CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
2.1.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu nhằm thu thập thông tin, hệ thống hóa lý thuyết với mục đích xây dựng cơ sở lý thuyết về thiết kế chương trình môn học GDTC cho SV trường Đại học Việt Bắc.
Các tài liệu được nghiên cứu bao gồm: Các chủ trương của Đảng và Nhà nước về giáo dục đào tạo và TDTT, các văn bản pháp quy của Bộ Giáo dục và Đào tạo về GDTC, thu thập và phân tích các tài liệu có liên quan đến khái niệm về chương trình đào tạo, chương trình môn học, chất lượng chương trình, các yêu cầu và các quan điểm trong việc xây dựng và đánh giá hiệu quả, chất lượng chương trình của các tác giả trong và ngoài nước. Nghiên cứu về tình trạng của vấn đề nghiên cứu thông qua phân tích các tài liệu, các đề tài khoa học, luận án, luận văn và các bài báo khoa học liên quan về xây dựng chương trình môn học của các tác giả trong và ngoài nước, các công trình nghiên cứu về xây dựng chương trình GDTC, Tâm lý, Sinh lý học, Y học…lứa tuổi SV và các tài liệu khác liên quan tới GDTC và TDTT khác.
2.1.2. Phương pháp quan sát sư phạm
Đề tài sử dụng phương pháp quan sát sư phạm nhằm theo dõi nhận thức, thông qua đối tượng nghiên cứu trong quá trình Giáo dục - Giáo dưỡng mà không làm ảnh hưởng đến quá trình đó. Hay nói một cách khác, đó là phương pháp trực giác có mục đích một hiện tượng giáo dục nào đó để thu lượm những số liệu, tài liệu, sự kiện cụ thể đặc trưng cho quá trình diễn biến của hiện tượng đó.
Đề tài sử dụng phương pháp quan sát sư phạm nhằm thu thập thông tin về các mặt:
Quan sát việc thực hiện quá trình lập test.
Quan sát đánh giá cơ sở vật chất, điều kiện đảm bảo việc tổ chức hoạt động TDTT.
Thực trạng năng lực của các giảng viên GDTC trong giảng dạy môn học GDTC ở trường Đại học Việt Bắc.
2.1.3. Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp phổng vấn là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong các công trình nghiên cứu khoa học nhằm khảo sát, thu thập các số liệu trong quá trình nghiên cứu. Cách phỏng vấn có thể trực tiếp, gián tiếp và sử dụng phiếu hỏi. Trong phạm vi của luận án này, tác giả phỏng vấn các chuyên gia, các nhà quản lý, giảng viên về thực trạng chương trình cũng như các điều kiện thực hiện chương trình, sự cần thiết và các yêu cầu của việc xây dựng nội dung chương trình đào tạo nói chung và xây dựng chương trình môn học GDTC nói riêng để đáp ứng mục tiêu đào tạo của Nhà trường thông qua phiếu hỏi nhằm:
Xác định thực trạng công tác giảng dạy môn học GDTC cho sinh viên trường ĐHVB.
Lựa chọn các nội dung và phương pháp đánh giá chương trình môn học GDTC cho sinh viên trường ĐHVB.
Lấy ý kiến đóng góp về nội dung chương trình môn học GDTC cho sinh viên trường ĐHVB.
Lấy ý kiến của người học về nội dung chương trình môn học GDTC của trường ĐHVB.
Trong quá trình nghiên cứu, luận án đã sử dụng phương pháp xác định chất lượng ý kiến đánh giá bằng thang độ Liker do nhà tâm lý học người Mỹ Likert xây dựng, các mức độ đánh giá được tiến hành trên thang điểm 5:
Rất tốt (5 điểm); Tốt (4 điểm); Trung bình (Không có ý kiến) (3 điểm); Yếu (2 điểm); Rất yếu (1 điểm).
Trong phân tích giá trị trung bình trong thang đo Likert, giá trị khoảng cách
= (Maximum - Minimum)/n=(5-1)/5=0,8
Dựa trên giá trị khoảng cách là 0,8 giá trị trung bình được đánh giá theo mức như sau: 1,00 - 1,80: Rất yếu; 1,81 - 2,60: Yếu; 2,61 - 3,40: Trung bình;
3,41 - 4,20: Tốt; 4,21 - 5,00: Rất tốt.
Dựa trên phương pháp này, đề tài đã tiến hành đánh giá chất lượng ý kiến của SV và người tổ chức thực hiện chương trình về thực trạng chương trình môn học giáo dục thể chất và ý kiến đánh giá của các chuyên gia theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội. Kết quả đánh giá được trình bày cụ thể tại chương 3 của luận án.
2.1.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm
Luận án sử dụng phương pháp kiểm tra sư phạm, nhằm đánh giá trình độ phát triển thể lực và kết quả học tập của SV thuộc nhóm nghiên cứu.
Mục đích của phương pháp này là sử dụng các test sư phạm nhằm kiểm tra, đánh giá năng lực vận động của sinh viên.
Các chỉ tiêu, các test được phỏng vấn, sử dụng trong quá trình kiểm tra sư phạm là bộ tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành (theo Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18/9/2008) [11]. Đây là các test phù hợp với từng đối tượng điều tra, khảo sát (lứa tuổi sinh viên đại học 18- 22 tuổi), bao gồm các test đánh giá các tố chất thể lực như khéo léo, sức nhanh, sức mạnh và sức bền. Các test bao gồm:
Lực bóp tay thuận(kg)
Để đánh giá sức mạnh bàn tay Yêu cầu dụng cụ: Lực kế bóp tay
Cách tiến hành kiểm tra: Người được kiểm tra đứng hai chân bằng vai, tay thuận cầm lực kế hướng vào lòng bàn tay. Không được bóp giật cục và có các động tác trợ giúp khác. Thực hiện hai lần, nghỉ 15 giây giữa hai lần thực hiện.
Cách tính thành tích: Lấy kết quả lần cao nhất, chính xác đến 0,1KG Nằm ngửa gập bụng (số lần /30 giây)
Để đánh giá sức mạnh bền nhóm cơ bụng, cơ thân.
Dụng cụ kiểm tra: thảm vuông kích thước 1,5m x1,5m.
Cách tiến hành kiểm tra: Người được kiểm tra nằm ngửa trên nền sân trải
thảm. Chân co 900 ở đầu gối, bàn chân áp sát sàn, các ngón tay đan chéo nhau, lòng bàn tay áp chặt sau đầu. Người giúp đỡ ngồi lên mu bàn chân, 02 tay giữ cổ chân để không cho bàn chân người được kiểm tra xê dịch hoặc tách ra khỏi sàn. Người được kiểm tra nằm ngửa, 2 mu bàn tay và bả vai chạm sàn. Khi nghe khẩu lệnh" bắt đầu"
thì người được kiểm tra làm động tác gập bụng thành ngồi để 2 khuỷu tay chạm đùi, sau đó động tác trở về tư thế ban đầu, mỗi chu kỳ như vậy được tính 1 lần.
Cách tính thành tích: Lấy số lần đạt được yêu cầu trong 30 giây Bật xa tại chỗ(cm)
Để đánh giá sức mạnh của đôi chân
Dụng cụ kiểm tra: Thảm cao su giảm chấn, nền đất, cát mềm, thước đo.
Cách tiến hành kiểm tra: Người được kiểm tra đứng hai chân mở rộng tự nhiên, ngón chân đặt sát mép vạch giới hạn. Khi bật nhảy và khi tiếp đất, hai chân tiến hành cùng lúc. Thực hiện hai lần nhảy.
Cách tính thành tích: Kết quả đo được tính bằng khoảng cách từ vạch xuất phát đến vệt cuối cùng của gót bàn chân (vạch dấu chân trên thảm). Lấy kết quả lần cao nhất. Đơn vị tính là cm.
Chạy 30m xuất phát cao (giây)
Để đánh giá sức nhanh và sức mạnh tốc độ
Dụng cụ kiểm tra: Đồng hồ bấm giây, cọc tiêu, cờ lệnh.
Cách tiến hành kiểm tra: 2 người kiểm tra, 1 người đứng ở vạch xuất phát, một người đứng ở ngang vạch đích theo dõi bấm giờ người được kiểm tra. Khi có lệnh "vào chỗ" người được kiểm tra đi vào vạch xuất phát, chân trước và chân sau cách nhau khoảng rộng bằng vai, trọng tâm hơi đổ về trước, 2 tay thả lỏng tự nhiên, bàn chân trước ngay sau vạch xuất phát, tư thế thoải mái, khi nghe khẩu lệnh "sẵn sàng", hạ thấp người, trọng tâm cơ thể dồn vào chân trước, tay hơi co khuỷu đưa ra ngược chiều chân, thân người đổ về trước, đầu hơi cúi, toàn thân giữ yên, tập trung chú ý đợi lệnh xuất phát, khi có lệnh "chạy" lập tức lao nhanh về phía đích, khi ngực hoặc vai của người chạy cách mặt phẳng đích 20cm thì bấm đồng hồ và kết thúc..
Cách tính thành tích: Thành tích chạy được xác định là giây và số lẻ từng 1/100giây.
Chạy con thoi 4x10m (giây)
Để đánh giá khả năng phối hợp vận động và sức nhanh.
Dụng cụ kiểm tra: Đồng hồ bấm giây, cọc tiêu, cờ lệnh.
Cách tiến hành kiểm tra: Người được kiểm tra thực hiện các thao tác "vào chỗ - sẵn sàng - chạy" giống như chạy 30m xuất phát cao, khi chạy đến vạch 10m chỉ cần 1 chân chạm vạch lập tức quay người thật nhanh chạy về vạch xuất phát, đến khi 1 chân chạm vạch lại lặp lại tương tự như lần đầu, sau đó kết thúc.
Thành tích được tính từ khi có lệnh xuất phát đến khi đối tượng kiểm tra chạy hết 4x10m, với 3 lần quay người.
Cách tính thành tích: Thành tích chạy được xác định là giây và số lẻ từng 1/100 giây.
Chạy tùy sức 5 phút (m)
Để đánh giá sức bền chung (sức bền ưa khí).
Dụng cụ kiểm tra: Đường chạy, đồng hồ bấm dây, số đeo và tích kê ghi số ứng với mỗi số đeo.
Cách tiến hành kiểm tra: Người được kiểm tra thực hiện tư thế xuất phát cao (tay cầm một tích - kê tương ứng với số đeo ở ngực). Khi chạy hết đoạn đường 50m, vòng (bên trái) qua vật chuẩn và chạy lặp lại trong thời gian 5 phút.
Khi hết giờ, người được kiểm tra lập tức thả tích - kê của mình xuống ngay nơi chân tiếp đất. Thực hiện một lần.
Cách tính thành tích: Đo quãng đường chạy được là mét (m).
2.1.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp thực nghiệm sư phạm được tác giả tiến hành trong một năm học 2019-2020. Thực nghiệp sư phạm được tiến hành theo phương pháp so sánh song song. Đối tượng thực nghiệm sư phạm là 271 SV K8 năm thứ nhất, chia ra 2 nhóm thực nghiệm: Nhóm ĐC gồm 136 SV học theo chương trình GDTC cũ, nhóm TN gồm 135 SV học theo chương trình GDTC mới xây dựng.
Phương pháp thực nghiệm sư phạm được sử dụng trong nghiên cứu đề tài luận án nhằm kiểm chứng hiệu quả của chương trình môn học GDTC được xây dựng so với chương trình hiện hành ở trường Đại học Việt Bắc, qua đó khẳng định hiệu quả chương trình môn học GDTC mới được xây dựng trong quá trình ứng dụng thực tiễn thông qua so sánh về kết quả thực nghiệm giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng.
2.1.6. Phương pháp toán học thống kê
Sau khi thu thập được số liệu nghiên cứu, đề tài đã sử dụng phương pháp toán học thống kê để xử lý số liệu một cách chính xác, nhằm đánh giá khách quan kết quả nghiên cứu. Trong quá trình xử lý các số liệu của luận án, các tham số đặc trưng và các công thức toán học thống kê truyền thống được sử dụng từ các tài liệu chuyên môn phục vụ công tác nghiên cứu khoa học TDTT như:
“Phương pháp thống kê trong TDTT, Tài liệu “Đo lường thể dục thể thao”,
“Phương pháp toán học thống kê trong khoa học giáo dục” [22], [44], [94].
Các công thức được đề tài sử dụng là:
Giá trị số trung bình: n x x
n i
i
1 (n>30)
Trong đó : Xi : là giá trị quan sát thứ i n: là số đối tượng quan sát Σ: là kí hiệu tổng cộng Phương sai:
n x xi
2
2 ( )
Độ lệch chuẩn :
n x xi
2
2 ( )
Kiểm tra tính đại diện của số trung bình: ε = Đánh giá:
ε 0,05 số trung bình đại diện được cho số trung bình tổng thể.
ε> 0,05 số trung bình không đại diện được cho số trung bình tổng thể.
Chỉ số X2 (Khi bình phương):
Trong đó: - là tần số quan sát.
- : là tần số lý thuyết.
Đánh giá:
Nếu 2tính <X20,05 hai nhóm không có sự khác biệt ở ngưỡng xác suất (p>0,05).
Nếu 2tính ≥ X20,05 hai nhóm có sự khác biệt, hay là sự khác biệt của 2 nhóm là có ý nghĩa thống kê ở ngưỡng xác suất (p<0,05).
Chỉ số (t) Student so sánh hai giá trị trung bình quan sát:
Với hai mẫu độc lập: Với n
Trong đó: t là chỉ số t-student
n1, n2 là số cá thể được quan sát của hai tập hợp mẫu tương ứng.
Với hai mẫu có liên quan: t = Trong đó: d là giá trị gia tăng.
Đề tài sử dụng phần mềm Excel và SPSS 22.0 (Statistical Product and Solutions) là phần mềm máy tính phục vụ công tác phân tích thống kê.