BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ TRẦN THỊ PHƯƠNG KHANH NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QU
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Những người trưởng thành cư trú hợp pháp tại phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ, không phân biệt giới tính, nghề nghiệp, tôn giáo hay trình độ học vấn, đều nằm trong phạm vi nghiên cứu phù hợp với các tiêu chuẩn lựa chọn mẫu.
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
-Địa điểm: phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ
-Người dân từ 40 tuổi trở lên đang sinh sống và có hộ khẩu thường trú tại phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ
-Đồng ý tham gia nghiên cứu
-Các đối tượng không có khả năng giao tiếp: có các vấn đề về tâm thần, đối tượng bị câm điếc, đang nằm ở bệnh viện,…
-Đối tượng vắng mặt sau 02 lần ghé thăm.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
Trong đó: n: là cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu cần phải có
Z:hệ số tin cậy ở mức xác suất 95% (α =0,05) tương ứng với Z(1-α/2)=1,96 p:theo nghiên cứu của Dương Hưng “Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh đái tháo đường type 2 ở người dân trên 40 tuổi tại thị trấn Phong Điền, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2014”[8] thì kiến thức đúng, thái độ đúng, thực hành đúng lần lượt là 60,6%; 76,9%; 84,6% Để cỡ mẫu lớn nhất thì p`,6% = 0,606 d: là sai số tuyệt đối, d=0,05=5%
x x n dự trù hao hụt 5% nên n= 384
Dùng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên nhiều giai đoạn
-Bước 1: Phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng có 6 khu vực Chọn ngẫu nhiên 4/6 khu vực của phường bằng cách bốc thăm Chia đều số mẫu cho 4 khu vực trong phường Hưng Thạnh, ta được mỗi khu vực 96 mẫu
-Bước 2: Mỗi khu vực chọn ra ngẫu nhiên 96 hộ gia đình, quy trình chọn hộ gia đình để phỏng vấn được thực hiện như sau:
Từ nhà thông tin của khu vực, bốc thăm chọn ngẫu nhiên một hướng để đi và chọn nhà đầu tiên để tiến hành phỏng vấn
Người được phỏng vấn là một đại diện trong gia đình từ 40 tuổi trở lên
Chúng tôi sẽ tiến hành đi theo kiểu nhà liền nhà để đảm bảo thu thập đủ số lượng phỏng vấn cần thiết Trong trường hợp đã đi hết các tuyến đường mà vẫn chưa đủ mẫu, chúng tôi sẽ quay lại các hướng khác để tiếp tục phỏng vấn cho đến khi đạt đủ số lượng đề ra Nếu đối tượng nghiên cứu không có mặt, chúng tôi sẽ quay lại vào lần sau để đảm bảo không bỏ sót các khách hàng tiềm năng Trong quá trình thu thập dữ liệu, nếu đã đi qua 4/6 khu vực mà chưa đủ số mẫu, chúng tôi sẽ mở rộng phạm vi khảo sát sang các khu vực còn lại để đảm bảo đạt đủ số mẫu cần thiết cho nghiên cứu.
-Tuổi của đối tượng nghiên cứu được tính theo năm dương lịch bằng cách lấy năm hiện tại trừ đi năm sinh Chia làm 4 giá trị:
-Dân tộc dựa theo giấy chứng minh nhân dân của đối tượng nghiên cứu được chia thành 4 giá trị:
-Tôn giáo dựa theo giấy chứng minh nhân dân của đối tượng nghiên cứu có
-Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu được chia thành 5 giá trị:
Mù chữ: không đi học hoặc chưa hết lớp 1
Trên cấp 3 ( gồm trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học)
-Giới tính chia thành 2 giá trị:
-Nghề nghiệp: là công việc chính mà đối tượng nghiên cứu làm nhiều nhất trong ngày Có 6 giá trị:
Cán bộ công nhân viên ( CBCNV): là những người làm trong các cơ quan nhà nước
Công nhân: những người làm trong công ty, xí nghiệp, nhà máy,…
Nông dân: những người trồng lúa, trồng cây ăn quả, nuôi cá,…
Buôn bán: những người mua bán, kinh doanh các loại hàng hóa được phép theo quy định
Nội trợ: những người ở nhà làm các công việc trong nhà
Hưu trí: những người đã hết tuổi lao động và không còn làm việc
Tình trạng kinh tế của hộ gia đình được xác định dựa trên thu nhập bình quân người/tháng, tính bằng thu nhập hàng tháng của hộ chia cho số thành viên trong gia đình Theo quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng từ năm 2016 đến 2020, phân loại kinh tế hộ gia đình dựa trên hai mức giá trị cụ thể.
Hộ nghèo: hộ gia đình ở phường được cấp sổ hộ nghèo theo quyết định
Hộ không nghèo: hộ gia đình ở phường không được cấp sổ hộ nghèo theo quyết định
-Cách tiếp cận nguồn thông tin có 5 giá trị:
Người thân trong gia đình
2.2.4.2 Kiến thức về phòng chống bệnh đái tháo đường type 2
Kiến thức về bệnh đái tháo đường type 2
1.Hiểu đúng về bệnh đái tháo đường: theo định nghĩa của WHO
Tình trạng đường huyết tăng cao
Gây tổn thường nghiêm trọng cho nhiều cơ quan trong cơ thể
Kiến thức đúng khi trả lời 1/2 nội dung
2 Kiến thức cơ bản về bệnh đái tháo đường type 2:
Lứa tuổi thường dễ mắc bệnh đái tháo đường type 2 là từ 40 tuổi trở lên
Cha hoặc mẹ hoặc cả cha lẫn mẹ bị bệnh ĐTĐ type 2 thì con sinh ra cũng có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ type 2
ĐTĐ type 2 là một bệnh mãn tính rất nguy hiểm
Kiến thức đúng khi trả lời 2/3 nội dung
3 Kiến thức về yếu tố nguy cơ của bệnh đái tháo đường type 2 là:
Ăn ít trái cây và rau củ
Ăn nhiều bánh kẹo, đồ ngọt
Ít vận động thể lực
Do căng thẳng thần kinh
Kiến thức đúng khi trả lời được 3/7 nội dung
4 Kiến thức về hạn chế yếu tố nguy cơ:
Uống rượu bia ở mức cho phép
Tham gia vận động thể lực
Kiến thức đúng khi trả lời được 2/4 nội dung
5 Kiến thức về biến chứng của bệnh đái tháo đường type 2:
Dễ gây nhiễm trùng, đặc biệt là nơi có tổn thương xây xát da bên ngoài
Gây ảnh hưởng lên tim, mắt và thận
Gây liệt, teo cơ ở tay và chân Trường hợp nặng có thể phải đoạn chi
Kiến thức đúng khi trả lời được 2/4 nội dung
6 Kiến thức về điều trị và phương pháp điều trị bệnh đái tháo đường type 2:
Bệnh đái tháo đường type 2 không thể chữa khỏi
Thay đổi chế độ ăn, luyện tập thể thao nhằm hạn chế biến chứng của bệnh
Uống thuốc kiểm soát đường huyết
Giảm cân và kiểm soát cân nặng nhằm đưa về cân nặng phù hợp, làm giảm sự nặng thêm của bệnh
Kiến thức đúng khi trả lời được 2/4 nội dung
Kiến thức về dự phòng bệnh đái tháo đường type 2
7 Kiến thức về dự phòng bệnh đái tháo đường type 2:
Bệnh ĐTĐ type 2 có thể dự phòng được
Khám sức khỏe định kì
Kiểm tra, giữ đường huyết ở mức cân bằng theo quy định
Luyện tập thể lực thường xuyên, phù hợp
Bỏ hoặc không hút thuốc lá
Bỏ hoặc không uống rượu đến mức có hại
Kiến thức đúng khi trả lời được 3/7 nội dung
8 Kiến thức về chế độ ăn hợp lý phòng chống bệnh ĐTĐ type 2:
Hạn chế ăn/ uống những thực phẩm có nhiều đường
Hạn chế ăn thức ăn giàu chất béo
Ăn nhiều thức ăn giàu chất xơ
Hạn chế thói quen uống bia/ rượu
Kiến thức đúng khi trả lời được 2/4 nội dung
9 Kiến thức về vận động thể lực hợp lý để phòng chống bệnh ĐTĐ type 2:
Tích cực hoạt động thể lực
Thường xuyên luyện tập TD-TT
Luyện tập TD – TT theo hướng dẫn của bác sĩ
Tránh lối sống tĩnh tại ( ngồi xem ti vi, máy tính quá lâu)
Kiến thức đúng khi trả lời được 2/4 nội dung
Bảng 2.2 Thang điểm đánh giá kiến thức theo từng nội dung
STT Kiến thức Số nội dung
1 Hiểu đúng về bệnh ĐTĐ 2
2 Kiến thức cơ bản về bệnh ĐTĐ type 2 3
3 Kiến thức yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ type 2 7
4 Kiến thức hạn chế yếu tố nguy cơ của bệnh 4
5 Kiến thức về biến chứng của bệnh ĐTĐ type 2 4
6 Kiến thức về điều trị bệnh ĐTĐ type 2 4
7 Kiến thức về dự phòng bệnh ĐTĐ type 2 7
8 Kiến thức về chế độ ăn phòng bệnh ĐTĐ type 2 4
9 Kiến thức về vận động thể lực phòng bệnh 4
Cách đánh giá: Dựa theo số câu đúng, mỗi câu trả lời đúng thì được 1 điểm
Kiến thức về đái tháo đường type 2 được đánh giá qua 39 câu hỏi, với điểm tối đa là 39 điểm, giúp xác định mức độ hiểu biết của người học về bệnh Đái tháo đường type 2 là bệnh mãn tính có tính chất biến chứng nhiều giá trị, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người bệnh và cần chú trọng phòng ngừa cũng như kiểm soát chặt chẽ để giảm thiểu rủi ro Hiểu rõ về bệnh ĐTĐ type 2 giúp nâng cao nhận thức cộng đồng và thúc đẩy các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.
Đúng khi đối tượng trả lời được 65% trở lên ( ≥ 25 điểm)
Chưa đúng khi đối tượng đạt < 25 điểm
2.2.4.3 Thái độ đúng về phòng chống bệnh đái tháo đuờng type 2
Sử dụng câu hỏi đo lường thái độ dựa trên thang đo Likert với 3 mức:
Thái độ đúng khi đồng ý với ý kiến sau:
1 Bệnh ĐTĐ type 2 rất nguy hiểm đối với sức khỏe và cuộc sống con người
2 Cảm thấy lo sợ nếu bị chẩn đoán là mắc bệnh đái tháo đường type 2
3 Điều trị và dự phòng bệnh đái tháo đường type 2 quan trọng nhất là thay đổi chế độ ăn và luyện tập thể thao, kiểm soát cân nặng
4 Người dân từ 40 tuổi trở lên có yếu tố nguy cơ nên thường xuyên đến trung tâm y tế kiểm tra đường huyết
5 Phòng bệnh đái tháo đường type 2 là trách nhiệm của cả cộng đồng xã hội
Thái độ đúng khi không đồng ý với ý kiến sau:
6 Bệnh ĐTĐ type 2 thật sự không nguy hiểm đối với sức khỏe và cuộc sống con người
7 Không cảm thấy lo sợ khi bị chẩn đoán là mắc bệnh ĐTĐ type 2
8 Việc kiểm soát cân nặng, thay đổi chế độ ăn và luyện tập thể dục thể thao là không cần thiết khi phòng bệnh đái tháo đường type 2
9 Người dân từ 40 tuổi trở lên có yếu tố nguy cơ không nên thường xuyên đến trạm y tế để kiểm tra đường huyết vì tốn thời gian và tiền bạc
10 Phòng bệnh ĐTĐ type 2 chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân
Trả lời không ý kiến được xem như thái độ chưa đúng
Cách đánh giá:Dựa vào số câu trả lời đúng, mỗi câu được 1 điểm, tối đa 10 điểm Đánh giá thái độ chung có 2 giá trị đúng và chưa đúng
Thái độ đúng khi đạt ≥ 6 điểm
Thái độ chưa đúng khi đạt < 6 điểm
2.2.4.4 Thực hành đúng về phòng chống bệnh đái tháo đường type 2
-Thói quen ăn uống của người dân:
1 Ăn trái cây hằng ngày (≥ 5 ngày/tuần)
2 Ăn rau củ hằng ngày (≥ 5 ngày/tuần)
3 Sử dụng dầu thực vật để chế biến thức ăn trong gia đình
4 Không thường xuyên ăn bánh kẹo và đồ ngọt (≤ 2 ngày/tuần)
5 Ăn thức ăn chiên xào không thường xuyên ( ≤ 2 ngày/tuần)
6 Không sử dụng rượu/bia
-Thói quen sinh hoạt và hoạt động thể lực:
7 Hoạt động thể lực ít nhất 150 phút/tuần với cường độ vừa phải hoặc ít nhất
75 phút/tuần với cường độ mạnh mẽ hoặc 75 phút/tuần với cường độ vừa và mạnh.[41]
Cách đánh giá: Dựa vào số câu đúng Mỗi câu đúng thì được 1 điểm, tối đa
7 điểm Đánh giá thực hành chung có 2 giá trị đúng và chưa đúng
Đúng khi đối tượng trả lời đạt ≥ 4 điểm
Chưa đúng khi đối tượng trả lời < 4 điểm
2.2.4.5 Các yếu tố liên quan
Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành:
Kinh tế hộ gia đình
Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành:
Kiến thức và thái độ
Kiến thức và thực hành
Thái độ và thực hành.
Phương pháp thu thập số liệu
Chúng tôi thu thập thông tin về kiến thức, thái độ và thực hành của người dân trên 40 tuổi về phòng chống bệnh đái tháo đường type 2 thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi có sẵn Thời gian trung bình cho mỗi cuộc phỏng vấn là 15 phút, giúp đánh giá mức độ hiểu biết và các hành vi phòng chống bệnh của đối tượng nghiên cứu một cách khách quan và hiệu quả.
Nhóm thu thập dữ liệu gồm 3 thành viên: một cộng tác viên chủ nhiệm nhiệm vụ dẫn đường và hai sinh viên lớp y học dự phòng k38 chịu trách nhiệm phỏng vấn Trong quá trình thu thập dữ liệu, nếu nhóm đến nhà hai lần mà không gặp được đối tượng cần khảo sát, sẽ bỏ qua đối tượng đó để đảm bảo tiến độ và hiệu quả công việc.
- Các bước tiến hành thu thập số liệu:
•Liên hệ trạm y tế phường Hưng Thạnh và thông báo cho cộng tác viên biết thời gian và địa điểm tập trung
•Tuyển chọn và tập huấn điều tra viên về cách phỏng vấn đối tượng, thống nhất nội dung phỏng vấn
•Trao đổi và chỉnh sửa bộ câu hỏi cho hoàn chỉnh, phù hợp
Trong quá trình khảo sát, phỏng vấn viên và cộng tác viên sẽ phân chia đều các tổ để tiến hành phỏng vấn Nhà liền nhà, mỗi nhà tối đa 15 phút theo bộ câu hỏi đã chuẩn bị sẵn Quá trình phỏng vấn không chỉ nhằm thu thập thông tin mà còn kết hợp tuyên truyền, giáo dục và phổ cập kiến thức đúng về phòng chống đái tháo đường type 2 cho đối tượng được phỏng vấn Trong trường hợp đối tượng vắng nhà, cán bộ sẽ trở lại trong ngày hôm sau để đảm bảo đầy đủ dữ liệu và hiệu quả công tác khảo sát.
