Bàn luận về xây dựng, ứng dụng và đánh giá hiệu quả chương trình môn học Giáo dục thể chất

Một phần của tài liệu Luan An Ma Thi Ngan.pdf (Trang 140 - 200)

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.2. Xây dựng, ứng dụng và đánh giá hiệu quả chương trình môn học Giáo dục thể chất cho sinh viên trường Đại học Việt Bắc

3.2.3. Bàn luận về xây dựng, ứng dụng và đánh giá hiệu quả chương trình môn học Giáo dục thể chất

Bàn luận về xây dựng chương trình môn học GDTC

Tác giả đã tuân thủ các mục tiêu cơ bản của chương trình GDTC do Bộ GD&ĐT ban hành dựa trên Quyết định số 43/2007/QĐ-Bộ GD&ĐT về đào tạo đại học và cao đẳng theo hệ thống tín chỉ [10]. Trang bị cho sinh viên kiến thức và kỹ năng cần thiết để rèn luyện thân thể, chương trình GDTC đảm bảo được mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể, đáp ứng được yêu cầu về chuẩn đầu ra. Như vậy, mục tiêu chương trình GDTC cải tiến nhằm hoàn thiện và phát triển thể chất theo hướng tự chọn đáp ứng được mục tiêu rèn luyện thân thể, đồng thời có khả năng tham gia vào các hoạt động TDTT trong và ngoài trường.

Nội dung của chương trình mang tính chất quyết định về phạm vi và mức độ hoàn thiện mục tiêu của chương trình. Nội dung chương trình được thiết kế theo định hướng phù hợp với điều kiện đào tạo, về cơ sở vật chất, về đội ngũ cán bộ giảng viên. Nội dung chương trình mới xây dựng đa dạng, có nhiều nội dung cho sinh viên lựa chọn, đáp ứng mục tiêu “lấy người học làm trung tâm” trong đào tạo. Các nội dung môn học được lựa chọn thể hiện tính cập nhật mới về cấu trúc, nội dung.

Cấu trúc chương trình căn cứ vào đề cương chi tiết của chương trình Giáo dục thể chất nội khóa đã xây dựng theo hình thức học phần có các môn thể thao tự chọn 2 tín chỉ, rất khác so với chương trình Giáo dục thể chất cũ không có học phần tự chọn. Giảng viên triển khai giờ học theo hướng tích cực tạo động lực cho sinh viên học tập, sinh viên có sự chủ động tham gia vào nội dung, mục tiêu, định hướng hoạt động của giờ học, coi giờ học là hoạt động cung cấp kiến thức, kĩ năng để sinh viên triển khai học tập theo nhóm và tự học tập, thông qua đó hình thành thói quen rèn luyện thường xuyên cho bản thân.

Công tác kiểm tra đánh giá được cụ thể hơn, tỉ trọng đánh giá các mặt đã có sự thay đổi: Điểm chuyên cần được nâng lên 20% nhằm thúc đẩy tinh thần tự giác tập luyện của người học, kiểm tra giữa kỳ 20% và thi kết thúc môn học 60%, có tác dụng định hướng rõ ràng nhằm đánh giá xuyên suốt trong quá trình dạy và học, thông qua công tác kiểm tra, đánh giá giảng viên nắm bắt đựợc tình hình học tập của sinh viên và điều chỉnh nội dung, phương pháp giảng dạy phù hợp hơn.

Thời lượng chương trình được giữ nguyên 3 tín chỉ, nội dung chương trình lại phong phú hơn (đã có các nội dung tự chọn và số lượng môn tự chọn cũng nhiều), càng đáp ứng nhu cầu và năng lực học tập của sinh viên, có thêm các môn thể thao dân tộc ở hai học phần tự chọn, góp phần giới thiệu các nét đẹp văn hóa cổ truyền của Việt Nam tới các nước khác qua lưu học sinh các nước Lào, Campuchia, Hàn Quốc và quan trong hơn cả là để cho các thế hệ sinh viên, những chủ nhân tương tai của đất nước tìm hiểu, giữ gìn và phát huy những nét tinh hoa văn hóa truyền thống của dân tộc. Chương trình được xây dựng có quy định về mục tiêu có mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể rõ ràng (trong khi chương trình Giáo dục thể chất cũ chỉ có mục tiêu chung), kiến thức, thái độ cụ thể, phương pháp giảng dạy rõ ràng với từng học phần môn học.

Xác định các môn tự chọn phù hợp với lứa tuổi, giới tính, phù hợp với trình độ sinh viên bậc đại học và đặc biệt là đặc điểm vùng miền chủ yếu là con em các dân tộc miền núi phía Bắc. Chương trình giảng dạy theo trình tự từ dễ đến khó, đảm bảo cho người học lĩnh hội được kiến thức nội dung chương trình.

Việc thực hiện 2 tiết tự học trên 1 tuần được xác định cụ thể trong đề cương chi tiết, hướng dẫn sinh viên cách học, tài liệu học tập rõ ràng và có kiểm tra đánh giá hiệu quả 2 giờ tự học của sinh viên thông qua công tác kiểm tra đánh giá quá trình của giảng viên với sinh viên; đánh giá của sinh viên với sinh viên.

Điểm khác biệt lớn nhất của chương trình môn học Giáo dục thể chất này so với chương trình môn học Giáo dục thể chất cũ là ngoài học phần bắt buộc đã có 2 học phần tự chọn và có tới 8 nội dung thể thao để sinh viên lựa chọn, trong

đó có các môn thể thao dân tộc trong 2 học phần tự chọn. Đây là những môn truyền thống và phổ biến của các dân tộc thiểu số phía Bắc, các môn này đã được Uỷ ban TDTT đưa vào là nội dung chính thức của Hội thi thể thao các dân tộc thiểu số miền núi, các cuộc thi Hội khỏe phù đổng toàn quốc, Đại hội TDTT toàn quốc....

Qua tìm hiểu và so sánh chương trình môn học GDTC mới xây dựng cho SV trường ĐHVB với một số chương trình GDTC ở các trường Đại học trong tỉnh Thái Nguyên tác giả thấy: Chương trình môn học của các trường đều có 2 phần là phần bắt buộc và phần tự chọn, nhưng số học phần (số tín chỉ) môn GDTC ở các trường lại khác nhau: Trường ĐH Sư phạm Thái Nguyên, trường ĐH Kỹ thuật Công nghiệp, trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên thì học 5 học phần (1 học phần bắt buộc và 4 học phần tự chọn), còn các trường: ĐH Y - dược Thái Nguyên, trường ĐH Khoa học, trường ĐH Công nghệ thông tin và Truyền thông Thái Nguyên, Trường Ngoại ngữ thì học 3 học phần (1 học phần bắt buộc và 2 học phần tự chọn), tất cả các học phần tư chọn ở các trường đều là thể thao hiện đại phổ biến như: Bóng chuyền, Bóng đá, Cầu lông, Bóng bàn, Tennis, Bơi lội, Đá cầu, Teakwondo…Và chương trình môn GDTC của 3/8 trường chưa có 2 tiết tự học và chưa có trường nào đưa các môn thể thao dân tộc vào các học phần tự chọn. Và nội dung các học phần tự chọn đều có ở tất cả các trường, ĐH Sư phạm Thái Nguyên, ĐH Kinh tế và Quản trị kinh doanh, ĐH Kỹ thuật Công nghiệp, ĐH Y - dược Thái Nguyên, Đại học Khoa học, ĐH Nông lâm Thái Nguyên, ĐH Công nghệ thông tin và Truyền thông Thái Nguyên, Trường Ngoại ngữ.

Xây dựng chương trình môn học Giáo dục thể chất đáp ứng đúng quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; đáp ứng yêu cầu về chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ của trường Đại học Việt Bắc; đáp yêu cầu mục tiêu, nội dung, cấu trúc và hình thức kiểm tra đánh giá: gồm 3 học phần (01 học phần bắt buộc, 02 học phần tự chọn với 8 môn thể thao) đa dạng nhiều môn thể thao để sinh viên lựa chọn đáp ứng được mục tiêu đào tạo. Nội dung và cấu trúc chương trình đáp

ứng được yêu cầu đào tạo theo hệ thống tín chỉ, chương trình có 2 tiết tự học từ, đó đẩy mạnh phong trào hoạt động ngoại khóa, tăng cường các hoạt động giao lưu, thi đấu TDTT.

Bàn luận về ứng dụng và đánh giá hiệu quả chương trình mới xây dựng Luận án đã tiến hành thực nghiệm song song hai chương trình (chương trình cũ và chương trình luận án mới xây dựng) trong một năm học đối với sinh viên trường Đại học Việt Bắc, Thực nghiệm chứng tỏ:

Kết quả xếp loại học tập của nhóm TN đạt thành tích cao hơn so với nhóm ĐC, tỉ lệ sinh viên đạt khá, giỏi và suất xắc tăng lên, tỉ lệ SV xếp loại yếu, trung bình đã giảm đi.

Đánh giá xếp loại thể lực của nhóm TN cũng cao hơn so với nhóm ĐC. Qua khảo sát lấy ý kiến sinh viên và giảng viên về mục tiêu, nội dung, cấu trúc chương trình môn học Giáo dục thể chất, hứng thú của sinh viên trong học tập đều có tỉ lệ đánh giá cao, trên 75% đồng ý với chương trình mới xây dựng. Điều đó cho thấy hiệu quả của chương trình môn học Giáo dục thể chất mới xây dựng.

Cảm nhận của giảng viên và sinh viên sau khi tham gia chương trình thực nghiệm đều cho rằng việc xây dựng một chương trình mới như vậy là rất cần thiết. Mục tiêu, nội dung, cấu trúc và hình thức kiểm tra - đánh giá của chương trình môn học đã được rõ ràng và hoàn toàn hợp lý. Chương trình đã phù hợp, đáp ứng được nhu cầu học tập và rèn luyện của người học.

Đánh giá của giảng viên giảng dạy môn học GDTC mới xây dựng tại trường ĐHVB đề cho thấy Mục tiêu chương trình môn học GDTC đều đáp ứng các yêu cầu về tính pháp lý, tính khoa học, tính kế thừa và phát triển giữa các cấp học; cung cấp đầy đủ kiến thức, kỹ năng cho học sinh; hình thành và duy trì thói quen tập luyện thể dục, thể thao thường xuyên, gắn với giáo dục đạo đức, xây dựng lối sống lành mạnh, rèn luyện ý chí, phẩm chất phù hợp với đặc điểm thể chất, tâm sinh lý, lứa tuổi và điều kiện cụ thể của học sinh;

Chương trình môn học GDTC mới xây dựng có hiệu quả cao hơn so với chương trình cũ là do:

Chương trình mới, ngoài học phần bắt buộc sinh viên còn được lựa chọn nội dung khác ở hai học phần tự chọn điều đó đáp ứng được nhu cầu, sở thích cá nhân, của người học, đáp ứng được đặc điểm vùng miền để người học tham gia các hoạt động TDTT tại các địa phương sau khi tốt nghiệp và tập luyện một môn thể thao suốt đời.

Ngoài ra, sau 2 tiết học nội khóa trong tuần, có thêm 2 tiết tự học để tự nghiên cứu, hoàn thiện các kĩ năng, kĩ xảo động tác từ đó phát huy tính tự giác, tích cực sáng tạo của người học.

Điều kiện cơ sở vật chất - trang thiết bị TDTT và đội ngũ giảng viên của Nhà trường đáp ứng được thực hiện chương trình môn học GDTC mới xây dựng.

Cấu trúc chương trình môn học bảo đảm hài hòa giữa kiến thức cơ bản và nội dung tự chọn, khuyến khích các môn thể thao truyền thống như võ cổ truyền, trò chơi dân gian, đáp ứng nhu cầu đa dạng và tạo động lực cho học sinh, sinh viên tự rèn luyện thân thể.

Đổi mới nội dung, hình thức tổ chức hoạt động thể thao trường học theo hướng đa dạng, phong phú, phù hợp với điều kiện, đặc điểm cụ thể nhà trường...Phát triển các loại hình câu lạc bộ thể dục, thể thao trong trường học;

chú trọng phát triển đa dạng các môn thể thao, khuyến khích sinh viên tham gia các hoạt động thể thao ngoại khóa. Hình thức kiểm tra - đánh giá chương trình đảm bảo tính minh bạch, công tâm, phù hợp với mục tiêu của môn học, khuyến khích được SV học tập và tham gia các hoạt động TDTT đạt hiệu quả hơn.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Kết luận

1. Chương trình môn học Giáo dục thể chất hiện hành tại trường Đại học Việt Bắc gồm 90 tiết (3 tín chỉ) chia làm 3 học phần đều bắt buộc; Mục tiêu, nội dung, cấu trúc và hình thức kiểm tra - đánh giá của chương trình chỉ ở mức trung bình. Các điều kiện đảm bảo như đội ngũ GV đạt yêu cầu về chuyên môn, điều kiện sân bãi, dụng cụ phục vụ cho công tác Giáo dục thể chất trường Đại học Việt Bắc đảm bảo việc tổ chức giảng dạy chính khóa tuy nhiên cần bổ sung thêm cho hoạt động ngoại khóa của SV còn chưa tích cực. Kết quả học tập môn Giáo dục thể chất của sinh viên nhìn chung đa số chỉ ở mức trung bình (56,7%) tỷ lệ sinh viên xếp loại yếu còn nhiều (13,8%), tỷ lệ giỏi, xuất sắc còn thấp (9,3%).

Thể lực của sinh viên trường Đại học Việt Bắc còn hạn chế, nhiều SV còn chưa đạt yêu cầu (37,44%) so với quy định đánh giá xếp loại của Bộ GD&ĐT.

2. Luận án đã xây dựng chương trình môn học Giáo dục thể chất với nội dung đào tạo gồm 1 học phần bắt buộc, và 2 học phần thể thao tự chọn mỗi học phần 30 tiết; Học phần tự chọn với 8 nội dung (trong đó có nội dung các môn thể thao dân tộc) ngoài ra có thêm 2 giờ tự học. Ứng dụng chương trình môn học Giáo dục thể chất mới xây dựng trong hai học kỳ cho nhóm TN đã chứng tỏ nhóm TN không những có kết quả học tập tốt hơn mà thể lực cũng tốt hơn hẳn nhóm ĐC, nhóm áp dụng chương trình hiện hành trong thời gian tương đồng (P<0.05), đồng thời tạo cho SV nhiều cảm xúc lành mạnh, hoạt động TDTT ngoại khóa nhóm TN có hứng thu hơn, tự giác, tích cực tham gia thường xuyên hơn.

Kiến nghị

1. Trường Đại học Việt Bắc cho phép ứng dụng chương trình môn học GDTC mà luận án đã xây dựng vào thực tiễn đào tạo của trường để tiếp tục kiểm chứng sâu và toàn diện hiệu quả. Ban giám hiệu cần quan tâm nhiều hơn nữa về công tác quản lý, tuyển dụng, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho giảng viên, đáp ứng với mục tiêu, nhu cầu đào tạo sinh viên. Cần có chính sách cụ thể để xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư kinh phí và phát triển các hoạt động TDTT trong nhà trường, nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất để sinh viên rèn luyện thân thể.

2. Vấn đề xây dựng chương trình GDTC cần được các nhà nghiên cứu trong ngành tiếp tục nghiên cứu sâu hơn để ứng dụng cho công tác thể dục thể thao các trường đại học trong cả nước, nhằm nâng cao chất lượng công tác GDTC trong trường học.

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH

NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. (2021), Selecting Criteria to Evaluate Conditions Ensuring the Imlementation of the Physical Education Program of Viet Bac University, Multi-Disciplinary International Research Journal, Vol -XIII, Issue -VIII, September 2021.

2. (2021), The actual situation of physical education work at Viet Bac University, Physical Educaltion and Sports training in the Context of the Industrial Revolution 4.0.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Ngọc Kim Anh (2013), “nghiên cứu phát triển TDTT quần chúng xã, bản vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc”, Luận án tiến sĩ.

2. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Nghị Quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

3. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập ( VI, VII, VIII, IX, X, XI), Nxb Chính trị quốc gia-sự thật, Hà Nội 2013.

4. Bộ giáo dục và đào tạo (1996), Nghị quyết Trung Ương 2 khóa VIII ,Định hướng chiến lượt phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

5. Bộ giáo dục và đào tạo (1997), Quyết định số 1262/GD-ĐT ngày 12 tháng 4 năm 1997 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành Chương trình Giáo dục thể chất (giai đoạn II) giảng dạy trong các trường đại học và cao đẳng (không chuyên thể dục thể thao).

6. Bộ giáo dục và đào tạo (2001). Quyết định số 42/2001/QĐ. BGD - ĐT V/v “Quy chế GDTC và y tế trường học”.

7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Chỉ thị số 25/2004/CT-BGD&ĐT , ngày 2 tháng 8 năm 2004 Chỉ thị về nhiệm vụ của toàn ngành năm học 2004-2005.

8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Chỉ thị Số 12/2005/CT-BGD&ĐT, ngày 07/04/2005, Về việc tăng cường công tác giáo dục thể chất và hoạt động thể thao.

9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Quyết định 65/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 1 tháng 11 năm 2007, Ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học.

10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Quyết định Số: 43/2007/QĐ-BGDĐT  ngày 15 tháng 8 năm 2007, Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ.

11. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT, ngày 18 tháng 9 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT “Ban hành quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên”.

12. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Quyết định số 38/2004/QĐ- BGD&ĐT ban hành Quy định tạm thời về kiểm định chất lượng trường đại học.

13. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Công văn số 6832/BG&ĐT-HSSV ngày 04 tháng 8 năm 2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn thực hiện công tác học sinh, sinh viên, Giáo dục thể chất và y tế trường học năm học 2006 - 2007.

14. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Thông tư 08/2011/TT-BDĐT, ngày 17/12/2011, quy định cụ thể nội dung cơ bản của một chương trình đào tạo.

15. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Thông tư số 57/2012/TT-BGDĐT ngày 27 tháng 12 năm 2012, sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ.

16. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Quyết đinh số 17/VBHN-Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 15/5/2014 , Quy chế đào tạo đại học, cao đẳng theo hệ thống tín chỉ.

17. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015), thông tư số 25/2015/TT-BGDĐT, ngày 14/10/2015, Quy định về chương trình GDTC thuộc các chương trình đào tạo.

18. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015), Thông tư Số: 07/2015/TT-BGDĐT ban hành quy định về khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp đối với mỗi trình độ đào tạo của giáo dục đại học và quy trình xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ, ngày 16 tháng 4 năm 2015.

19. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2016), Thông tư số 04/2016/TT-BGDĐT ngày 14/3/2016 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học.

20. Nguyễn Đức Chính (2008), Thiết kế và đánh giá chương trình đào tạo, Tập bài giảng, Hà Nội.

Một phần của tài liệu Luan An Ma Thi Ngan.pdf (Trang 140 - 200)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(206 trang)