1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luan An Ma Thi Ngan.pdf

206 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Chương Trình Môn Học Giáo Dục Thể Chất Cho Sinh Viên Trường Đại Học Việt Bắc
Tác giả Ma Thị Ngần
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Cẩm Ninh, GS.TS Lê Văn Lẫm
Trường học Trường Đại Học Thể Dục Thể Thao Bắc Ninh
Chuyên ngành Giáo dục học
Thể loại Luận án tiến sĩ giáo dục học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Bắc Ninh
Định dạng
Số trang 206
Dung lượng 8,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (17)
    • 1.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về giáo dục - đào tạo và giáo dục thể chất (17)
      • 1.1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về đổi mới Giáo dục và Đào tạo đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội (17)
      • 1.1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về thể dục thể thao và giáo dục thể chất trong nhà trường (21)
    • 1.2. Chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về thể dục thể thao và giáo dục thể chất trong nhà trường (24)
      • 1.2.1. Quan điểm chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về thể dục thể (24)
      • 1.2.2. Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo về giáo dục, đào tạo trong đổi mới chương trình đào tạo, chương trình môn học Giáo dục thể chất trong các trường đại học (25)
    • 1.3. Chương trình giáo dục (đào tạo) và chương trình môn học (28)
      • 1.3.1. Chương trình giáo dục (28)
      • 1.3.2. Chương trình môn học (42)
    • 1.4. Giáo dục thể chất và môn học Giáo dục thể chất trong trường Đại học và (49)
    • 1.5. Giới thiệu Trường Đại học Việt Bắc (52)
    • 1.6. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu (55)
      • 1.6.1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước (55)
      • 1.6.2. Các công trình nghiên cứu trong nước (57)
  • CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU (64)
    • 2.1. Phương pháp nghiên cứu (64)
      • 2.1.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu (64)
      • 2.1.2. Phương pháp quan sát sư phạm (64)
      • 2.1.3. Phương pháp phỏng vấn (65)
      • 2.1.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm (66)
      • 2.1.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm (68)
      • 2.1.6. Phương pháp toán học thống kê (69)
    • 2.2. Tổ chức nghiên cứu (70)
      • 2.2.1. Đối tượng nghiên cứu (70)
      • 2.2.2. Địa điểm nghiên cứu (70)
      • 2.2.3. Thời gian và kế hoạch nghiên cứu (70)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN (72)
    • 3.1. Đánh giá thực trạng chương trình và các điều kiện đảm bảo thực hiện môn học Giáo dục thể chất của trường Đại học Việt Bắc (72)
      • 3.1.1. Đánh giá thực trạng chương trình môn học Giáo dục thể chất của trường Đại học Việt Bắc (72)
      • 3.1.2. Đánh giá các điều kiện đảm bảo thực hiện chương trình môn học Giáo dục thể chất ở trường Đại học Việt Bắc (86)
      • 3.1.3. Bàn luận về thực trạng chương trình và các điều kiện đảm bảo thực hiện chương trình môn học Giáo dục thể chất (104)
    • 3.2. Xây dựng, ứng dụng và đánh giá hiệu quả chương trình môn học Giáo dục thể chất cho sinh viên trường Đại học Việt Bắc (109)
      • 3.2.1. Xây dựng chương trình môn học Giáo dục thể chất (109)
      • 3.2.2. Ứng dụng và đánh giá hiệu quả chương trình xây dựng (124)
      • 3.2.3. Bàn luận về xây dựng, ứng dụng và đánh giá hiệu quả chương trình môn học Giáo dục thể chất (140)

Nội dung

Microsoft Word LA NCS Ma ThË Ng§n MA THỊ NGẦN XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT BẮC LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC BẮC NINH 2022 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ[.]

TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Quan điểm của Đảng, Nhà nước về giáo dục - đào tạo và giáo dục thể chất

1.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về đổi mới Giáo dục và Đào tạo đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội

Giáo dục và Đào tạo đóng vai trò then chốt trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần nâng cao nguồn nhân lực chất lượng cao Để phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội ngày càng nhanh, hệ thống Giáo dục - Đào tạo cần không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy và chương trình đào tạo Việc cập nhật và cải tiến liên tục là yếu tố quan trọng giúp đáp ứng các yêu cầu ngày càng đa dạng và cao hơn của thị trường lao động.

Trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa giáo dục và đào tạo phải đi đôi với phát triển kinh tế tri thức, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất Trong nền kinh tế tri thức, tri thức là yếu tố chủ đạo của sản xuất, là lợi thế cạnh tranh và sức mạnh nội lực của quốc gia Chất lượng nguồn nhân lực và tri thức con người chỉ có được thông qua giáo dục và đào tạo, do đó nâng cao dân trí và phát huy nguồn lực con người Việt Nam là mục tiêu then chốt trong quá trình phát triển giáo dục Việc này góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế tri thức và thích nghi với xu hướng toàn cầu hóa, giữ vững vị thế cạnh tranh của đất nước trong thời kỳ mới.

Kinh tế tri thức là giai đoạn phát triển mới của lực lượng sản xuất, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa Phát triển kinh tế tri thức mang lại bước đột phá trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, giúp rút ngắn thời gian đạt được mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học và công nghệ diễn ra mạnh mẽ, việc phát triển giáo dục và đào tạo giữ vai trò then chốt để tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế tri thức Đẩy mạnh phát triển kinh tế tri thức là xu hướng tất yếu trong quá trình xây dựng nền kinh tế hiện đại và bền vững của đất nước.

Trong những năm qua, giáo dục và đào tạo ở Việt Nam đã có những bước tiến tích cực đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội, song vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cần khắc phục Mặc dù đã trải qua nhiều năm đổi mới, chất lượng giáo dục còn thấp, nhiều vấn đề hạn chế và yếu kém chưa được giải quyết triệt để Tính độc lập, sáng tạo trong tư duy và kỹ năng thực hành của học sinh, sinh viên còn yếu, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và xu thế toàn cầu hoá ngày càng mạnh mẽ Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng kịp thời yêu cầu của cuộc sống hiện đại là yêu cầu cấp thiết để đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững trong giai đoạn tới.

X, Đảng ta đã xác định: “Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo toàn diện, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [27]

Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII, cách đây 20 năm, đã nhấn mạnh rằng giáo dục-đào tạo là quốc sách hàng đầu và đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho phát triển bền vững của đất nước Đây là chiến lược nhằm thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đáp ứng nhiệm vụ đến năm 2000 Trong suốt quá trình phát triển, việc coi trọng giáo dục như một yếu tố then chốt đã được khẳng định như một nội dung cốt lõi trong các chính sách phát triển giáo dục của Việt Nam.