Sai số và cách khống chế sai số
Sai số do đối tượng cung cấp thông tin, như từ chối phỏng vấn hoặc trả lời đi lạc so với câu hỏi, có thể làm ảnh hưởng đến độ chính xác của dữ liệu nghiên cứu Để giảm thiểu sai số này, cần lặp lại câu hỏi một cách nhẹ nhàng và rõ ràng, đồng thời giải thích cặn kẽ mục đích và nội dung nghiên cứu để đối tượng hiểu rõ hơn, từ đó cung cấp phản hồi chính xác và đầy đủ hơn.
Để giảm thiểu sai số do thu thập thông tin, cần tổ chức các buổi tập huấn kỹ thuật, giải thích rõ ràng các thắc mắc và hướng dẫn thực hành mẫu để điều tra viên thị phạm trước khi tiến hành điều tra chính thức Bộ câu hỏi phải được thiết kế rõ ràng, dễ hiểu và tránh sử dụng từ ngữ quá chuyên ngành để đảm bảo độ chính xác của dữ liệu Sau mỗi 10 cuộc phỏng vấn, điều tra viên cần rà soát và kiểm tra lại thông tin nhằm đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của dữ liệu thu thập.
Xử lý và phân tích số liệu
Dữ liệu thu thập sẽ được kiểm tra kỹ lưỡng để đảm bảo độ chính xác trước khi nhập và phân tích, sử dụng phần mềm Epidata và Excel để quản lý dữ liệu một cách hiệu quả.
Phân tích số liệu được thực hiện bằng phần mềm SPSS 18.0, tập trung vào các số liệu thống kê mô tả như tần số và phần trăm của các biến đặc điểm của đối tượng khảo sát Các phương pháp phân tích mối liên quan được áp dụng dựa trên tỷ số Odds Ratio (OR) và khoảng tin cậy 95% của OR để đánh giá mức độ liên quan giữa các biến Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê được xác định qua kiểm định chi bình phương với mức ý nghĩa là 5%, đảm bảo tính khách quan của kết quả nghiên cứu.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
-Nghiên cứu được tiến hành sau khi được khoa y tế công cộng, phòng đào tạo đại học và trường đại học y dược Cần Thơ chấp thuận bằng văn bản
Bộ câu hỏi và phương pháp thu thập số liệu được thiết kế để tránh đề cập đến các vấn đề nhạy cảm và riêng tư, nhằm giảm thiểu khó khăn cho người được phỏng vấn.
-Tất cả đối tượng nghiên cứu sẽ được giải thích cụ thể, rõ ràng về nội dung và hình thức phỏng vấn
-Đối tượng được phỏng vấn có quyền từ chối trả lời phỏng vấn
-Mọi thông tin cá nhân sẽ được giữ bí mật và chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.3 Đặc điểm về tuổi và giới tính của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm chung Tần số Tỷ lệ (%)
Trong tổng số 384 đối tượng nghiên cứu, nhóm tuổi từ 40-49 tuổi chiếm tỷ lệ lớn nhất với 32,8%, tiếp đó là nhóm 60-69 tuổi với 27,1%, trong khi nhóm trên 70 tuổi có tỷ lệ thấp nhất là 13,8% Phần lớn đối tượng nghiên cứu là nữ giới, chiếm 60,4%, gần gấp 1,5 lần so với số lượng nam giới, cho thấy sự tập trung của nhóm nữ trong nghiên cứu này.
Bảng 3.4 Đặc điểm về dân tộc, trình độ học vấn và tôn giáo của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm chung Tần số Tỷ lệ (%)
Trong số các đối tượng nghiên cứu, dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ lớn nhất với 99,2%, tiếp theo là dân tộc Khơ – me với 0,8%, và không phát hiện có dân tộc Hoa Về trình độ học vấn, phần lớn người tham gia có trình độ tiểu học chiếm 38,5%, tiếp đến là trung học cơ sở với 32%, trong khi tỷ lệ mù chữ là thấp nhất với 4,7% Đa số các đối tượng không theo tôn giáo, chiếm 69%, trong khi chỉ có một tỷ lệ nhỏ là 0,3% theo các tôn giáo khác.
Bảng 3.5 Đặc điểm về nghề nghiệp, kinh tế của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm chung Tần số Tỷ lệ (%)
Tình trạng kinh tế Hộ nghèo 12 3,1
Phần lớn đối tượng là nội trợ chiếm 31,5%, thấp nhất là công nhân chiếm 4,7% Phần lớn đối tượng thuộc hộ không nghèo chiếm 96,9%.
Cách tiếp cận nguồn thông tin của đối tượng
Tỷ lệ các đối tượng tiếp cận từng nguồn thông tin
Theo Biểu đồ 3.1, tỷ lệ các đối tượng tiếp cận từng nguồn thông tin về bệnh đái tháo đường type 2 cho thấy truyền hình là nguồn phổ biến nhất, với 59,9% người biết đến kiến thức này qua kênh truyền hình Trong khi đó, các nguồn thông tin khác chiếm tỷ lệ thấp nhất chỉ 7,8%, phản ánh mức độ tiếp cận và ưu tiên các nguồn thông tin đa dạng của đối tượng nghiên cứu về bệnh ĐTĐ type 2.
Sách báo CBYT Truyền hình Bạn bè Người thân Khác
Tỷ lệ các đối tượng tiếp cận từ 2 nguồn thông tin trở lên
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ đối tượng tiếp nhận từ 2 nguồn thông tin trở lên
Có 68,5% đối tượng tiếp nhận từ 2 nguồn thông tin trở lên, gấp 2 lần tỷ lệ đối tượng tiếp nhận ít hơn 2 nguồn thông tin
3.3 Kiến thức của đối tượng về phòng chống bệnh đái tháo đường type 2
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có nghe nói về bệnh ĐTĐ type 2
Có 89,6% đối tượng nghiên cứu đã từng nghe nói về bệnh ĐTĐ type 2, gấp hơn 8 lần đối tượng chưa từng nghe nói
Từ 2 nguồn trở lên Ít hơn 2 nguồn
Bảng 3.6 Kiến thức cơ bản và hiểu đúng của đối tượng về bệnh đái tháo đường type 2
Kiến thức Đúng Chưa đúng
Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ % Hiểu đúng về bệnh đái tháo đường
Tình trạng đường huyết tăng cao 197 51,3 187 48,7 Gây tổn thương nghiêm trọng nhiều cơ quan trong cơ thể
Nhóm nội dung kiến thức về hiểu đúng 197 51,3 187 48,7
Kiến thức cơ bản về bệnh đái tháo đường type 2
Lứa tuổi dễ mắc bệnh là từ 40 tuổi trở lên 298 77,6 86 22,4 Bệnh có thể di truyền từ cha mẹ sang con 182 47,4 202 52,6
Đa số đối tượng hiểu đúng về bệnh ĐTĐ, trong đó 51,3% cho biết rằng ĐTĐ là "Tình trạng đường huyết tăng cao," phản ánh kiến thức cơ bản về bệnh này Một số ý kiến khác tập trung vào tác động nghiêm trọng của ĐTĐ, với 28,6% nhận định rằng bệnh gây "Tổn thương nghiêm trọng nhiều cơ quan trong cơ thể." Điều này cho thấy phần lớn người trả lời đã nhận biết đúng về đặc điểm và ảnh hưởng của bệnh ĐTĐ type 2.
