Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Một phần của tài liệu Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh sốt xuất huyết dengue của người dân tại phường hưng phú, quận cái răng, thành phố cần thơ (Trang 55 - 69)

4.1.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Theo kết quả nghiên cứu nhận thấy nhóm tuổi từ 50 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất với 56%, kế đến là nhóm tuổi từ 36-49 có tỷ lệ là 27%, từ 25-35 là 11,2% và thấp nhất là nhóm tuổi dưới 25 với 5,8%. Điều này cũng dễ lý giải vì đa số những người ở nhóm tuổi từ 50 trở lên thường là những người đã qua tuổi lao động, về hưu hoặc là người già nên họ thường ở nhà là để chăm sóc con cháu và lo việc gia đình. Tỷ lệ nhóm tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Hân thực hiện tại phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, An giang năm 2012, nghiên cứu này có tỷ lệ người từ 50 tuổi trở lên là 41,8% [14].

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ về giới tính có sự không đồng đều giữa nam và nữ, với tỷ lệ nam là 34,3% và nữ là 65,7%. Việc có sự chênh lệch về tỷ lệ nam/nữ là do đa phần những người nam thường là lao động chính của gia đình nên họ thường hay vắng nhà để lo cho kinh tế gia đình, còn phụ nữ họ lo việc nội trợ nên thường hay xoay quanh nhà cửa là chủ yếu. Tỷ lệ nam nữ trong nghiên cứu của chúng tôi có sự tương đồng với tỷ lệ nam nữ trong nghiên cứu của Phan Văn Ê thực hiện tại xã Tân Thạnh, huyện Thanh Bình, Đồng Tháp năm 2013, có tỷ lệ nam là 31,5% và nữ là 68,5% [11].

Về trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu thì tỷ lệ có trình độ cấp 1 là cao nhất với 34,4%, tiếp đến là cấp 2 chiếm 31,3%, thấp nhất là mù chữ chiếm 5,2%. Kết quả này cũng tương tự với nghiên cứu của Nguyễn Thị Hân với tỷ lệ cấp 1 là 35%, cấp 2 là 34,2% và mù chữ là 4,8% [14].

Nghề nghiệp của người dân chủ yếu là nội trợ (32%) và buôn bán (31,4%), ít nhất là nông dân chiếm tỷ lệ thấp với 1,8%. Vì địa bàn nghiên cứu thuộc khu vực đông dân cư, diện tích đất canh tác ít nên người dân chủ yếu sống bằng các nghề phi nông nghiệp là chính. Tỷ lệ này khác với tỷ lệ nghề nghiệp của người dân trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Bé Hai tại huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long với tỷ lệ nội trợ là 22,3%, buôn bán là 21,2% và cao nhất là nông dân chiếm 37,3% [10].

4.1.2. Đặc điểm hộ gia đình của đối tượng nghiên cứu

Một số ít đối tượng nghiên cứu có hoàn cảnh gia đình còn khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 5,2%. Điều này phản ánh địa bàn nghiên cứu là khu vực giáp ranh với trung tâm của thành phố Cần Thơ nên cuộc sống người dân đang được quan tâm cải thiện nhiều hơn về cơ sở hạ tầng cũng như đời sống. Tỷ lệ này khác với tỷ lệ hộ nghèo trong nghiên cứu của Phan Văn Ê tại xã Tân Thạnh, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp là 12,3% [11].

Tỷ lệ hộ gia đình có trẻ em dưới 15 tuổi là 58,2% và không có trẻ em dưới 15 tuổi là 41,8%. Kết quả này cũng tương tự kết quả của Lê Thị Anh Phương tại xã Trưởng Long, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2017 với tỷ lệ lần lượt là 60% và 40% [17].

Đa số những đối tượng được phỏng vấn cho biết gia đình họ chưa có ai từng mắc bệnh SXHD (89,5%). Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của Trần Song Toàn tại xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2015 với tỷ lệ hộ gia đình có chưa người từng mắc SXHD là 88,9% [26].

4.1.3. Đặc điểm tiếp cận thông tin về SXHD của đối tượng nghiên cứu

Tỷ lệ người đã từng nghe/đọc về bệnh SXHD là 93,3% cho thấy việc truyền thông về bệnh SXHD tại địa bàn nghiên cứu còn một số hạn chế nên việc tiếp nhận thông tin của người dân cũng chưa được đầy đủ. Tỷ lệ này cũng tương đồng với nghiên cứu của Trần Văn Tuấn thực hiện tại xã Trường Long, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2012, tỷ lệ là 95,2% [27].

Trong số những người đã từng nghe/đọc về bệnh SXHD thì phương tiện truyền thông được người dân tiếp cận nhiều nhất là từ Ti vi (94,1%), kế đến là loa/đài truyền thanh (41,3%), cán bộ y tế/tình nguyện viên (25,7%). Với những con số trên cho thấy việc truyền thông hiệu quả nhất là từ Ti vi, cùng với việc đời sống kinh tế cải thiện Ti vi đã gắn liền với cuộc sống người dân, hầu hết thời gian rãnh rỗi họ thường dành thời gian để xem Ti vi cập nhật thông tin cũng như giải trí. Vì vậy việc lồng ghép các chương trình truyền thông giáo dục sức khoẻ qua Ti vi vẫn là kênh truyền thông phù hợp và hiệu quả nhất. Tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu Lê Hoàng Rong tại thành phố Vị Thanh năm 2013 (77,5%) và tương đương với nghiên cứu Trịnh Thị Ý Nhi tại xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ 2016 (95%) [16], [18].

4.2. Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về sốt xuất huyết Dengue:

4.2.1. Kiến thức về muỗi truyền bệnh SXHD

Tỷ lệ người dân biết được nguyên nhân lây truyền bệnh SXHD do muỗi đốt là 93,3%. Tỷ lệ này tương đương với nghiên cứu của Trần Văn Tuấn là 92,8%

và nghiên cứu tại phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên năm 2012 của Nguyễn Thị Hân là 93,2% [14], [27]. Cao hơn nghiên cứu của Nguyễn Văn Thêm tại huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng năm 2014-2015 (87,9%) và Phan Văn Ê tại xã Tân Thạnh, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp (82,8%) [11], [25]. Thấp hơn so với nghiên cứu của Huỳnh Ngọc Tuyền tại xã Tân Thới, huyện Phong

Điền, thành phố Cần Thơ năm 2015 với tỷ lệ là 98,6% và Trịnh Thị Ý Nhi tại xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ là 100% [16], [20].

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 54,7% người dân biết được muỗi vằn (Aedes Aegypti) là trung gian truyền bệnh SXHD, kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Trương Trần Nguyên Thảo tại 4 phường, xã Giai Xuân, Nhơn Nghĩa, An Hoà, An Hội thành phố Cần Thơ năm 2013 là 64% và Huỳnh Ngọc Tuyền tại xã Tân Thới, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2015 là 59,8%, nhưng lại cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Mai Triết tại xã Đông Phước A, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang năm 2016 là 50,3% và Trần Song Toàn tại xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2015 là 42,9% [20], [24], [26], [31]. Bên cạnh đó, trong nghiên cứu của chúng tôi một bộ phận lớn người dân cho rằng muỗi truyền bệnh SXHD là muỗi đòn sóc (Anopheles) chiếm 20,1% có thể do đa phần những người được phỏng vấn đều đã lớn tuổi và trước đây truyền thông chúng ta tuyên truyền khá nhiều về bệnh sốt rét nên người dân còn nhầm lẫm 2 căn bệnh này với nhau.

Khi được hỏi về thời gian muỗi truyền bệnh SXHD hoạt động mạnh thì chỉ có 25% số người trả lời đúng là muỗi hoạt động mạnh vào buổi sáng sớm và chập choạng tối, đa phần họ trả lời không đúng và cho rằng muỗi hoạt động nhiều vào buổi tối. Tỷ lệ này của chúng tôi thấp hơn rất nhiều so với nghiên cứu tại xã Tân Thạnh, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp năm 2013 có tỷ lệ là 62,3% và tại phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang năm 2012 với tỷ lệ là 68,2% [11], [14]. Sự khác biệt này có thể là do người dân ở những khu vực này có kiến thức khác nhau về cách nhận dạng muỗi truyền bệnh SXHD và họ không phân biệt được đâu là muỗi truyền bệnh và đâu là không phải nên có những nhận biết chưa đúng về thời điểm hoạt động của muỗi.

Có 77,8% biết được nơi muỗi truyền bệnh thường hay đẻ trứng, tương đương với nghiên cứu thực hiện tại xã Tân Thạnh, huyện Thanh Bình, Đồng

Tháp năm 2013 (74,1%) và cao hơn rất nhiều so với nghiên cứu tại huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng năm 2014-2015 (31,6%) [11], [25]. Bên cạnh đó có tỷ lệ người dân biết được nơi muỗi truyền bệnh SXHD thường trú ẩn (đậu) có sự tương đồng giữa nghiên cứu của chúng tôi và của Nguyễn Văn Thêm với tỷ lệ lần lượt là 67,9% và 70,9% [25].

4.2.2. Kiến thức về phòng chống bệnh SXHD

Kết quả nghiên cứu cho thấy có 72% người dân có kiến thức đúng khi cho rằng bệnh SXHD có thể phòng tránh được. Tỷ lệ này ở các nghiên cứu của Nguyễn Văn Thêm là 90,4%, của Phan Văn Ê là 77,7% và của Lê Thị Anh Phương tại xã Trường Long, huyện Phong Điền, thành phồ Cần Thơ năm 2016 là 92,6% [11], [17], [25].

Tỷ lệ người biết cách đúng để phòng tránh muỗi đốt là 74% và biết cách đúng để diệt lăng quăng là 37,3%. Các tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của tác giả Trương Trần Nguyên Thảo lần lượt là 46% và 28% và nghiên cứu tại huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng của Nguyễn Văn Thêm là 58,9% và 25,4% [25], [31]. Có thể thấy người dân thường chú trọng hơn đến việc tránh tác nhân gây bệnh chính là muỗi hơn tác nhân tìm ẩn là lăng quăng, vì vậy việc cần đẩy mạnh tuyên truyền cho người dân nhận thức đầy đủ để phòng chống hiệu quả bệnh SXHD luôn là ưu tiên hàng đầu.

4.2.3. Kiến thức về bệnh SXHD

Để nhận diện và có cách xử trí kịp thời đối với bệnh SXHD thì kiến thức của người dân về những biểu hiện sớm cũng như tăng nặng của bệnh là hết sức quan trọng. Trong nghiên cứu của chúng tôi thì tỷ lệ người có kiến thức đúng về biểu hiện sớm của bệnh SXHD là 80,3%, tỷ lệ người biết những biểu hiện của trẻ ở giai đoạn nặng (sốc) của SXHD là 72,8%. Kết quả này cũng tương tự với nghiên cứu của tác giả Phan Văn Ê (tỷ lệ người có kiến thức đúng về biểu hiện sớm của bệnh SXHD là 89,2% và tỷ lệ người biết những biểu hiện của trẻ ở giai

đoạn nặng là 71,5%) [11]. Tỷ lệ người dân xử trí đúng nếu trẻ có những biểu hiện của SXHD là 65,5% cao hơn so với nghiên cứu của Trần Văn Tuấn có tỷ lệ là 47,7% và Lê Hoàng Rong là 52% [18], [27].

Qua phỏng vấn ghi nhận tỷ lệ người dân biết hiện tại chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh SXHD là 42%, còn số người trả lời hiện tại chưa có vắc xin phòng bệnh SXHD là 35,3%. Khi được phỏng vấn đa phần số đối tượng cho rằng gia đình mình chưa ai mắc bệnh nên cũng không quan tâm đến việc này.

Cho thấy hiểu biết của người dân về việc điều trị SXHD khi mắc bệnh sao cho đúng vẫn là điều đáng được quan tâm.

4.2.4. Kiến thức chung

Kết quả kiến thức chung đúng của các đối tượng tham gia nghiên cứu chiếm tỷ lệ 50,2%. Tỷ lệ này chưa cao khi mà kiến thức về bệnh là điều kiện cần để người dân có thái độ đúng hay thực hành đúng đối với việc phòng chống bệnh SXHD. Tỷ lệ này ở các nghiên cứu khác tại 4 phường, xã Giai Xuân, Nhơn Nghĩa, An Hoà, An Hội thành phố Cần Thơ năm 2013 là 55%, còn của tác giả Nguyễn Thị Kim Yến tại xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2007 có tỷ lệ khá cao là 85% [31]. Sự khác biệt này có thể do trình độ của các đối tượng tham gia ở mỗi nghiên cứu thuộc các khu vực khác nhau nên có mức kiến thức khác nhau hoặc do cách đánh giá của mỗi tác giả có phần khác nhau nên cho kết quả có sự khác biệt.

4.3. Thái độ của đối tượng nghiên cứu đối với sốt xuất huyết Dengue:

4.3.1. Thái độ đối với bệnh SXHD

Qua kết quả nghiên cứu cho thấy còn một bộ phận người dân chưa nhận thức được sự nguy hiểm của bệnh SXHD, tỷ lệ người dân cho rằng SXHD là một bệnh nguy hiểm đạt 88% và tỷ lệ người dân đồng ý với việc nên thường xuyên cập nhật kiến thức về phòng chống bệnh SXHD là 84% thấp hơn nhiều so với trong nghiên cứu tại xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ

năm 2015 lần lượt là 95% và 94,3%, trong khi đó nghiên cứu của tác giả Lê Thu Thuỷ tại thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang năm 2014 tỷ lệ này cũng rất cao với 98,4% và 98% [21], [26].

Trong nghiên cứu của chúng tôi có 83,3% số đối tượng nghiên cứu đồng ý với việc đậy kín các DCCN và súc rửa DCCN thường xuyên là phòng được bệnh SXHD thấp hơn so với nghiên cứu tại huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng năm 2014-2015 (96,6%). Cho trẻ mặc áo dài tay, ngủ mùng cả ngày và đêm thì có thể tránh được muỗi đốt thì có 82,8% người dân đồng tình với việc làm này, trong khi đó nghiên cứu tại thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang năm 2014 tỷ lệ này lên đến 98,9% [21], [25].

Việc phun xịt hoá chất diệt muỗi trên diện rộng khi có dịch xảy ra là hết sức quan trọng, giúp làm giảm thiểu nguy cơ lan rộng của dịch. Việc khảo sát thái độ của người dân có ý nghĩa cực kì quan trọng giúp dự đoán được hiệu quả của công tác phòng chống dịch khi có dịch xảy ra. Qua khảo sát có 84,5% đồng ý cho cơ quan chức năng, cơ sở y tế tổ chức các đợt phun xịt hoá chất diệt muỗi khi có dịch xảy ra, con số này cho thấy cần có những biện pháp mạnh mẽ hơn trong việc tuyên truyền cũng như giáo dục người dân để công tác phòng chống dịch hiệu quả hơn.

Và 73,5% người dân cho rằng để phòng chống SXHD chúng ta cần diệt muỗi và lăng quăng, trách nhiệm này là của Nhà nước và nhân dân cùng làm. Tỷ lệ này trong nghiên cứu của tác giả Phan Văn Ê là 68,7% và của tác giả Trương Trần Nguyên Thảo là 62% [11], [31].

4.3.2. Thái độ chung

Qua phỏng vấn tỷ có thái độ chung đúng đối với bệnh SXHD và việc phòng chống SXHD là 84% cao hơn trong một nghiên cứu tương tự của Nguyễn Văn Bé Hai thì tỷ lệ này là 73,6% còn trong nghiên cứu của Lê Thu Thuỷ thì tỷ lệ này rất cao với 98,8% nhưng trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Hân tỷ lệ này

lại rất thấp với 48,8%. Qua các kết quả trên có thể thấy, thái độ của người dân ở mỗi địa phương có sự khác nhau rõ rệt có thể là do cách đánh giá của mỗi nghiên cứu có sự khác biệt hoặc do điều kiện kinh tế xã hội, môi trường sống khác nhau nên công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ cho người dân ở từng nơi cũng có sự khác biệt nên dẫn đến những kết quả trên.

4.4. Thực hành của đối tượng nghiên cứu trong việc phòng chống sốt xuất huyết Dengue:

4.4.1. Thực hành phòng chống SXHD qua phỏng vấn

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ người dân cho trẻ ngủ mùng kể cả ban ngày là 42,8% thấp hơn của tác giả Phan Văn Ê (56,7%)[11].

Số người dân cho rằng việc súc rửa DCCN (lu, khạp, bình cắm hoa,…) phải làm ít nhất 1 lần/tuần là 75,2% và xử lý các vật phế thải như tô, chén bể, gáo dừa, lon sửa bò, vỏ xe cũ,… đúng cách là 85,2% tương tự với kết quả của tại xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2015 với tỷ lệ là 72,5% và 85% [26].

Tỷ lệ người dân thực hành diệt lăng quăng đúng cách là 39,3% và dùng các biện pháp để tránh muỗi đốt là 73,8%, kết quả này cao hơn nhiều so với nghiên cứu của Trần Văn Tuấn thực hiện tại xã Trường Long, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2012 tỷ lệ là 25,7% và 52,8% nhưng lại thấp hơn kết quả tại xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2015 với kết quả lần lượt là 95,7% và 96,1% [26], [27].

Số người dân có sử dụng và có để muối, dầu vào chén chống kiến chân tủ thức ăn là 30,8%. Về việc vệ sinh môi trường xung quanh nhà, phát quan bụi rậm, thu gom phế thải đọng nước thường xuyên thì có 71,2% thực hành đúng và tỷ lệ người dân có sắp xếp các vật dụng và quần áo trong nhà gọn gàng thoáng mát là 97%. Điều này cho thấy người dân chưa chú trọng đến việc vệ sinh môi

trường xung quanh nhà tạo điều kiện thuận lợi cho muỗi có nơi đẻ trứng và phát triển.

4.4.2 Thực hành phòng chống SXHD qua quan sát

Vì đa số người dân ở đây có điều kiện kinh tế còn thấp so với mặt bằng chung của các vùng lân cận và để tiết kiệm phần nào đó chi phí sinh hoạt nên tỷ lệ người có thói quen tích trữ nước để sử dụng tương đối cao với 65,3%. Trong đó số các DCCN có nắp đậy kín là 96,4%.

Do điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều hạn chế, cơ sở hạ tầng chưa được hoàn thiện nên việc môi trường sống xung quanh nhà của những hộ gia đình địa bàn nghiên cứu còn bị ô nhiễm khá nhiều và do tính chất địa bàn ở đây là nhà liền nhà dẫn đến việc tỷ lệ nhà có vật phế thải có thể chứa nước là 72,5%. Trong đó tỷ lệ nhà có DCCN có lăng quăng là 6%, tuy có thấp hơn so với nghiên cứu của Huỳnh Ngọc Tuyền có tỷ lệ là 12,4% và nghiên cứu của Trần Văn Tuấn là 9,7%, nhưng chỉ số này cao hơn 5% và nên được xem là khu vực ưu tiên trọng điểm trong giám sát phòng chống dịch SXHD. Sự khác biệt giữa nghiên cứu của chúng tôi so với các nghiên cứu khác có thể là do thời điểm chúng tôi thực hiện tập trung vào những thời điểm ít mưa và đặc điểm địa bàn dân cư chủ yếu là nhà liền nhà nên điều kiện giám sát chưa đảm bảo [20].

Qua quan sát hầu hết các hộ gia đình đều thực hiện sắp xếp đồ đạc, vật dụng trong nhà gọn gàng không để muỗi có nơi trú ẩn 95,8%. Tỷ lệ cũng tương đồng so với kết quả thực hành qua phỏng vấn mà chúng tôi đã thực hiện ở phần trên (97%). Từ đó có thể thấy rằng người dân cũng đã có những hiểu biết nhất định về bệnh SXHD khi thực hiện việc nói đi đôi với làm.

4.4.3 Thực hành chung phòng chống SXHD.

Thực hành chung phòng chống SXHD đúng đạt 50,7% kết quả này gần bằng với kết quả của Phan Văn Ê (55,9%) và cao hơn kết quả nghiên cứu tại 4 phường, xã Giai Xuân, Nhơn Nghĩa, An Hoà, An Hội thành phố Cần Thơ năm

Một phần của tài liệu Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh sốt xuất huyết dengue của người dân tại phường hưng phú, quận cái răng, thành phố cần thơ (Trang 55 - 69)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(103 trang)