Các công trình nghiên cứu trong nước

Một phần của tài liệu Luan An Ma Thi Ngan.pdf (Trang 57 - 64)

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.6. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu

1.6.2. Các công trình nghiên cứu trong nước

Tác giả Trần Thị Hoài (2009),“Nghiên cứu đánh giá thẩm định chương trình giáo dục đại học” [38] đã góp phần phát triển những vấn đềlý luận đánhgiá chương trình, xây dựng được bộ tiêu chuẩn đánh giá thẩm định chương trình góp phần giúp các nhà quản lý kiểm soát chất lượng chương trình. Nghiên cứu đặc biệt có ý nghĩa trong điều kiện giáo dục đại học Việt Nam đang trong thời kỳ chuyển đổi từ đào tạo theo học phần niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ. Nghiên cứu này có thể coi là một tài liệu hướng dẫn đánh giá chương trình đào tạo theo một hướng đào tạo mới.

Năm 2011, luận án “Quản lý xây dựng và đánh giá CTMH trình độ đại học trong học chế tín chỉ”, tác giả Trần Hữu Hoan đã nghiên cứu, các mô hình phát triển chương trinh trên thế giới và Việt Nam để từ đó lựa chọn mô hình để xây dựng và đánh giá trình độ đại học trong học chế tín chỉ. Luận án trên tác giả mới chỉ đề cập đến xây dựng và đánh giá chương trình một môn học trong học chế tín chỉ, còn cả hệ thống các môn học trong CTĐT theo học chế tín chỉ thì chưa được đề cập đến [37]

Nhận thức được tầm quan trọng của TDTT và GDTC, cũng như việc thiết kế, xây dựng các chương trình môn học GDTC giảng dạy trong các trường đại học, cho đến nay, đã có nhiều tác giả nghiên cứu, đề cập tới các khía cạnh khác nhau cả trên bình diện lý thuyết, lẫn thực tế.

Ta có thể kể đến các tác giả tiêu biểu như Nguyễn Đăng Chiêu, Nguyễn Trọng Hải, Lê Trường Sơn, Chấn Hải, Nguyễn Văn Hòa, Lê Văn Lẫm, Phạm Xuân Thành, Nguyễn Cẩm Ninh, Hồ Đắc Sơn, Vũ Văn Tảo, Nguyễn Văn Thời, Vũ Đức Thu, Nguyễn Văn Toàn [21], [32], [33], [39], [45], [54], [67], [68], [74], [75], [86].

Các công trình của các tác giả này đã đóng góp nhiều cho xây dựng cơ sở lý luận về công tác Thể dục thể thao và Giáo dục thể chất trong nhà trường.

Trong những năm qua đã có nhiều giáo trình đã được xuất bản dùng làm tài liệu cho giảng viên giảng dạy và cho sinh viên học tập như: Hoàng Hà, Trần Nam

Giao, Nguyễn Thị Lệ Hằng, Phạm Kim Điền (2010) với “Tài liệu giảng dạy Giáo dục thể chất” [31]. Các tài liệu này có ý nghĩa trong việc hướng dẫn giáo viên và sinh viên trong việc giảng dạy và học tập môn học giáo dục thể chất.

Luận văn thạc sĩ của học viên Trần Thị Thanh Huyền (2014) “Nghiên cứu bổ sung các môn thể thao tự chọn vào chương trình giảng dạy môn giáo dục thể chất tại trường Đại học Trà Vinh” [40] và Luận án Tiến sĩ của Phan Thanh Mỹ (2006), “Nghiên cứu hiệu quả môn thể thao tự chọn thích hợp đối với sự phát triển thể chất của nữ sinh viên trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn - Thành phố Hồ Chí Minh” [52] đã tổng hợp được các phương pháp giảng dạy môn học giáo dục thể chất nói chung và đánh giá được thực trạng và những ưu nhược điểm của giảng dạy môn học giáo dục thể chất ở Trường Đại học Trà Vinh và Trường Đại học Khoa học, Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đã đưa được các môn học tự chọn vào chương trình môn học Giáo dục thể chất của nhà trường phù hợp với điều kiện về cơ sở vật chất và đặc điểm riêng của trường và đặc điểm của sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn học Giáo dục thể chất.