Trong kiến thức cơ bản về bệnh ĐTĐ type 2, có đến 83,1% người biết rằng bệnh rất nguy hiểm, trong khi đó, 47,4% cho rằng bệnh có thể di truyền từ cha mẹ sang con Tỷ lệ các đối tượng trả lời đúng về kiến thức căn bản của bệnh đạt 77,1%, cho thấy nhận thức chung về mức độ nguy hiểm của bệnh ĐTĐ type 2 vẫn còn khá cao.
Bảng 3.7 Kiến thức về yếu tố nguy cơ, hạn chế yếu tố nguy cơ của bệnh đái tháo đường type 2
Kiến thức Đúng Chưa đúng
Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ % Kiến thức về yếu tố nguy cơ
Lạm dụng rượu bia 95 24,7 289 75,3 Ăn ít trái cây và rau củ 120 31,3 264 68,8 Ăn nhiều bánh kẹo và đồ ngọt 263 68,5 121 31,5
Thừa cân, béo phì 205 53,4 179 46,6 Ít vận động thể lực 143 37,2 241 62,8
Nhóm kiến thức về yếu tố nguy cơ 180 46,9 204 53,1
Kiến thức về hạn chế các yếu tố nguy cơ
Uống rượu bia ở mức cho phép 89 23,2 295 76,8 Ăn uống điều độ 283 73,7 101 26,3
Tham gia vận động thể lực 178 46,4 206 53,6
Gần 57% người dân nhận thức đúng về các yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ type 2, trong khi đó, hơn 43% còn hạn chế kiến thức về yếu tố này Đa số cho rằng "Ăn nhiều bánh kẹo và đồ ngọt" là yếu tố nguy cơ chính, chiếm 68,5%, trong khi tỷ lệ người cho rằng "Căng thẳng thần kinh" là yếu tố nguy cơ rất thấp, chỉ 8,9%.
Đa số các đối tượng đều đồng ý rằng “Ăn uống điều độ” là biện pháp chính để hạn chế yếu tố nguy cơ, chiếm tỷ lệ 73,7% Trong khi đó, tỷ lệ người hiểu đúng về việc “Không hút thuốc lá” để giảm nguy cơ bệnh thấp nhất, chỉ đạt 18,8% Có khoảng 56,8% đối tượng nắm rõ kiến thức đúng về các biện pháp hạn chế yếu tố nguy cơ của bệnh, cho thấy cần nâng cao nhận thức cộng đồng về các yếu tố nguy cơ liên quan.
Bảng 3.8 Kiến thức về các biến chứng của bệnh đái tháo đường type 2
Kiến thức Đúng Chưa đúng
Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ %
Gây ảnh hưởng lên tim, mắt, thận 194 50,5 190 49,5 Gây liệt, teo cơ, đoạn chi 206 53,6 178 46,4
Nhóm kiến thức các biến chứng của bệnh 219 57,0 165 43,0
Trong khảo sát, có sự phân bố đều giữa ba câu trả lời chính, với các tỷ lệ lần lượt là 53,4% cho câu "Dễ gây nhiễm trùng", 50,5% cho câu "Gây ảnh hưởng lên tim, mắt, thận", và phần còn lại tương ứng với câu "Gây liệt, teo cơ, đoạn chi" Điều này cho thấy mức độ phổ biến và nhận thức về các tác hại của bệnh trên các bộ phận cơ thể khác nhau Các kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao kiến thức cộng đồng về các ảnh hưởng của bệnh để thúc đẩy các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.
Khoảng 53,6% người được hỏi nhận thức đúng về các biến chứng của bệnh, trong đó "Gây liệt, teo cơ, đoạn chi" là biến chứng được nhận biết phổ biến nhất, chiếm 53,6% Chỉ 8,3% phản hồi đúng về biến chứng "Dị cảm ở 2 chân", cho thấy nhận thức về các biến chứng ít đa dạng hơn Đặc biệt, tỷ lệ người hiểu đúng kiến thức về các biến chứng của bệnh đạt 57,0%, phản ánh mức độ hiểu biết khá cao nhưng vẫn còn nhiều lĩnh vực cần nâng cao nhận thức cộng đồng.
Bảng 3.9 Kiến thức về điều trị và dự phòng bệnh đái tháo đường type 2
Kiến thức Đúng Chưa đúng
Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ % Kiến thức về điều trị và phương pháp điều trị
Bệnh không thể chữa khỏi 223 58,1 161 41,9
Thay đổi chế độ ăn, luyện tập thể thao để hạn chế biến chứng của bệnh 251 65,4 133 34,6 Uống thuốc kiểm soát đường huyết 125 32,6 259 67,4 Giảm cân và kiểm soát cân nặng 243 63,3 141 36,7
Nhóm kiến thức điều trị và phương pháp 282 73,4 102 26,6
Kiến thức về dự phòng bệnh
Bệnh có thể dự phòng được 297 77,3 87 22,7
Khám sức khỏe định kì 179 46,6 205 53,4
Kiểm tra, giữ đường huyết cân bằng 167 43,5 217 56,5 Luyện tập thể lực thường xuyên, phù hợp 186 48,4 198 51,6
Bỏ hoặc không hút thuốc lá 64 16,7 320 83,3
Bỏ hoặc không uống rượu đến mức có hại 40 10,4 344 89,6 Ăn uống hợp lý 211 54,9 173 45,1
Nhóm kiến thức về dự phòng bệnh 255 66,4 129 33,6
Theo khảo sát, 65,4% người được hỏi cho rằng “Thay đổi chế độ ăn và luyện tập thể thao có thể hạn chế sự tiến triển của bệnh”, chiếm tỷ lệ lớn nhất, trong khi đó chỉ có 32,6% cho rằng phương pháp điều trị chính là “Uống thuốc kiểm soát đường huyết” Tỷ lệ người có kiến thức đúng về điều trị và phương pháp điều trị bệnh ĐTĐ type 2 đạt 73,4% Ngoài ra, đa số người dân (77,3%) cho rằng ĐTĐ type 2 là bệnh có thể phòng ngừa được, trong đó phương pháp dự phòng phổ biến nhất là “Ăn uống hợp lý” với 54,9%, trong khi phương pháp “Bỏ hoặc không uống rượu đến mức có hại” được chọn ít nhất, chiếm 10,4% Tổng thể, 66,4% đối tượng trả lời đúng về nhóm kiến thức dự phòng bệnh ĐTĐ type 2.
Bảng 3.10 Kiến thức về chế độ ăn hợp lý và vận động thể lực hợp lý phòng chống bệnh đái tháo đường type 2
Kiến thức Đúng Chưa đúng
Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ % Kiến thức về chế độ ăn hợp lý phòng bệnh
Hạn chế ăn/uống thực phẩm có nhiều đường 310 80,7 74 19,3
Hạn chế ăn thức ăn giàu chất béo 171 44,5 213 55,5 Ăn nhiều thức ăn giàu chất xơ 202 52,6 182 47,4 Hạn chế thói quen uống rượu/bia 55 14,3 329 85,7
Nhóm kiến thức về chế độ ăn hợp lý 251 65,4 133 34,6
Kiến thức về vận động thể lực hợp lý phòng bệnh
Tích cực hoạt động thể lực 163 42,4 221 57,6 Thường xuyên luyện tập TDTT 171 44,5 213 55,5 Luyện tập thể dục thể thao theo sự hướng dẫn của bác sĩ 119 31,0 265 69,0
Tránh lối sống tĩnh tại 169 44,0 215 56,0
Nhóm kiến thức vận động thể lực hợp lý 195 50,8 189 49,2
Trong khảo sát, có 80,7% đối tượng cho rằng “Hạn chế ăn/uống thực phẩm có nhiều đường” là chế độ ăn hợp lý phòng bệnh đái tháo đường type 2, chiếm tỷ lệ cao nhất Chỉ có 14,3% trả lời “Hạn chế thói quen uống rượu/bia”, chiếm tỷ lệ thấp nhất Ngoài ra, 65,4% đối tượng có kiến thức đúng về nhóm kiến thức chế độ ăn hợp lý phòng bệnh đái tháo đường type 2.
