Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành chưa đúng về phòng chống SXHD

Một phần của tài liệu Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh sốt xuất huyết dengue của người dân tại phường hưng phú, quận cái răng, thành phố cần thơ (Trang 64 - 69)

4.5.1. Mối liên quan giữa tuổi, giới, nghề nghiệp với kiến thức chưa đúng về phòng chống SXHD

Tỷ lệ người dân ≤ 35 tuổi có kiến thức chưa đúng về phòng chống SXHD là 25,0% so với tỷ lệ người dân > 35 tuổi là 54,8%. Sự khác biệt về tỷ lệ kiến thức chưa đúng giữa 2 nhóm tuổi có ý nghĩa thống kê (OR=0,28 và p<0,001). Ở nghiên cứu của Trịnh Thị Ý Nhi cũng cho thấy mối liến quan giữa nhóm tuổi và kiến thức chung của người dân [16]. Có thể lý giải cho điều này khi mà những người trẻ tuổi thường có khả năng tiếp thu và ghi nhớ tốt hơn so với những người lớn tuổi hơn, nên khi được phỏng vấn thì họ cũng sẽ nhạy bén hơn trong việc đáp lại các câu hỏi.

Tỷ lệ kiến thức chưa đúng ở nam là 45,7% so với nữ là 51,9%. Sự khác biệt về tỷ lệ kiến thức chưa đúng giữa 2 nhóm không có ý nghĩa thống kê (OR=0,8, p=0,28). Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu khác của Trương Trần Nguyên Thảo với tỷ lệ kiến thức chưa đúng ở nam là 46% và nữ là 45%

(OR=0,97 và p=0,96). Còn ở một nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Hân thì lại cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm (OR=0,62 và p=0,018) [14], [31].

Người dân thuộc nhóm các đối tượng khác có kiến thức chưa đúng về phòng chống SXHD cao gấp 8,2 lần so với các đối tượng là CNVC, HS-SV. Sự khác biệt về tỷ lệ kiến thức chưa đúng giữa 2 nhóm có ý nghĩa thống kê (p<0,001). Sự khác biệt này cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của tác giả

Trương Trần Nguyên Thảo (OR 1,78 và p=0,045)[31]. Điều này cũng dễ hiểu khi mà các đối tượng là CNVC, HS-SV là những người có điều kiện và dễ tiếp cận với nguồn thông tin hơn những đối tượng khác.

Tỷ số chênh về kiến thức chưa đúng giữa nhóm có trình độ học vấn từ cấp 2 trở lên và nhóm dưới cấp 2 là 0,23. Sự khác biệt tỷ lệ giữa 2 nhóm có ý nghĩa thống kê (p<0,01). Cho thấy người có trình độ học vấn càng thấp thì kiến thức chung không đúng của họ về bệnh SXHD càng cao. Kết luận này cũng là kết luận của các tác giả Phan Văn Ê, Trương Trần Nguyên Thảo, Nguyễn Thị Kim Yến và Huỳnh Ngọc Tuyền [11], [31], [37], [20].

4.5.2. Mối liên quan giữa đặc điểm hộ gia đình với kiến thức chưa đúng về phòng chống SXHD

Về hoàn cảnh kinh tế gia đình, người nghèo có kiến thức chưa đúng gấp hơn 2,5 lần so với người không nghèo và sự khác biệt giữa 2 nhóm có ý nghĩa thống kê (OR=2,65 và p=0,041). Nghiên cứu của Nguyễn Văn Bé Hai tại huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long cũng tìm ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm có điều kiện kinh tế khác nhau (p=0,04). Điều này cho thấy tình trạng kinh tế gia đình là một yếu tố tác động trực tiếp đến nhận thức của người dân về việc phòng chống bệnh SXHD [10].

Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm những người trong gia đình không có trẻ em dưới 15 tuổi và những người trong gia đình có trẻ em dưới 15 tuổi (p=0,85) và cũng không tìm thấy mối liên quan giữa kiến thức chưa đúng với đặc điểm gia đình có người từng mắc SXHD (p=0,11). Kết quả này cũng được tác giả Nguyễn Thị Kim Yến tìm ra trong nghiên cứu của mình. Từ đó cho thấy việc gia đình có trẻ em dưới 15 tuổi hoặc có người từng mắc SXHD hay không thì không ảnh hưởng đến kiến thức của người dân [37].

4.5.3. Mối liên quan giữa tuổi, giới, nghề nghiệp với thái độ phòng chống SXHD

Qua khảo sát thì sự khác biệt về thái độ chưa đúng trong phòng chống bệnh SXHD giữa nhóm tuổi ≤ 35 và nhóm > 35 có ý nghĩa thống kê với OR=0,2 và p=0,004.

Có mối liên quan mật thiết giữa trình độ học vấn và thái độ chưa đúng về phòng chống SXHD. Thái độ chưa đúng ở nhóm người có trình độ học vấn ≥ cấp 2 bằng 0,26 lần so với nhóm người có trình độ học vấn < cấp 2 (OR=0,26 và p<0,001). Ở nghiên cứu của Nguyễn Thị Hân, tác giả cũng tìm thấy mối liên quan giữa trình độ học vấn và thái độ phòng chống SXHD của người dân [14].

4.5.4. Mối liên quan giữa đặc điểm hộ gia đình với thái độ phòng chống SXHD

Thái độ chưa đúng ở nhóm người nghèo cao gấp 3,5 lần so với người không nghèo. Kết quả nói lên những người có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn hơn thì có thái độ chưa đúng trong phòng chống SXHD cũng cao hơn (Fisher’s Exact test-p=0,01).