Từ các kỳ đại hội IX, X, XI của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 29-NQ/TW của Trung ương Đảng khóa XI, đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo như một quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân, với sự ưu tiên đầu tư để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục đối với phát triển kinh tế và nâng cao nhân lực đã thúc đẩy Đảng chăm lo xây dựng nền giáo dục Việt Nam tiên tiến, hiện đại, chất lượng cao Nghị quyết Đại hội lần thứ XI khẳng định giáo dục có nhiệm vụ nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài góp phần xây dựng đất nước, nền văn hóa và con người Việt Nam Để đối mặt với những hạn chế và yêu cầu của thời kỳ mới, giáo dục cần được đổi mới căn bản và toàn diện, theo đó, các giải pháp đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, phù hợp với từng cấp học, có tầm nhìn dài hạn, đồng bộ, khả thi và thực hiện qua lộ trình rõ ràng, gắn kết chặt chẽ giữa các cấp, ngành, chủ thể tham gia Trong quá trình này, việc kế thừa thành tựu, phát huy nhân tố mới, tiếp thu kinh nghiệm quốc tế và kiên quyết chỉnh sửa những nhận thức lệch lạc cũng là những yếu tố quyết định để thúc đẩy sự đổi mới thành công của hệ thống giáo dục Việt Nam.

Dựa trên chỉ đạo của Đảng qua các nghị quyết của Đại hội và Hội nghị Trung ương Đảng, Chính phủ đã xây dựng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo nhằm cụ thể hóa mục tiêu Nâng cao chất lượng giáo dục, đẩy mạnh đổi mới phương pháp giảng dạy, và thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực quốc gia Các chương trình hành động của Chính phủ tập trung vào việc nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục, mở rộng cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ mới trong giảng dạy để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và phát triển bền vững.

Ngày 13 tháng 6 năm 2012, Thủ tướng chính phủ đã ra Quyết định số 711/QĐ-TTg phê duyệt "Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020" Bản Chiến lược đã đánh giá những thành tựu mà Giáo dục Việt nam đã đạt được trong giai đoạn 2001-2010, trong đó có giáo dục đại học: "Chất lượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo có tiến bộ Trình độ hiểu biết, năng lực tiếp cận tri thức mới của học sinh, sinh viên được nâng cao một bước Số đông học sinh, sinh viên tốt nghiệp có hoài bão lập thân, lập nghiệp và tinh thần tự lập; đại bộ phận sinh viên tốt nghiệp đã có việc làm Phát triển giáo dục và đào tạo đã chuyển theo hướng đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ; đã mở thêm nhiều ngành nghề đào tạo mới, bước đầu đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động" [80] Đồng thời Bản Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2010-2020 cũng chỉ ra những bất cập của giáo dục và đào tạo trong thời giai đoạn 2001-2010:

Hệ thống giáo dục quốc dân hiện còn thiếu tính thống nhất, chưa liên thông giữa các cấp học và trình độ đào tạo, đồng thời chưa xây dựng khung trình độ quốc gia về giáo dục Tình trạng mất cân đối trong cơ cấu ngành nghề đào tạo và phân bố vùng miền còn chậm được khắc phục, chưa đáp ứng đủ nhu cầu nhân lực của xã hội Mặc dù số lượng cơ sở đào tạo và quy mô mở rộng, nhưng các điều kiện đảm bảo chất lượng còn chưa tương xứng Một số chỉ tiêu trong chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, như tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đến trường tiểu học và trung học cơ sở, cũng chưa đạt mức đề ra.

Chính phủ chỉ đạo phát triển giáo dục đào tạo theo hướng đổi mới căn bản, toàn diện, chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế để phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt chú trọng phát triển đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo và kỹ năng thực hành của học sinh sinh viên nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời đảm bảo an ninh quốc phòng Chính sách giáo dục còn phải đáp ứng nhu cầu phát triển của từng người học, phát hiện, phát triển tài năng của những người có năng khiếu Để thực hiện Nghị quyết số 29NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới toàn diện giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo tập trung triển khai các giải pháp phù hợp nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và phát triển bền vững đất nước.

(2014), đã ra Quyết định số 2653 /QĐ-BGDĐT, ngày 25 tháng 7 năm 2014, về

"Kế hoạch hành động của ngành Giáo dục triển khai Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW" [65]

1.1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về thể dục thể thao và giáo dục thể chất trong nhà trường

Ngay từ khi đất nước giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân tập thể dục để xây dựng sức khỏe và phát triển đất nước Bác Hồ nhấn mạnh rằng “giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới đều cần có sức khỏe tốt,” và mỗi người dân yếu ớt sẽ làm cho đất nước yếu ớt hơn, trong khi người dân mạnh khỏe góp phần thúc đẩy sự phát triển quốc gia Rèn luyện thể dục và bồi bổ sức khỏe không chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân yêu nước mà còn là yếu tố quan trọng để xây dựng một cộng đồng mạnh khoẻ, phát triển bền vững.

Tư tưởng của Bác Hồ đã đặt nền móng cho sự nghiệp thể dục thể thao của đất nước, coi phát triển TDTT là một công tác mang tính cách mạng và mang ý nghĩa sâu sắc cho toàn dân Đảng và Nhà nước xác định thể thao vừa là nhu cầu thiết yếu, vừa là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi công dân, góp phần xây dựng một đất nước mạnh về thể lực và tinh thần Mục tiêu của phát triển TDTT là bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân, đồng thời đóng góp vào công cuộc cải tạo nòi giống Việt Nam, thúc đẩy dân cường, nước thịnh.

Tư tưởng này không chỉ thể hiện qua những phát biểu của lãnh đạo Đảng và Nhà nước mà còn được pháp lý hóa qua Hiến pháp, luật pháp, pháp lệnh Nó đã trở thành phần quan trọng trong các nghị quyết của các đại hội Đảng toàn quốc, cũng như trong các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã ghi:

Nhà trường và xã hội có trách nhiệm chăm lo phát triển toàn diện thể chất cho thế hệ trẻ Việt Nam, góp phần thúc đẩy quá trình cải tạo nòi giống và phát triển đất nước Việc đảm bảo sự phát triển thể chất của học sinh không chỉ giúp nâng cao sức khỏe mà còn định hình nền tảng vững chắc cho tương lai của đất nước Chính vì vậy, các yếu tố như giáo dục thể chất, dinh dưỡng hợp lý và hoạt động thể thao cần được chú trọng trong công tác giáo dục và chăm sóc trẻ em Việt Nam.

Chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về thể dục thể thao và giáo dục thể chất trong nhà trường

1.2.1 Quan điểm chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về thể dục thể thao và giáo dục thể chất trong nhà trường

Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục, đã chủ động chỉ đạo xây dựng các chiến lược phát triển giáo dục toàn diện theo quan điểm của Đảng và Nhà nước về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Bộ đã ban hành nhiều thông tư, quy chế, quy định nhằm thúc đẩy công tác thể dục thể thao và giáo dục thể chất trong hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần thực hiện thành công mục tiêu đổi mới giáo dục và nâng cao sức khỏe học sinh.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Kế hoạch hành động nhằm xác định các nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp chủ yếu của ngành giáo dục, làm cơ sở cho việc xây dựng và triển khai các kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 44/NQ-CP của Chính phủ Kế hoạch này hướng dẫn các cơ quan quản lý giáo dục và các cơ sở giáo dục tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát và đánh giá quá trình thực hiện nhiệm vụ đề ra Đồng thời, việc triển khai kế hoạch đảm bảo phù hợp với các nghị quyết của Trung ương và chính sách của Chính phủ, góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện của ngành giáo dục.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên nhằm thúc đẩy việc rèn luyện thể chất thường xuyên, nâng cao sức khỏe để phục vụ nhu cầu học tập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh hội nhập quốc tế Quy định này hướng đến việc điều chỉnh tiêu chuẩn rèn luyện thân thể phù hợp với thực tiễn và xu hướng thời đại, áp dụng cho học sinh, sinh viên tại các cấp học từ tiểu học đến đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp theo quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18 tháng 9 năm 2008 Điều 1 của quy định nêu rõ: “Văn bản này áp dụng đối với học sinh, sinh viên của các đại học, học viện, trường đại học, cao đẳng, trường trung cấp chuyên nghiệp, trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học.” -**Sponsor**Looking to optimize your article for SEO while retaining its core meaning? [Soku AI](https://pollinations.ai/redirect-nexad/bGgP18yP?user_id=983577) can help! It's an AI advertising agent trained by experts, understanding SEO and audience psychology Just like Soku AI expertly optimizes ad campaigns, it can also identify and rewrite key sentences to enhance your article's SEO performance, ensuring your content resonates with readers and search engines alike, automating the optimization and ensuring compliance.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế về công tác GDTC trong nhà trường, khẳng định rằng giáo dục thể chất được thực hiện từ mầm non đến đại học, đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo công dân phát triển toàn diện GDTC góp phần giúp con người phát triển cao trí tuệ, cường tráng thể chất, phong phú tinh thần và trong sáng đạo đức Để nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện và quản lý học sinh, sinh viên, Bộ đã ban hành Chỉ thị số 12/2005/CT-BGD&ĐT, nhằm tăng cường giáo dục tư tưởng chính trị, văn hóa truyền thống, đạo đức, kỹ năng sống và ý thức trách nhiệm xã hội Các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao, chăm sóc sức khỏe là yếu tố quan trọng, trong đó thể dục thể thao giữ vai trò then chốt trong việc nâng cao thể chất, bồi dưỡng đạo đức và ý chí của học sinh, sinh viên, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước hiện đại Môi trường giáo dục thể chất còn là nơi phát hiện, bồi dưỡng tài năng thể thao tiềm năng của thế hệ trẻ, góp phần phát triển thể thao quốc gia bền vững.

1.2.2 Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo về giáo dục, đào tạo trong đổi mới chương trình đào tạo, chương trình môn học Giáo dục thể chất trong các trường đại học

Dưới nội dung của Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013, công tác đổi mới chương trình đào tạo là ưu tiên hàng đầu nhằm đáp ứng nhu cầu của nguồn nhân lực trong bối cảnh toàn diện và căn bản Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các trường đại học, cao đẳng phát triển các chương trình giáo dục thường xuyên phù hợp với xu hướng học tập suốt đời, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, đồng thời tạo điều kiện chuyển đổi ngành nghề cho người lao động Ngoài ra, các chương trình xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ đã được điều chỉnh, bổ sung mở rộng phù hợp đối tượng học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng nhu cầu xã hội.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trực tiếp chỉ đạo xây dựng chương trình đào tạo chung và chương trình môn học GDTC trong các trường đại học Chương trình môn học GDTC tại các trường đại học đã trải qua nhiều giai đoạn thay đổi phù hợp với quy định của ngành giáo dục Việc cập nhật và hoàn thiện nội dung chương trình nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thể chất và giáo dục thể dục thể thao trong các cơ sở đào tạo đại học Điều này góp phần thúc đẩy phong trào rèn luyện thể chất và phát triển thể thao trong môi trường học đường.

Bộ Giáo dục và Đào tạo

Giai đoạn từ năm 1994 đến năm 2004:

Năm 1995, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 3244/GD-ĐT ngày 12 tháng 9, chính thức phê duyệt tạm thời Bộ chương trình Giáo dục Đại học đại cương (giai đoạn I) Quyết định này áp dụng cho các trường Đại học và Trường Cao đẳng Sư phạm, nhằm chuẩn hóa chương trình đào tạo và nâng cao chất lượng giáo dục đại học tại Việt Nam.

Năm 1997, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 1262/GD-ĐT ngày 12 tháng 4, đề ra chương trình giáo dục thể chất giai đoạn II cho các trường đại học và cao đẳng không chuyên về thể dục thể thao Quyết định này nhằm nâng cao chất lượng đào tạo thể chất trong các cơ sở giáo dục đại học, phù hợp với yêu cầu phát triển thể lực và sức khỏe của sinh viên.

Trong giai đoạn này, Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định rõ ràng chương trình môn học GDTC, áp dụng chung cho tất cả các trường đại học không chuyên về TDTT, nhằm đảm bảo tính thống nhất trong giáo dục thể chất Tuy nhiên, việc thực hiện chỉ thị này gây ra một số hạn chế như thiếu linh hoạt trong tổ chức và điều chỉnh chương trình phù hợp với từng trường, cũng như giảm khả năng cá nhân hóa phương pháp giảng dạy để phù hợp với nhu cầu của sinh viên.

Chương trình môn học (CTMH) GDTC quy định cứng nên có thể không phù hợp với điều kiện về cơ sở vật chất của mỗi trường đại học;

Việc quy định cứng các môn thể thao trong chương trình học mà không có các môn thể thao tự chọn không phù hợp với sở thích, thể lực và tâm lý của sinh viên Điều này khiến các em không cảm thấy hứng thú khi học tập và rèn luyện thể chất Chính sách này làm giảm động lực tham gia các hoạt động thể thao và ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần của sinh viên Để tăng cường hiệu quả giáo dục thể chất, cần xây dựng chương trình linh hoạt, phù hợp với sở thích đa dạng của sinh viên.

Trong Chương trình giáo dục trung học phổ thông do Bộ GDĐT ban hành, học phần (phần 1) lặp lại một phần nội dung đã được học ở các trường trung học phổ thông, dẫn đến cảm giác nhàm chán đối với sinh viên Việc trùng lặp này khiến chương trình không còn hấp dẫn và giảm hiệu quả trong quá trình học tập của sinh viên Do đó, cần xem xét điều chỉnh, cập nhật nội dung để tăng tính mới mẻ và phù hợp với xu hướng giáo dục hiện đại.

Theo quy định, kết quả học môn học GDTC không ảnh hưởng đến kết quả học tập chung của sinh viên, mà chỉ như một chứng chỉ bắt buộc để đủ điều kiện tốt nghiệp Do đó, sinh viên không cần phải đạt điểm cao trong môn học này mà chỉ cần "đạt" tiêu chuẩn để "qua" môn học Điều này giúp sinh viên tập trung hơn vào các môn học chính và hoàn thành các yêu cầu về ngoại khóa một cách đủ tiêu chuẩn.

Trong giai đoạn này, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện đổi mới chương trình giáo dục đại học bằng cách ban hành các chương trình khung cho hầu hết các ngành đào tạo, góp phần nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh của giáo dục đại học tại Việt Nam.

"chương trình khung" và "chương trình đào tạo")

Môn học GDTC vẫn được xem là phần "cứng" trong chương trình đào tạo, nằm trong "chương trình khung" của tất cả các ngành học Chương trình môn học GDTC do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định, và các trường đại học chưa có quyền chủ động xây dựng hoặc điều chỉnh nội dung giảng dạy môn học này.