Nguyễn Đăng Chiêu (2009) “Nghiên cứu thực trạng và các giải pháp nâng cao chất lượng GDTC cho sinh viên một số trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh” [21], đã đánh giá thực trạng và đề xuất 5 nhóm giải pháp nâng cao chất lượng môn học giáo dục thể chất cho một số trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm: nhóm giải pháp về Ban Giám Đốc và thực hiện chương trình GDTC; nhóm giải pháp về đội ngũ giảng viên; nhóm giải pháp về cơ sở vật chất; nhóm giải pháp về phương pháp giảng dạy và nhóm giải pháp về sự phối hợp các phòng ban chức năng về công tác GDTC.

Nguyễn Thị Thư (2018), Thông qua đánh giá thực trạng công tác GDTC sinh viên trong những năm gần đây, đã cải tiến chương trình GDTC nhằm nâng cao thể lực và kết quả học tập cho sinh viên ĐHQGHN, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo theo định hướng phát triển giáo dục của Trung tâm TDTT[84].

Vũ Đức Thu và cộng sự (1998) qua“Nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác GDTC và phát triển TDTT trong nhà trường các cấp” đã đánh giá khá toàn diện hoạt động giảng dạy TDTT nội khóa, hoạt động TDTT ngoại khóa… đồng thời, đề xuất tiêu chuẩn đánh giá thực hiện công tác GDTC trường học trên các mặt: trường có dạy thể dục, trường thực hiện có nề nếp chương trình GDTC, hoạt động ngoại khoá của học sinh, sinh viên [75].

Nguyễn Văn Thái (2006), qua nghiên cứu“Thực trạng và định hướng phát triển công tác GDTC ở Đại học Cần Thơ” [69] đã đánh giá tổng quát về thực trạng chương trình GDTC nội khóa, hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa, cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên, đồng thời đã đưa ra các định hướng để phát triển công tác GDTC. Tuy nhiên thời gian nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Thái vào những năm 1990-1996, trong bối cảnh Giáo dục Đại học Việt Nam chưa chuyển sang đào tạo theo học chế tin chỉ, vì vậy chỉ phù hợp với chương trình giảng dạy theo niên chế.

Bùi Bảo Trung (2012), qua “Nghiên cứu tổ chức hoạt động CLB môn cầu lông ngoại khóa cho sinh viên trường Đại học Hoa Sen”[88], đã lấy mô hình thí điểm của hoạt động CLB cầu lông, để làm tiền đề phát triển phong trào TDTT ngoại khóa cho sinh viên trường Đại học Hoa Sen.

Phạm Đức Viễn (2013) với Nghiên cứu biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động các CLB TDTT sinh viên trường Đại học Tây Bắc [97] cũng đã đưa ra các mô hình CLB truyền thống, các mô hình CLB nước ngoài và chọn ra một mô hình CLB đặc trưng của trường. Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các biện pháp tuyên truyền, vận động, tổ chức chỉ đạo, định hướng phát triển, thu hút nguồn lực nhân sự và tài chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động CLB TDTT sinh viên trường Đại học Tây Bắc.

Hoàng Minh Đức (2014), đã “Nghiên cứu xây dựng chương trình giảng dạy môn bóng rổ tự chọn cho học sinh nam tại trường trung cấp kỹ thuật và nghiệp vụ nam Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh” [29]. Từ nghiên cứu thực trạng, tác giả đã xây dựng chương trình môn bóng rổ với thời lượng 60 tiết (môn thể thao tự chọn),

lựa chọn phương pháp giảng dạy thích hợp; từ đó, qua áp dụng thực tế đã nâng cao chất lượng giảng dạy và kết quả học tập của sinh viên trường Trung cấp Kỹ thuật nghiệp vụ Sài gòn, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trần Ngọc Cương (2018), đã tiến hành “Nghiên cứu xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình Câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ của sinh viên Trường Đại học Sài Gòn” [24]. Luận án xây dựng được cấu trúc và nội dung chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình CLB thông qua kết quả phỏng vấn giảng viên,chuyên gia GDTC. Chương trình các học phần thể thao tự chọn được xây dựng trên 5 môn: Bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, bóng rổ, cầu lông với thời lượng môn GDTC là 90 tiết (3 tín chỉ). Chương trình được tiến hành trong khuôn khổ đảm bảo tính khoa học, đáp ứng nhu cầu thực tiễn.

Lê Trường Sơn Chấn Hải (2012) trong nghiên cứu“Đổi mới chương trình Giáo dục thể chất cho sinh viên các trường đại học sư phạm vùng Trung Bắc theo hướng bồi dưỡng nghiệp vụ tổ chức hoạt động TDTT trường học đã chuyển chương trình GDTC của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 theo định hướng đào tạo “nghề” nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác GDTC đối với sinh viên; trang bị cho sinh viên kiến thức và kỹ năng tổ chức các hoạt động thể thao ngoại khóa phục vụ công tác giáo dục học sinh [33].

Một số nghiên cứu quan tâm tới việc đưa một số môn thể thao dân tộc, trò chơi dân gian của các dân tộc miền núi, dân tộc ít người vào trong giáo dục thể chất ở các cấp học cần được kể đến: Gồm Nguyễn Ngọc Kim Anh (2013),

“nghiên cứu phát triển TDTT quần chúng xã, bản vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc”; Hoàng Công Dân (2005), “nghiên cứu phát triển thể chất học sinh các trường Phổ thông dân tộc nội trú khu vực miền núi phía Bắc”; Nguyễn Đức Ninh (2018),“Nghiên cứu phát triển các môn thể thao dân tộc cho học sinh trung học cơ sở của tỉnh Thái Nguyên”; Lê Anh Thơ (2010), Một số trò chơi vận động dân gian và thể thao dân tộc; Nguyễn Đức Thụy (2016),“Nghiên cứu một số giải pháp phát triển môn thể thao dân tộc cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng miền núi phía Bắc”; [1], [25], [55], [73], [76]. Các công trình này

nghiên cứu về đặc điểm vùng miền, tâm, sinh lý của các em học sinh, sinh viên ở các tỉnh trung du miền núi phía Bắc tổ quốc, nghiên cứu các môn thể thao dân tộc, trò chơi dân gian để có thể đưa được vào các chương trình môn học giáo dục thể chất trong các trường phổ thông và đại học và đã mang lại kết quả khả quan trong giáo dục và đào tạo.

Phân tích kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, cho thấy có nhiều điểm tương đồng với nội dung mà Luận án nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu của các tài liệu ở trên chủ yếu tập trung vào các vấn đề có liên quan đến đánh giá chương trình, xây dựng chương trình, xây dựng tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá chương trình và công tác đảm bảo chất lượng của các cơ sở đào tạo, chương trình đào tạo, mô hình phát triển. Có nhiều nghiên cứu đề cập đến việc lựa chọn các môn thể thao đặc thù cho các dân tộc để đưa vào chương trình môn học giáo dục thể chất với tư cách là các môn học tự chọn.

Kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu nêu trên là những luận cứ quan trọng để tác giả luận án phân tích, đánh giá, lựa chọn và giải quyết các nội dung quan trọng của đề tài.

Tuy vậy, các nghiên cứu nêu trên chưa đề cập đến vai trò môn học giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra các chương trình đào tạo của các ngành đào tạo trong một trường đại học cụ thể như thế nào; chương trình môn học giáo dục thể chất phải xây dựng như thế nào để đáp ứng chuẩn đầu ra đó. Cũng chưa có một nghiên cứu nào đề xuất về xây dựng chương trình môn học GDTC phù hợp với với sở thích, nguyện vọng, năng khiếu, thể lực, tâm sinh lý và đặc điểm vùng miền của sinh viên các trường đại học thành viên của Đại học Thái Nguyên và sinh viên của Trường Đại học Việt Bắc nhằm nâng cao kết quả học tập môn học GDTC nói riêng và chất lượng đào tạo nói chung.

Kết luận chương 1

Quan điểm của Đảng và Nhà nước luôn coi Giáo dục và Đào tạo có một vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của kinh tế - xã hội, không ngừng đổi mới để phù hợp với thực tiễn của nền kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn.

Trong đó công tác TDTT và GDTC trường học cũng được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp từ Bộ GD&ĐT về việc cập nhật, đổi mới liên tục và toàn diện nhằm góp phần nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực.

Chương trình giáo dục là tập hợp có trình tự các nội dung được giảng dạy của một khóa học ở nhà trường, tiếp cận xây dựng chương trình giáo dục theo ba cách cơ bản: Tiếp cận nội dung, tiếp cận mục tiêu và tiếp cận phát triển.

Xây dựng chương trình giáo dục cần có quy trình thiết kế rõ ràng và không ngừng phát triển cải tiến chương trình giáo dục sau khi đã xây dựng để phù hợp với giáo dục thực tiễn.

Chương trình môn học là một bản kế hoạch cho nhà trường trong đó thể hiện rõ mục tiêu, thời gian, nội dung, cách thức thực hiện, cách kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong một môn học cụ thể, được dựa trên chương trình quốc gia, chương trình nhà trường và kế hoạch hoạt động của nhà trường. Xây dựng chương trình môn học cần đảm bảo mục tiêu, thời gian, chuẩn đầu ra, nội dung, phương pháp, cách thực hiện, cách đánh giá.

Xây dựng và phát triển nền thể dục thể thao là để nâng cao sức khỏe, cải thiện tầm vóc con người Việt Nam, tăng tuổi thọ và cải thiện giống nòi. GDTC trường học là một bộ phận không thể thiếu trong giáo dục và đào tạo, góp phần đào tạo ra những thế hệ con người hoàn thiện cả về nhân cách, trí lực và thể lực.

GDTC vừa là một mặt giáo dục vừa là môn học chính khóa thuộc chương trình giáo dục trong các cấp học và bậc học.

GDTC không chỉ là một môn học trong chương trình giáo dục đào tạo từ mẫu giáo đến đại học, mà còn là nội dung hoạt động của tuổi trẻ học đường, là phương tiện của nhà giáo để tiến hành giáo dục ý thức đạo đức nghề nghiệp của học sinh, sinh viên. Trong xu hướng đổi mới đào tạo đại học, đào tạo theo hệ thống tín chỉ, GDTC trong các trường đại học hiện nay đang hướng tới đào tạo theo tự chọn, nhằm đa dạng hóa hướng chuyên môn phong phú về nội dung và hình thức học tập.

Trường Đại học Việt Bắc là trường đại học tư thục, đa ngành, có sứ mạng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, triển khai nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của khu vực trung du miền núi phía bắc và cả nước. Qua quá trình xây dựng và phát triển Trường cũng đã đạt được một số thành tựu nhất định về cơ cấu, tổ chức, cơ sở vật chất và chất lượng đào tạo. Nhà trường vẫn đang không ngừng rà soát, đổi mới các chương trình đào tạo để phù hợp với nhu cầu thực tiễn của xã hội.

Từ phân tích trên cho thấy, việc nghiên cứu xây dựng và ứng dụng chương trình GDTC mới cho sinh viên trường Đại học Việt Bắc là cần thiết, có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh giáo dục Việt Nam hiện nay.

Một phần của tài liệu Luan An Ma Thi Ngan.pdf (Trang 57 - 64)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(206 trang)