Sự khác biệt về thái độ chưa đúng không có ý nghĩa thống kê giữa nhóm người trong gia đình không có trẻ em dưới 15 tuổi và nhóm người trong gia đình có trẻ em dưới 15 tuổi (p=0,24).

Nghiên cứu đã tìm thấy mối liên quan giữa thái độ chưa đúng và đặc điểm gia đình có người từng mắc SXHD (OR=2,65 và p=0,01). Những người trong gia đình có người chưa từng mắc SXHD sẽ có thái độ chưa đúng cao hơn 2,6 lần so với những người trong gia đình có người từng mắc SXHD.

4.5.5. Mối liên quan giữa tuổi, giới, nghề nghiệp với thực hành phòng chống SXHD

Có mối liên quan giữa tuổi và thực hành chưa đúng việc phòng chống SXHD. Tỷ số chênh giữa 2 nhóm ≤ 35 tuổi và nhóm > 35 tuổi là 0,5 (p=0,012).

Từ kết quả nghiên cứu có thể nhận thấy rằng tuổi càng cao thì việc thực hành chưa đúng cũng càng cao. Các nghiên cứu của các tác giả Phan Văn Ê và Nguyễn Văn Bé Hai cũng tìm thấy mối liên quan trên [10], [11].

Nghiên cứu của chúng tôi không tìm thấy mối liên quan giữa giới tính với thực hành phòng chống SXHD (p=0,115). Cũng tương tự nghiên cứu của tác giả Trương Trần Nguyên Thảo cũng không tìm thấy sự liên quan này [31].

Từ kết quả nghiên cứu có thể rút ra kết luận rằng nhóm các đối tượng khác thực hành phòng chống SXHD chưa đúng cao gấp 5,3 lần so với nhóm đối tượng CNVC, HS-SV (OR=5,27 và p<0,001). Có thể thấy mối liên quan chặt chẽ giữa nghề nghiệp và việc thực hành phòng chống SXHD. Vì những người là CNVC, HSSV thì sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận thông tin và từ đó có những việc làm chưa đúng thấp hơn so với các đối tượng khác.

Có mối liên quan giữa trình độ học vấn và thực hành phòng chống SXHD (p<0,001). Tỷ số chênh giữa nhóm có trình độ học vấn từ cấp 2 trở lên và dưới cấp 2 là 0,22 (khoảng tin cậy 95% 0,14-0,34).

4.5.6. Mối liên quan giữa đặc điểm hộ gia đình với thực hành phòng chống SXHD

Tỷ lệ thực hành phòng chống SXHD chưa đúng ở nhóm người nghèo là 76,2% và ở nhóm người không nghèo là 47,8%. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy những người nghèo thì có thực hành chưa đúng cao gấp 3,5 lần so với những người không nghèo với OR=3,50 và p=0,011.

Nghiên cứu cho thấy rằng những người trong gia đình không có trẻ em dưới 15 tuổi thì có thực hành chưa đúng cao gấp 1,5 lần so với gia đình có trẻ em dưới 15 tuổi (OR=1,49 và p<0,05).

Qua khảo sát cho thấy có mối liên quan giữa HGĐ có người từng SXHD và thực hành chưa đúng (p=0,005). Tỷ số chênh giữa nhóm HGĐ có người từng mắc SXHD và nhóm HGĐ không có người từng mắc SXHD là 2,67.

4.5.7. Mối liên quan giữa kiến thức và thái độ

Trong nhóm những người có thái độ chưa đúng thì số người có kiến thức chưa đúng cao gấp hơn 16 lần so với người có kiến thức đúng (OR=16,52;

p<0,001). Nghiên cứu của các tác giả Trần Song Toàn, Nguyễn Thị Hân, Nguyễn Văn Bé Hai cũng tìm thấy mối liên quan giữa kiến thức và thái độ phòng chống SXHD của người dân [10], [14], [26].

4.5.8. Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành

Trong nhóm những người thực hành chưa đúng thì người có kiến thức chưa đúng cao gấp 3,3 lần người có kiến thức đúng (OR=3,30; p<0,001). Nghiên cứu của các tác giả Trương Trần Nguyên Thảo, Trần Song Toàn cũng kết luận rằng có mối liên quan giữa kiến thức và thực hành phòng chống bệnh SXHD [26], [31].

4.5.9. Mối liên quan giữa thái độ và thực hành

Trong nhóm những người thực hành chưa đúng thì nhóm có thái độ chưa đúng gấp 3,7 lần so với nhóm có thái độ đúng. Có mối liên quan giữa thái độ phòng chống SXHD và thực hành phòng chống SXHD (p<0,001). Rất nhiều các nghiên cứu của các tác giả Lê Hoàng Rong, Nguyễn Văn Bé Hai, Huỳnh Ngọc Tuyền, Phan Văn Ê, Nguyễn Thị Hân, Trần Song Toàn cũng tìm thấy mối liên hệ giữa thái độ và thực hành phòng chống SXHD [10], [11], [14], [18], [20], [26]. Từ những kết quả trên cho thấy việc tuyên truyền và giáo dục người dân là hết sức quan trọng để người dân nhận thức rõ ràng hơn về mức độ nguy hiểm của bệnh SXHD để có thái độ cũng như thực hành đúng đắn trong việc phòng chống căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm này.

Một phần của tài liệu Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh sốt xuất huyết dengue của người dân tại phường hưng phú, quận cái răng, thành phố cần thơ (Trang 64 - 69)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(103 trang)