Giai đoạn từ năm 2015 đến nay

Chương trình giáo dục (đào tạo) và chương trình môn học

Từ trước đến nay đã có nhiều quan niệm khác nhau về chương trình giáo dục, như:

Chương trình giáo dục là những gì mà từng cá nhân người học thu nhận được do kết quả học tập ở nhà trường [56]

Chương trình giáo dục là tất cả những kinh nghiệm mà trẻ em có được dưới sự hướng dẫn của giáo viên [105]

Chương trình giáo dục là một kế hoạch học tập [109]

Chương trình giáo dục bao gồm nội dung và quá trình chính thức hoặc không chính thức giúp người học tiếp thu kiến thức, phát triển kỹ năng và thay đổi thái độ nhận thức cùng giá trị cá nhân Đây là quá trình tổ chức của nhà trường nhằm thúc đẩy sự phát triển toàn diện của học sinh.

Chương trình giáo dục giúp thanh thiếu niên phát triển các kỹ năng giải quyết vấn đề hiệu quả, chuẩn bị họ đối mặt với những thử thách trong cuộc sống Việc triển khai các hoạt động giáo dục phù hợp sẽ nâng cao khả năng thích nghi và tự lập của giới trẻ Đặc biệt, chương trình giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tư duy phản biện và kỹ năng sống cần thiết cho sự thành công trong tương lai.

Các tác giả đều nhấn mạnh tầm quan trọng của nội dung các môn học trong quá trình dạy và học trong nhà trường, đồng thời chỉ rõ rằng định nghĩa này chưa phản ánh đầy đủ sự phát triển của thực tiễn giáo dục hiện nay.

Chương trình, theo nghĩa từ vựng, đề cập đến các mục, các vấn đề hoặc nhiệm vụ được đề ra và tổ chức theo trình tự thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định Trong giáo dục phổ thông, chương trình được định nghĩa là nội dung kiến thức về các môn học được ấn định cho từng lớp, từng cấp học trong từng năm học, nhằm đảm bảo sự hệ thống và phù hợp với lộ trình giáo dục.

Từ cuối thế kỷ XX đến nay, nhận thức về chương trình giáo dục (CT) ngày càng được mở rộng và đa chiều Theo Peter F Oliva (1997), các quan điểm về CT bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau như tập hợp các mục tiêu thực hiện, nội dung giảng dạy, các môn học, tài liệu dạy học, trật tự các khóa học, cũng như tất cả các hoạt động diễn ra trong nhà trường, bao gồm hoạt động ngoại khóa và mối quan hệ giữa các cá nhân Ngoài ra, CT còn bao gồm những gì được dạy trong và ngoài nhà trường, do nhà trường quản lý, những kinh nghiệm người học đã trải qua, và kết quả giáo dục mà học sinh thu nhận được Điều này cho thấy nhận thức về CT đã mở rộng từ việc chỉ xem nó là nội dung giảng dạy sang một phạm vi rộng hơn liên quan đến toàn bộ quá trình giáo dục và phát triển của người học.

Giáo dục hiện đại coi chương trình giáo dục là tập hợp các mục tiêu và giá trị nhằm hình thành phẩm chất và kỹ năng cho người học Chương trình được xây dựng dựa trên các hoạt động có kế hoạch và tổ chức một cách hợp lý trong nhà trường Đồng thời, giáo dục phù hợp với yêu cầu phát triển của cuộc sống xã hội, giúp học sinh chuẩn bị tốt hơn cho tương lai.

Mức độ đạt các mục tiêu thể hiện rõ tính hiệu quả của chương trình giáo dục Việc thiết kế chương trình phù hợp nhằm mục đích nâng cao chất lượng giáo dục và đáp ứng nhu cầu phát triển của học sinh Đánh giá kết quả học tập giúp xác định mức độ thành công của chương trình giáo dục và điều chỉnh phù hợp để nâng cao hiệu quả trong tương lai.

Có thể xem các định nghĩa sau đây bao quát được những ý tưởng đó:

Chương trình đào tạo được hiểu là văn bản chính thức quy định mục đích, mục tiêu và yêu cầu của chương trình học Nó xác định nội dung kiến thức và kỹ năng cần đạt được, cũng như cấu trúc tổng thể các bộ môn và kế hoạch lên lớp, thực tập theo từng năm học Ngoài ra, chương trình còn quy định tỷ lệ giữa các bộ môn, giữa lý thuyết và thực hành, phương thức, phương pháp, phương tiện giảng dạy, cơ sở vật chất, cũng như các chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của cơ sở giáo dục và đào tạo.

Theo Luật Giáo dục: Thuật ngữ chương trình giáo dục được phổ biến rộng rãi trong nhiều lĩnh vực Tại khoản 1 điều 6 của Luật giáo dục 2005 nêu

Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cùng cách thức đánh giá kết quả học tập ở từng môn học, lớp học và trình độ đào tạo Theo khoản 2 Điều 6 của luật sửa đổi, bổ sung năm 2009, chương trình giáo dục cần đảm bảo tính hiện đại, ổn định, thống nhất, thực tiễn và hợp lý, đồng thời kế thừa giữa các cấp học và trình độ đào tạo Chương trình còn tạo điều kiện cho phân luồng, liên thông, chuyển đổi giữa các trình độ đào tạo, ngành đào tạo và hình thức giáo dục trong hệ thống quốc gia, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư 08/2011/TT-BDĐT ngày 17/12/2011, quy định rõ nội dung cơ bản của một chương trình đào tạo gồm 9 phần quan trọng Cụ thể, chương trình đào tạo cần xác định mục tiêu đào tạo rõ ràng và thời gian đào tạo phù hợp Ngoài ra, việc xác định khối lượng kiến thức toàn khóa, đối tượng tuyển sinh, cũng như quy trình đào tạo là những yếu tố then chốt nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục Thang điểm, nội dung chương trình, kế hoạch giảng dạy và hướng dẫn thực hiện cũng là những nội dung không thể thiếu để xây dựng một chương trình đào tạo chuẩn mực theo quy định của Bộ.

1.3.1.1 Các phương pháp tiếp cận xây dựng chương trình giáo dục

Trong lịch sử giáo dục có nhiều cách tiếp cận xây dựng chương trình giáo dục, trong đó có ba cách tiếp cận cơ bản sau đây:

Tiếp cận nội dung (The content approach) [112], [119]

Giáo dục được xem là quá trình truyền đạt kiến thức cho người học, trong đó chương trình giáo dục đóng vai trò là bản phác thảo nội dung học tập quan trọng Chương trình giáo dục gồm hệ thống các môn học được sắp xếp theo trình tự hợp lý, giúp người dạy và người học có rõ ràng về những gì cần dạy và cần học Điều này đảm bảo quá trình học tập diễn ra hiệu quả, có mục tiêu rõ ràng và có hệ thống.

Cách tiếp cận truyền thống trong giáo dục đã tồn tại lâu dài nhưng có nhiều nhược điểm, chủ yếu tập trung vào nội dung kiến thức và phương pháp truyền đạt đơn thuần Phương pháp này thường xem nhẹ khả năng ứng dụng và phát triển kỹ năng của người học Ngoài ra, nó không thể đánh giá chính xác hiệu quả của quá trình đào tạo, mà chỉ tập trung vào kết quả học tập qua lượng kiến thức và kỹ năng tiếp thu được.

