1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu tình hình và lý do sử dụng hay không sử dụng bảo hiểm y tế của người dân từ 18 tuổi trở lên sống tại phường phú thứ, quận cái răng, thành phố cần thơ

84 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tình hình và lý do sử dụng hay không sử dụng bảo hiểm y tế của người dân từ 18 tuổi trở lên sống tại phường phú thứ, quận cái răng, thành phố cần thơ
Tác giả Trần Anh Đức
Người hướng dẫn ThS.BS Trương Bá Nhẫn
Trường học Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2018
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN (11)
    • 1.1 Tổng quan về bảo hiểm y tế (11)
    • 1.2 Lợi ích của bảo hiểm y tế (14)
    • 1.3 Những vấn đề bất cập của bảo hiểm y tế hiện nay (15)
    • 1.4 Tình hình bảo hiểm y tế thế giới (16)
    • 1.5 Bảo hiểm y tế ở Việt Nam (20)
    • 1.6 Tình hình nghiên cứu vấn đề BHYT ở Việt Nam (24)
    • 1.7 Đặc điểm của địa bàn phường Phú Thứ (26)
  • CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (27)
    • 2.1 Đối tƣợng (27)
    • 2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu (27)
    • 2.3 Phương pháp nghiên cứu (27)
    • 2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu (35)
    • 2.5 Đạo Đức trong nghiên cứu (36)
  • CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ (37)
    • 3.1 Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu (37)
    • 3.2 Tình hình tham gia, sử dụng BHYT của đối tƣợng nghiên cứu (39)
    • 3.3 Lý do không tham gia, sử dụng BHYT và một số yếu tố liên quan (0)
  • CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN (54)
    • 4.1 Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu (54)
    • 4.4 Sự tiếp nhận thông tin về bảo hiểm y tế của người dân (60)
    • 4.5 Một số đề xuất của đối tƣợng nghiên cứu về thúc đẩy tham gia BHYT (0)
    • 4.6 Một số yếu tố liên quan đến tham gia bảo hiểm y tế của người dân (61)
    • 4.7 Một số yếu tố liên quan đến sử dụng BHYT của người dân (64)
  • KẾT LUẬN (66)
  • PHỤ LỤC (77)

Nội dung

Tuy nhiên tính đến năm 2011 BHYT chỉ mới bao phủ khoảng 46% dân số cả nước, mức đóng còn thấp, nhất là BHYT tự nguyện, nhiều nguy cơ mất cân đối thu chi của quỹ [11], hơn nữa theo nghiên

Trang 1

TRẦN ANH ĐỨC

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VÀ LÝ DO SỬ DỤNG

HAY KHÔNG SỬ DỤNG BẢO HIỂM Y TẾ CỦA NGƯỜI DÂN

TỪ 18 TUỔI TRỞ LÊN SỐNG TẠI PHƯỜNG PHÚ THỨ, QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2017

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

BÁC SĨ Y HỌC DỰ PHÒNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

ThS.BS TRƯƠNG BÁ NHẪN

CẦN THƠ – 2018

Trang 2

thành luận văn tốt nghiệp

Em chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Y Tế Công Cộng, Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm em học tập tại trường Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học tập không chỉ là nền tảng cho quá trình hoàn thành luận văn mà còn

là hành trang quí báu để em hoàn thành tốt nhất công tác sau này

Em chân thành cảm ơn Trạm Y tế phường Phú Thứ, quận Cái Răng, TP Cần Thơ đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi để em có thể hoàn thành việc thu thập số liệu cho công trình nghiên cứu này

Cuối cùng em kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp Đồng kính chúc các Cô, Chú, Anh, Chị tại phường Phú Thứ, quận Cái Răng, TP Cần Thơ luôn dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều thành công tốt đẹp trong công việc

Cần thơ, ngày 3 tháng 07 năm 2018

Tác giả

Trần Anh Đức

Trang 3

công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả

Trần Anh Đức

Trang 4

Trang DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Tổng quan về bảo hiểm y tế 3

1.2 Lợi ích của bảo hiểm y tế 6

1.3 Những vấn đề bất cập của bảo hiểm y tế hiện nay 7

1.4 Tình hình bảo hiểm y tế thế giới 8

1.5 Bảo hiểm y tế ở Việt Nam 12

1.6 Tình hình nghiên cứu vấn đề BHYT ở Việt Nam 16

1.7 Đặc điểm của địa bàn phường Phú Thứ 18

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Đối tượng 19

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 19

2.3 Phương pháp nghiên cứu 19

2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 27

2.5 Đạo Đức trong nghiên cứu 28

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 29

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 29

3.2 Tình hình tham gia, sử dụng BHYT của đối tượng nghiên cứu 31

3.3 Lý do không tham gia, sử dụng BHYT và một số yếu tố liên quan 38

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 46

4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 46

Trang 5

4.4 Sự tiếp nhận thông tin về bảo hiểm y tế của người dân 52

4.5 Một số đề xuất của đối tượng nghiên cứu về thúc đẩy tham gia BHYT 52

4.6 Một số yếu tố liên quan đến tham gia bảo hiểm y tế của người dân 53

4.7 Một số yếu tố liên quan đến sử dụng BHYT của người dân 56

KẾT LUẬN 58

KIẾN NGHỊ 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

BH Bảo hiểm

BHYT BB Bảo hiểm y tế bắt buộc

BHYTTN Bảo hiểm y tế tƣ nhân

WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)

Trang 7

Bảng 3.2 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (tiếp theo) 30

Bảng 3.3 Tình hình tham gia BHYT của người dân 31

Bảng 3.4 Hình thức tham gia BHYT của đối tượng nghiên cứu 31

Bảng 3.5 Nơi khám chữa bệnh BHYT ban đầu của đối tượng nghiên cứu 33

Bảng 3.6 Lý do tham gia BHYT của đối tượng nghiên cứu 33

Bảng 3.7 Thuận lợi, khó khăn khi tham gia BHYT 34

Bảng 3.8 Tình hình tham gia BHYT của hộ gia đình đối tượng 34

Bảng 3.9 Tình hình tham gia BHYT trong tương lai 35

Bảng 3.10 Tình hình tham gia BHYT của hộ gia đình 35

Bảng 3.11Tình hình sử dụng thẻ BHYT của đối tượng nghiên cứu 36

Bảng 3.12 Tình hình bệnh tật và đi KCB bằng thẻ BHYT trong năm của đối tượng nghiên cứu 37

Bảng 3.13: Lý do không tham gia BHYT của đối tượng nghiên cứu 38

Bảng 3.14: Lý do không sử dụng gia BHYT của đối tượng nghiên cứu 39

Bảng 3.15: Mối liên quan giữa tuổi, giới và tình hình tham gia BHYT 40

Bảng 3.16: Mối liên quan giữa kinh tế gia đình, số thành viên trong gia đình và tình hình tham gia BHYT 41

Bảng 3.17 Mối liên hệ giữa nghe nói, kiến thức với tham gia BHYT 42

Bảng 3.18 Mối liên hệ giữa ý kiến về khám, chữa bệnh BHYT với tham gia BHYT của đối tượng nghiên cứu 43

Bảng 3.19 Mối liên hệ giữa kiến thức và sử dụng BHYT 44

Bảng 3.20 Mối liên hệ giữa loại bệnh và sử dụng BHYT 44

Bảng 3.21 Mối liên hệ giữa trình độ học vấn và sử dụng BHYT 44

Bảng 3.22 Mối liên hệ giữa ý kiến về khám, chữa bệnh BHYT và việc sử dụng BHYT của đối tượng nghiên cứu 45

Trang 8

Biểu đồ 3.1: Phân bố nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu……….30 Biểu đồ 3.2 Loại thẻ BHYT của đối tượng nghiên cứu………32 Biểu đồ 3.3 Đề xuất của đối tượng nghiên cứu về việc thúc đẩy người dân tham gia BHYT……… 38

Trang 9

và sử dụng thuốc lâu dài hơn [16], mà biện pháp tối ưu nhằm giải quyết các vấn đề về chi phí điều trị bệnh cho người dân đó chính là Bảo hiểm y tế

Bảo hiểm y tế (BHYT) là chính sách xã hội quan trọng, mang ý nghĩa nhân đạo và có tính chia sẻ cộng đồng sâu sắc, được Đảng và nhà nước ta hết sức coi trọng và luôn đề cao trong hệ thống chính sách an sinh xã hội [2] Chính sách BHYT của Việt Nam được bắt đầu thực hiện từ năm 1992 Trong suốt hơn 20 năm qua, BHYT đã khẳng định tính đúng đắn của một chính sách

xã hội của Nhà nước, phù hợp với tiến trình đổi mới đất nước BHYT còn góp phần đảm bảo sự công bằng trong khám chữa bệnh Người lao động, người sử dụng lao động và người dân nói chung ngày càng nhận thức đầy đủ hơn về sự cần thiết của BHYT cũng như trách nhiệm đối với cộng đồng xã hội Đông đảo người lao động, người nghỉ hưu, mất sức, đối tượng chính sách xã hội và một bộ phận người nghèo yên tâm hơn khi ốm đau đã có chỗ dựa khá tin cậy

là BHYT [34] Tuy nhiên tính đến năm 2011 BHYT chỉ mới bao phủ khoảng 46% dân số cả nước, mức đóng còn thấp, nhất là BHYT tự nguyện, nhiều nguy cơ mất cân đối thu chi của quỹ [11], hơn nữa theo nghiên cứu của Cao Hoàng Hoa tại phường Hưng Phú, quận Cái Răng thì tỷ lệ người sử dụng BHYT trong nhóm người có tham gia BHYT đạt được 53.8% [9], nhưng lý

Trang 10

do gì hay nguyên nhân nào làm cho tỷ lệ sử dụng BHYT để khám chữa bệnh thấp như vậy vẫn chưa được làm rõ, mà vấn đề này cũng rất cần được quan tâm nhằm hướng đến thực hiện chính sách BHYT toàn dân của Đảng và nhà nước đề ra

Phường Phú Thứ thuộc quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ là một trong những địa phương mới được thành lập từ năm 2004 theo Nghị định số 05/2004/NĐ-CP, nằm ở cửa ngõ phía nam của thành phố Cần Thơ, có Quốc

lộ 91C đi qua, với diện tích 20,13 km², dân số năm 2014 là 20344 người, mật

độ dân số đạt 986 người/km² Kể từ khi được thành lập quận Cái Răng nói chung và phường Phú Thứ nói riêng, thì phường này đã được xem là trọng điểm phát triển kinh tế của thành phố Cần Thơ

Vì những lý do trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu tình hình và lý do sử dụng hay không sử dụng bảo hiểm y tế của người dân

từ 18 tuổi trở lên sống tại phường Phú Thứ, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ năm 2017” với:

Mục tiêu cụ thể

1 Xác định tỷ lệ người dân từ 18 tuổi trở lên có tham gia và sử dụng bảo hiểm y tế tại phường Phú Thứ, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ năm 2017

2 Xác định lý do tại sao không tham gia, sử dụng bảo hiểm y tế và một số yếu tố liên quan tại phường Phú Thứ, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ năm 2017

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan về bảo hiểm y tế

Bảo hiểm có chức năng kinh tế mà mục đích là bồi thường những thiệt hại về của cải hay sức khoẻ, tính mạng con người, bằng cách đảm nhiệm những rủi ro và đền bù những rủi ro ấy Người muốn được BH phải mua BH

và khi bị thiệt hại thì được bồi thường Việc bồi thường được quy định bằng một hợp đồng giữa tổ chức BH và người được BH Tổ chức kinh doanh BH

có thể do nhà nước đảm nhiệm hoặc do công ty tư nhân đảm nhiệm có sự

kiểm soát của chính phủ [34][35]

Bảo hiểm y tế là loại bảo hiểm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khoẻ, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Nghị

định số 299 ngày 15.8.1992 về BHYT [34]

Bảo hiểm y tế xã hội là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật BHYT Quỹ bảo hiểm y tế là quỹ tài chính được hình thành từ nguồn đóng bảo hiểm y

tế và các nguồn thu hợp pháp khác, được sử dụng để chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho ngưởi tham gia bảo hiểm y tế, chi phí quản lý bộ máy tổ chức bảo hiểm y tế và những khoản chi phí hợp pháp khác liên quan đến bảo hiểm y tế [21][22]

Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đầu tiên theo đăng ký của người tham gia bảo hiểm y tế và được ghi trong thẻ bảo hiểm y tế [21][22]

Trang 12

1.1.2 Hình thức của bảo hiểm y tế

- Bảo hiểm y tế bắt buộc: Các thành viên trong một tổ chức, cộng đồng nào đó, dù muốn hay không cũng phải mua BHYT, với một mức phí qui định[7] Ví dụ, ở Việt Nam, các cán bộ công nhân viên nhà Nước phải đóng (mua) BHYT bắt buộc là 6% lương, trong đó người sử dụng lao động đóng 2/3 và cá nhân đóng 1/3 [21][22]

- Bảo hiểm y tế tự nguyện: là loại hình BHYT thứ 2 đang được thực hiện ở nước ta So với BHYT bắt buộc, BHYT tự nguyện có số lượng tham gia đông đảo, đa dạng về thành phần và nhận thức xã hội của đối tượng, có điều kiện kinh tế và nhu cầu chăm sóc sức khỏe khác nhau, BHYT tự nguyện được triển khai theo địa giới hành chính (áp dụng cho hộ gia đình, tổ chức triển khai theo cấp xã, phường, thị trấn…) và theo nhóm đối tượng (học sinh, sinh viên, hội viên các đoàn thể ) [5][6]

- Bảo hiểm y tế tư nhân vì lợi nhuận: Những người tham gia BHYT tự nguyện có thể tự chọn công ty BHYT tư nhân Với trường hợp này thì mệnh giá, quyền lợi của người tham gia bảo hiểm sẽ là sự thỏa thuận giữa công ty bảo hiểm tư nhân và cá nhân người tham gia bảo hiểm Những công ty bảo hiểm tư nhân do hoạt động vì lợi nhuận nên quyết định mệnh giá dựa trên trình trạng sức khỏe của từng thành viên mua bảo hiểm, chứ không phải tình trạng sức khỏe chung của cộng đồng Thường những người khá giả mới áp dụng hình thức bảo hiểm này vì họ sẽ được nhận mức bảo hiểm cao khi họ đóng bảo hiểm nhiều [6][5]

- Bảo hiểm y tế nông thôn (bảo hiểm y tế cộng đồng): mệnh giá bảo hiểm (bao nhiêu tiền trong thời gian bao lâu), hình thức bảo hiểm (bảo hiểm theo hộ gia đình hay cá nhân), mức độ bảo hiểm (chi trả cho những dịch vụ ở tuyến xã, huyện, một phần tuyến tỉnh, trung ương,…); cách thức đóng góp

Trang 13

(đóng tiền hay đóng thóc, đóng 1 lần hay 2 lần trong năm,…) là do công ty bảo hiểm quyết định [6]

Khi tham gia BHYT, mỗi cá nhân hay đơn vị đóng góp một khoản tiền nhỏ vào quỹ BHYT, nếu gặp tổn thất do bệnh tật, ốm đau…, người tham gia bảo hiểm sẽ được bồi hoàn viện phí Khoản tiền này được lấy từ phí mà những người tham gia bảo hiểm đã nộp vào quỹ Vì chỉ có một số người gặp tổn thất do bệnh tật, ốm đau có sử dụng BHYT và nhận được lợi ích từ BHYT, số người còn lại không dùng đến BHYT sẽ mất không phí cho BHYT Như vậy bản chất của BHYT là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu Bảo hiểm hoạt động dựa trên Quy luật số đông (The law of large numbers)[3] Nghĩa là

số đông bù cho số ít người bị thiệt hại, càng có nhiều người tham gia bảo hiểm thì càng giảm thiểu tổn thất của từng cá nhân hay đơn vị khi gặp rủi ro Như vậy, trong hoạt động bảo hiểm không chỉ có mối quan hệ giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm, mà còn có mối quan hệ chặt chẽ giữa những người được bảo hiểm với nhau[6]

- BHYT có đối tượng tham gia rộng rãi, bao gồm mọi thành viên trong

xã hội không phân biệt giới tính, tuổi tác, khu vực làm việc, hình thức quan hệ lao động…[4]

- BHYT không nhằm bù đắp cho thu nhập cho người hưởng bảo hiểm (như chế độ BHXH ốm đau, tai nạn lao động…)mà nhằm chăm sóc sức khỏe cho họ khi bị bệnh tật, ốm đau…trên cơ sở quan hệ BHYT mà họ tham gia[4]

- BHYT là chi phí ngắn hạn, không xác định trước, không phụ thuộc vào thời gian đóng, mức đóng mà phụ thuộc vào mức độ bệnh tật và khả năng cung ứng các dịch vụ y tế [4]

Trang 14

1.1.5 Nguyên tắc bảo hiểm y tế

- Bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm y tế [21]

- Mức đóng bảo hiểm y tế được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp hoặc mức lương tối thiểu của khu vực hành chính [4][21]

- Mức hưởng bảo hiểm y tế theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm vi quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế [4][21]

- Chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế do quỹ bảo hiểm y tế và người tham gia bảo hiểm y tế cùng chi trả [21]

- Quỹ bảo hiểm y tế được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm cân đối thu, chi và được Nhà nước bảo hộ [21]

1.2 Lợi ích của bảo hiểm y tế

- “Đóng ít, hưởng nhiều” là một trong những điểm ưu việt của BHYT mang tính cộng đồng, chia sẻ trên tinh thần nhiều người khỏe mạnh cùng đóng góp để san sẻ cho số ít người rủi ro bệnh tật Riêng người nghèo được Nhà nước dùng ngân sách mua BHYT cho họ nhằm giúp họ vượt qua rủi ro đau ốm, bệnh tật cần phải sử dụng dịch vụ y tế BHYT mang lại rất nhiều lợi ích cho người bệnh mắc phải bệnh mãn tính, hay điều trị bệnh thường xuyên, lâu dài ở bệnh viện [21]

- BHYT là một trong những nguồn tài chính y tế Góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, qua đó giúp duy trì các dịch vụ cơ sở y tế, thúc đẩy đầu tư phát triển kỹ thuật công nghệ cao, nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh [21]

- Tạo ra sự công bằng trong khám chữa bệnh Đó là mục tiêu mà nền y

tế Việt Nam luôn mong muốn hướng tới Và BHYT đã phần nào thể hiện được điều này, vì người dân có tham gia BHYT thì sẽ được hưởng các dịch