Khi được hỏi về thế nào là vận động thể lực hợp lý để phòng bệnh, câu trả lời phổ biến nhất là “thường xuyên luyện tập TDTT”, chiếm đến 44,5% Việc duy trì hoạt động thể chất đều đặn giúp tăng cường sức khỏe và phòng tránh nhiều bệnh tật Đồng thời, luyện tập thể thao đều đặn còn góp phần nâng cao thể lực và cải thiện chất lượng cuộc sống hàng ngày Do đó, việc duy trì chế độ vận động hợp lý là yếu tố quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe cá nhân.
Trong khảo sát, "Tránh lối sống tĩnh tại" chiếm tỷ lệ cao nhất với 44%, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hoạt động thể chất liên tục để phòng ngừa bệnh Trong khi đó, "Luyện tập Thể dục thể thao theo sự hướng dẫn của bác sĩ" có tỷ lệ thấp nhất với 31,0%, cho thấy cần nâng cao nhận thức về việc tập luyện đúng cách dựa trên hướng dẫn y tế Khoảng 50,8% người được khảo sát có kiến thức đúng về chế độ luyện tập thể dục thể thao để phòng bệnh đái tháo đường type 2, điều này cho thấy vẫn còn cần tăng cường truyền thông và giáo dục về các biện pháp phòng bệnh hiệu quả.
Biểu đồ 3.4 Kiến thức chung đúng về phòng bệnh đái tháo đường type 2
Chỉ có 37,8% đối tượng có kiến thức chung đúng về phòng chống bệnh ĐTĐ type 2 và tỷ lệ đối tượng có kiến thức chung không đúng chiếm khá cao 62,2%
3.4 Thái độ của đối tượng nghiên cứu về phòng chống bệnh đái tháo đường type 2
Bảng 3.11 Thái độ của đối tượng về phòng chống bệnh đái tháo đường type 2
Thái độ Đúng Chưa đúng
Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ %
Bệnh ĐTĐ type 2 rất nguy hiểm đối với sức khỏe và cuộc sống con người 364 94,8 20 5,2
Nhiều người lo sợ khi được chẩn đoán mắc bệnh ĐTĐ type 2 Điều trị và phòng ngừa bệnh ĐTĐ type 2 hiệu quả chủ yếu dựa vào việc thay đổi chế độ ăn uống lành mạnh, duy trì luyện tập thể thao đều đặn và kiểm soát cân nặng hợp lý Việc này giúp cải thiện sức khỏe và giảm thiểu nguy cơ biến chứng của bệnh ĐTĐ type 2.
Người dân ≥ 40 tuổi có yếu tố nguy cơ nên đến trạm y tế kiểm tra đường huyết 320 83,3 64 16,7 Phòng bệnh ĐTĐ type 2 là trách nhiệm của cả cộng đồng xã hội 240 62,5 144 37,5
Bệnh ĐTĐ type 2 không nguy hiểm đối với sức khỏe và cuộc sống con người 257 66,9 127 33,1 Không lo sợ khi bị chẩn đoán mắc bệnh ĐTĐ type 2 285 74,2 99 25,8
Kiểm soát cân nặng, thay đổi chế độ ăn, tập
TDTT không cần thiết khi phòng bệnh ĐTĐ type 2
Người dân ≥ 40 tuổi có yếu tố nguy cơ không nên đến trạm y tế để kiểm tra đường huyết vì tốn thời gian và tiền bạc
Phòng bệnh ĐTĐ type 2 chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân 184 47,9 200 52,1
Khoảng 94,8% người đồng ý rằng ĐTĐ type 2 là bệnh rất nguy hiểm đối với cuộc sống, cho thấy nhận thức rõ về mức độ nguy hiểm của bệnh này Hơn nữa, 92,2% đối tượng cảm thấy lo sợ khi biết mình mắc bệnh ĐTĐ type 2, phản ánh tâm lý lo ngại và cảnh giác cao về bệnh Tuy nhiên, tỷ lệ người có nhận thức đúng về trách nhiệm phòng ngừa ĐTĐ type 2 thấp nhất là 47,9%, cho thấy cần nâng cao ý thức cá nhân về vai trò trong việc phòng tránh bệnh này.
Biểu đồ 3.5 Thái độ chung đúng về phòng chống bệnh đái tháo đường type 2
Trong tổng số 384 đối tượng nghiên cứu, có 306 người (chiếm 79,7%) thể hiện thái độ đúng trong khi chỉ có 78 người (chiếm 20,3%) có thái độ chưa đúng Tỷ lệ người dân có thái độ đúng chiếm gần 4 lần so với những người có thái độ chưa đúng, cho thấy sự phổ biến của nhận thức chính xác trong cộng đồng.
3.5 Thực hành của đối tượng nghiên cứu về phòng chống bệnh đái tháo đường type 2
Bảng 3.12 Thực hành đúng về phòng chống bệnh đái tháo đường type 2
Thực hành Đúng Chưa đúng
Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ % Thói quen ăn uống Ăn trái cây hằng ngày (≥ 5 ngày/tuần) 163 42,4 221 57,6 Ăn rau củ hằng ngày (≥ 5 ngày/tuần) 243 63,3 141 36,7
Sử dụng dầu thực vật để chế biến thức ăn trong gia đình 300 78,1 84 21,9
Không thường xuyên ăn bánh kẹo và đồ ngọt (≤ 2 ngày/tuần) 177 46,1 207 53,9 Ăn thức ăn chiên xào không thường xuyên ( ≤ 2 ngày/tuần) 276 71,9 108 28,1
Không sử dụng rượu/bia 272 70,8 112 29,2
Trong nghiên cứu, thói quen sinh hoạt và hoạt động thể lực của người dân đóng vai trò quan trọng, với tỷ lệ 84,6% duy trì hoạt động thể chất đều đặn Về thói quen ăn uống, có tới 78,1% người sử dụng dầu thực vật để chế biến thức ăn trong gia đình, trong khi 71,9% ít khi ăn thực phẩm chiên xào Ngoài ra, 63,3% duy trì thói quen ăn rau củ hàng ngày, còn tỷ lệ không dùng rượu bia là 70,8%, nhưng tỷ lệ ăn trái cây thường xuyên còn khá thấp, chỉ chiếm 42,4%.
Biểu đồ 3.6 Thực hành chung đúng về phòng bệnh đái tháo đường type 2
Tỷ lệ thực hành chung đúng về phòng chống bệnh ĐTĐ type 2 của đối tượng nghiên cứu là 69,8%, gấp gần 2,3 lần tỷ lệ đối tượng thực hành chưa đúng
3.6 Các mối liên quan về kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh đái tháo đường type 2
Các mối liên quan với kiến thức
Bảng 3.13 Liên quan giữa tuổi với kiến thức chưa đúng
(30,2%) ĐúngChưa đúng Đối tượng trên 70 tuổi có tỷ lệ kiến thức chưa đúng cao nhất chiếm 75,5% Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
Bảng 3.14.Liên quan giữa giới, kinh tế và nghề nghiệp với kiến thức chưa đúng
Các mối liên quan về kiến thức, thái độ, thực hành chưa đúng
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
4.1.1 Đặc điểm vể giới tính và nhóm tuổi
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 60,4% đối tượng là nữ giới và 39,6% là nam giới, phản ánh xu hướng tương tự như các nghiên cứu trước tại khu vực thành phố Cần Thơ và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long như Quách Nhật Kim tại phường Lê Bình với tỷ lệ nữ là 60,2%, Ngô Trần Đăng Khoa tại quận Ô Môn với 57%, và Thái Đức Thuận Phong tại An Giang với 68,5% Sự chênh lệch này chủ yếu do vai trò của nam giới thường xuyên ra ngoài để kiếm tiền, trong khi phụ nữ đảm nhiệm công việc nội trợ và chăm sóc gia đình, khiến tần suất trả lời của nam giới ít hơn khi phỏng vấn tại nhà.
Nghiên cứu của tôi tập trung vào đối tượng từ 40 tuổi trở lên, trong đó nhóm từ 40-49 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (32,8%), phản ánh rõ ràng kiến thức, thái độ và thực hành phòng bệnh tiểu đường type 2 Vì người từ 40 tuổi trở lên, đặc biệt nhóm 40-49 tuổi, thường chịu trách nhiệm chăm sóc gia đình nên họ có hiểu biết nhất định về bệnh và các biện pháp phòng ngừa Điều này phù hợp với các nghiên cứu khác về kiến thức và thực hành phòng bệnh ĐTĐ type 2 của cộng đồng người trưởng thành.
BÀN LUẬN
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
4.1.1 Đặc điểm vể giới tính và nhóm tuổi
Trong tổng số 384 đối tượng nghiên cứu, có 60,4% là nữ giới và 39,6% là nam giới, phản ánh xu hướng tương tự như các nghiên cứu trước đó, ví dụ như của Quách Nhật Kim tại phường Lê Bình, quận Cái Răng năm 2012, với tỷ lệ nữ chiếm 60,2% so với 39,8% của nam giới Nghiên cứu của Ngô Trần Đăng Khoa tại quận Ô Môn cho thấy tỷ lệ nữ là 57,0% và nam là 43,0%, trong khi đó, nghiên cứu của Thái Đức Thuận Phong tại An Giang ghi nhận tỷ lệ nữ chiếm tới 68,5% so với 31,5% của nam giới Sự chênh lệch này phần lớn do vai trò của nam giới thường xuyên phải ra ngoài để làm việc kiếm sống, trong khi phần lớn công việc nội trợ và chăm sóc gia đình đều do nữ giới đảm nhiệm Chính vì vậy, tần suất các cuộc phỏng vấn tại nhà nam giới thấp hơn nữ giới trong các nghiên cứu này.
Nghiên cứu của tôi tập trung vào nhóm đối tượng từ 40 tuổi trở lên, trong đó nhóm tuổi 40-49 chiếm tỷ lệ cao nhất (32,8%), tiếp theo là nhóm 60-69 tuổi (27,1%), nhóm 50-59 tuổi (26,3%) và trên 70 tuổi (13,8%) Điều này phản ánh rõ ràng rằng kiến thức, thái độ và thực hành phòng ngừa bệnh tiểu đường type 2 của nhóm từ 40 tuổi trở lên phù hợp với nguy cơ mắc bệnh, bởi vì tuổi từ 40 trở lên là yếu tố nguy cơ chính của ĐTĐ type 2 Đặc biệt, nhóm 40-49 tuổi thường đảm nhận vai trò chăm sóc gia đình, do đó họ sẽ có kiến thức nhất định về bệnh và các biện pháp phòng ngừa Kết quả nghiên cứu của tôi cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đây đã được thực hiện về nhận thức và hành vi phòng bệnh tiểu đường trong cộng đồng.
Dương Hưng với tỷ lệ lần lượt ở các nhóm tuổi 40-49; 50-59;60-69 là 28,3%; 26,9%; 33,4% [8]
4.1.2 Đặc điểm về dân tộc, trình độ văn hóa và tôn giáo
Trong tổng số 384 đối tượng nghiên cứu, dân tộc Kinh chiếm đa số với tỷ lệ 99,2%, trong khi dân tộc Khơ-me chiếm 0,8%, phù hợp với kết quả của nghiên cứu của Ngô Trần Đăng Khoa tại Ô Môn năm 2016, nơi dân tộc Kinh chiếm 99,5% và các dân tộc khác chỉ chiếm 0,5% Nhận định này cho thấy, trong hầu hết các nghiên cứu, tỷ lệ người Kinh luôn cao hơn so với các dân tộc khác, trừ những nghiên cứu chuyên biệt tập trung vào các nhóm dân tộc nhất định.
Chủ thể nghiên cứu chủ yếu có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên chiếm 24,7%, trong đó 19,0% đạt trung học phổ thông và 5,7% học lên cao đẳng, đại học hoặc sau đại học Ngược lại, 75,3% có trình độ từ trung học cơ sở trở xuống, trong đó mù chữ là 4,7% và 38,5% có trình độ tiểu học Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu khác như của Ngô Trần Đăng Khoa, với 14,5% người dân có trình độ từ trung học phổ thông trở lên và 85,5% có trình độ từ trung học cơ sở trở xuống, trong đó 41,5% đạt trung học cơ sở và 39,3% trình độ tiểu học Nghiên cứu của Quách Nhật Kim cũng cho thấy tỷ lệ người dân có trình độ từ trung học phổ thông trở lên đạt 29,9%, trong khi đó trình độ trung học cơ sở trở xuống chiếm 70,1% Có mối liên hệ mật thiết giữa trình độ học vấn và kiến thức của đối tượng; người có trình độ học vấn cao hơn thường trả lời đúng kiến thức nhiều hơn Hầu hết người dân có trình độ trung bình, tức là trung học cơ sở, chủ yếu là nữ giới trên 40 tuổi do lối nghĩ nghỉ học sớm để lấy chồng và chăm sóc gia đình vẫn phổ biến, giải thích tỷ lệ cao của nhóm này Đa số dân không theo đạo chiếm 69,0%, trong khi đó 28,4% theo đạo Phật và 2,6% theo đạo khác, và tôn giáo ảnh hưởng nhất định đến các thực hành, đặc biệt vì một số đạo cấm ăn thịt hoặc các món ăn mang tính tâm linh khác.
4.1.3 Đặc điểm về hoàn cảnh kinh tế và nghề nghiệp
Trong nghiên cứu của tôi, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 3,1%, trong khi hộ không nghèo chiếm 96,9%, phù hợp với số liệu của Ngô Trần Đăng Khoa năm 2016 khi tỷ lệ hộ nghèo là 3,3% và hộ không nghèo là 96,8% Tỷ lệ hộ nghèo tại quận Cái Răng năm 2014 là 4,3%, còn hộ không nghèo là 95,7%, theo nghiên cứu của Lê Thị Thắm Qua các năm, tỷ lệ người dân thuộc hộ nghèo đã giảm rõ rệt, phản ánh sự cải thiện và nâng cao mức sống kinh tế của người dân.
Trong tổng số 384 đối tượng nghiên cứu, đa số là nội trợ chiếm 31,5%, công nhân 18,0%, nông dân 12,5% và CNVC 8,3% Kết quả này tương đương với nghiên cứu của Ngô Trần Đăng Khoa, trong đó tỷ lệ nội trợ đạt 28,0%, nhưng tỷ lệ nông dân trong nghiên cứu của tôi thấp hơn (36,5%) Điều này phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại Cần Thơ, nơi nổi tiếng là vựa lúa lớn của cả nước nhưng gần đây đã chuyển dần sang phát triển công nghiệp và dịch vụ, gây giảm sút sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, phần lớn đối tượng khảo sát của tôi là nữ giới, mặc dù xã hội hiện nay đã có những thay đổi, phụ nữ có công việc ổn định và nguồn thu nhập như nam giới, thì công việc nội trợ vẫn là phần lớn trách nhiệm của họ, giải thích vì sao tỷ lệ nội trợ chiếm đa số trong mẫu nghiên cứu.
Khảo sát cho thấy có 59,9% đối tượng biết về bệnh ĐTĐ type 2 qua truyền hình, đây là nguồn thông tin phổ biến nhất Tiếp theo là thông qua người thân, bạn bè, và cán bộ y tế lần lượt chiếm tỷ lệ 39,1%, 34,4%, và 31,8% Như vậy, truyền hình đóng vai trò chủ đạo trong việc cung cấp thông tin về bệnh ĐTĐ type 2 cho cộng đồng Tỷ lệ này tương đương với kết quả nghiên cứu của Bùi Thị Phương Thảo, ghi nhận lần lượt là 53,2%; 38,4%; và 22%, cho thấy các nguồn thông tin này có mức độ ảnh hưởng khác nhau nhưng đều đóng góp vào nhận thức về bệnh.
Kiến thức về phòng chống bệnh đái tháo đường type 2
Trong nghiên cứu của tôi, ghi nhận có đến 89,6% đối tượng đã từng nghe nói về bệnh ĐTĐ trong đời, cao hơn so với nghiên cứu của Ngô Trần Đăng Khoa (75,3%) và tương đương với nghiên cứu của Lê Thị Thắm (87,4%), phản ánh sự gia tăng nhận thức do phát triển kinh tế và sự thuận tiện trong tiếp cận thông tin tại trung tâm quận Cái Răng Tuy nhiên, việc nghe nói về bệnh không đồng nghĩa với hiểu đúng về bệnh, khi tỷ lệ này trong nghiên cứu của tôi chỉ đạt 51,3%, cao hơn so với các nghiên cứu của Ngô Trần Đăng Khoa (34,5%) và Nguyễn Văn Mẫm (35,9%), cho thấy kiến thức cộng đồng ngày càng được củng cố theo thời gian nhờ công tác tuyên truyền và giáo dục sức khỏe Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của các hoạt động nâng cao nhận thức nhằm giúp cộng đồng hiểu rõ hơn về bệnh ĐTĐ type 2 và các biện pháp phòng ngừa, góp phần kiểm soát tốt dịch bệnh trong cộng đồng.
Trong nghiên cứu của tôi, có 77,1% người dân nắm rõ kiến thức cơ bản về bệnh ĐTĐ type 2, trong đó 77,6% cho biết lứa tuổi dễ mắc bệnh là từ 40 tuổi trở lên và 83,1% đồng tình rằng bệnh rất nguy hiểm Tỷ lệ này tương đương với nghiên cứu của Dương Hưng, trong đó 75,1% biết về lứa tuổi nguy cơ và 98,6% nhận định bệnh nguy hiểm Khi được hỏi về các yếu tố nguy cơ mắc ĐTĐ type 2, 46,9% người dân trả lời đúng, phù hợp với kết quả của Nguyễn Văn Mẫm là 43,9% Đa số người dân cho rằng tiêu thụ nhiều bánh kẹo, đồ ngọt dễ dẫn đến bệnh ĐTĐ type 2.
Nghiên cứu cho thấy 68,5% người dân nhận thức rõ rằng thừa cân và béo phì chiếm tỷ lệ cao, với 53,4% đồng ý rằng tình trạng này làm tăng nguy cơ mắc bệnh Khoảng 62,85% người chọn ăn nhiều bánh kẹo, đồ ngọt là yếu tố nguy cơ, và 58% cho rằng thừa cân, béo phì dễ dẫn đến bệnh đái tháo đường type 2, cho thấy vẫn còn nhiều thiếu hiểu biết về yếu tố nguy cơ của bệnh trong cộng đồng Việc nâng cao kiến thức về các yếu tố nguy cơ sẽ giúp người dân chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa hiệu quả hơn, từ đó tiết kiệm thời gian và công sức Trong nghiên cứu, có 56,8% đối tượng biết cách hạn chế yếu tố nguy cơ, tương đương với kết quả của các nghiên cứu trước, như của Ngô Trần Đăng Khoa Các phương pháp phổ biến nhất để giảm nguy cơ là ăn uống điều độ (73,7%) và vận động thể lực (46,4%), phù hợp với các kết quả khác như của Nguyễn Văn Mẫm Về nhận thức biến chứng của bệnh đái tháo đường type 2, có 57,0% người tham gia trả lời đúng, cao hơn so với các nghiên cứu trước đó, thể hiện sự gia tăng hiểu biết theo thời gian Nhận thức rõ về các biến chứng của bệnh sẽ giúp cộng đồng có kiến thức phòng ngừa bệnh tốt hơn, giảm thiểu ảnh hưởng của các biến chứng nguy hiểm và tàn phế vĩnh viễn.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 73,4% đối tượng biết về các phương pháp điều trị bệnh, trong đó 58,1% biết rằng bệnh ĐTĐ type 2 không thể điều trị khỏi hoàn toàn So với nghiên cứu của Dương Hưng tại huyện Phong Điền, tỷ lệ này cao hơn về kiến thức điều trị nhưng thấp hơn về hiểu biết bệnh không thể điều trị khỏi hoàn toàn (85,7%) Nhiều người dân vẫn nhầm lẫn giữa điều trị khỏi hoàn toàn và điều trị để hạn chế biến chứng, dẫn đến thái độ thờ ơ trong công tác phòng chống bệnh Nhờ các hoạt động truyền thông của cán bộ y tế cùng hệ thống y tế ngày càng hiện đại, tỷ lệ người dân biết bệnh ĐTĐ có thể phòng ngừa đạt 77,3%, cao hơn các nghiên cứu tại Cái Răng và các địa phương khác Trong các phương pháp phòng ngừa, ăn uống hợp lý và luyện tập thể thao thường xuyên được biết đến nhiều nhất, lần lượt là 54,9% và 48,4%, phù hợp với các nghiên cứu khác về nhận thức phòng bệnh Ngoài ra, 65,4% đối tượng biết rằng chế độ ăn hợp lý giúp phòng bệnh, và 50,8% có kiến thức về hoạt động thể chất phù hợp để phòng tránh bệnh, tuy nhiên tỷ lệ này vẫn còn thấp so với mong đợi, cho thấy người dân còn thiếu hiểu biết đầy đủ về kiến thức bệnh cũng như vai trò của phong trào truyền thông trong nâng cao nhận thức cộng đồng.
Trong nghiên cứu của tôi, chỉ có 37,8% đối tượng có kiến thức chung đúng về phòng chống bệnh ĐTĐ type 2 và tỷ lệ đối tượng có kiến thức chung không đúng chiếm khá cao 62,2% Kết quả này của tôi cao nghiên cứu của Ngô Trần Đăng Khoa với kiến thức chung đúng của người dân là 28,0%[9] Đây cũng là một tín hiệu đáng vui mừng vì sau bao năm thì công tác truyền thông của y tế cũng gặt hái được trái ngọt Tuy nhiên con số 37,8% vẫn còn khá thấp trong cộng đồng dân cư, về điều này cần phải đẩy mạnh GDSK nhiều hơn nữa, cung cấp và phổ biến kiến thức về bệnh đều cho mọi đối tượng đặc biệt là đối tượng có nguy cơ cao.
Thái độ về phòng chống bệnh đái tháo đường type 2
Trong phân tích 384 đối tượng nghiên cứu, có đến 79,7% người dân có thái độ đúng về bệnh Đái tháo đường (ĐTĐ) type 2, cho thấy nhận thức chung của cộng đồng về bệnh khá cao Cụ thể, 94,8% phản hồi đúng về mức độ nguy hiểm của bệnh đối với sức khỏe và cuộc sống, đồng thời 92,2% đồng ý cảm thấy lo sợ khi biết mình mắc bệnh Ngoài ra, 85,9% người dân tin rằng việc thay đổi chế độ ăn uống và luyện tập thể thao là các biện pháp quan trọng trong điều trị và phòng ngừa bệnh ĐTĐ type 2 Các tỷ lệ xác thực khác như 83,3% và 62,5% thể hiện nhận thức đúng về việc người từ 40 tuổi trở lên có yếu tố nguy cơ cần thường xuyên kiểm tra đường huyết và phòng bệnh, coi đây là trách nhiệm của cộng đồng Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Dương Hưng, trong đó tỷ lệ thái độ đúng là 76,9%, người dân nhận thức rõ về mức độ nguy hiểm của bệnh (66,9%) và cảm thấy lo sợ khi chẩn đoán mắc bệnh (60,6%) So sánh với nghiên cứu của Ngô Trần Đăng Khoa, tỷ lệ người có thái độ đúng về mức độ nguy hiểm cao hơn (87,8%), cho thấy xu hướng cải thiện nhận thức cộng đồng theo thời gian Tuy nhiên, dù tỷ lệ này đã tăng lên, mức độ đúng về thái độ vẫn còn thấp, đòi hỏi các biện pháp cụ thể và hợp lý hơn để nâng cao nhận thức và thái độ đúng của người dân về bệnh ĐTĐ type 2, góp phần hiệu quả trong công tác phòng chống bệnh trong cộng đồng.
Thực hành về phòng chống bệnh đái tháo đường type 2
Khi hỏi về thói quen ăn uống của người dân, tôi nhận thấy có tới 63,3% người phản hồi rằng họ ăn rau mỗi ngày, cho thấy ý thức chăm sóc sức khỏe qua chế độ ăn uống của người dân ngày càng được nâng cao Kết quả này vượt xa so với các nghiên cứu trước đó, phản ánh sự thay đổi tích cực trong thói quen ăn uống hàng ngày của cộng đồng Việc bổ sung rau xanh vào khẩu phần hàng ngày không chỉ giúp nâng cao sức khỏe mà còn góp phần giảm nguy cơ mắc các bệnh lý liên quan đến chế độ ăn thiếu lành mạnh SEO keywords: thói quen ăn uống, người dân ăn rau hàng ngày, chăm sóc sức khỏe, chế độ ăn uống lành mạnh, nâng cao sức khỏe.
Lê Thị Thắm ghi nhận tỷ lệ người ăn rau quả hàng ngày là 53,4%, trong khi nghiên cứu của Nguyễn Văn Mẫn cho thấy con số này chỉ là 35,4% Việc duy trì thói quen ăn rau quả hàng ngày rất có lợi cho sức khỏe con người Tuy nhiên, trong bối cảnh nhịp sống nhanh chóng của thành phố, nhiều người ngày càng ưa chuộng các thực phẩm đóng hộp, ăn liền tiện lợi, điều này gây bất lợi cho sức khỏe Mặc dù tỷ lệ người dân ăn rau theo kết quả nghiên cứu của tôi cao hơn, nhưng sự khác biệt này không quá đáng kể, cho thấy còn nhiều cần cải thiện trong thói quen dinh dưỡng của cộng đồng.
Theo khảo sát, có 78,1% người tiêu dùng sử dụng dầu thực vật để chế biến thức ăn trong gia đình, cao hơn so với mức 51,0% theo nghiên cứu của Ngô Trần Đăng Khoa và 61,7% của Dương Hưng Điều này cho thấy thói quen ăn uống của người dân đã được cải thiện rõ rệt, đồng thời họ ngày càng hiểu biết và quan tâm hơn đến sức khỏe của bản thân.
Ngày nay, uống rượu bia đã trở thành một phần không thể thiếu trong văn hóa người Việt, nhưng nó thật sự gây hại cho sức khỏe và cuộc sống nếu lạm dụng Nghiên cứu của tôi cho thấy 70,8% đối tượng không sử dụng rượu bia trong vòng một tuần, cao hơn các nghiên cứu trước như của Lê Thị Thắm và Nguyễn Văn Mẫm, đồng thời phần lớn người tiêu dùng là nam giới từ 40 tuổi trở lên, do họ đã nhận thức rõ về tác hại của bia rượu Trong khi đó, khảo sát về thói quen hoạt động thể lực cho thấy 84,6% người dân thực hành đúng quy định về vận động tối thiểu 150 phút mỗi tuần, cao hơn đáng kể so với các nghiên cứu trước đó tại Cần Thơ như của Ngô Trần Đăng Khoa, kết quả này phản ánh nền kinh tế ngày càng phát triển, giúp người dân chú trọng hơn đến sức khỏe và dành thời gian vận động dù bận rộn.
Tỷ lệ thực hành chung đúng về phòng chống bệnh ĐTĐ type 2 trong nghiên cứu của tôi đạt 69,8%, cao hơn nhiều so với các nghiên cứu trước đó như của Ngô Trần Đăng Khoa (31,5%) hay Lê Thị Thắm (44,3%), cho thấy sự tiến bộ trong nhận thức của cộng đồng Mặc dù tỷ lệ này vẫn chưa phản ánh rõ ràng hiệu quả của các biện pháp can thiệp vì thực hành đúng có thể xuất phát từ thói quen ngẫu nhiên, nhưng không thể phủ nhận những kết quả tích cực nhờ công tác tuyên truyền, giáo dục sức khỏe đã góp phần nâng cao ý thức phòng chống bệnh ĐTĐ trong cộng đồng.
4.5 Liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành chưa đúng về phòng chống bệnh đái tháo đường type 2 của đối tượng nghiên cứu
4.5.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức chưa đúng
Nghiên cứu cho thấy mối liên hệ rõ ràng giữa hoàn cảnh kinh tế và mức độ kiến thức chưa đúng về sức khỏe của đối tượng, trong đó hộ không nghèo có tỷ lệ kiến thức chưa đúng là 61,3%, thấp hơn so với hộ nghèo Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p=0,035 và OR=0,142, phản ánh rằng các đối tượng thuộc hộ nghèo thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận và cập nhật kiến thức về sức khỏe Nguyên nhân chính là do các vấn đề về sức khỏe không còn là ưu tiên hàng đầu đối với hộ nghèo, khi họ phải tập trung vào các vấn đề mưu sinh và kiếm tiền, dẫn đến thiếu thời gian tìm hiểu kiến thức y tế cần thiết Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước, cho thấy hoàn cảnh kinh tế ảnh hưởng đáng kể đến nhận thức và kiến thức về sức khỏe cộng đồng.
Lê Thị Thắm với tỷ lệ đối tượng không thuộc hộ nghèo có kiến thức chưa đúng là 25,4% thấp hơn đối tượng thuộc hộ nghèo[19]
Mối quan hệ giữa nghề nghiệp và kiến thức chưa đúng chưa được xác định rõ ràng Tỷ lệ CBCNVC trả lời thiếu kiến thức thấp nhất, chỉ 6,2%, gấp 0,029 lần so với nội trợ, và sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê với p