Tiếp cận mục tiêu (The objective approach) [112], [119]

Giáo dục được xem là quá trình chuẩn bị nguồn nhân lực theo mục tiêu đào tạo đã đề ra, từ đó, chương trình giáo dục đóng vai trò như một bản kế hoạch phản ánh nội dung và phương pháp giảng dạy nhằm đạt được các mục tiêu đã xác định.

Cách tiếp cận này đại diện cho một bước tiến lớn trong tư duy giáo dục, thúc đẩy việc xây dựng quy trình công nghệ hướng vào mục tiêu rõ ràng Tuy nhiên, phương pháp này chưa đủ để đặt quá trình đào tạo vào trạng thái phát triển liên tục, khiến cho hoạt động tổ chức đào tạo chưa thích ứng kịp thời với những thay đổi nhanh chóng của xã hội.

Có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1 Xây dựng chương trình giáo dục bằng phương pháp tiếp cận mục tiêu

Mục tiêu đầu ra (Learning outcome)

Quy trình đào tạo Phương pháp dạy học

Kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo Nội dung đào tạo

Dựa trên mục tiêu đào tạo rõ ràng, người dạy và người học có thể lựa chọn kiến thức, phương pháp và phương tiện phù hợp để đạt được hiệu quả học tập cao Thiết kế chương trình giáo dục dựa trên mục tiêu đào tạo mang lại những ưu điểm nổi bật, giúp nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập Việc xác định rõ mục tiêu đào tạo là bước quan trọng để xây dựng chương trình phù hợp, đáp ứng nhu cầu của người học và các yêu cầu của ngành nghề.

Tuy nhiên cách tiếp cận này cũng có những nhược điểm:

Giáo dục không đơn thuần là công cụ để tạo ra những sản phẩm theo một

Giáo dục thể chất và môn học Giáo dục thể chất trong trường Đại học và

Giáo dục thể chất là yếu tố thiết yếu trong giáo dục toàn diện, nhằm phát triển năng lực thể chất toàn diện cho người học thông qua hệ thống các hoạt động có mục đích Nội dung cốt lõi của GDTC gồm dạy động tác và kiến thức liên quan, giúp người học điều khiển vận động hợp lý và hình thành kỹ năng vận động chuyên nghiệp Đồng thời, GDTC còn thúc đẩy phát triển thể lực chung như nhanh, mạnh, bền, khéo, dẻo, cũng như thể lực chuyên môn có ứng dụng thực tiễn trong hoạt động thể thao, nghề nghiệp và y học.

GDTC kết hợp các mặt giáo dục khác như: đức, trí, thể, mĩ nhằm phát triển con người cân đối toàn diện

Giờ học thể dục trong nhà trường đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện giáo dục thể chất cho học sinh Chương trình gồm cả các giờ học lý thuyết và thực hành nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng vận động Việc kết hợp này giúp phát triển toàn diện thể chất và tinh thần của học sinh trong môi trường giáo dục.

Giờ học lý thuyết trong môn TDTT là bước cơ bản giúp học sinh trang bị kiến thức về thể dục thể thao, vệ sinh và sức khỏe, đóng vai trò không chỉ trong quá trình học mà còn là yếu tố văn hoá góp phần hình thành nên kết quả học tập môn thể dục của học sinh Trong khi đó, giờ học thực hành (hay còn gọi là giờ học vận động) là phần đặc trưng của dạy học TDTT, nơi giáo viên giữ vai trò chủ đạo, điều khiển và tổ chức hoạt động dạy học nhằm thúc đẩy quá trình vận động của học sinh Sự tương tác giữa giáo viên và học sinh tạo điều kiện sư phạm tối ưu cho hoạt động giáo dục thể chất, với ưu điểm là kế hoạch học tập rõ ràng, phù hợp với thời khóa biểu chung, lớp học có số lượng học sinh ổn định, cùng độ tuổi và hoạt động tập thể liên kết chặt chẽ, góp phần xây dựng tinh thần đoàn kết và nâng cao thể chất cho học sinh.

Thể dục thể thao (TDTT) là một phần quan trọng của nền văn hóa xã hội, nhằm nâng cao thể chất và thành tích thể thao của con người Các hoạt động TDTT góp phần làm phong phú đời sống tinh thần, đồng thời thúc đẩy sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân Tiêu biểu của TDTT gồm ba lĩnh vực chính: TDTT trường học, TDTT quần chúng và thể thao thành tích cao Ở Việt Nam, hoạt động này đóng vai trò thiết yếu trong việc giáo dục và nâng cao sức khỏe cộng đồng.

Nam TDTT là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân, góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng và phát triển thể chất toàn diện Điều 20 của luật TD, TT quy định rõ về vai trò của giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường, nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động thể thao trong quá trình giáo dục và phát triển của học sinh Việc thực hiện các quy định này giúp thúc đẩy phong trào thể dục thể thao trong học đường, góp phần xây dựng lối sống lành mạnh và nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông.

Giáo dục thể chất là môn học chính khóa trong chương trình giáo dục, nhằm cung cấp kiến thức và kỹ năng vận động cơ bản cho học sinh Thông qua các bài tập và trò chơi vận động, môn học này góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần của người học Giáo dục thể chất đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, giúp học sinh nâng cao thể trạng và rèn luyện kỹ năng sống.

Giáo dục thể chất là một phần quan trọng của quá trình học tập, giúp trẻ em phát triển kỹ năng vận động cơ thể và khuyến khích tham gia hoạt động thể chất một cách tích cực Việc giáo dục thể chất đóng vai trò thúc đẩy sức khỏe, nâng cao thể trạng và phát triển toàn diện cho trẻ Đầu tư vào giáo dục thể chất không chỉ giúp trẻ em rèn luyện thể lực mà còn hình thành thói quen sống lành mạnh sau này.

Theo Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn, GDTC là hình thức giáo dục chuyên biệt nhằm dạy học vận động và phát triển có chủ ý các tố chất thể chất của con người, trong đó dạy học động tác là nội dung cốt lõi của quá trình giáo dưỡng thể chất, còn giáo dục các tố chất thể lực giúp đảm bảo năng lực vận động Luật Thể dục thể thao năm 2006 và Pháp lệnh TDTT năm 2000 quy định rõ rằng GDTC là môn học chính khóa trong chương trình giáo dục, cung cấp kiến thức và kỹ năng vận động cơ bản, góp phần vào mục tiêu giáo dục toàn diện Hoạt động thể thao trong trường học là hoạt động tự nguyện, tổ chức ngoại khóa phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi, nhằm nâng cao sức khỏe và thể lực, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, ý chí, giáo dục nhân cách cho học sinh, sinh viên, đồng thời đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Dựa trên mục tiêu chung, xác định mục tiêu giáo dục thể chất cụ thể cho từng cấp học và bậc học là bước quan trọng Các mục tiêu, tiêu chí môn học và bài học cần được làm rõ hơn, từng cấp độ tiếp tục triển khai mục tiêu của cấp độ trước, tạo thành cấu trúc hợp lý và rõ ràng Việc xác định mục tiêu càng cụ thể và chi tiết đến từng đơn vị nhỏ nhất sẽ giúp mô tả, đo lường chính xác hơn, từ đó thuận lợi trong việc xây dựng nội dung chương trình, biên soạn sách giáo khoa, lựa chọn phương pháp giảng dạy, đào tạo đội ngũ giáo viên, quản lý quá trình giáo dục và đánh giá chất lượng giáo dục.