Trang 15

vụ y tế như nhau tùy thuộc vào mức độ bệnh tật và tình trạng tiêu cực sẽ được giám sát bởi cơ quan BHYT [21]

1.3 Những vấn đề bất cập của bảo hiểm y tế hiện nay

- Nhiều người không nhận ra lợi ích BHYT mang đến cho họ nên không muốn tham gia hoặc sau một thời gian thì không muốn tiếp tục tham gia nữa [6]

- Tâm lý lạm dụng của thầy thuốc và của bệnh nhân tham gia BHYT

Sự lạm dụng của thầy thuốc xảy ra khi không có hợp đồng thỏa thuận chi tiết giữa cơ quan BHYT và bệnh viện, cũng như không có sự giám sát chặt chẽ của cơ quan BHYT Chưa có hướng dẫn cụ thể trong việc thực hiện BHYT cho nhóm người nghèo, cận nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, HSSV và các đối tượng chính sách xã hội khác dẫn đến việc phân định trách nhiệm chưa rõ ràng trong việc xác định đối tượng, lập danh sách, dự trù kinh phí đóng, hỗ trợ đóng BHYT cho các nhóm đối tượng [14] Vì lợi ích của mình, cơ sở y tế cho bệnh nhân làm những xét nghiệm, dùng những thuốc hay dịch vụ không cần thiết, thậm chí thanh toán khống với cơ quan BHYT Tâm lý lạm dụng của bệnh nhân tham gia BHYT cũng vì mục đích tối đa hóa lợi ích của mình Người tham gia BHYT sẽ đi khám và sử dụng các dịch vụ y tế quá nhiều và thậm chí không cần thiết vì họ nghĩ BHYT sẽ chi trả hết cho họ [6]

- Với hình thức BHYT tự nguyện và các công ty BHYT hoạt động vì lợi nhuận sẽ xảy ra:

+ “Sự lựa chọn ngược”: chỉ những người yếu, biết mình sắp phải sử dụng dịch vụ y tế nên tự nguyện tham gia BHYT [6]

+ “Hớt váng kem” Cơ quan BHYT chỉ bán bảo hiểm cho những người khỏe Như vậy có khả năng là số tiền thu được sẽ không chi trả hết cho những người mua bảo hiểm và cơ quan bảo hiểm được hưởng [6]

Trang 16

- Mặt trái của vấn đề BHYT do chính cơ quan BHYT gây ra cho cả bệnh nhân và cơ quan y tế có lẻ cũng có và thậm chí có rất trầm trọng

1.4 Tình hình bảo hiểm y tế thế giới

1.4.1 Cộng hòa Liên bang Đức

Vì luật BHYT được ban hành và thực hiện đầu tiên trên thế giới vào năm 1883, tạo ra mô hình tài chính y tế dựa trên BHYT Bismarck BHYT của Đức luôn được coi là mô hình BHYT kinh điển Những lần sửa đổi gần đây nhất của Luật BHYT tại Đức là vào năm 2004 (Social Health Insurance Modernization Act 2004) và năm 2009 [29][36]

Trước năm 2009 có khoảng 88% dân số Đức tham gia BHYT xã hội, trên 11% tham gia BHYT thương mại và có khoảng 1% dân số không có BHYT Từ ngày 1/1/2009 Luật BHYT sửa đổi không miễn trừ trách nhiệm tham gia BHYT cho bất kỳ công dân nào, đưa diện bao phủ BHYT tại Đức thành bao phủ toàn dân, lần đầu tiên sau 126 năm thực hiện Luật BHYT tại quốc gia này [29][36]

Quỹ BHYT xã hội tại Đức có 2 nguồn thu chính: đó là tiền đóng BHYT của người lao động và chủ sử dụng lao động, tính theo thu nhập và tiền hỗ trợ

từ ngân sách nhà nước Từ 1/1/2009 chính phủ quy định một mức phí chung cho tất cả các quỹ BHYT, nguồn thu được tập trung vào một quỹ quốc gia và phân bổ về cho các quỹ BHYT tính theo đầu thẻ (định xuất) bằng một hình thức Mỗi quỹ BHYT có thể thu thêm phí BHYT bổ sung, nếu số tiền được phân bổ từ quỹ quốc gia không đủ cân đối chi phí khám chữa bệnh [29][36]

Hệ thống BHYT tại Cộng hòa Liên bang Đức được tổ chức theo mô hình đa quỹ, mỗi quỹ hoạt động tự chủ và độc lập với nhau Các quỹ BHYT

xã hội là các tổ chức phi Chính phủ, hoạt động không vì lợi nhuận, theo luật

và chịu sự quản lý Nhà nước của chính quyền [29][36]

1.4.2 Cộng hòa Pháp

Trang 17

Các chương trình BHYT đã được triển khai tại Pháp từ đầu thế kỷ 20 Năm 1930 luật bảo hiểm xã hội đầu tiên được thông qua với 5 nội dung bảo hiểm, bảo hiểm bệnh tật là nội dung số một Hệ thống an sinh xã hội của Pháp rất phức tạp và sắc lệnh 4/10/1945 được ban hành, đưa ra định hướng bao phủ BHYT toàn dân, đảm nhiệm mọi vấn đề về an sinh xã hội cho mọi đối tượng tùy theo nghề nghiệp như: nông nghiệp người lao động tự do, công chức, công nhân mỏ…[29]

Trong 2 thập kỷ cuối thế kỷ thứ 20, chính sách BHYT liên tục được sửa đổi và với Luật bao phủ toàn dân (CMU-“Couvertur Maladie Universelle”) được ban hành vào năm 2000 với các giải pháp tài chính hỗ trợ cho người thu nhập thấp, Pháp mới chính thức đạt được mục tiêu bao phủ BHYT cho toàn dân Cho tới nay, 100% dân số Pháp có BHYT bắt buộc và 92% dân số tham gia chương trình BHYT tự nguyện bổ sung Người dân tham gia BHYT tự nguyện bổ sung để được thanh toán những chi phí ngoài chế độ của BHYT bắt buộc [29]

Luật bao phủ toàn dân năm 2000 (CMU-“Couvertur Maladie Universelle”) đã tạo ra những thay đổi lớn, là sự bảo đảm cho toàn dân được BHYT Quỹ BHYT không chỉ từ tiền lương, mà còn từ thuế thu nhập cá nhân

và các nguồn khác, trong đó có từ thuế rượu, bia và thuế thuốc lá Quốc hội có vai trò tích cực hơn trong xác định thu chi của quỹ BHYT Tạo điều kiện cho người có thu nhập dưới ngưỡng được quyền tham gia các chương trình BHYT

bổ sung miễn phí (do ngân sách nhà nước hỗ trợ mức phí) Người dân Pháp được đảm bảo quyền lợi trong khám chữa bệnh nội - ngoại trú, một phần chi phí điều trị răng và mắt [29][38]

1.4.3 Tình hình bảo hiểm y tế Hàn Quốc

Ở Hàn Quốc, tháng 12 năm 1963 Luật BHYT có hiệu lực và bắt đầu thực thi tại Hàn Quốc Quy định thực hiện bảo hiểm y tế xã hội theo cơ chế tự

Trang 18

nguyện tham gia, nhưng hầu như không có người tham gia nên luật này bị vô hiệu hóa Đến tháng 12 năm 1976 Luật BHYT đã được sửa đổi gần như hoàn toàn Sau khi Luật BHYT được sửa đổi và áp dụng năm 1976, đối tượng tham gia BHYT được mở rộng nhanh chóng Đến năm 1989, Hàn Quốc đã đạt độ bao phủ toàn dân với gần 100% người Hàn Quốc có BHYT Thực hiện chính sách BHYT toàn dân, Hàn Quốc có điều kiện bao cấp y tế tốt hơn cho diện đối tượng dễ bị tổn thương [39]

Toàn bộ người dân Hàn Quốc là đối tượng tham gia BHYT bắt buộc Năm 2006, số người tham gia BHYT bắt buộc là 47,4 triệu người, chiếm 96,3% dân số trong đó có 28,5 triệu người làm công ăn lương và thân nhân của họ và 18,9 triệu lao động tự do chiếm 3,7% dân số, còn lại thuộc diện người nghèo được hưởng chế độ khám chữa bệnh miễn phí theo luật hỗ trợ y

tế, ban hành năm 1977 [30]

Nguồn tài chính cho quỹ BHYT Hàn quốc bao gồm tiền đóng BHYT,

hỗ trợ nhà nước và thu thuế thuốc lá Từ một hệ thống tổ chức BHYT theo mô hình đa quỹ, hệ thống BHYT Hàn Quốc đã chuyển đổi sang mô hình y tế đơn quỹ Điểm khác biệt duy nhất của BHYT tại Hàn Quốc so với các quốc gia khác là sự tồn tại của cục Giám định BHYT quốc gia (Health Insurance Review Agency-HIRA) có chức năng giám định chi phí khám chữa bệnh BHYT trước khi cục BHYT quốc gia thanh toán cho hệ thống cung ứng dịch

vụ y tế [30]

Mức đóng BHYT của người dân Hàn Quốc tính theo thu nhập hoặc tài sản cố định Thông thường người lao động đóng 2-8% thu nhập, công chức đóng 4,2% thu nhập, Chính phủ cùng nộp 4,2% Còn đối với lao động tự do, mức đóng được tính theo mức xếp loại thu nhập hoặc tài sản cố định Ngân sách Nhà nước hỗ trợ 30% mức phí nhằm mục đích đảm bảo chi phí quản lý [30]

Trang 19

1.4.4 BHYT ở Nhật Bản

Nhật Bản là nước ban hành và triển khai Luật BHYT xã hội sớm nhất châu Á Năm 1922, Luật BHYT cho lao động trong các doanh nghiệp được ban hành, nhưng đến năm 1927 luật này mới được triển khai do trận động đất khủng khiếp Kanto năm 1923 [30][41]

Sau ba lần sửa đổi luật (1934, 1938, l958) và quyết định lịch sử cấp ngân sách 1 tỉ yên cho quỹ BHYT vào năm 1954, Nhật Bản đã đạt được mục tiêu BHYT toàn dân vào năm 1961[30]

Tất cả công dân Nhật đều là đối tượng tham gia BHYT BB Người lao động hưởng lương tham gia BHYT BB tại các quỹ BHYT doanh nghiệp Những người không phải là lao động hưởng lương trong các doanh nghiệp thì buộc phải tham gia BHYT tại các quỹ BHYT trên địa bàn cư trú (BHYT quốc gia) Thân nhân phụ thuộc của người lao động được bảo hiểm tại các quỹ BHYT doanh nghiệp và BHYT quốc gia Người cao tuổi được tham gia một chương trình BHYT riêng từ năm 1983 Đến năm 2000, một chương trình BHYT chăm sóc dài hạn được triển khai cho những người trên 65 tuổi hoặc những người từ 40 – 65 tuổi mắc bệnh mãn tính [30][41]

Nguồn tài chính chủ yếu từ đóng góp theo tiền lương của lao động và chủ sử dụng lao động và NSNN [30]

Quyền lợi giữa các quỹ BHYT khác nhau ở mức cùng chi trả Cơ quan Bảo hiểm y tế chi trả chi phí cho người tham gia BHYT và thân nhân phụ thuộc khi họ ốm đau, thương tật Tuy nhiên, đối với mọi đối tượng, quỹ BHYT chỉ trả 100% chi phí y tế, nếu số tiền cùng chỉ trả vượt ngưỡng 64.000 yên/tháng (số liệu năm 2004, ngưỡng thay đổi theo từng năm) Ngưỡng này thấp hơn đối với người có thu nhập thấp và người đã phải chỉ trả vượt ngưỡng

3 tháng liên tục [30]

Trang 20

1.5 Bảo hiểm y tế ở Việt Nam

1.5.1 Sự ra đời của bảo hiểm y tế Việt Nam

Trước năm 1985, Việt Nam áp dụng mô hình Semasko trong việc đảm bảo nguồn tài chính cho chăm sóc sức khỏe nhân dân Từ khi thực hiện chính sách đổi mới, Việt Nam dần chuyển đổi từng bước từ bao cấp cho các bệnh

viện theo mô hình Semasko sang thực hiện cơ chế BHYT [36]

Những bước đi chập chững BHYT đầu tiên ở Việt Nam là thí điểm các loại quỹ mang tính BHYT khác nhau ở một số tỉnh, như: Quỹ Bảo hiểm sức khỏe Hải phòng, Quỹ KCB nhân đạo ở Vĩnh phú, Quỹ BHYT tự nguyện ở Bến Tre, Quảng Trị, Quỹ Khám chữa bệnh ngành đường sắt… cho đến cuối năm 2012 thì đã xây dựng được hệ thống BHYT từ trung ương đến địa phương, gần 70% dân số tham gia BHYT Căn cứ vào các mốc lịch sử về cơ chế chính sách, tổ chức bộ máy quản lý quỹ BHYT, lịch sử 20 năm BHYT có

thể chia ra các thời kỳ [37]

1.5.2 Các giai đoạn thực hiện chính sách BHYT của Việt Nam

1.5.2.1 Giai đoạn ra đời chính sách BHYT- quá trình thực hiện nghị định 299/1992/NĐ-HĐBT(1992-1998)

Ngày 15/8/1992 Hội Đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã chính thức ban hành nghị định số 299/HĐBT về Điều lệ BHYT Theo đó, các đối tượng tham gia BHYT bắt buộc gồm cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ hưu trí, mất sức lao động ở các đơn vị hành chính sự nghiệp, người lao động khu vực sản xuất kinh doanh của nhà nước và tư nhân nếu có từ 10 lao động trở lên Các đối tượng khác tham gia BHYT theo khả năng nhu cầu trên cơ sở

tự nguyện [10][14][36]

Trong năm 1995 việc mở rộng, phát triển loại hình BHYT và các nhóm đối tượng tham gia BHYT tự nguyện cũng được tổ chức triển khai thực hiện, tập trung phát triển BHYT ở các nhóm đối tượng là HSSV, người thân của công nhân viên chức, hội viên, các tổ chức, đoàn thể quần chúng nhằm

Trang 21

từng bước mở rộng diện bao phủ BHYT ở Việt Nam Đến năm 1997 đã có trên 9 triệu người tham gia BHYT, trong đó đã có trên 3,3 triệu người tham gia BHYT tự nguyện Năm 1998 đánh dấu sự tăng trưởng rõ rệt về số người tham gia và diện bao phủ BHYT ở Việt Nam đạt tỉ lệ trên 12,7% dân số, tăng

3 lần so với năm đầu tiên triển khai thực hiện chính sách BHYT ở Việt Nam [10][8][14][36]

Tuy nhiên, vì là giai đoạn đầu thực hiện chính sách BHYT, hệ thống văn bản pháp luật qui định còn đang trong chế độ vừa làm vừa hoàn thiện, cho nên cả 3 bên: người tham gia BHYT, cơ quan BHYT, cơ sở khám chữa bệnh đều bộc lộ những bất cập cần giải quyết, đó là:

- Chủ sử dụng lao động ở các doanh nghiệp tìm cách trốn đóng quỹ BHYT cho người lao động, do nghị định 299 chưa quy định chế tài xử phạt Do quy định trong nghị định, quỹ không tập trung thống nhất, mà giao cho các địa phương tư vấn quản lý, dẫn đến quyền lợi khám chữa bệnh của người tham gia không thống nhất trên phạm vi toàn quốc vì vậy không thể điều tiết được phần dư quỹ từ các địa phương khác để bù đắp phần bội chi quỹ cục bộ tại 19 tỉnh thành phố năm 1997 [10][36]

- Đảm bảo cân đối quỹ, thống nhất quyền lợi đối tượng tham gia giữa các địa phương; thống nhất quản lý quỹ để việc triển khai được đồng bộ, được nhà nước hỗ trợ trong trường hợp vỡ quỹ [8][35]

Trang 22

Ngày 13/8/1998, Nghị định 58/1998/NĐ-CP đã được Thủ tướng Chính Phủ ký ban hành Quy định rõ BHYT tự nguyện; áp dụng hình thức cùng chi trả BHYT, quy định trần trong thanh toán chữa bệnh nội trú; quy định thanh toán trực tiếp, thanh toán tự chọn, thanh toán một số dịch vụ kỹ thuật cao Ngay sau khi Nghị định mới có hiệu lực, hệ thống BHYT được tổ chức thống nhất chặt chẽ từ trung ương đến địa phương Hiện tượng bội chi quỹ KCB những năm trước đó đã được giải quyết, hệ thống tổ chức BHYT từng bước đi vào ổn định và bắt đầu kết dư quỹ khám chữa bệnh Như vậy, có thể nói Nghị định số 58/1998/NĐ-CP về cơ bản đã thành công đảm bảo được các mục tiêu

1.5.2.3 Giai đoạn thực hiện Nghị định số 63/2005/NĐ-CP (2005-2009)

Ở giai đoạn này, do chuyển đổi về mặt tổ chức hệ thống BHYT sát nhập sang hệ thống BHXH từ năm 2002 theo Quyết định số 20/2002/QĐ- TTg ngày 20/01/2002 chuyển hệ thống BHYT Việt Nam từ Bộ Y tế sang cơ quan BHXH Việt Nam [26], sau đó Chính phủ ban hành Nghị định số 100/2002/NĐ-CP ngày 6/12/2002 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền

Trang 23

hạn của hệ thống BHXH Việt Nam Tổ chức bộ máy BHYT hoạt động chung trong hệ thống BHXH Việt Nam [8][14][29]

Trước những bất cập của quá trình thực hiện Nghị định 58, thì việc ra đời Nghị định 63/2005/NĐ-CP được coi là sự “cởi trói cho quỹ BHYT và quyền lợi của người tham gia” Theo đó, quyền lợi mà người tham gia BHYT được mở rộng hơn [8][36]

Tuy nhiên, quá trình thực hiện Nghị định 63 đã bộc lộ những vấn đề bất cập, đó là khả năng mất cân đối quỹ cao do mở rộng quyền lợi, kết hợp với bỏ 20% cùng chi trả, bỏ trần thanh toán chi phí khám chữa bệnh đã gia tăng qúa nhanh – thâm hụt quỹ khám chữa bệnh trong năm 2006 hơn 1.600 tỷ đồng [8][36]

1.5.2.4 Giai đoạn năm 2009-2014

Ngày 14/11/2008, Quốc hội khóa XII kỳ họp thứ 04 đã thông qua Luật BHYT Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2009 Đến ngày 30/07/2009, Chính phủ ban hành Nghị định 62/2009 NĐ-CP qui định chi tiết

và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHYT, Luật BHYT đưa ra lộ trình bao phủ BHYT bắt buộc cho các nhóm dân cư và tiến tới bao phủ toàn dân vào năm 2014 Theo luật BHYT, người lao động, thân nhân người lao động sống trong cùng hộ gia đình, các đối tượng được hưởng lương và trợ cấp hàng tháng từ BHXH, từ nguồn ngân sách Nhà nước, các đối tượng là sĩ quan, HSSV, người nghèo, cận nghèo, các đối tượng thuộc diện 135…đều thuộc diện bắt buộc tham gia BHYT [8]

Sau một năm thực hiện Luật BHYT (01/07/2009-01/07/2010) toàn quốc đã cấp được gần 53 triệu thẻ BHYT, tăng 13 triệu thẻ so với trước khi có Luật

Tỉ lệ bao phủ thẻ BHYT đạt gần 62% dân số, và tính đến 31/12/2011, tổng số người tham gia BHYT là 55,9 triệu người, tương đương 63,7% dân số [8]

1.5.2.5 Giai đoạn thi hành Luật số 46/2014/QH13 ( 2015-đến nay)

Trang 24

Tính đến hết năm 2014 thì Đề án thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân đã đạt tỷ lệ bao phủ 71,6% dân số (hơn 64,5 triệu người), vượt mục tiêu

đề ra đến năm 2015 trong Quyết định số 538/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ đã ban hành có trên 70% dân số tham gia BHYT [8][27]

Đến hết 31/3/2015, số đối tượng tham gia BHYT là hơn 63,1 triệu người Như vậy, số người tham gia BHYT ba tháng đầu năm 2015 giảm khoảng 1,4 triệu người so với cuối năm 2014 Nhưng nếu so với cùng kỳ quý 1/2014 thì số đối tượng tham gia BHYT quý 1/2015 tăng hơn 2,3 triệu người (quý 1/2014 có khoảng 60,8 triệu người tham gia BHYT) [8]

1.6 Tình hình nghiên cứu vấn đề BHYT ở Việt Nam

Trong nghiên cứu của Nguyễn Đăng Vững, Lê Thị Hoàn, Vũ Thị Thu Hà

“Nghiên cứu về sự bao phủ bảo hiểm y tế ở người cao tuổi tại hai xã huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, năm 2012” Kết quả cho thấy, tỉ lệ người cao tuổi tham gia BHYT là 66,5%, người cao tuổi là nam tham gia BHYT là 77,8%, người cao tuổi là nữ tham gia BHYT là 59,1%(OR=2,43, KTC 95% = 1,58-3,73) Người cao tuổi bị bệnh mạn tính tham gia BHYT là 70,3%, người cao tuổi không bị bệnh mạn tính tham gia BHYT là 60,6%(OR=1,53, KTC 95% = 1,04-2,27) Người cao tuổi ở nhóm hưu trí tham gia BHYT là 91,3%, người cao tuổi ở nhóm làm ruộng tham gia BHYT là 52,7%(OR=9,37, KTC 95% = 4,38-20,03) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê [37]

Nghiên cứu “Mô hình bảo hiểm y tế theo hộ gia đình tại xã Thịnh Hưng, Yên Bình, Yên Bái” của Lưu Viết Tĩnh năm 2008 cho kết quả tỉ lệ HGĐ tham gia BHYT là 36%, tỉ lệ hộ có 1 người tham gia là 60,7%, độ tuổi trung bình của người tham gia là 42,2% Nghiên cứu tìm thấy 70,2% hộ tham gia BHYT HGĐ có điều kiện kinh tế khá; có 21,5% không sử dụng thẻ khi KCB với lí

do chính là thủ tục phiền hà (60%) Có 15,4% hộ gia đình không tham gia tiếp

Trang 25

khi hết hạn do: chưa hiểu rõ chính sách BHYT (20%), không thuận tiện khi KCB bằng BHYT (20%), nhân viên y tế có thái độ phục vụ kém (18%) [31] Tác giả Phạm Ngọc Bảo Trân thực hiện “Nghiên cứu tình hình tham gia bảo hiểm y tế và một số yếu tố liên quan của người dân tại xã Giai Xuân, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2012” đã tìm thấy 34,8% đối tượng nghiên cứu tham gia BHYT, có 42,4% người dân thuộc các HGĐ này tham gia BHYT Nghiên cứu cũng tìm thấy tỉ lệ tham gia BHYT có liên quan với tuổi (cao nhất là trẻ em dưới 6 tuổi có 95,7% tham gia), liên quan với nghề nghiệp (cao nhất là HSSV 81,2%, thấp nhất là buôn bán 17,6%), trình

độ học vấn (cao nhất là trên cấp 3 78,3%), nghe nói về BHYT (nghe nói về BHYT 39% có tham gia BHYT, không nghe nói về BHYT: 13,4% có tham gia BHYT), sự hiểu biết về BHYT (có hiểu biết 45,1%, không hiểu hoặc hiểu chưa đúng 19,5%), bệnh tật (có bệnh 52,4%, không bệnh 39,6%) [32]

Đề tài “Nghiên cứu tình hình tham gia bảo hiểm y tế và một số yếu tố liên quan của người dân tại xã Đông Thạnh, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, năm 2015” của Trần Đại An cho kết quả: tỉ lệ tham gia BHYT của đối tượng nghiên cứu là 59,3%, có 64,9% người dân thuộc các HGĐ này tham gia BHYT Tỉ lệ tham gia BHYT có mối liên quan với tuổi (tham gia cao nhất là

ở người trên 60 tuổi với tỉ lệ là 69,7%, tuổi càng cao thì tỉ lệ tham gia BHYT càng tăng), nghề nghiệp (tham gia cao nhất là đối tượng cán bộ công nhân viên chức, nghỉ hưu và HSSV: 100%, kế đến là người hết tuổi lao động 65,4%, thấp nhất là nhóm nghề tự do 0.0333%), trình độ học vấn (tham gia ở nhóm trên cấp III là cao nhất: 68,1%), và bệnh tật (tham gia của nhóm có bệnh mãn tính cao: 77,5%, nhóm bệnh cấp tính: 58,1% và nhóm không có bệnh: 55,7%) [1]

Một nghiên cứu khác của Cao Minh Lễ năm 2014 “Nghiên cứu tình hình

và đánh giá kết quả can thiệp tư vấn cộng đồng làm thay đổi kiến thức, thái

Trang 26

độ, thực hành về tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện ở huyện Thoại Sơn, tỉnh

An Giang, 2013” cũng cho kết quả tương tự: tỉ lệ người dân tham gia BHYT

là 60,8%, tham gia BHYTTN là 45,3% Tuổi càng cao tỉ lệ tham gia BHYT càng tăng, tỉ lệ tham gia BHYT ở nhóm làm ruộng là 55,4%, buôn bán là 63,5% và nhóm khác là 64,3%; học vấn từ cấp 1 trở xuống là 55,2%, học vấn trên cấp 1 là 67,5%; nhóm biết mục đích BHYT là 73,3% tham gia, không biết là 48,4%; nhóm biết quyền lợi là 66,4%, không biết là 33,5% [15]

Theo nghiên cứu “Nghiên cứu tình hình tham gia Bảo hiểm y tế và một

số yếu tố liên quan của người dân tại phường Hưng Phú, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ, năm 2016” của Cao Hoàng Hoa thì tỷ lệ tham gia nghiên cứu là 74,8%, tỷ lệ sử dụng thẻ bảo hiểm y té là 53,8%, phần lớn đối tượng nghiên cứu tham gia BHYT để phòng khi bị bệnh (64,6%), kế đến là do có bệnh sẵn (23,3%), thuộc đối tượng bắt buộc (14,2%) [9]

1.7 Đặc điểm của địa bàn phường Phú Thứ

Phường Phú Thứ thuộc quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ là một trong những địa phương mới được thành lập từ năm 2004 theo Nghị định số 05/2004/NĐ-CP ngày 2 tháng 1 năm 2004 của Chính phủ Việt Nam, nằm ở cửa ngõ phía nam của thành phố Cần Thơ, có Quốc lộ 91C đi qua,với diện tích 20,13 km², dân số năm 2014 là 20344 người, mật độ dân số đạt 986 người/km² Theo thống kê của sở y tế Cần Thơ, tỷ lệ tham gia BHYT của quận Cái Răng tính đến ngày 31/3/2017 là 72,79% dân số [7]

Trang 27

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu: Người dân từ 18 tuổi trở lên sống tại phường Phú Thứ,

quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ

- Tiêu chuẩn chọn vào:

+ Người dân đang sinh sống tại phường Phú Thứ, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ vào thời điểm nghiên cứu

+ Tình nguyện tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ:

+ Các trường hợp bỏ địa bàn trong giai đoạn nghiên cứu hoặc các trường hợp

bị giam giữ

+ Người không có mặt trong đợt phỏng vấn và quạy lại 3 lần không gặp

+ Người không có khả năng trả lời câu hỏi (tâm thần, câm điếc…)

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu: phường Phú Thứ, quận Cái Răng, TP Cần Thơ

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 4/2017 – tháng 6/2018

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

2.3.2 Cỡ mẫu: Cỡ mẫu theo ước tính tỷ lệ

2 2

)1(2

p p

z

n

  

Trang 28

Trong đó:

 n: cỡ mẫu

 z (hệ số tin cậy) với α=0,05 suy ra Z=1,96

 p (tỉ lệ tham gia BHYT ước lượng)= 0,7279( theo thống kê của sở y tế Cần Thơ, tỷ lệ tham gia BHYT của quận Cái Răng tính đến ngày 31/3/2017 là 72,79% dân số)[7]

 d (sai số cho phép) = 0,06 Vậy thay vào công thức trên ta được cỡ mẫu: n= 212, nhân với hiệu lực thiết kế D=1,5 , cộng 10% sai số ta có cỡ mẫu làm tròn là n=350 đối tượng

2.3.3 Phương pháp chọn mẫu

Sử dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn

Bước 1: Phường Phú Thứ gồm 14 khu vực, bốc thăm ngẫu nhiên 4 khu vực (Thạnh Phú, Thạnh Thới, Phú Hưng, Phú Khánh)

Bước 2: Cỡ mẫu chia đều cho 4 khu vực, ta sẽ có được 2 khu vực với 88 đối tượng và 2 khu vực có 87 đối tượng (bốc thăm ngẫu nhiên 2 trong 4 khu vực có 88 đối tượng 2 khu vực còn lại sẽ là 87 đối tượng)

Bước 3: Xuống nhà thông tin khu vực, bốc thăm ngẫu nhiên 1 hướng để tiến hành đi, phỏng vấn hộ liền hộ (nếu 1 hộ có nhiều hơn 1 đối tượng bốc thăm chon 1 đối tượng) cho đến khi đủ mẫu, nếu chưa đủ mẫu thì quay trở lại

hộ đầu tiên, đi về phía ngược lại

2.3.4 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu

2.3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Thu thập số liệu được thực hiện bằng bộ câu hỏi và quan sát thẻ BHYT

- Chọn đối tượng được phỏng vấn bằng cách dựa trên số thành viên hiện có mặt tại gia đình (từ 18 tuổi trở lên), sau đó bốc thăm ngẫu nhiên 1 thành viên tiến hành phỏng vấn

Trang 29

- Điều tra viên là sinh viên Y học dự phòng năm thứ 06 của trường Đại Học Y dược Cần Thơ, các điều tra viên được tập huấn về bộ câu hỏi, điều tra thử để rút kinh nghiệm trước khi tiến hành điều tra thực tế tại phường Phú Thứ, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ Điều tra viên đến từng hộ gia đình vào các ngày cuối tuần để phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu Trong trường hợp không gặp mặt sẽ hẹn phỏng vấn sau Giám sát viên là cán bộ hướng dẫn đề tài sẽ kiểm tra ngẫu nhiên 5% số phiếu điều tra để đảm bảo tính chính xác của thông tin thu thập

2.3.4.2 công cụ thu thập số liệu

- Bộ câu hỏi phỏng vấn, gồm 6 phần:

+ Phần 1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

+ Phần 2 Tình hình tham gia BHYT của đối tượng nghiên cứu

+ Phần 3 Thông tin về kiến thức BHYT của đối tượng nghiên cứu + Phần 4 Ý kiến về khám, chữa bệnh BHYT của đối tượng tham gia BHYT

+ Phần 5 Các đối tượng chưa tham gia BHYT

+ Phần 6 Tình hình tham gia BHYT của hộ gia đình

2.3.5 Biến số nghiên cứu

Các biến số nhằm xác định tỷ lệ tham gia và tỷ lệ sử dụng BHYT

2.3.5.1 Các biến số về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

- Tuổi: Tuổi dương lịch theo khai sinh, tính đến thời điểm phỏng vấn

- Giới tính, gồm 2 giá trị: Nam, Nữ

- Dân tộc gồm 4 giá trị: Kinh, Hoa, Khmer, Khác

- Diện chính sách gồm 2 giá trị: Có, Không

Các đối tượng thuộc diện chính sách căng cứ vào quy định trong Luật Bảo Hiểm Y tế Luật số 25/2008/QH12 [21]

- Tôn giáo gồm 4 giá trị: Không có; Đạo Phật, Đạo Thiên chúa; Khác

Trang 30

- Nghề nghiệp: là công việc mang lại thu nhập chính của đối tượng

nghiên cứu, gồm 9 giá trị: Học sinh, sinh viên; Công nhân, viên chức; Nông dân; Buôn bán; Nội trợ; Quá tuổi lao động; Hưu trí; Làm thuê; Khác

- Trình độ học vấn: là học vấn cao nhất của đối tượng nghiên cứu, gồm 5

giá trị: Mù chữ; Cấp 1 (từ lớp 1 đến lớp 5); Cấp 2 (từ lớp 6 đến lớp 9); Cấp 3 (từ lớp 10 đến lớp 12); Trung cấp, Cao đẳng, Đại học

- Kinh tế gia đình: là thu nhập bình quân người/tháng của hộ gia đình

Căn cứ theo quyết định 59/2015/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn nghèo, chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2016 – 2020[28], ở vùng thành thị, hộ nghèo là hộ

có mức thu nhập bình quân từ 900.000 đồng/người/tháng trở xuống, hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 901.000 đồng/người/tháng đến 1.300.000 đồng/người/tháng, gồm 3 giá trị(đối với hộ nghèo khi có sổ hộ nghèo do địa phương cấp, hộ cận nghèo có giấy chưng nhận tại địa phương): Nghèo; Cận nghèo; Không nghèo

- Số thành viên trong gia đình: là số thành viên có trong sổ hộ khẩu

2.3.5.2 Các biến số về tình hình tham gia BHYT

- Tham gia BHYT: gồm 2 giá trị: Có; Không Có là đối tượng có tham

gia BHYT, là đối tượng có thẻ BHYT mang tên mình và thẻ phải còn thời hạn

sử dụng Các đối tượng không thỏa điều kiện trên được xem như không tham gia BHYT

- Hình thức tham gia: là hình thức đối tượng mua BHYT, gồm 3 giá trị:

BHYT Tự nguyện; BHYT Bắt buộc; Khác

- Loại thẻ BHYT: gồm 8 giá trị: Người hưởng lương, trợ cấp; Người

nghèo; Người cận nghèo; Trẻ em dưới 6 tuổi; Chính sách xã hội; HSSV; Hộ gia đình; Khác

Trang 31

- Nơi đăng ký KCB BHYT ban đầu, gồm 4 giá trị: Trạm y tế

xã/phường; BV tuyến quận/huyện; BV tuyến tỉnh/thành phố; BV tuyến trung ương

- Khoảng cách từ nhà đến nơi KCB ban đầu: tính bằng km

- Lí do tham gia BHYT, gồm 6 giá trị: Phòng khi bị bệnh; Có bệnh sẵn;

Là đối tượng bắt buộc; Địa phương vận động; Đối tượng được nhà nước cấp thẻ; Khác(thấy người khác mua nên mua theo, nghe lời người xung quanh )

- Sử dụng thẻ BHYT để KCB trong năm: gồm 2 giá trị: Có; Không

- Số lần sử dụng thẻ BHYT trong năm

- Bệnh tật: sức khỏe trong vòng 1 năm qua (chỉ xét đến khía cạnh không

lành mạnh về thể chất), gồm 4 giá trị: Các bệnh cấp tính; Các bệnh mạn tính; Chấn thương; Khác

- Nơi KCB: nơi đối tượng được phỏng vấn thường sử dụng thẻ BHYT đi

KCB trong năm, gồm 5 giá trị: Trạm y tế xã/phường; BV tuyến quận/huyện;

BV tuyến tỉnh/thành phố; BV tuyến trung ương; Khác

- Hình thức KCB: hình thức đối tượng được phỏng vấn thường đi KCB

bằng BHYT, gồm 2 giá trị: Ngoại trú; Nội trú

- Thuận lợi khi tham gia BHYT, gồm 4 giá trị: Không có; Nhân viên y tế

hướng dẫn tận tình; Nơi đăng kí BHYT gần nơi cư trú; Chi phí thấp

- Khó khăn khi tham gia BHYT, gồm 4 giá trị: Không có; Thủ tục đăng

kí rườm rà; Nơi đăng kí BHYT xa nơi cư trú; Phải mua BHYT cả nhà

- Tiếp tục tham gia BHYT khi hết hạn gồm 2 giá trị: Có; Không

- Lý do không tiếp tục tham gia BHYT khi hết hạn, gồm 6 giá trị: Kinh

tế khó khăn; Mức đóng BHYT cao; Không có bệnh; Thủ tục khám BHYT phiền hà; Chất lượng dịch vụ y tế, thuốc chưa tốt; Khác (là các nguyên nhân khiến người dân không tham gia BHYT, mỗi người có thể có một hoặc nhiều

Trang 32

nguyên nhân khiến họ không tham gia BHYT Thu thập thông tin qua phỏng vấn đối tượng)

2.3.5.3 Biến xác định lý do sử dụng BHYT và một số yếu tố liên quan

- Lý do không sử dụng thẻ BHYT gồm 8 giá trị: Không bênh hoặc bệnh

nhẹ không cần chữa trị, Thời gian chờ đợi lâu, Không hài lòng về công tác KCB của nhân viên y tế,Thái độ của nhân viên y tế không tốt,Thủ tục phiền

hà, Phải đến KCB đúng tuyến, Thuốc và cơ sở vật chất không đáp ứng được yêu cầu, Khác

- Nghe nói về BHYT: gồm 2 giá trị: Có; Không (đối tượng được

xác định là có nghe thông tin về BHYT khi đối tượng đã biết về BHYT trước khi tiến hành phỏng vấn Nhóm đối tượng chưa hề biết về BHYT trước khi tiến hành phỏng vấn được xếp vào nhóm chưa từng nghe nói

về BHYT Thu thập thông tin này qua phỏng vấn người dân.)

- Nguồn thông tin BHYT, gồm 7 giá trị: Tivi; Loa truyền thanh địa

phương; Sách, báo, tờ rơi; Cán bộ BHXH; Cán bộ y tế; Người thân, bạn bè; Khác

- Hiểu biết về BHYT: nhằm đánh giá hiểu biết của người dân về BHYT,

bao gồm năm nội dung: Hiểu biết về ý nghĩa, mục đích BHYT, quyền lợi, trách nhiệm khi tham gia BHYT và mức phí đóng BHYT

+ Hiểu biết về ý nghĩa hoạt động BHYT, gồm 4 giá trị: Không biết;

Kinh doanh; Chính sách xã hội; Khác

Trả lời “3” là đúng

+ Hiểu biết về mục đích của BHYT, gồm 5 giá trị: Không biết; Chăm

sóc sức khỏe người dân; Tiết kiệm chi phí KCB; Hỗ trợ cho người không đủ khả năng chi trả; Khác

Ý “2, 3, 4” là đúng Đối tượng trả lời 2/3 ý trên là đúng

Trang 33

+ Hiểu biết về quyền lợi khi tham gia BHYT, gồm 5 giá trị: Không biết;

Được chọn cơ sở KCB ban đầu; Được BHYT thanh toán chi phí khi KCB cấp cứu ở bất kì cơ sở y tế nào; Được BHYT thanh toán chi phí KCB khi đúng tuyến; Khác

Ý “2, 3, 4” là đúng Đối tượng trả lời 2/3 ý trên là đúng

+ Hiểu biết về trách nhiệm khi tham gia BHYT, gồm 5 giá trị: 1 Không

biết; 2 Đóng phí BHYT đầy đủ và đúng thời hạn; 3 Xuất trình thẻ BHYT khi đến KCB; 4 Bảo quản và không cho người khác mượn thẻ BHYT; 5 Khác

Ý “2, 3, 4” là đúng Đối tượng trả lời 2/3 ý trên là đúng

+ Hiểu biết về mức phí đóng BHYT, gồm 5 giá trị: Không biết; Người

làm công ăn lương: 4,5% lương; HSSV: >400 nghìn đồng; HGĐ: người đầu tiên > 600 nghìn đồng, giảm mức đóng từ người thứ 2; Khác

Ý “2, 3, 4, 5” là đúng Đối tượng trả lời 1/4 ý trên là đúng

Cách lượng giá:

Trả lời đúng > 3 câu hỏi được cho là có hiểu biết về BHYT

Trả lời đúng < 3 câu hỏi trên được cho là thiếu hiểu biết về BHYT

- Quy trình, thủ tục khám bệnh đơn giản, thuận tiện, gồm 2 giá trị:

Trang 34

- Số lượng và chất lượng thuốc BHYT được cấp đáp ứng nguyện vọng: gồm 2 giá trị: Đồng ý; Không đồng ý

- Mức phí đóng BHYT, gồm 5 giá trị: Quá cao; Cao; Vừa; Thấp; Không

biết

- Các giải pháp thúc đẩy tham gia BHYT, gồm 7 giá trị: Truyền thông

GDSK về BHYT; Nâng cao chất lượng KCB BHYT; Nâng cao tinh thần thái

độ phục vụ của NVYT; Giảm thủ tục hành chính về BHYT; Mở rộng quyền lợi của BHYT; Giảm mức đóng BHYT tự nguyện; Khác

- Lý do không tham gia BHYT, gồm 8 giá trị: Không biết thủ tục mua

BHYT; Không đủ tiền mua; Không có bệnh; Không thích; Phải mua BHYT theo hộ gia đình; Chất lượng dịch vụ y tế, thuốc chưa tốt; Thủ tục phiền hà; Khác (là những trở ngại, những phiền toái mà người dân gặp phải trong quá trình tham gia và sử dụng BHYT Đối tượng nghiên cứu có thể không gặp khó khăn nào khi tham gia BHYT hoặc có thể có một hay nhiều khó khăn Thu thập thông tin qua phỏng vấn đối tượng.)

2.3.5.4 Các biến số về tình hình tham gia BHYT của HGĐ

- HGĐ có bao nhiêu người tham gia BHYT:

- Có thành viên nào thuộc đối tượng chính sách: có 2 giá trị:Có,

Không

Các đối tượng thuộc diện chính sách căng cứ vào quy định trong Luật Bảo Hiểm Y tế Luật số 25/2008/QH12[21].(có giấy chứng nhận hoặc sổ

chứng nhận gia đình chính sách do địa phương cắp)

- Có đối tượng nào là đối tượng bắt buộc phải tham gia bảo hiểm:

có 2 giá trị: Có, Không

Các đối tượng thuộc diện bắt buộc tham gia BHYT căng cứ vào quy

định trong Luật Bảo Hiểm Y tế Luật số 25/2008/QH12[21]

Trang 35

2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

2.4.1 Sai số và biện pháp khắc phục sai số

Sai số do chọn lựa: Chỉ chọn những đối tượng thỏa tiêu chí chọn mẫu Trường hợp đối tượng nghiên cứu không có ở nhà, không có mặt tại địa phương hoặc không đủ khả năng trả lời phỏng vấn sẽ bị loại ra khỏi nghiên cứu và chọn lại đối tượng khác phù hợp

Câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu

Do bộ câu hỏi: Phỏng vấn thử 30 đối tượng có những đặc điểm tương đồng với đối tượng nghiên cứu Sau đó đánh giá lại bộ câu hỏi và chỉnh lại cho phù hợp

Do sai số hệ thống mà chủ yếu là các sai số đo lường:

• Sai số nhớ lại: sử dụng các câu hỏi chéo để kiểm tra lại độ chính xác

• Sai số do người phỏng vấn: tổ chức tập huấn kỹ nội dung, phương pháp thu thập số liệu, các yêu cầu khi thu thập thông tin (nghiên cứu kỹ biến số và

bộ câu hỏi phỏng vấn, ghi chép chính xác, trung thực)

2.4.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Kiểm tra và làm sạch số liệu ngay sau khi thu thập hoặc trước khi nhập, nếu có sai quay lại nhà đối tượng thu thập lại số liệu nếu không có đối tượng

ở nhà 3 lần thì loại mẫu thu mẫu khác thay thế

Mã hóa số liệu, nhập và xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS 20.0

Thực hiện kiểm soát trong quá trình nhập số liệu để tránh sai sót Số liệu được nhập lần thứ nhất rồi kiểm tra độ chính xác bằng cách nhập lại lần thứ hai với 10% tổng số phiếu

Sử dụng các phương pháp thống kê, mô tả để phân tích tần số tỉ lệ, các mối tương quan bằng kiểm định chi bình phương Mức p có ý nghĩa khi

<0,05

Trang 36

2.5 Đạo Đức trong nghiên cứu

- Nghiên cứu được thực hiện sau khi thông qua Hội Đồng Nghiên Cứu Khoa Học của Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ Nghiên cứu này được tiến hành đảm bảo tuân theo các nguyên tắc về đạo đức trong nghiên cứu y học

- Trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ sử dụng công cụ thu thập số liệu là

bộ câu hỏi phỏng vấn, không xâm phạm thân thể của người tham gia nghiên cứu

- Các đối tượng nghiên cứu được giải thích cụ thể, rõ ràng về mục đích và nội dụng của nghiên cứu

- Tôn trọng quyền tham gia và không tham gia của người dân Các đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu đều dựa trên tinh thần tự nguyện Đối tượng nghiên cứu có thể yêu cầu dừng cuộc phỏng vấn bất cứ lúc nào

- Các thông tin riêng, số liệu của đối tượng nghiên cứu được đảm bảo giữ bí mật

Trang 37

Chương 3 KẾT QUẢ

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Trong tổng số 350 mẫu nghiên cứu, nam chiếm 40,3% và nữ

chiếm 59,7% Phần lớn đối tượng nghiên cứu là dân tộc Kinh 99,7%.Đa số ở

độ tuổi từ 18-40 chiếm 40,6% 89,7% Đối tượng nghiên cứu không thuộc diện chính sách Không theo tôn giáo nào 77,1%

Trang 38

Bảng 3.2 Thông tin chung của đối tƣợng nghiên cứu (tiếp theo)

Nhận xét: Kinh tế gia đình thuộc diện không nghèo là 92,3%; nhóm trình độ

học vấn cấp 2 là 36% Số hộ gia đình có <4 thành viên chiếm 62,3%

Biểu đồ 3.1: Phân bố nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Đối tƣợng nghiên cứu có nghề nghiệp là nội trợ (22%) chiếm

tỉ lệ cao nhất trong số các nghề nghiệp còn lại

Trang 39

3.2 Tình hình tham gia, sử dụng BHYT của đối tượng nghiên cứu

3.2.1 Tình hình tham gia BHYT của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.3 Tình hình tham gia BHYT của người dân

Nhận xét: Trong số 350 mẫu nghiên cứu số đối tượng có tham gia BHYT là

80,6%, không tham gia BHYT là 19,4%

Bảng 3.4 Hình thức tham gia BHYT của đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Trong số 282 mẫu có tham gia BHYT thì hình thức tham gia

BHYT tự nguyện chiếm đa số với tỷ lệ 60,6%

Trang 40

Biểu đồ 3.2 Hình thức BHYT của đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Trong số 282 đối tượng có tham gia BHYT loại thẻ theo Hộ gia

đình chiếm 51,4% , người hưởng lương trợ cấp chiếm 24,8% còn lại là các loại hình thẻ BHYT khác

Ngày đăng: 27/03/2023, 16:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Đại An (2016), Nghiên cứu tình hình tham gia BHYT và một số yếu tố liên quan của người dân tại xã Đông Thạnh, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long năm 2015, Đại học Y dƣợc Cần Thơ, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình tham gia BHYT và một số yếu tố liên quan của người dân tại xã Đông Thạnh, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long năm 2015
Tác giả: Trần Đại An
Năm: 2016
3. Bảo hiểm Việt Nam (2009), “Các khái niệm và nguyên tắc cơ bản trong bảo hiểm”, Cổng thông tin Bảo hiểm Việt Nam, truy cập từhttp://webbaohiem.net/cac-khai-nim-va-nguyen-tc-c-bn-trong-bo-him.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các khái niệm và nguyên tắc cơ bản trong bảo hiểm”, "Cổng thông tin Bảo hiểm Việt Nam
Tác giả: Bảo hiểm Việt Nam
Năm: 2009
4. Bảo hiểm Xã hội Thừa Thiên Huế, “Giới thiệu BHYT”, truy cập từ http://www.bhxhthuathienhue.vn/bhyt_desc.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu BHYT
6. PGS.TS Nguyễn Thị Kim Chúc(2007), Giáo trình Kinh tế y tế và Bảo hiểm y tế, nhà xuất bản Y học, Hà Nôi, trang 101 đến 109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế y tế và Bảo hiểm y tế
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Thị Kim Chúc
Nhà XB: nhà xuất bản Y học
Năm: 2007
7. Thúy Duy (2017), “TP Cần Thơ: Hội nghị sơ kết công tác bảo hiểm y tế quý I năm 2017”, Sở y tế Cần Thơ, truy cập từhttp://soytecantho.vn/?tabid=979&amp;NDID=3138&amp;key=TP_Can_Tho_Hoi_nghi_so_ket_cong_tac_bao_hiem_y_te_quy_I_nam_2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TP Cần Thơ: Hội nghị sơ kết công tác bảo hiểm y tế quý I năm 2017
Tác giả: Thúy Duy
Năm: 2017
8. Bùi Thị Thu Hằng (2014) Bảo hiểm y tế tự nguyện trong luật bảo hiểm y tế Việt Nam,Luận văn Thạc sĩ luật học,Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm y tế tự nguyện trong luật bảo hiểm y tế Việt Nam
12. Vũ Ngọc Huyên, Nguyễn Văn Song (2014), “Tình trạng tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của nông dân tỉnh Thái Bình”, Tạp chí Khoa học và Phát triển (tập 12), (số 6/2014), tr. 853-861 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của nông dân tỉnh Thái Bình”, "Tạp chí Khoa học và Phát triển
Tác giả: Vũ Ngọc Huyên, Nguyễn Văn Song
Năm: 2014
14. Lê Trí Khải(2014),Thanh toán khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế theo định suất tại một số trạm y tế xã thuộc huyện Đăk Tô tỉnh Kon Tum,Luận văn Tiến sĩ Y tế công cộng, Viện vệ sinh Dịch Tễ Trung Ƣơng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh toán khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế theo định suất tại một số trạm y tế xã thuộc huyện Đăk Tô tỉnh Kon Tum
Tác giả: Lê Trí Khải
Năm: 2014
15. Cao Minh Lễ (2014), Nghiên cứu tình hình và đánh giá kết quả can thiệp tư vấn cộng đồng làm thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành về tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, 2013, Đại học Y dƣợc Cần Thơ, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình và đánh giá kết quả can thiệp tư vấn cộng đồng làm thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành về tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, 2013
Tác giả: Cao Minh Lễ
Năm: 2014
16. CN.Bùi Ngọc Linh, PGs.Ts Nguyễn Thanh Hương(2012), “Gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam 2008 : bằng chứng cho hoạch định chính sách y tế”,Tạp chí chính sách y tế,số 9,trang 11-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam 2008 : bằng chứng cho hoạch định chính sách y tế”,"Tạp chí chính sách y tế
Tác giả: CN.Bùi Ngọc Linh, PGs.Ts Nguyễn Thanh Hương
Năm: 2012
17. Chu Thị Kim Loan, Nguyễn Hồng Ban (2013), “Thực trạng tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện ở thành phố Hà Tĩnh”, Tạp chí Khoa học và Phát triển 2013 (tập 11), (số 1/2013), tr. 115-124 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện ở thành phố Hà Tĩnh”, "Tạp chí Khoa học và Phát triển 2013 (tập 11)
Tác giả: Chu Thị Kim Loan, Nguyễn Hồng Ban
Năm: 2013
18. Hồ Thanh Nguyên (2016), Nghiên cứu tình hình và sự hài lòng của của người bệnh khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tại phòng khám Bệnh viện Đa khoa Châu Thành, tỉnh Bến Tre năm 2015 – 2016, Đại học Y Dƣợc Cần Thơ, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình và sự hài lòng của của người bệnh khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tại phòng khám Bệnh viện Đa khoa Châu Thành
Tác giả: Hồ Thanh Nguyên
Năm: 2016
19. Ngô Thị Thúy Nhi (2014), Nghiên cứu sự hài lòng của người bệnh có sử dụng thẻ bảo hiểm y tế đến khám bệnh ngoại trú tại bệnh viện đa khoa huyện Phong Điền thành phố Cần Thơ năm 2014, Đại học Y dƣợc Cần Thơ, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự hài lòng của người bệnh có sử dụng thẻ bảo hiểm y tế đến khám bệnh ngoại trú tại bệnh viện đa khoa huyện Phong Điền thành phố Cần Thơ năm 2014
Tác giả: Ngô Thị Thúy Nhi
Năm: 2014
23. PGS.Ts. Hồ Sĩ Sà(2000), Giáo trình bảo hiểm y tế, Trường đại học Kinh Tế Quốc Dân, Nhà xuất bản thống kê Hà Nộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bảo hiểm y tế
Tác giả: PGS.Ts. Hồ Sĩ Sà
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê Hà Nộ
Năm: 2000
24. Nahria Ka Sum, Lương Ngọc Khuê, Nguyễn Thanh Hương (2010), “Tình hình sử dụng thẻ Bảo hiểm y tế tự nguyện của người dân tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, năm 2008”, Tạp chí Y tế công cộng, (tháng 7-số 15/2010), tr.21-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình sử dụng thẻ Bảo hiểm y tế tự nguyện của người dân tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, năm 2008”, "Tạp chí Y tế công cộng
Tác giả: Nahria Ka Sum, Lương Ngọc Khuê, Nguyễn Thanh Hương
Năm: 2010
25. Thiên Thanh(2017), “TP Cần Thơ: Tỷ lệ người dân tham gia BHYT vƣợt chỉ tiêu giao”, Sở y tế Cần Thơ, truy cập từhttp://soytecantho.vn/Default.aspx?tabid=979&amp;ndid=13743 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TP Cần Thơ: Tỷ lệ người dân tham gia BHYT vƣợt chỉ tiêu giao
Tác giả: Thiên Thanh
Năm: 2017
29. T.S Trần Văn Tiến (2010), “Tổng quan về chính sách bảo hiểm y tế ở một số nước trên thế giới”, Tạp chí chính sách y tế, (số 6), tr. 60–65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về chính sách bảo hiểm y tế ở một số nước trên thế giới”, "Tạp chí chính sách y tế
Tác giả: T.S Trần Văn Tiến
Năm: 2010
30. T.S Trần Văn Tiến (2011), “Tổng quan về chính sách bảo hiểm y tế ở một số nước trên thế giới (Phần II)”, Tạp chí chính sách y tế, (số 7), tr.54–59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về chính sách bảo hiểm y tế ở một số nước trên thế giới (Phần II)”, "Tạp chí chính sách y tế
Tác giả: T.S Trần Văn Tiến
Năm: 2011
31. Lưu Viết Tĩnh (2008), “Nghiên cứu mô hình bảo hiểm y tế theo hộ gia đình tại xã Thịnh Hƣng, Yên Bình, Yên Bái”, Y học Việt Nam, (tháng 4 – số 2/2008), tr. 24–29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mô hình bảo hiểm y tế theo hộ gia đình tại xã Thịnh Hƣng, Yên Bình, Yên Bái”, "Y học Việt Nam
Tác giả: Lưu Viết Tĩnh
Năm: 2008
11. Hội Khoa học kinh tế y tế Việt Nam(2011),”Tài chính y tế: một trong những yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo một nền y tế mang tính chất công bằng, góp phần an sinh xã hội.”. Trích dẫn từhttp://vhea.org.vn/NewsDetails.aspx?CateID=158&amp;NewsID=178 Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm