi đã tiến hành thực hiện tại xã Hòa Phong, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên vào tháng 06 năm 2010
TP Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 09 năm 2010
Tác giả luận văn
Đặng Thị Thúy Diễm
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học, khoa Xã hội học, quý thầy cô trường Đại học khoa học xã hội & nhân văn TP Hồ Chí Minh đã giảng dạy tận tình cho tôi rất nhiều kiến thức về nội dung khoa học và phương pháp nghiên cứu Xã hội học trong suốt quá trình học tập này
Đặc biệt, với sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời tri ân đến Tiến
sĩ Phạm Đức Trọng Người Thầy đã tận tâm hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn từ khi bắt đầu xây dựng đề cương cho đến khi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám đốc Trung tâm đào tào phát triển xã hội – Đại học Tôn Đức Thắng đã tạo điều kiện về mặt thời gian và hỗ trợ mọi mặt cho tôi trong suốt quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp
Tôi không thể quên những sự hỗ trợ, những lời động viên và sự góp ý về chuyên môn của bạn bè: Thu Hiền, Phương Hải, Đức Châu, Thanh Tuyền, Tiên Dung, Kim Oanh, Ngọc Thùy, Tấn Định, Thị Phin Các bạn đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong quá trình điều tra, thu thập thông tin cho đề tài tại quê nhà tỉnh Phú Yên
Tôi xin chân thành cám ơn Ủy ban nhân dân, cán bộ xã Hòa Phong, Bảo hiểm
xã hội huyện Tây Hòa, Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Yên và các anh chị đại lý bảo hiểm xã
và toàn thể nhân dân xã Hòa Phong đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu tại địa phương
Xin cám ơn lời động viên của của ba má và các chị em trong gia đình đặc biệt là
em Quốc Phong và Nhật Trường đã là nguồn thúc đẩy cho con trong quá trình thực hiện đề tại này
Do điều kiện về thời gian và khả năng của bản thân còn hạn chế nên luận văn chắc chắn còn nhiều điểm thiếu sót, vì vậy tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quí Thầy Cô và mọi người để luận văn được hoàn thiện hơn
TP Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2010
Đặng Thị Thúy Diễm
Trang 6BH: Bảo hiểm
Trang 7Bảng 2.1: Số người tham gia BHYT bắt buộc, BHYT tự nguyện qua 15 năm 56 Bảng 2.2: BHYTTN của xã Hòa Phong từ tháng 10/2009 đến tháng 4/2010 58 Bảng 3.1: Các nguồn hỗ trợ chủ yếu khi gặp rủi ro 86
Trang 8Biểu đồ 2.1: BHYTTN huyện Tây Hòa từ năm 2005 đến năm 2009 57
Biểu đồ 2.2: So sánh giữa tình hình khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT và tổng số lượt khám chữa bệnh theo báo cáo sơ kết kết quả thực hiện công tác khám chữa bệnh 06 tháng đầu năm 2010 ở bệnh viện đa khoa khu vực huyện Tây Hòa 60
Biểu đồ 2.3: Phân bổ giới tính của người dân tham gia BHYTTN 61
Biểu đồ 2.4: Tình trạng hôn nhân của người dân tham gia BHYT TN 62
Biểu đồ 2.5: Tình trạng học vấn của người dân tham gia BHYT TN 64
Biểu đồ 2.6: Tiện nghi trong gia đình 65
Biểu đồ 2.7: Tình trạng nhà ở của người dân 67
Biểu đồ 2.8: Mức độ hiểu biết về các kiến thức của BHYTTN 68
Biểu đồ 3.1: Quan niệm về một người khỏe mạnh của người dân 72
Biểu đồ 3.2: Tầm quan trọng của sức khỏe 75
Biểu đồ 3.3: Tình trạng sức khỏe của bản thân 76
Biểu đồ 3.4: Mức độ đau bệnh trong 01 năm qua 77
Biểu đồ 3.5: Các loại bệnh mắc phải trong một năm qua của người dân 79
Biểu đồ 3.6: Loại hình điều trị khi bị đau ốm, cảm cúm thông thường 80
Biểu đồ 3.7: Cách thức điều trị bệnh nặng và các bệnh mãn tính 82
Biểu đồ 3.8: Cách vượt qua khó khăn vì phải chi phí nhiều cho khám và điều trị bệnh 85
Biểu đồ 3.9: Vai trò của BHYTTN trong việc chăm sóc sức khỏe 88
Biểu đồ 3.10: Mức phí hiện nay so với điều kiện kinh tế gia đình 91
Biểu đồ 3.11: Tình trạng đáo hạn 94
Biểu đồ 3.12: Lý do để tiếp cận và sử dụng BHYT TN 97
Trang 9phương 103
Biểu đồ 3.14: Người trực tiếp tác động để anh/chị tham gia BHYTTN 105
Biểu đồ 3.15: Thuyết phục người khác tham gia BHYTTN 108
Biểu đồ 3.16: Mức độ tác động của những người hưởng lợi từ BHYTTN 109
Biểu đồ 3.17: Việc tiếp cận để mua thẻ và đăng ký tham gia BHYTTN 115
Biểu đồ 3.18: Thủ tục đáo hạn thẻ BHYTTN 118
Biểu đồ 3.19: Số lần khám chữa bệnh từ khi tham gia BHYTTN 119
Biểu đồ 3.20: Điều trị ngoại trú hay nội trú khi ốm đau 120
Biểu đồ 3.21: Có sự phân biệt nào giữa người khám bệnh bằng thẻ và người không có thẻ 123
Biểu đồ 3.22: Khoảng cách từ nhà đến nơi mua BHYTTN 129
Trang 10Hình 2.1: Bản đồ vị trí địa lý tỉnh Phú Yên 47
Hình 2.2: Bản đồ vị trí địa lý huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên 49
Hình 2.3: Bệnh viện đa khoa khu vực huyện Tây Hòa 59
Hình 3.1: Hình ảnh về cách thức truyền thông ở địa phương 101
Hình 3.2: Người dân tham gia khám bệnh tại bệnh viện đa khoa khu vực Tây Hòa 124
Hình 3.3: Quầy thuốc bệnh viện 126
Trang 11BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
2.1 Mục tiêu chung 4
2.2 Mục tiêu cụ thể 4
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 5
4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
4.2 Khách thể nghiên cứu 5
5 Phạm vi nghiên cứu 5
5.1 Về địa bàn nghiên cứu 5
5.2 Đối tượng 5
5.3 Khách thể nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 6
6.1 Ý nghĩa lý luận 6
6.2 Ý nghĩa thực tiễn 6
7 Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu 7
7.1 Phương pháp nghiên cứu 7
7.2 Kỹ thuật nghiên cứu 9
8 Những thuận lợi và khó khăn 10
9 Kết cấu của luận văn 10
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 13
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 13
1.2 Cách tiếp cận và lý thuyết ứng dụng 33
1.2.1 Cách tiếp cận 33
1.2.1.1 Cách tiếp cận lối sống 33
1.1.1.2 Mô hình niềm tin sức khỏe 34
1.1.1.3 Mô hình tổng hợp của Anderson về sử dụng dịch vụ y tế 36
1.2.2 Lý thuyết ứng dụng 37
1.2.2.1 Lý thuyết cấu trúc, chức năng 37
1.2.2.2 Lý thuyết lựa chọn hợp lý 38
1.2.2.3 Một số lý thuyết kinh tế xã hội có ảnh hưởng đến tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế 39
1.3 Giả thuyết nghiên cứu 41
1.4 Khung phân tích 42
1.5 Một số khái niệm có liên quan 42
1.5.1 Yếu tố 42
1.5.2 Tác động 42
1.5.3 Tiếp cận 43
1.5.4 Sử dụng 43
1.5.5 Bảo hiểm 43
1.5.6 Bảo hiểm y tế 44
1.5.7 Nông thôn 45
1.5.8 Nhận thức 46
1.5.9 Niềm tin 46
1.5.10 Hành vi 46
1.6 Đo lường các biến số 46
Trang 13CỨU 47
2.1 Khái quát về địa bàn khảo sát 47
2.1.1 Tỉnh Phú Yên 47
2.1.2 Huyện Tây Hòa 48
2.1.3 Xã Hòa Phong 50
2.2 Tình hình tham gia BHYT TN ở địa bàn nghiên cứu 53
2.2.1 Tình hình tham gia BHYT ở Phú Yên 53
2.2.2 Tình hình tham gia BHYT ở huyện Tây Hòa 57
2.2.3 Tình hình tham gia BHYT TN của xã Hòa Phong 58
2.3 Sơ lược về bệnh viện đa khoa huyện Tây Hòa 59
2.3.1 Sơ lược về bệnh viện đa khoa huyện Tây Hòa 59
2.3.2 Tình hình khám chữa bệnh của bệnh viện đa khoa huyện Tây Hòa 60
2.4 Mẫu nghiên cứu 61
2.4.1 Mẫu khảo sát định lượng 61
2.4.1.1 Giới tính 61
2.4.1.2 Độ tuổi 62
2.4.1.3 Tình trạng hôn nhân 62
2.4.1.4 Dân tộc và tôn giáo 63
2.4.1.5 Trình độ học vấn 63
2.4.1.6 Nghề nghiệp 64
2.4.1.7 Thu nhập 65
2.4.1.8 Quy mô gia đình 66
2.4.1.9 Tình trạng nhà ở 66
2.4.1.10 Số người tham gia BHYT TN trong gia đình 67
2.4.1.11 Thời gian tham gia BHYT TN 68
2.4.1.12 Sự hiểu biết của người dân về BHYT TN 68
Trang 14CHƯƠNG 3: NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC TIẾP CẬN VÀ SỬ DỤNG BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN CỦA NGƯỜI DÂN TẠI XÃ HÒA PHONG, HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
72
3.1 Yếu tố sức khỏe 72
3.1.1 Quan niệm của người dân về sức khỏe 72
3.1.2 Tình trạng bệnh tật 75
3.1.3 Biến cố về sức khỏe 84
3.2 Nhận thức về BHYT TN trong việc chăm sóc sức khỏe 87
3.2.1.Nhận thức và niềm tin về vai trò của BHYT TN trong việc chăm sóc sức khỏe 87
3.2.2 Nhận thức và niềm tin về chi phí BHYT TN 90
3.2.3 Yếu tố phòng ngừa bệnh tật 94
3.3 Yếu tố truyền thông 99
3.3.1 Truyền thông liên cá nhân 101
3.3.1.1.Thông qua nhân viên bán bảo hiểm tại địa phương 102
3.3.1.2 Thông qua người trong gia đình, bạn bè và hàng xóm 107
3.3.2.Tác động từ những người đã hưởng lợi từ bảo hiểm đến người dân 109
3.4 Chính sách của nhà nước về BHYT TN 111
3.4.1 Một vài điều chỉnh về chính sách BHYT TN 111
3.4.2 Một số thủ tục của BHYT TN 115
3.4.2.1 Thủ tục đăng ký 116
3.4.2.2 Thủ tục đáo hạn 117
3.4.3 Nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu 118
3.5 Chất lượng dịch vụ của cơ sở khám chữa bệnh 119
3.5.1 Công tác giao tiếp trong điều trị và khám bệnh của nhân viên y tế 121
Trang 153.5.3 Thuốc men 125
3.5 4 Trình độ cán bộ y tế 127
3.6 Yếu tố khác 128
3.6.1 Từ nơi cư trú đến nơi mua bảo hiểm y tế tự nguyện 128
3.6.2 Từ nơi cư trú đến nơi khám chữa bệnh 129
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 131
Kết luận 132
Khuyến nghị 137
TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC (Đính kèm) Phụ lục 1 Danh sách danh sách mẫu người dân tham gia BHYT TN xã Hòa Phong 1
Phụ lục 2 Bảng hỏi khảo sát người dân 7
Phụ lục 3 Tổng hợp kết quả điều tra bằng bảng hỏi 25
Phụ lục 4 Tiêu chí hướng dẫn phỏng vấn sâu 42
Phụ lục 5 Biên bản phỏng vấn 61
Trang 16
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 171 Lý do chọn đề tài
Bảo đảm an sinh được xác lập là một quyền cơ bản của con người, mức độ đảm bảo quyền an sinh là một tiêu chí quan trọng đánh giá trình độ phát triển của một quốc gia, dân tộc Đối với Việt Nam, là một đất nước mới bước vào quá trình hội nhập và phát triển bên cạnh những mặt đạt được còn có nhiều vấn đề, mục tiêu cần phải phấn đấu và giải quyết, trong đó không thể thiếu mục tiêu thực hiện tốt vấn đề an sinh xã hội cho toàn dân
Trong lĩnh vực an sinh không thể không kể đến bảo hiểm y tế, là một loại hình an sinh xã hội ngày càng được nhiều người quan tâm, tiếp cận và sử dụng Chế độ bảo hiểm y tế đã ra đời theo nghị định 299/HĐBT ngày 15-8-1992 của Hội đồng Bộ trưởng sau này thay thế bằng Nghị định 58/NĐ-CP nhưng số lượng người dân tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) còn thấp, số liệu thống kê các năm đã thể hiện
rõ điều đó, theo thống kê năm 1993 có khoảng 5,2% dân số tham gia bảo hiểm y tế thì đến năm 2002 có khoảng 16% dân số tham gia bảo hiểm y tế trong đó chủ yếu
là bảo hiểm y tế bắt buộc [32, tr.136-137] đến năm 2006 có khoảng 30,5 triệu người tham gia bảo hiểm y tế tương đương 36% dân số, trong đó có 20,8 triệu thẻ bảo hiểm y tế bắt buộc và 9,7 triệu thẻ bảo hiểm y tế tự nguyện [43, tr.44-45] Trong những năm gần đây với những thay đổi trong chính sách về BHYT có thể thấy rằng hệ thống BHYT Việt Nam đã phát triển và đã nhân rộng đến với tất cả mọi người trên phạm vi toàn quốc cùng tham gia Đặc biệt, vào ngày 1/7/2009, chính sách mới về BHYT có hiệu lực, trong chính sách này sẽ có nhiều sự thay đổi
so với các chính sách trước, đặc biệt là về BHYT TN Theo kết quả cho thấy thì tính đến cuối tháng 5/2010, chỉ sau gần 1 năm kể từ khi Luật BHYT có hiệu lực,
số lượng đối tượng người dân tham gia BHYT đã tăng từ 39,7 triệu người cuối năm 2008 lên 53 triệu người, đạt tỷ lệ bao phủ gần 62% dân số Đến nay cả nước
đã có 11.663 cơ sở KCB có hợp đồng KCB BHYT Nhờ mở rộng hệ thống KCB BHYT, năm 2009, số lượt KCB BHYT là 87,7 triệu lượt, tăng 1,7 triệu lượt KCB
Trang 18so với năm 2008; riêng trong quý I/2010, đã có trên 23 triệu lượt người KCB
BHYT (tăng 27% so với cùng kỳ 2009).(Nguồn:http://suckhoedoisong.vn, ngày
29/6/2010)
Đây là một dấu hiệu đáng mừng và cần phải đẩy mạnh để việc tiến đến bảo hiểm y tế toàn dân đựơc thực hiện nhanh chóng trong thời gian tới Qua đây có thể thấy rằng các chính sách BHYT từng bước được mở rộng về phạm vi, đối tượng
và mức hưởng Các chính sách hỗ trợ ngày càng nhận được sự ủng hộ, tiếp cận và tham gia của cá nhân, cộng đồng dựa trên tinh thần đoàn kết, chia sẻ và tương trợ Đặc biệt là người dân sinh sống ở các vùng khó khăn, xa xôi hẻo lánh như miền núi, hải đảo…trong đó không thể không kể đến người dân ở các vùng nông thôn trên lãnh thổ Việt Nam Chính vì vậy, công tác cần phải đẩy mạnh để mức độ bao phủ tăng, khả năng tiếp cận của nhiều nhóm đối tượng đối với một số chính sách, chương trình mở rộng khắp để một số chính sách phù hợp hơn, đồng bộ và có sự liên kết giữa các bộ phận trong việc thi hành và thực hiện, và huy động nguồn lực
để bảo đảm tính bền vững của chính sách Thực tế chúng ta vẫn bắt gặp tình trạng người dân phải hy sinh các nhu cầu thiết yếu như nhà ở, học hành…đặc biệt nhiều gia đình phải chịu gánh nặng bệnh tật do không thể chi trả dịch vụ khám chữa và điều trị bệnh Chính vì vậy, việc nhân rộng ra cho toàn dân cùng tham gia BHYT
và cùng sẻ chia là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết Vì vậy tìm hiểu những yếu tố tác động đến việc tiếp cận BHYT TN của người dân ở nông thôn tiếp cận
và sử dụng BHYT TN là một yếu tố quan trọng trong việc ban hành và thực thi chính sách mới và nhằm thúc đẩy mục tiêu toàn dân tham gia BHYT như nhà
nước đã đề ra Đó là lý do tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài: “Những yếu tố tác
động đến việc tiếp cận và sử dụng bảo hiểm y tế của người dân ở nông thôn hiện nay” Với những nội dung nghiên cứu trên nhằm mục đích góp phần vào việc tìm
ra những cách thức để thúc đẩy người dân thấy rõ tầm quan trọng của BHYT trong cuộc sống của mình và cộng đồng xã hội và cùng nhau tham gia để thực hiện chính sách an sinh xã hội nước nhà ngày càng phát triển Với nội dung trên tác giả
sẽ nghiên cứu tại xã Hòa Phong, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên
Trang 192 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Đề tài nhằm tìm hiểu thực trạng và những yếu tố tác động đến việc tiếp cận
và sử dụng BHYT TN của người dân ở xã Hòa Phong, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên hiện nay
- Tìm hiểu các yếu tố tác động đến việc tiếp cận và sử dụng BHYT TN
- Tìm hiểu thực trạng KCB và sử dụng các dịch vụ y tế bằng BHYTTN của người dân địa phương tại các cơ sở y tế tại địa phương
- Đề xuất các giải pháp nhằm giúp việc tham gia BHYT TN được nhân rộng
và người dân tham gia BHYT TN và sử dụng các dịch vụ y tế có hiệu quả hơn
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu đã đề ra, luận văn sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
- Thu thập và tổng quan các tài liệu và số liệu thứ cấp liên quan đến đề tài đang thực hiện
- Tìm hiểu, nghiên cứu, khái quát và phân tích làm rõ một số lý thuyết cũng như khái niệm nhằm làm cơ sở lý luận xuyên suốt trong việc nghiên cứu đề tài
- Thông qua kết quả khảo sát thực tế tại địa bàn để phân tích và tìm ra những yếu tố tác động đến việc tiếp cận và sử dụng BHYT TN của người dân ở nông thôn
Trang 20- Với những kết quả nghiên cứu được của luận văn sẽ góp phần vào việc giúp người dân tiếp cận và sử dụng BHYT TN tốt nhất nhằm tiến đến toàn dân tham gia và sử dụng BHYT TN trên toàn quốc
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5.1 Về địa bàn nghiên cứu
Vì điều kiện về thời gian và kinh phí không cho phép nên đề tài không nghiên cứu trên bình diện rộng như tác giả mong muốn Do vậy, trong đề tài này chỉ nghiên cứu chỉ tại xã Hòa Phong, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên
5.2 Đối tượng
Chính sách BHYT có nhiều thay đổi để phù hợp với tình hình phát triển của đất nước hiện nay Tuy nhiên việc người dân đặc biệt là người dân nông thôn vẫn còn gặp những vấn đề nhất định trong việc tiếp cận và sử dụng với BHYT TN Do vậy, trong phạm đề tài này, tác giả sẽ trình bày trọng tâm về việc tiếp cận và sử dụng BHYT TN của người dân nông thôn
5.3 Khách thể nghiên cứu
Đối tượng thụ hưởng chính của BHYT TN là người dân, do vậy trong đề tài này khảo sát trên đối tượng là người dân có tham gia và sử dụng BHYTTN tại địa phương Ngoài ra, để làm rõ hơn việc tiếp cận BHYT TN của người dân, tác giả sẽ khảo sát cán bộ chuyên trách về BHYT TN tại địa phương và bác sĩ, nhân viên tại
cơ sở khám chữa bệnh ở nơi khám đăng ký khám chữa bệnh ban đầu cho người dân có sử dụng thẻ BHYT TN, đặc biệt là có khảo sát thêm nhóm không tiếp cận
Trang 21và sử dụng BHYT TN và nhóm đã tiếp cận sử dụng nhưng trong thời điểm trên không còn tham gia nữa
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Đề xuất giải pháp về BHYT phù hợp với điều kiện và tình hình phát triển của người dân ở nông thôn hiện nay đặc biệt là khu vực duyên hải miền trung với những đặc trưng về điều kiện kinh tế - xã hội và địa lý khác biệt
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài đi sâu tìm hiểu vấn đề pháp lý và thực tế áp dụng chế độ BHYT nói chung và BHYTTN nói riêng ở nông thôn Bên cạnh đó, đề tài cũng đi sâu tìm hiểu các yếu tố tác động đến việc tiếp cận chế độ BHYT ở nông thôn và tìm hiểu thực trạng KCB, sử dụng các dịch vụ y tế bằng BHYTTN của người dân tại địa phương tại các cơ sở y tế tại địa phương , từ đó chúng ta có khuyến nghị giúp cho những nhà làm chính sách, nhà quản lý có cơ sở hoàn thiện các chế độ và những giải pháp thiết thực đảm bảo tính pháp lý và phù hợp với cuộc sống và tình hình thực tiễn của của người dân, đặc biệt là đối với người dân nông thôn Ngoài ra, đề tài cũng đóng góp vào việc ghi nhận và dự đoán những biến đổi của đời sống người dân xã Hòa Phong, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên, một địa phương ở vùng Duyên hải miền Trung dưới tác động của quá trình đô thị hóa - hiện đại hóa của đất nước
Trang 227 Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu
Vì đây là một đề tài nghiên cứu thực nghiệm xã hội học nên một số phương pháp nghiên cứu chuyên ngành đã được áp dụng trong luận văn này Trong đó, phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong đề tài là phương pháp nghiên cứu định lượng Thông qua việc thu thập, xử lý và phân tích các thông tin định lượng, cũng như các dữ liệu thống kê sẵn có, đề tài sẽ tìm hiểu những yếu tố tác động đến việc tiếp cận và sử dụng BHYT TN của người dân ở nông thôn hiện nay
Từ đó, có cái nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu và dự báo xu hướng biến đổi trong tương lai Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để phân tích một cách thấu đáo những yếu tố tác động đến việc tiếp cận
và sử dụng BHYT TN của người tại địa bàn nghiên cứu Để từ đó có thể đưa ra những đánh giá sát thực về các yếu tố tác động tích cực lẫn hạn chế trong việc tiếp cận, sử dụng và đề xuất những định hướng giải pháp mang tính phù hợp
7.2 Kỹ thuật nghiên cứu
7.2.1 Kỹ thuật thu thập thông tin
Bằng cách phỏng vấn dựa trên bảng hỏi anket, thông tin định lượng được thu thập sẽ phản ánh được nội dung chính đó là những yếu tố tác động đến việc tiếp cận và sử dụng BHYT TN tại xã Hòa Phong của người dân Do đó, việc chọn mẫu nghiên cứu là những người có tham sử dụng BHYT TN trên địa bàn được khảo sát
Việc chọn mẫu được tiến hành như sau (xem danh sách mẫu ở phụ lục 1)
- Chọn địa bàn nghiên cứu: xã Hòa Phong, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên
- Lấy mẫu tại địa bàn: Phương pháp chọn mẫu tuân theo những tiêu chí: người dân là những người có tham gia BHYT TN tại địa phương
- Dung lượng mẫu: 150 người
- Cách chọn mẫu được sơ đồ hóa như sau: Ở địa phương sẽ cung cấp cho tác giả danh sách người sử dụng BHYT TN Danh sách mẫu bao gồm những người còn hạn sử dụng tính đến thời điểm tháng 5/2010 là khoảng 450
Trang 23người và được đánh số thứ tự từ 1 đến 450, thực hiện bước nhảy k=3 theo công thức k=N/n (trong đó, N: kích thước tổng thể, n: dung lượng mẫu) Như vậy, sau khi chọn ngẫu nhiên (bốc thăm) một mẫu bất kỳ từ trong nhóm số với bước nhảy cụ thể là cách 2 người chọn 1 người Và như thế sẽ tìm ra được danh sách mẫu cần được phỏng vấn trong cuộc điều tra là 150 người
Cấu trúc bảng hỏi: được thiết kế gồm các phần cơ bản sau:
- Thông tin cá nhân
- Thực trạng tiếp cận và sử dụng BHYTTN của người dân tại địa bàn khảo sát
- Những yếu tố tác động đến việc tiếp cận và sử dụng BHYTTN tại địa phương
- Việc tiếp cận và sử dụng các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương của người dân có sử dụng dịch vụ BHYTTN
- Đánh giá của người dân về hiệu quả sử dụng loại hình bảo hiểm y tế ở nông thôn
Phương pháp phỏng vấn sâu: bằng hình thức phỏng vấn sâu, nghiên cứu
định tính nhằm hỗ trợ trong việc khai thác sâu các khía cạnh các yếu tố tác động đến việc tiếp cận và sử dụng BHYT TN của người dân cũng nhận thức, nguyện vọng, mong đợi của người dân về vấn đề này… bằng cách chọn mẫu từ những người cung cấp thông tin ngẫu nhiên của nhóm bảng hỏi
Hình thức: phỏng vấn bán cấu trúc, dựa theo danh mục các câu hỏi mà đề tài nghiên cứu quan tâm
Phương pháp chọn mẫu phỏng vấn sâu
- 10 người dân: chọn người sử dụng BHYT TN đã có trong mẫu bảng hỏi ở các độ tuổi và nghề nghiệp khác nhau nhằm khái quát hóa được tình trạng
sử dụng trong nhiều hoàn cảnh từ đó thấy được sự khác biệt và các nhân tố ảnh hưởng
Trang 24- Ngoài ra chọn thêm 01 người dân không sử dụng dịch vụ BHYTTN và 01 người dân đã tham gia BHYT TN nhưng ở thời điểm hiện tại không còn tham gia nữa để tìm hiểu thêm một số nguyên nhân chủ quan và khách quan tác động trong việc không tham gia BHYT TN của người dân tại địa bàn khảo sát
- 02 cán bộ đại lý bảo hiểm tại xã Hòa Phong, nơi người dân đăng ký tham gia BHYT TN
- 02 Nhân viên cung cấp dịch vụ BHYT ở địa bàn khảo sát, trong đó có 01 bác sĩ trưởng khoa khám bệnh và một y tá của bệnh viện đa khoa khu vực huyện Tây Hòa – là nơi khám chữa bệnh ban đầu của những người tham gia BHYT TN tại địa phương
- 01 cán bộ BHXH huyện Tây Hòa: để tìm hiểu tình trạng chung của các đơn
vị trong toàn huyện đặc biệt là xã trong diện khảo sát trong việc tiếp cận thực hiện chính sách bảo hiểm y tế nhằm phát triển hệ thống này cho toàn dân
- 01 cán bộ tuyên truyền của BHXH tỉnh: để tìm hiểu thực trạng chung về việc tuyên truyền thông tin và việc tiếp cận tham gia BHYT TN của nhân dân trong toàn tỉnh
7.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu
Các tư liệu thu thập từ các nguồn: sách, báo, tạp chí, internet… sẽ được tiến hành tổng lượt theo chủ đề, đề mục cụ thể và rõ ràng để trên cơ sở đó có thể có một cái nhìn bao quát về việc sử dụng bảo hiểm y tế ở nông thôn Ngoài ra, các tài liệu này cũng sẽ dùng để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn sử dụng BHYT TN của người dân
Các thông tin định lượng, thu thập từ bảng hỏi anket được xử lý và hệ thống theo nội dung dựa vào phần mềm SPSS 11.5 Các câu hỏi mở cũng sẽ được
mã hóa lại và cũng được xử lý như những câu hỏi đóng
Đối với các cuộc phỏng vấn được ghi âm bằng phương pháp phỏng vấn sâu
sẽ được gỡ băng phỏng vấn và phân tích thông tin được ghi nhận
Trang 258 Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài
- Chưa có nhiều kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu
- Không có nhiều thời gian để tìm và đọc nhiều tài liệu và việc tiếp cận với các đề tài nghiên cứu còn khó khăn nên số lượng tài liệu được tổng quan không nhiều
- Vì đề tài được thực hiện ở tỉnh cách xa thành phố Hồ Chí Minh nên tạo sự bất tiện và tốn kém trong việc đi lại trong quá trình thực hiện đề tài
9 Kết cấu luận văn
Kết cấu của luận văn gồm có 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận - khuyến nghị
Trong phần mở đầu, chúng tôi trình bày về lý do của việc lựa chọn nghiên cứu những yếu tố tác động đến việc tiếp cận và sử dụng bảo hiểm y tế tự nguyện của người dân ở nông thôn, đối tượng, khách thể nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, tình hình vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật nghiên cứu và một số nội dung khác
có liên quan
Trang 26Trong phần nội dung, tác giả chia làm 3 chương: Chương 1 về cơ sở lý luận
- phương pháp luận, chương 2 về đặc điểm địa bàn nghiên cứu và mẫu nghiên cứu , trong chương 3 về kết quả nghiên cứu là tìm hiểu về những yếu tố tác động đến việc tiếp cận và sử dụng BHYT TN tại xã Hòa phong, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên Ở chương cơ sở lý luận và phương pháp luận, chúng tôi tập trung trình bày những vấn đề chung nhất liên quan đến chủ đề nghiên cứu như các lý thuyết, các cách tiếp cận, các khái niệm và phương pháp nghiên cứu Ở chương 2 của phần nội dung, chúng tôi sẽ trình bày kết đôi nét về địa bàn nghiên cứu, tình hình tham gia bảo hiểm ở địa phương, thông tin về cơ sở y tế là nơi khám chữa bệnh ban đầu cho người dân trong mẫu khảo sát và mô tả mẫu nghiên cứu Trong chương chính, tác giả sẽ phân tích những yếu tố tác động đến việc tiếp cận và sử dụng bảo hiểm y
tế tự nguyện của người dân ở nông thôn từ số liệu điều tra thu được của cuộc khảo sát thực nghiệm
Trong phần kết luận và khuyến nghị, tác giả tổng kết lại các nội dung đã trình bày ở chương 2 và chương 3, trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số khuyến nghị và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
Ngoài ra, luận văn còn có thêm phần phụ như danh mục các biểu đồ, bảng biểu, hình ảnh, danh mục chữ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục
Trang 27PHẦN NỘI DUNG
Trang 28CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN LÝ THUYẾT 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Có thể nhận thấy rằng nghiên cứu về người dân ở nông thôn là mối quan tâm lớn của các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau như tâm
lý, kinh tế, trong đó có các nhà xã hội học.Vùng chủ đề này cũng vô cùng phong phú và đa dạng, đã thu hút nhiều nhà xã hội học, trong đó vấn đề tiếp cận và sử dụng bảo hiểm y tế của người dân ở nông thôn hiện nay là một mảng chủ để được các học giả nghiên cứu trên nhiều chiều cạnh về cả mặt lý luận và thực tiễn
1.1.1 Các chính sách, văn bản pháp luật và thành tựu về BHYT
Bối cảnh ra đời chính sách bảo hiểm y tế ở Việt Nam
Đầu những năm 80, các cơ sở khám chữa bệnh từ trung ương đến địa phương đều thiếu kinh phí một cách trầm trọng, cơ sở hạ tầng xuống cấp, đời sống của cán bộ nhân viên y tế gặp nhiều khó khăn đã có ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh thần phục vụ và chất lượng khám chữa bệnh của các cơ sở y tế trong cả nước
Trước tình hình đó, thực hiện chủ trương đổi mới trong lĩnh vực y tế với phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm”
Theo tinh thần nghị quyết đại hội VI của Đảng, để bổ sung nguồn kinh phí
và giảm bớt sức ép căng thẳng của các cơ sở khám chữa bệnh, từ năm 1989, Nhà nước cho phép các cơ sở khám chữa bệnh thu một phần viện phí nhằm huy động
sự đóng góp của một bộ phận người dân có khả năng chi trả, hạn chế sự bao cấp tràn lan của ngân sách nhà nước để tập trung cho những đối tượng ưu đãi xã hội, người nghèo Tuy nhiên, giải pháp thu một phần viện phí đã bộc lộ nhiều vấn đề mang tính xã hội, nhân đạo tác động đến khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và gánh nặng về chi phí trong khám chữa bệnh của người dân nhất là những người có thu nhập thấp, những người nghỉ hưu, mất sức lao động, trẻ em
Để giải quyết những bất cập của việc thu viện phí trực tiếp, chính sách bảo hiểm y tế đã được bộ y tế nghiên cứu và tổ chức thực hiện thí điểm từ cuối năm
1989 ở một số tỉnh thành phố như Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Quảng Trị, Phú Yên, Bến Tre,…trên cơ sở những kết quả đạt được và kinh nghiệm rút ra trong quá trình
Trang 29thí điểm, ngày 15/8/1992, hội Đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định 299/HĐBT kèm theo Điều lệ BHYT, đánh dấu sự ra đời chính sách BHYT ở nước ta.điều lệ BHYT theo Nghị định 299/HĐBT có 5 chương, 25 điều Tuy mới ra đời nhưng ưu điểm to lớn của Nghị định trên đã thu hút một số lượng lớn người tham gia BHYT và làm nền tảng cho sự phát triển chính sách BHYT sau này Số người tham gia BHYT sau 4 năm lên đến 9 triệu người, trong đó có trên 3,1 triệu người thuộc diện BHYT tự nguyện học sinh-sinh viên Hàng triệu người tham gia BHYT đã quen dần với việc hưởng chế độ BHYT khi ốm đau Tuy nhiên, qua thời gian Nghị định 299 đã bộc lộ những nhược điểm do tình hình kinh
tế xã hội phát triển nhanh chóng, nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng cao và
cơ chế thị trường ảnh hưởng đến ngành y tế nảy sinh nhiều mâu thuẫn và khó khăn phức tạp Ngày 13/8/1998 Chính phủ ra Nghị định số 58/CP, ban hành điều lệ BHYT mới thay cho Nghị định số 299HĐBT Nghị định này ra đời tạo ra một số
ưu điểm lớn so với Nghị định đầu tiên Nghị định này gồm 8 chương và 32 điều kết quả đạt được của Nghị định này đã được chứng minh trong thực tiễn hơn 12,5 triệu người tham gia BHYT diện bắt buộc và trên 4,2 triệu người tham gia diện BHYT tự nguyện học sinh và nhân dân Nguồn thu quỹ BHYT gia tăng chiếm 1/3 ngân sách nhà nước cấp cho ngành y tế và 50% ngân sách dành cho lĩnh vực điều trị Tuy nhiên, nghị định này cũng đã bộc lộ một số nhược điểm chẳng hạn như quy định pháp lý để truy cứu trách nhiệm về đối tượng tham gia BHYT bắt buộc không rõ ràng cụ thể, quyền hạn của cơ quan BHYT chưa tương xứng với nhu cầu phát triển ngày càng cao của BHYT Quy định về BHYT tự nguyện chưa cụ thể về trách nhiệm của UBND các địa phương trong quá trình triển khai Chính vì thế ngày 16/5/2005 chính phủ ra Nghị định số 63/CP ban hành điều lệ BHYT mới thay cho Nghị định số 58/CP Nghị định này có 3 chương và 35 điều
Tuy nhiên Nghị định này cũng có một số nhược điểm nhất định dẫn đến nguy cơ mất an toàn quỹ BHYT, tình trạng lạm dụng quỹ và quá tải người đi khám chữa bệnh cho các cơ sở y tế
Trang 30Bắt đầu từ ngày 1-7-2009, Luật Bảo hiểm y tế (BHYT) sẽ chính thức có hiệu lực thi hành Ngày 17-4, Bộ Y tế đã tổ chức Hội nghị phổ biến Luật BHYT
và xin ý kiến về dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHYT (gọi tắt là dự thảo nghị định) (Nguồn: http://sggp.org.vn, Sài Gòn giải phóng online, ngày 18/04/2009)
Theo số liệu từ kỷ yếu hội nghị “Tổng kết 15 năm thực hiện chính sách bảo
hiểm y tế” (2007) do Bộ Y tế tổ chức vào ngày 27 tháng 9 năm 2007 tại Hà Nội thì
sau hơn 15 năm thực hiện chính sách BHYT đã thu được kết quả quan trọng, số người tham gia BHYT ngày càng tăng mạnh; nguồn BHYT ngày càng trở thành nguồn tài chính quan trọng cho các cơ sở khám chữa bệnh; chính sách BHYT được đông đảo nhân dân đồng tình ủng hộ, đây là những tiền đề quan trọng để tiến tới BHYT toàn dân Bảo hiểm xã hội Việt Nam xin báo cáo kết quả cơ bản đạt được và những tồn tại chủ yếu trong quá trình triển khai thực hiện như sau:
Những kết quả đạt được trong thực hiện chính sách BHYT
Có thể thấy rằng số người tham gia BHYT tăng nhanh qua các năm: Năm
1993 chỉ có 3,7 triệu người tham gia BHYT; năm 1998 là 9,9 triệu người; năm
2003 là 16,4 triệu người; năm 2004 là 18,4 triệu người tăng 12% so với năm trước; năm 2005 là 23,2 triệu người tăng 26%; đến năm 2006 số người tham gia BHYT lên đến 36,7 triệu người, tăng 58% so với năm trước và bằng khoảng 45% dân số
cả nước Riêng đối tượng tham gia BHYT tự nguyện năm 1993 chỉ có 320 ngàn người, năm 1998 là 3,7 triệu người; năm 2003 là 5,1 triệu người; năm 2004 là 6,4 triệu người tăng 38% so với năm trước; năm 2005 là 9,1 triệu người tăng 42% so với năm trước và năm 2006 là 11,1 triệu người, tăng 22% so với năm trước
Số thu BHYT tăng nhanh: năm 1993 thu BHYT là 114 tỷ đồng; năm 1998 thu là 695 tỷ đồng; năm 2003 số thu là 2.028 tỷ đồng; năm 2004 số thu là 2.536 tỷ đồng tăng 25% so với năm trước và năm 2006 số thu là 4.812 tỷ đồng, tăng 57%
so với năm trước BHYT đã góp phần thực hiện xã hội hóa và dần thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, đáp ứng nguồn tài chính cho bệnh viện và làm giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước
Trang 31Quỹ BHYT ngày càng trở thành nguồn lực tài chính quan trọng và ổn định cho các cơ sở KCB Chi phí BHYT không ngừng tăng nhanh theo các năm như: Năm 1993 quỹ BHYT thanh toán là 567 tỷ đồng; Năm 2003 quỹ BHYT thanh toán là 1.188 tỷ đồng; Năm 2006 quỹ BHYT thanh toán cho các bệnh viện là 6.022 tỷ đồng, chiếm 40% ngân sách hoạt động thường xuyên của các cơ sở KCB Quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế ngày càng được đảm bảo nên số lượt khám, chữa bệnh BHYT và chi phí khám, chữa bệnh BHYT tăng nhanh: Năm
2005 có 36,9 triệu lượt người khám, chữa bệnh BHYT bằng 118% so với năm 2004; Năm 2006 có 60 triệu lượt người khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, bằng 164% so với năm 2005; Ước năm 2007 có trên 83 triệu lượt người KCB, bằng 128% so với năm 2006 và bằng 240% so với năm 2005
Cân đối thu, chi quỹ bảo hiểm y tế: Tổng thu bảo hiểm y tế năm 2006 là 4.812 tỷ đồng, trong đó quỹ khám chữa bệnh là 4.510 tỷ đồng Tổng số chi khám chữa bệnh bảo hiểm y tế là 6.022 tỷ đồng, bội chi quỹ khám chữa bệnh là 1.512 tỷ đồng và so với số thu bội chi là 1.210 tỷ đồng
Số bội chi quỹ BHYT năm 2006 chủ yếu là do thực hiện bảo hiểm tế đối với người nghèo và bảo hiểm y tế tự nguyện, mức phí bảo hiểm y tế của các nhóm đối tượng này thấp nhưng chi phí KCB tăng cao: Năm 2006 có 14,9 triệu người nghèo tham gia bảo hiểm y tế với số thu BHYT là 751 tỷ đồng, chi phí khám chữa bệnh BHYT là 773 tỷ đồng, bội chi quỹ KCB là 60 tỷ đồng và bội chi so với số thu là 22 tỷ; Đối với đối tượng bảo hiểm y tế tự nguyện năm 2006 có 9,1 triệu người tham gia so với số thu BHYT là 1.843 tỷ đồng, bội chi so với số thu BHYT
tự nguyện là 1.098 tỷ đồng
Với mức tham gia BHYT của các nhóm đối tượng như quy định hiện hành thì tổng thu bảo hiểm y tế năm 2007 ước là 5.821 tỷ đồng, trong đó quỹ khám chữa bệnh là 2.207 tỷ đồng và bội chi theo số thu là 1.863 tỷ đồng Trong đó:
- Đối với đối tượng bảo hiểm y tế bắt buộc (bao gồm cả người nghèo): Số thu của BHYT là 5.180 tỷ đồng, quỹ khám chữa bệnh là 4.920 tỷ đồng Số chi cho
Trang 32KCB BHYT là 5.776 tỷ đồng, bội chi theo số thu 596 tỷ đồng và bội chi quỹ khám, chữa bệnh BHYT bắt buộc là 856 tỷ đồng
- Đối với đối tượng bảo hiểm y tế tự nguyện: Số thu của BHYT tự nguyện là
641 tỷ đồng, quỹ khám chữa bệnh là 557 tỷ đồng Số chi khám chữa bệnh cho đối tượng này là 1.908 tỷ đồng, bội chi so với số thu là 1.267 tỷ và bội chi so với quỹ khám, chữa bệnh là 1.351 tỷ đồng
Khó khăn, vướng mắc và tồn tại trong thực hiện BHYT
Sau 15 năm thực hiện chính sách BHYT với 3 lần thay đổi Nghị định, chính sách BHYT tại Việt Nam đã thu được những kết quả đáng khích lệ Bên cạnh những kết quả đạt được, còn tồn tại một số vấn đề trong cơ chế chính sách và trong tổ chức thực hiện cần được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện để tiến tới BHYT toàn dân:
Về quyền lợi của người tham gia BHYT
Quyền lợi trong KCB của người tham gia BHYT được mở rộng quá mức, không tương xứng giữa phạm vi chi trả của BHYT với nguồn thu BHYT là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng bội chi quỹ BHYT Việc mở rộng các dịch vụ y tế được thanh toán BHYT theo quy định tại khung giá ban hành kèm theo Thông tư liên Bộ số 03/2006/TTLB ngày 26/1/2006 về việc bổ sung Thông tư
số 14/TTLB ngày 30/9/1995 hướng dẫn thu một phần viện phí đã thoát ra khỏi nguyên tắc thu một phần viện phí của Nghị định số 95/CP ngày 27/8/1994 của Chính phủ Mức giá các dịch vụ kỹ thuật của khung quá cao so với chi phí thực tế đang được thực hiện thu của các bệnh viện tư nhân (như một số dịch vụ kỹ thuật trong điều trị răng ), sự chênh lệch giữa giá tối đa và tối thiểu trên một dịch vụ kỹ thuật quá cao, có loại gấp 10 lần Thực hiện quy trình phê duyệt giá của các tỉnh chưa đúng theo hướng dẫn của liên Bộ, không căn cứ điều kiện thực tế và khả năng cung cấp dịch vụ của các cơ sở KCB để xem xét phê duyệt, dẫn đến tình trạng giá phê duyệt không đầy đủ, không sát giá thực tế, phê duyệt cả những dịch
vụ kỹ thuật ngoài khung giá hoặc phê duyệt vượt giá tối đa của khung giá quy định
Trang 33như Khánh Hòa, Bình Định Một số tỉnh miền núi, miền tây nam bộ có hoàn cảnh kinh tế xã hội khó khăn nhưng giá viện phí phê duyệt ở mức tối đa trong khung giá
Ngoài ra một loạt các quyền lợi khác đúng ra không thuộc phạm vi chi trả của quỹ BHYT như thanh toán chi phí điều trị tai nạn giao thông, chi phí cho các bệnh bẩm sinh là những bệnh có chi phí rất lớn trong điều trị, đồng thời việc xác định để thanh toán gặp rất nhiều khó khăn và dễ bị lạm dụng cũng được đưa vào quyền lợi để quỹ BHYT thanh toán
Về cơ chế kiểm soát chi phí KCB
Cùng với việc mở rộng phạm vi quyền lợi của người bệnh BHYT là việc dỡ
bỏ tất cả các cơ chế kiểm soát chi phí KCB BHYT như cơ chế cùng chi trả 20% chi phí KCB và trần điều trị nội trú đã làm cho chi phí KCB BHYT ngày càng gia tăng, trong đó không ít những chi phí đã bị lạm dụng từ các cơ sở KCB và từ người bệnh Các cơ sở KCB tăng cường chỉ định các dịch vụ y tế không cần thiết cho người bệnh để tăng thu, người bệnh tăng cường lạm dụng bằng cách không
ốm cũng đi KCB để lĩnh thuốc Các dịch vụ kỹ thuật thường bị lạm dụng tập trung chủ yếu là những dịch vụ kỹ thuật xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, là những dịch
vụ kỹ thuật mang lại nhiều nguồn thu cho các cơ sở KCB Cơ cấu chi phí KCB BHYT ngày càng bị thay đổi, nếu như năm 2004 và 6 tháng đầu năm 2005 (thực hiện cùng chi trả) cơ cấu tỷ lệ chi cho xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh chiếm 13% thì đến năm 2006 tỷ lệ này lên gần 20% trên tổng chi phí KCB BHYT và nhiều tỉnh có tỷ lệ chi xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh trên 30% tổng chi phí KCB Dẫn đến tình trạng tại nhiều địa phương sau 6 tháng thực hiện Nghị định mới (6 tháng cuối năm 2005) thì chi phí KCB tăng gấp 2 lần so với 6 tháng đầu năm 2005 khi vẫn còn thực hiện cơ chế cùng chi trả và trần điều trị nội trú
Mức đóng bảo hiểm y tế
Trang 34Mức đóng BHYT bình quân của 2 loại hình BHYT bắt buộc và tự nguyện đều chưa đáp ứng được nhu cầu chi phí y tế thực tế và không đảm bảo tính công bằng giữa các nhóm đối tượng tham gia BHYT, đồng thời chưa có sự hỗ trợ của nhà nước cho các đối tượng tham gia BHYT tự nguyện Theo quy định hiện hành, mức đóng bảo hiểm y tế bắt buộc trong những năm qua không thay đổi (3% lương), mức đóng của người nghèo bằng 33% mức đóng bình quân của đối tượng bắt buộc Trong khi đó phạm vi quyền lợi BHYT như nhau, riêng đối tượng tự nguyện HSSV còn được hưởng thêm về chăm sóc sức khỏe ban đầu tại trường học
và tiền mai táng phí Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng mất cân đối nghiêm trọng thu, chi quỹ BHYT
Mặt khác, việc lấy mức đóng BHYT bình quân chung theo từng địa phương làm căn cứ để xác định quỹ KCB BHYT tại các cơ sở KCB đã tạo nên những khó khăn nhất định về mặt tài chính cho nhiều cơ sở KCB, nhất là những cơ sở KCB
có đông cán bộ, người về hưu đăng ký KCB ban đầu do mức đóng bị kéo tụt xuống khi hòa trộn với các nhóm đối tượng khác có mức phí tham gia BHYT thấp như người nghèo
Về phương thức thanh toán chi phí BHYT
Do không có quy định ràng buộc và phân định trách nhiệm giữa các bên tham gia, nên việc lựa chọn phương thức thanh toán chi phí KCB BHYT gặp không ít khó khăn, các cơ sở KCB hầu hết chọn phương thức thanh toán theo phí dịch vụ Bên cạnh đó, phương thức thanh toán theo định suất chưa có cơ chế khuyến khích cơ sở KCB tăng cường tiết kiệm chi phí, chỉ định và cung cấp dịch
vụ y tế một cách hợp lý, an toàn và hiệu quả Trong khi đó giá viện phí được bổ sung theo Thông tư số 03/2006/TTLT/BYT-BTC-BLĐTB&XH đang thu của người bệnh Đồng thời các cơ sở KCB đang tận thu theo Nghị định số 43 để nâng cao đời sống và nâng cấp cơ sở KCB, nên không mặn mà với phương thức thanh toán theo định suất
Trang 35Về cung ứng và quản lý thuốc BHYT
Theo quy định hiện hành, cơ sở KCB có trách nhiệm cung ứng đầy đủ các loại thuốc có trong danh mục để phục vụ nhu cầu khám, chữa bệnh của người có thẻ BHY Đã có nhiều phương thức được áp dụng để thực hiện việc cung ứng thuốc KCB Tuy nhiên, đến nay chưa có phương thức nào hội tụ đầy đủ tính ưu việt và đáp ứng đầy đủ được yêu cầu quản lý thuốc cho người bệnh BHYT Nguyên nhân chủ yếu chính từ những quy định giao việc cung ứng thuốc BHYT cho các cơ sở KCB, trong khi cơ quan BHXH là cơ quan quản lý quỹ và chi trả chi phí thuốc thì hầu như không có vai trò trong quản lý giá thuốc và cung ứng thuốc BHYT Bên cạnh đó, do quy định trên nên không kiểm soát được giá thuốc thực nhập của các cơ sở KCB và trong nhiều năm qua cơ quan BHXH đã phải thanh toán chi phí thuốc với giá cao hơn giá thị trường cùng chủng loại, tại cùng thời điểm Cá biệt có loại thuốc đã được thanh toán với giá cao gấp đôi, thậm chí gấp
ba lần so với giá bán lẻ trên thị trường Mặt khác danh mục thuốc được xây dựng quá rộng nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng thuốc của người bệnh có thẻ BHYT Không những thế, danh mục thuốc nay đã và đang trở thành căn cứ pháp lý cho quá trình lạm dụng thuốc BHYT, làm gia tăng chi phí thuốc và khả năng bội chi quỹ BHYT ngày càng cao
Thực tế sau hai năm triển khai thực hiện Nghị định số 63/2005/NĐ ngày 16/5/2005 của Chính phủ và các Thông tư hướng dẫn thực hiện BHYT thì quỹ BHYT ngày càng mất cân đối nghiêm trọng giữa thu và chi Năm 2005 quỹ BHYT bội chi so với số thu là trên 100 tỷ, năm 2006 bội chi so với số thu 1.512 tỷ và ước tính năm 2007 bội chi 1.863 tỷ so với số thu BHYT Với tốc độ chi phí KCB BHYT như hiện nay thì năm 2007 BHXH Việt Nam phải sử dụng hết số dư kết dư quỹ BHYT của hơn 10 năm trước để lại vẫn không có khả năng cân đối, thu không
đủ chi Vì vậy, đây là khó khăn lớn nhất mà cơ quan BHXH đang phải giải quyết
để đảm bảo quyền lợi của người tham gia BHYT trong thời gian tới
Trang 36Tổ chức thực hiện chính sách BHYT:
Tình trạng quá tải bệnh nhân tại các bệnh viện ngày càng tăng, nhất là những bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến Trung ương, các bệnh viện đều phải kê thêm giường bệnh so với kế hoạch nhưng vẫn không đủ, một số bệnh viện bệnh nhân vẫn phải nằm đôi, nằm ba Tình trạng quá tải bệnh nhân liên tục diễn ra tại các bệnh viện nên tinh thần, thái độ phục vụ của các thầy thuốc không chu đáo, thiếu nhiệt tình, đôi khi còn gây phiền hà cho người bệnh, nhất là bệnh nhân có thẻ BHYT Mặt khác, hầu hết các bệnh viện thực hiện tự chủ về tài chính theo Nghị định số 43 nên đã tận thu của người bệnh kể cả bệnh nhân có thẻ BHYT và có các khoản thu ngoài quy định của viện phí mà do bệnh viện tự đặt ra
Trong thời gian qua, đội ngũ cán bộ làm công tác giám định chi phí KCB (giám định viên y tế) tại các cơ sở KCB BHYT vừa thiếu và vừa yếu Cơ quan BHXH đã tăng cường tuyển các Bác sỹ vào ngành nhưng rất khó khăn, vì các cơ
sở KCB đang thiếu Bác sỹ nhất là bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện, đồng thời chế độ đãi ngộ của BHXH không hấp dẫn bằng làm Bác sỹ tại các bệnh viện Các giám định viên y tế của ngành trong những năm qua cũng ít có điều kiện được tập huấn nghiệp vụ và học tập nâng cao trình độ chuyên môn về Y và Dược, nên khả năng cập nhật thông tin và trình độ tin học còn yếu Trong khi đó, số lượt và chi phí KCB BHYT ngày càng tăng nhanh, năm 2006 tăng gấp 2 lần năm 2005 và gấp
3 lần 2004 nhưng giám định viên y tế lại tăng không đáng kể (tăng 38%), bình quân 01 giám định viên y tế phải giám định trên 33.000 hồ sơ và trên 3,35 tỷ đồng/năm Như vậy, công việc của Giám định viên y tế đang làm tăng gấp 2 và 3 lần so với trước khi có Nghị định số 63, nên khả năng kiểm soát chi phí KCB và công tác giám định chi phí KCB tại các cơ sở KCB BHYT gặp nhiều khó khăn [42]
Trang 371.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
1.1.2.1 Nghiên cứu nước ngoài
Về nghiên cứu lý luận
Đây là một phần nội dung trong những vấn đề xã hội học được tác giả John J
Macionis đề cập trong tác phẩm “Xã hội học” (2004) Trong chương 19 về sức
khỏe và y khoa, tác giả đã trình bày những vấn đề chung nhất, khái quát nhất về vấn đề sức khỏe, trong đó tác giả cũng đã phân tích những sự liên quan giữa sức khỏe với các mẫu văn hóa của xã hội và sức khỏe với kỹ thuật xã hội và tài nguyên
xã hội Ngoài ra, tác giả cũng đã nêu bật và so sánh giữa các mẫu sức khỏe theo dòng lịch sử Những thay đổi xã hội quan trọng chẳng hạn như sự phát triển nông nghiệp, sự phát triển thành phố và sự phát triển thành phố và sự xuất hiện của y học có tác động quan trọng đối với các mẫu sức khỏe Trong đó, tác giả đã nêu bật
và phân tích rõ nét được vấn đề sức khỏe ở Mỹ, có thể thấy rằng người Mỹ thụ hưởng các mẫu sức khỏe rất thuận lợi so với công dân các nước phi công nghiệp hóa Tác giả cũng đã cho rằng nghiên cứu dịch tễ học xã hội bao gồm nhiều mẫu sức khỏe liên quan đến những khả biến như độ tuổi, phái và bất bình đẳng xã hội
Ngoài ra, trong chương này tác giả cũng đã phân tích một cách sâu sắc và
rõ nét về chăm sóc y tế ở các nước trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa mà tiêu biểu
là các nước Liên Xô và Trung Quốc Còn chăm sóc y tế trong các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, tác giả lấy điển hình là các nước như Thụy Điển, Anh, Canada và Nhật Bản Qua đó, tác giả cũng đã có cái nhìn so sánh giữa việc chăm sóc giữa các nước đã nêu so với nước Mỹ Qua đó cho chúng ta thấy rằng xã hội chủ nghĩa xác định chăm sóc y tế như một quyền lợi Hệ thống chăm sóc y tế do chính phủ kiểm soát cố gắng cung cấp lợi ích đồng đều cho tất cả mọi người Trong khi đó, xã hội
tư bản chủ nghĩa xem chăm sóc y tế như một hàng hóa phải mua, mặc dù hầu hết các chính phủ tư bản chủ nghĩa đều tham gia chăm sóc y tế thông qua các chương trình y tế xã hội hóa hay bảo hiểm y tế quốc gia
Đặc biệt trong nội dung về kinh tế học chăm sóc y tế ở Mỹ, tác giả cũng đã nêu ra rằng Mỹ là xã hội công nghiệp hóa duy nhất không có chương trình chăm sóc y tế toàn diện Người Mỹ mua chăm sóc y tế thông qua hệ thống trả phí trực
Trang 38tiếp Trong đó đa số người Mỹ đều có bảo hiểm y tế cá nhân và bảo hiểm chính phủ hay tư cách thành viên trong các tổ chức bảo dưỡng y tế giúp nhiều người
Một nội dung nữa mà tác giả luận văn có thể tham khảo học hỏi về lý thuyết đó là phần về phân tích lý thuyết về y tế và y khoa Trong phần này tác giả
đã trình bày mô hình lý thuyết là phương tiện tổ chức và giải thích thực tiễn Đó
là lý thuyết phân tích kết cấu - chức năng, tác giả đã nêu bật vai trò của bệnh tật, trong đó người ốm phải chữa bệnh, chỉ muốn lành bệnh chưa đủ, người ốm phải tìm kiếm sự hỗ trợ bất kỳ và hợp tác với những người làm trong công tác chăm sóc
y tế, cụ thể là vai trò của bác sĩ Ngoài ra, tác giả cũng đã phân tích nội dung lý thuyết tương tác biểu trưng và phân tích mâu thuẫn xã hội Tuy nhiên, những phân tích được nêu trên rất thực tế nhưng chủ yếu dựa trên sự phân tích các xã hội phát triển, nhiều nhất là Mỹ, mà chưa đề cập nhiều tới nhóm vấn đề chăm sóc y tế, đặc biệt là bảo hiểm y tế cho người dân ở các nước đang phát triển, các nước nghèo [14, tr.631-664]
1.1.2.2 Nghiên cứu trong nước
Tác giả Trịnh Hòa Bình trong đề tài “Bảo hiểm y tế trong hệ thống an sinh
xã hội: nhu cầu và khả năng mở rộng ở nông thôn” năm 2006 đã khảo sát tại xã
Yên Thường, đây là một xã ở ngoại thành Hà Nội Tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu bao gồm nghiên cứu định tính: gồm 3 cuộc thảo luận nhóm, 17 cuộc phỏng vấn sâu và nghiên cứu định lượng: phỏng vấn bảng hỏi trên quy mô mẫu cá nhân của 150 hộ gia đình Nội dung chủ yếu tìm hiểu về nhu cầu thực tế, hiệu quả sử dụng và khả năng mở rộng bảo hiểm y tế tại nông thôn.Thông qua cuộc khảo sát tác giả đã đưa ra một số nhận định rằng: Người dân đã và đang tham gia vào chế độ bảo hiểm ngày một nhiều, đặc biệt là bảo hiểm y tế tự nguyện Nhận thức về vai trò, lợi ích của bảo hiểm y tế đối với sức khỏe người dân đang được nâng lên rõ rệt Nguyên nhân cơ bản nhất ảnh hưởng đến việc tham gia của người dân đối với bảo hiểm y tế là chất lượng điều trị, cung cách phục vụ và ứng
xử của nhân viên y tế, ngoài ra các yếu tố như giá thẻ hay sự thiếu thông tin về chính sách cũng ảnh hưởng đến việc tham gia của người dân Tác giả cũng đã đề cập đến các loại hình phương tiện truyền thông trong việc tuyên truyền các chính
Trang 39sách bảo hiểm y tế mặc dù hiệu quả truyền thông chưa thật sự cao Qua khảo sát cũng cho thấy rằng người dân có nhu cầu muốn được gia tăng các giá trị sử dụng, xây dựng được nhiều loại hình bảo hiểm y tế khác nhau phù hợp với từng đối tượng và có chính sách về mức phí hợp lý
Tóm lại với kết quả khảo sát của đề tài này và với thực trạng và nhu cầu hiện có, tác giả cũng đã phần nào cho thấy rằng người dân thuộc các nhóm xã hội đều có khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế tốt thông qua việc khám và chữa bệnh bằng loại hình bảo hiểm y tế
Ngoài ra, bài viết cũng đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng mở rộng bảo hiểm y tế ở nông thôn hiện nay như tùy vào điều kiện và đặc thù của từng khu vực và địa phương đề áp dụng các loại hình thức tuyên truyền về các chính sách bảo hiểm y tế để người dân tiện theo dõi và nâng cao nhận thức cho
họ Bên cạnh đó, cần cải thiện một số nội dung như sau: nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và thái độ phục vụ của nhân viên y tế Dựa vào điều kiện thực tế của người dân để triển khai các loại hình bảo hiểm với các mệnh giá khác nhau để tất cả các đối tượng trong xã hội có thể tham gia Có thể triển khai bán bảo hiểm y
tế theo các đại lý để người dân dễ dàng tiếp cận các dịch vụ Đặc biệt quan tâm đến quá trình đăng ký làm thủ tục cũng như thanh toán làm sao thuận lợi nhanh chóng và không ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia
Bên cạnh đó, đề tài cũng có những mặt hạn chế của như với điều kiện xã Yên Thường có rất ít hộ thu nhập thấp nên tác giả chưa so sánh được giữa các nhóm thu nhập do đó việc đi sâu phân tích không thể thực hiện được
Còn nhóm tác giả Đặng Nguyên Anh và cộng sự năm 2007 với đề tài
“những yếu tố quyết định khả năng tiếp cận bảo hiểm y tế ở Việt Nam” đã tìm
hiểu khả năng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh và tiếp cận bảo hiểm y tế của các thành phần dân cư trong xã hội, đó là ba nhóm dân cư cơ bản là người nghèo ở nông thôn, lao động di cư từ nông thôn ra thành thị và cán bộ công chức ở đô thị Nhóm tác giả cũng đã nêu ra sự khác biệt về đặc trưng xã hội và lợi thế gắn liền với nghề nghiệp, nguồn lực kinh tế và vốn xã hội của họ Trên cơ sở so sánh mức
Trang 40độ tiếp cận dịch vụ y tế của ba nhóm dân cư, nhóm tác giả làm rõ những yếu tố quyết định về khả năng tiếp cận bảo hiểm y tế
Trong bài viết này, nhóm tác giả cũng đã khái quát được tình hình bảo hiểm
y tế trong dân cư và đưa ra những rào cản đối với việc mở rộng độ che phủ của chương trình bảo hiểm y tế đối với các nhóm dân cư nói trên Đưa ra những yếu tố nhân khẩu và kinh tế - xã hội nào quyết định khả năng tiếp cận bảo hiểm y tế hiện nay
Với bài viết này, nhóm tác giả đã có một cái nhìn khái quát nhất về tình hình bảo hiểm y tế ở nước ta hiện nay bằng việc tìm hiểu chế độ bảo hiểm của ba nhóm đối tượng trên Với đề tài của mình, tôi sẽ tiếp thu cách tiếp cận ở 3 đối tượng khác nhau để thuận lợi hơn trong việc so sánh các nhóm đối tượng với nhau.Tác giả cũng nhấn mạnh đến hai nội dung cơ bản đó là khả năng tiếp cận bảo hiểm y tế cũng như dự báo triển vọng phát của hệ thống bảo hiểm trong những năm tới Trong đề tài của mình, tôi sẽ tiếp tục phát triển thêm một số nội dung về đánh giá hiệu quả sử dụng dịch vụ bảo hiểm y tế, qua đó khảo sát nhu cầu của người dân đối với loại hình dịch vụ này
Một hạn chế nữa của nhóm tác giả là bài viết chỉ mang tính chất nêu và phân tích một cách khái quát nhất về tình hình bảo hiểm y tế của ba nhóm đối tượng trên
Còn về phần phương pháp: Với quy mô nhỏ chỉ là một bài viết, nhóm tác giả đã sử dụng kỹ thuật phân tích số liệu định lượng, sử dụng các bộ số liệu quốc gia chưa được khai thác Sử dụng kỹ thuật hồi quy đa biến cho phép xác định được các yếu tố quyết định khả năng tiếp cận bảo hiểm y tế cũng như dự báo được triển vọng phát triển của hệ thống bảo hiểm y tế trong những năm tới [43, tr.44-54]
Nhóm tác giả Lê Mạnh Năm, Nguyễn Phan Lâm (2007), “cộng đồng làng trong hệ thống an sinh xã hội hiện nay”(qua khảo sát 2 làng ở châu thổ sông Hồng) Khảo sát đã được thực hiện tháng 9 năm 2006 tại Tam Sơn và Đồng Kỵ,
đây là hai làng có mức phát triển kinh tế và truyền thống văn hóa khác nhau để đối sánh Phương pháp được tác giả sử dụng là khảo sát thăm dò 62 mẫu chia đều ra