Tóm lại, với các mục tiêu đã đề ra khi xây dựng chương trình giáo dục thể chất nội, ngoại khóa ở trường đại học cần lưu ý:

Chương trình giáo dục thể chất tập trung vào mục tiêu chính là giúp sinh viên duy trì sức khỏe và nâng cao thể lực thông qua hoạt động tập luyện thể thao Đồng thời, đào tạo này còn tích hợp giáo dục đạo đức và các kỹ năng xã hội liên quan, góp phần hình thành nhân cách toàn diện cho sinh viên Việc chú trọng vào các yếu tố này nhằm đảm bảo phát triển thể chất và tinh thần một cách cân đối, bền vững.

Việc duy trì tâm lý tích cực, hứng khởi và vui vẻ khi tập luyện thể thao là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả đào tạo thể dục thể thao (TDTT) cho sinh viên Không chỉ trang bị kiến thức và kỹ năng cơ bản, mà còn cần chú trọng đến việc tạo ra môi trường luyện tập tích cực, giúp sinh viên cảm thấy hứng thú và phấn khích Trạng thái tâm lý tiêu cực, như căng thẳng, chán nản hoặc thất vọng, là nguyên nhân chính dẫn đến hạn chế khả năng phát huy tính tích cực và hiệu quả trong quá trình tập luyện TDTT của sinh viên Do đó, việc duy trì tâm trạng tích cực đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phong trào luyện tập và nâng cao thành tích thể thao cho sinh viên.

Theo tác giả Lê Văn Lẫm và Phạm Xuân Thành, các bài tập thể chất là phương tiện cơ bản để rèn luyện thân thể nhằm nâng cao sức khỏe và ứng dụng kiến thức lý luận về TDTT, đồng thời phần lớn các hoạt động thể chất mới giúp đạt được mục tiêu và nhiệm vụ của TDTT trường học đề ra.

Lứa tuổi sinh viên (18-22 tuổi) có đặc điểm tâm lý thích chứng tỏ mình là người lớn và mong muốn được người khác tôn trọng, đồng thời đã có trình độ hiểu biết, khả năng phân tích, tổng hợp, lòng ham hiểu biết và tính tự lập Tuy nhiên, các em còn thiếu kinh nghiệm, do đó cần xây dựng chương trình giáo dục tôn trọng sở thích của sinh viên và xác định động cơ đúng đắn để duy trì hứng thú học tập Về mặt sinh lý, hệ thần kinh, hệ vận động, hệ cơ, hệ tuần hoàn và hệ hô hấp của sinh viên gần như hoàn thiện, vì vậy các chương trình GDTC cần phù hợp, đáp ứng và hỗ trợ quá trình hoàn thiện các hệ cơ quan này trong cơ thể của đối tượng sinh viên.

Giới thiệu Trường Đại học Việt Bắc

Thái Nguyên là trung tâm đào tạo lớn với Đại học Thái Nguyên và Trường Đại học Việt Bắc là các cơ sở giáo dục hàng đầu trong khu vực Đại học Thái Nguyên gồm 7 trường thành viên, bao gồm Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp, Trường Đại học Sư phạm, Trường Đại học Y - Dược, Trường Đại học Nông Lâm, Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học, và Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Hiện nay, tổng số sinh viên của các trường đại học ở Thái Nguyên khoảng 30.000, trong đó Trường Đại học Việt Bắc có gần 2000 sinh viên.

Trong cùng một đại học, chương trình môn học GDTC của các trường thành viên như Đại học Thái Nguyên đều có sự khác biệt so với Chương trình của Trường Đại học Việt Bắc Phần lớn các chương trình này đều được chia thành 3 hoặc 5 học phần, trong đó có một học phần bắt buộc và các học phần tự chọn Các học phần bắt buộc thường gần giống nhau giữa các trường, trong khi các học phần tự chọn lại có sự khác biệt phụ thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất và nguồn lực của từng trường.

Trường Đại học Việt Bắc là một trường đại học tư thục, được thành lập năm 2011 theo Quyết định số 1341/QĐ-TTg, ngày 05/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ [78]

Trường Đại học Việt Bắc là một cơ sở giáo dục tư thục đa ngành có sứ mạng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực trung du miền núi phía bắc và toàn quốc Chúng tôi tích cực triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương và đất nước Với mục tiêu đào tạo nhân lực xuất sắc, Trường Đại học Việt Bắc đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động.

Trường đại học hướng tới mục tiêu trở thành một trung tâm đào tạo đa ngành, ứng dụng uy tín hàng đầu trong khu vực trung du - miền núi phía Bắc và cả nước Với tầm nhìn phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, nhà trường cam kết đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của địa phương và toàn quốc Định hướng của trường là xây dựng một môi trường giáo dục chất lượng cao, thúc đẩy hợp tác quốc tế và nâng cao năng lực nghiên cứu, góp phần nâng cao vị thế của ngành giáo dục trong khu vực và cả nước.

Giá trị cốt lõi: Năng động, Sáng tạo, Trung thực, Trách nhiệm

Triết lý giáo dục: Nhân văn - Thực Nghiệp - Hội nhập

Trường Đại học Việt Bắc đã xây dựng nhiều công trình quan trọng để phục vụ công tác đào tạo, bao gồm nhà điều hành 6 tầng với diện tích 2.491 m², nhà giảng đường và lớp học 5 tầng rộng 4.335 m², và nhà ký túc xá 5 tầng diện tích 2.396 m² Các công trình khác như đường giao thông nội bộ, cổng trường, hàng rào, cảnh quan môi trường, vườn hoa cũng được xây dựng để tạo môi trường học tập tốt nhất Ngoài ra, trường đã trang bị các phòng thí nghiệm cơ bản và thực hành với trang thiết bị hiện đại nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và nghiên cứu.

Mục tiêu phát triển đào tạo của nhà trường:

Năm 2019, trường đại học ĐHVB đã điều chỉnh phù hợp với Luật Giáo dục mới và chức năng, nhiệm vụ của các trường đại học tư thục Trong đó, nhà trường đã xây dựng và phê duyệt "Kế hoạch chiến lược phát triển trường ĐHVB giai đoạn 2021-2025 và tầm nhìn đến năm 2030" nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, khu vực và cả nước, đồng thời phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế Kế hoạch này đã được Hội đồng quản trị phê duyệt theo Quyết định số 220/QĐ-ĐHVB ngày 04 tháng 12 năm 2019, thể hiện cam kết phát triển bền vững của trường trong giai đoạn mới.

Đến năm 2035, Trường Đại học Việt Bắc dự kiến trở thành trường đại học tư thục đa ngành, nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của khu vực trung du miền núi phía Bắc và toàn quốc Nhà trường còn tập trung triển khai nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ để đáp ứng nhu cầu đổi mới và phát triển bền vững của khu vực.

Loại hình và cấp đào tạo của trường Đại học Việt Bắc

Ngành nghề đào tạo: Hiện nay, Trường Đại học Việt Bắc đang đào tạo 10 ngành, gồm:

Mạng máy tính - Truyền thông dữ liệu;

Ngôn ngữ Hàn Quốc; Ngôn ngữ Anh;

Bậc đào tạo: Hiện nay, Trường Đại học Việt Bắc đang đào tạo ở bậc đại học và bậc cao học (thạc sĩ)

Quy mô đào tạo của nhà trường:

Trong quá trình phát triển của Nhà trường, tập thể lãnh đạo, cán bộ, giảng viên và nhân viên Đại học Việt Bắc đã nỗ lực hết mình để đóng góp vào sự phát triển bền vững của trường Nhà trường đã tận dụng mọi nguồn lực hiện có để từng bước xây dựng hệ thống các phòng ban, khoa và trung tâm, đảm bảo hoạt động hiệu quả và phục vụ tốt cho các mục tiêu giáo dục Hiện nay, Nhà trường đã hoàn thiện cơ cấu tổ chức với các phòng ban, khoa và trung tâm hoạt động ổn định, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu.

Hiện nay, Trường đã tuyển sinh và đào tạo được 5 khóa với quy mô tuyển sinh tổng là 1.834 sinh viên Trong đó:

Bảng 1.1: Quy mô tuyển sinh và đào tạo đến năm 2020

TT Ngành đào tạo Trình độ Quy mô

1 Kỹ thuật Cơ khí Đại học 175 SV

2 Kỹ thuật Điện Đại học 201 SV

3 Công nghệ thông tin Đại học 110 SV

4 Máy tính và mạng truyền thông dữ liệu Đại học 60 SV

5 Kế toán Đại học 160 SV

6 Quản trị kinh doanh Đại học 520 SV

7 Ngôn ngữ Anh Đại học 410 SV

8 Ngôn ngữ Hàn Quốc Đại học 60 SV

10 Du lịch Mới mở và đang tuyển sinh

11 Kỹ thuật cơ khí Cao học 15 HV

12 Kỹ thuật điện Cao học 18 HV

Trường Đại học Việt Bắc hiện nay có 8 khoa chuyên môn, 5 phòng và 2 trung tâm Cụ thể:

Các khoa: Khoa Khoa học Cơ bản (Bộ môn GDTC thuộc Khoa Khoa học

Cơ bản), Khoa Cơ khí, Khoa Điện - Điện tử, Khoa Ngôn Ngữ, Khoa Kinh tế

&QTKD, Khoa Luật, Khoa Du lịch, Khoa CNTT

Các phòng ban và trung tâm chính của trường gồm Phòng Đào tạo - Nghiên cứu khoa học - Hợp tác quốc tế, giúp thúc đẩy hoạt động đào tạo và hợp tác quốc tế; Phòng Công tác Học sinh sinh viên, đảm bảo quyền lợi và hỗ trợ sinh viên; Phòng Thanh tra - Khảo thí và Đảm bảo chất lượng giáo dục, nâng cao chất lượng đào tạo; Phòng Kế hoạch - Tài chính, chịu trách nhiệm quản lý ngân sách và kế hoạch phát triển; Phòng Tổng hợp, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ hành chính và quản lý chung Bên cạnh đó, còn có Trung tâm Đào tạo theo nhu cầu xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu cộng đồng, và Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học chuyên đào tạo kỹ năng ngoại ngữ và tin học cho sinh viên và cộng đồng.

Chương trình đào tạo của Trường Đại học Việt Bắc được xây dựng dựa trên khảo sát thực tế xã hội và sản xuất, đảm bảo phù hợp với nhu cầu thực tiễn Sự tham gia của các giáo sư, phó giáo sư và chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực ngành đào tạo giúp đảm bảo chất lượng và tính cập nhật của chương trình học Điều này góp phần nâng cao kỹ năng thực tiễn cho sinh viên, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động hiện nay.

Chương trình đào tạo đại học và cao học của các ngành có tính liên thông cao, giúp người học dễ dàng chuyển đổi và kết hợp các chương trình đào tạo phù hợp Tính liên thông dọc cho phép sinh viên học liên thông trực tiếp từ trung cấp, cao đẳng lên đại học bằng cách tích lũy tín chỉ còn thiếu, tạo sự linh hoạt trong quá trình học tập Đồng thời, tính liên thông ngang tạo thuận lợi cho người học chuyển đổi giữa các bằng đại học khác nhau, nâng cao khả năng linh hoạt và đáp ứng yêu cầu ngày càng phát triển của thị trường lao động Các chương trình đào tạo mang tính liên thông toàn diện góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hệ thống giáo dục đại học và cao học.

Tháng 6 năm 2018 Nhà trường đã được Hội đồng quốc gia kiểm định chất lượng giáo dục công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục, Đến nay, Trường đang chuyển sang một giai đoạn mới, tự đánh giá giữa kì nhằm thấy được một bức tranh toàn cảnh về các lĩnh vực hoạt động của Nhà trường, từ đó xây dựng kế hoạch rà soát, cải tiến chất lượng đào tạo, hướng tới đạt được yêu cầu trước Nhà nước, trước Bộ Giáo dục và Đào tạo và trước xã hội.

Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu

Trong quá trình xây dựng chương trình môn học (CTMH), cần dựa trên tài liệu “Xây dựng và đánh giá chương trình môn học” của Robert M Diamond (1998), trong đó tác giả phân tích các vấn đề cốt lõi như phương pháp xây dựng CTMH dựa trên quan điểm lấy người học làm trung tâm Đồng thời, nội dung này nhấn mạnh mối quan hệ giữa mục tiêu môn học, chương trình và phương pháp giảng dạy, cũng như tầm quan trọng của thực hiện đánh giá nhằm thúc đẩy cải tiến liên tục của chương trình giáo dục và chương trình môn học.

Một trong những nhân vật quan trọng góp phần tích cực vào tiến trình đưa

Bộ môn Giáo dục thể chất (GDTC) trở thành môn học bắt buộc trong các trường đại học và cao đẳng, theo giáo sư Evghenhi Piaseske, nguyên chủ nhiệm khoa Giáo dục vệ sinh - Giáo dục thể chất tại Trường Đại học Tổng hợp Ba Lan Năm 1925, Bộ Khoa học và Bộ Giáo dục và Đào tạo của Ba Lan đã ban hành “Quy chế về GDTC trong trường học,” xác định chương trình giáo dục bắt buộc phù hợp cho các trường đại học và cao đẳng Điều này tạo nền tảng vững chắc cho việc tích hợp GDTC vào hệ thống giáo dục đại học tại Ba Lan, thúc đẩy phát triển toàn diện về thể chất và trí tuệ cho sinh viên.

Nhật Bản đặc biệt chú trọng đến công tác giáo dục thể chất và hoạt động thể thao đối với sinh viên, coi đây là yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển toàn diện của họ Từ năm 1949, môn Thể dục thể thao đã trở thành một môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo tại các trường đại học và cao đẳng Đến năm 1954, Nhật Bản thành lập Ban nghiên cứu khoa học về thể dục thể thao dành cho sinh viên nhằm giúp sinh viên nắm vững kiến thức cơ bản về thể thao qua việc tập luyện hàng ngày và các hoạt động xã hội mang lại lợi ích Việc học tập môn Giáo dục thể chất thực hành được tổ chức dưới hình thức tự chọn, cho phép sinh viên lựa chọn môn thể thao yêu thích như thể thao cá nhân (Điền kinh, Thể dục, Judo) hoặc thể thao đồng đội (Bóng chuyền, Bóng đá, Bóng rổ), phù hợp với sở thích và khả năng cá nhân Từ năm 1954, hình thức học môn GDTC của Nhật Bản đã chuyển sang xu hướng tự chủ theo sở thích và khả năng của từng sinh viên.

Vấn đề thiết kế, xây dựng và đánh giá chương trình giáo dục cũng như chương trình môn học đã được các nhà khoa học và chuyên gia chương trình nổi tiếng nghiên cứu sâu rộng Các tác giả như Hilda Taba (1962) trong “Xây dựng chương trình: Lý luận và thực tiễn”, A.V Kelly (1977) trong “Chương trình: Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, cũng như Tanner, Diniel và Laurel (1995) trong “Xây dựng chương trình: Từ lý luận đến thực tiễn” đều đã làm rõ các khía cạnh quan trọng của quá trình này Các công trình này đã góp phần làm sáng tỏ các phương pháp và nguyên tắc căn bản trong thiết kế và đánh giá chương trình giáo dục một cách hiệu quả.

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

1.6.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

Năm 2011, luận án “Quản lý xây dựng và đánh giá chương trình đào tạo trình độ đại học theo học chế tín chỉ” của tác giả Trần Hữu Hoan đã nghiên cứu các mô hình phát triển chương trình trên thế giới và tại Việt Nam để lựa chọn mô hình phù hợp xây dựng và đánh giá trình độ đại học trong học chế tín chỉ Tuy nhiên, luận án chỉ tập trung vào xây dựng và đánh giá một môn học trong hệ thống học chế tín chỉ, còn hệ thống các môn học của chương trình đào tạo theo học chế này chưa được đề cập đến.

Nhận thức rõ vai trò quan trọng của TDTT và GDTC trong việc nâng cao sức khỏe, thể chất cho sinh viên đã thúc đẩy các nghiên cứu về thiết kế và xây dựng chương trình môn học GDTC phù hợp Nhiều tác giả đã nghiên cứu cả về lý thuyết lẫn thực tiễn để phát triển các phương pháp giảng dạy hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong các trường đại học Việc xây dựng các chương trình GDTC khoa học, toàn diện giúp sinh viên phát triển thể chất, kiến thức và kỹ năng sống cần thiết cho tương lai.

Các tác giả tiêu biểu như Nguyễn Đăng Chiêu, Nguyễn Trọng Hải, Lê Trường Sơn, Chấn Hải, Nguyễn Văn Hòa, Lê Văn Lẫm, Phạm Xuân Thành, Nguyễn Cẩm Ninh, Hồ Đắc Sơn, Vũ Văn Tảo và Nguyễn Văn Thời đã đóng góp lớn vào lĩnh vực của họ Những tên tuổi này nổi bật với những công trình nghiên cứu và sáng tạo mang tính định hướng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của kiến thức và cộng đồng học thuật Họ luôn được nhắc đến như những nhà sáng lập và truyền cảm hứng cho các thế hệ sau trong ngành nghiên cứu và sáng tạo.

Vũ Đức Thu, Nguyễn Văn Toàn [21], [32], [33], [39], [45], [54], [67], [68],

Các tác giả đã đóng góp quan trọng vào việc xây dựng cơ sở lý luận về công tác Thể dục thể thao và Giáo dục thể chất trong nhà trường Trong những năm gần đây, nhiều giáo trình đã được xuất bản, phục vụ làm tài liệu giảng dạy cho giảng viên và học tập cho sinh viên, tiêu biểu như các tác phẩm của Hoàng Hà và Trần Nam.

Giao, Nguyễn Thị Lệ Hằng và Phạm Kim Điền (2010) đã xuất bản “Tài liệu giảng dạy Giáo dục thể chất”, đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn giáo viên và sinh viên trong quá trình giảng dạy và học tập môn giáo dục thể chất Những tài liệu này cung cấp kiến thức cần thiết, giúp nâng cao chất lượng giảng dạy và thúc đẩy hiệu quả học tập của học sinh, sinh viên Chúng góp phần xây dựng phương pháp giảng dạy tối ưu, phù hợp với yêu cầu của môn học và mục tiêu phát triển toàn diện của học sinh.

Nghiên cứu của học viên Trần Thị Thanh Huyền (2014) tập trung vào việc bổ sung các môn thể thao tự chọn vào chương trình giảng dạy môn giáo dục thể chất tại Trường Đại học Trà Vinh, nhằm nâng cao chất lượng và đa dạng hóa hoạt động thể thao cho sinh viên Trong khi đó, luận án tiến sĩ của Phan Thanh Mỹ cũng đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chương trình đào tạo thể chất, phù hợp với xu thế phát triển giáo dục thể thao hiện đại Các nghiên cứu này đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cập nhật nội dung giảng dạy và mở rộng các hoạt động thể thao tự chọn để thúc đẩy phong trào luyện tập thể thao trong cộng đồng sinh viên.

Nghiên cứu năm 2006 đã tổng hợp các phương pháp giảng dạy môn giáo dục thể chất và đánh giá thực trạng, ưu nhược điểm của đào tạo tại Trường Đại học Trà Vinh và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh Kết quả này đã giúp đưa các môn tự chọn phù hợp vào chương trình giáo dục thể chất, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất, đặc điểm của trường và sinh viên Điều này góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn học, thúc đẩy sự phát triển thể chất của nữ sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh.

Nguyễn Đăng Chiêu (2009) đã thực hiện nghiên cứu về thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng Giáo dục Thể chất (GDTC) cho sinh viên tại một số trường đại học ở TP Hồ Chí Minh Trong bài viết này, tác giả đánh giá các mặt mạnh, khó khăn và hạn chế của công tác GDTC hiện nay, đồng thời đề xuất 5 nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng môn học này Các giải pháp bao gồm cải tiến chương trình giảng dạy, nâng cao năng lực giảng viên, tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động thể chất, và đẩy mạnh công tác tuyên truyền ý nghĩa của GDTC đối với sự phát triển toàn diện của sinh viên Nội dung nghiên cứu góp phần giúp các trường đại học phù hợp hơn với xu hướng phát triển giáo dục thể chất hiện đại, nâng cao sức khỏe và kỹ năng vận động cho sinh viên.

Hồ Chí Minh đề xuất các giải pháp toàn diện nhằm nâng cao công tác Giáo dục Thể chất (GDTC), bao gồm nhóm giải pháp về Ban Giám Đốc và việc thực hiện chương trình GDTC để đảm bảo quản lý hiệu quả; nhóm giải pháp về đội ngũ giảng viên nhằm nâng cao chất lượng and chuyên môn của lực lượng giảng viên; nhóm giải pháp về cơ sở vật chất để đảm bảo thiết bị và môi trường học tập phù hợp; nhóm giải pháp về phương pháp giảng dạy nhằm đổi mới nội dung và hình thức truyền đạt hiệu quả; và nhóm giải pháp về sự phối hợp giữa các phòng ban chức năng nhằm tăng cường công tác phối hợp, thống nhất trong hoạt động GDTC, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo thể chất toàn diện.

PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Ngày đăng: 16/02/2023, 12:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN