--- TRƯƠNG NHẬT TRƯỜNG NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP Ở NHỮNG NGƯỜI 45-65 TUỔI ĐÃ BỊ TĂNG HUYẾT ÁP TẠI QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2017 LUẬN VĂN TỐT
Khái niệm THA
Huyết áp được hiểu là áp lực của dòng máu đi nuôi cơ thể Huyết áp được tạo bởi là do sức co bóp hút – đẩy máu của tim là sự co giãn của thành mạch Huyết áp còn bị chi phối nhiều bởi nhịp tim, các yếu tố gây co mạch, thể tích tuần hoàn [20] Khi đo huyết áp có 2 trị số huyết áp, là huyết áp tối đa (hay gọi là huyết áp tâm thu) phản ánh huyết áp của động mạch khi co bóp Và chỉ số huyết áp tối thiểu (hay gọi là huyết áp tâm trương) phản ánh huyết áp khi tim giãn ra trong một chu kỳ co bóp của quả tim [7][20] Huyết áp bình thường dao động trong khoảng: huyết áp tâm thu nhỏ hơn 140mmHg (18,7 kpa), huyết áp tâm trương dưới 90mmHg (12 kpa) [4] Huyết áp động mạch do 2 yếu tố quyết định: Cung lượng tim và sức kháng động mạch ngoại vi mà cung lượng tim lại do thể tích nhát bóp và tần số tim/phút quyết định Do vậy khi yếu tố này thay đổi sẽ làm thay đổi huyết áp Trên lâm sang có 4 thông số huyết áp (HA) thường được dùng là HATT, HATTr, huyết áp trung bình (HATB) và huyết áp hiệu số (HAHS) Theo tổ chức tăng huyết áp thế giới (TCYTTG) và ủy ban quốc gia cộng lực hoa kỳ (JNC) đều thống nhất một người lớn bị THA khi huyết áp tâm thu ≥ 140mmHg và hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90mmHg, định nghĩa này đơn giản nhưng có nhược điểm là trị số HA không hoàn toàn ổn định và thay đổi theo tuổi, giới [12].
Phân độ THA
Huyết áp cao có thể do một bệnh khác gọi là THA thứ phát, nhưng phần lớn trường hợp lại không tìm thấy nguyên nhân rõ ràng, được gọi là THA nguyên phát, chiếm tới 90-95% số người bị cao huyết áp Chỉ dưới 5% các trường hợp cao huyết áp là do nguyên nhân thứ phát Các nguyên nhân chính của THA thứ phát gồm có bệnh thận như thiếu máu thận, xơ cứng hoặc xơ vữa động mạch cũng góp phần gây ra cao huyết áp Ngoài ra, các bệnh nội tiết như hội chứng Cushing, cường Aldosterone thứ phát (hội chứng Conn), u phần vỏ hoặc phần tủy của tuyến thượng thận cũng là những nguyên nhân quan trọng của THA thứ phát.
1.2.2 Theo trị số huyết áp Ở trên cùng một người, trị số huyết áp đã có những thay đổi theo giờ trong ngày, xu hướng cao và buổi sáng và thấp dần vào ban đêm, theo phản ứng của cơ thể như lúc ngủ khi có stress, sau khi ăn no,… Ngoài ra, huyết áp còn thay đổi theo giới tính, chủng tộc, tuổi Vì vậy, xây dựng tiêu chuẩn riêng về huyết áp cho từng người phù hợp với dân tộc, giới tính, lứa tuổi, xã hội mà người đó đang sống là rất khó Khái niệm về trị số huyết áp bình thường và cao được chấp thuận dựa trên thống kê học [28] Sau đây là hai cách phân loại được sử dụng phổ biến nhất [44]
Bảng 1.1 phân loại THA theo JNC VII 2003
Mức độ Huyết áp tâm thu mmHg
Huyết áp tâm trương mmHg
Bảng 1.2 phân loại THA theo WHO-ISH và khuyến cáo của Hội Tim
Khái niệm Huyết áp tâm thu mmHg
Huyết áp tâm trương mmHg
Phân loại dựa theo đo huyết áp [6][18] Nếu HATT và HATTr không cùng một phân độ thì chọn mức huyết áp cao hơn để phân loại.
Yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến bệnh THA
Các yếu tố nguy cơ không thay đổi được như tiền sử gia đình mắc bệnh tim mạch sớm (nữ dưới 65 tuổi, nam dưới 55 tuổi), tuổi và giới đóng vai trò quan trọng trong dự đoán bệnh tim mạch Nguy cơ mắc các bệnh tim mạch tăng theo tuổi, đặc biệt ở nam giới trẻ hơn nữ giới trong tuổi trẻ, nhưng sau mãn kinh, nữ giới cũng có nguy cơ tương đương Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi bao gồm căng thẳng kéo dài gây tăng huyết áp qua việc kích thích thần kinh giao cảm, chế độ ăn mặn làm giảm huyết áp và tỷ lệ mắc bệnh tim mạch, béo phì làm tăng đề kháng mạch máu, tăng thể tích tim và liên quan chặt chẽ đến tăng huyết áp, trong khi giảm cân có thể làm giảm huyết áp và phì đại thất trái Hút thuốc lá là yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành, đột quỵ và bệnh mạch máu ngoại vi Uống rượu nhiều kéo dài gây tăng huyết áp, rối loạn tim mạch và tăng nguy cơ tai biến mạch máu não Rối loạn lipid máu, xơ vữa động mạch, đái tháo đường type 2 và ít vận động thể lực cũng là những yếu tố rủi ro quan trọng; hoạt động thể chất đều đặn giúp giảm cân, giảm lipid máu, huyết áp và phòng ngừa các bệnh tim mạch, đột quỵ, đái tháo đường.
Cần luyện tập thường xuyên mơi có hiệu quả Người hoạt động thể lực khoảng
Để giảm nguy cơ tử vong do bệnh mạch vành, chỉ cần dành 30 phút vận động mỗi ngày, giảm được 30% nguy cơ so với những người ít vận động Hiệu quả này có thể nhờ vào việc giảm huyết áp và kích thích các yếu tố chuyển hóa, chẳng hạn như tăng mức HDL-cholesterol, giúp cải thiện sức khỏe tim mạch rõ rệt.
Điều trị tăng THA
THA là bệnh mãn tính cần theo dõi đều đặn, điều trị đúng và đủ hàng ngày để kiểm soát tốt huyết áp Điều trị lâu dài là yếu tố then chốt giúp bệnh nhân duy trì huyết áp mục tiêu, giảm thiểu các biến chứng nghiêm trọng Mục tiêu của quá trình điều trị là đạt “huyết áp mục tiêu” nhằm phòng ngừa các biến chứng tim mạch, đột quỵ và các vấn đề sức khỏe khác liên quan đến tăng huyết áp Việc tuân thủ chế độ điều trị và theo dõi định kỳ đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát bệnh hiệu quả và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.
Nguy cơ tim mạch liên quan đến tăng huyết áp cần được kiểm soát chặt chẽ để giảm thiểu các biến chứng nguy hiểm Mục tiêu huyết áp cần đạt dưới 140/90 mmHg, và nên thấp hơn nữa nếu người bệnh dung nạp tốt, đặc biệt ở những trường hợp có tổn thương cơ quan đích Điều trị tăng huyết áp cần thực hiện tích cực, tránh hạ huyết áp quá nhanh để phòng ngừa các biến chứng ở các cơ quan đích, trừ khi trong tình huống cấp cứu Việc loại trừ các yếu tố tác động, điều trị nguyên nhân gây tăng huyết áp, kết hợp điều trị các biến chứng, cùng với tuyên truyền và theo dõi định kỳ, giúp điều chỉnh phác đồ phù hợp và cá nhân hóa điều trị cho từng bệnh nhân.
1.4.2 Điều trị không dùng thuốc
Bảng 1.3 Điều chỉnh lối sống làm giảm huyết áp [21] Điều chỉnh Khuyến cáo Làm giảm
Giảm cân Duy trì trọng lượng cơ thể bình thường (BMI
Để giảm huyết áp hiệu quả, bạn cần giảm 5-10 mmHg mỗi 10 kg trọng lượng cơ thể Tuân thủ chế độ ăn kiêng bao gồm việc ăn nhiều trái cây, rau xanh và các thực phẩm ít chất béo giúp kiểm soát huyết áp tốt hơn Đồng thời, hạn chế tiêu thụ mỡ bão hòa và mỡ toàn phần để giảm khoảng 8-14 mmHg huyết áp.
Giảm muối ăn Giảm Natri trong khẩu phần ăn