ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH PHẠM THỊ QUỲNH NGA GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG KHỞI NGHIỆP Ở VIỆT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ THÁI NGUYÊN 2023 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TR[.]
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
-
PHẠM THỊ QUỲNH NGA
GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG
KHỞI NGHIỆP Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2023
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
-
PHẠM THỊ QUỲNH NGA
GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG
KHỞI NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 9 31 01 10
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Công Toàn
TS Ngô Thị Việt Nga
THÁI NGUYÊN - 2023
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ “Giải pháp thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở
Việt Nam” là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Không sao chép bất kỳ
một công trình hay một luận án của các tác giả khác Các số liệu và trích dẫn nêu
trong luận án là hoàn toàn trung thực
Tác giả luận án
Phạm Thị Quỳnh Nga
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện Luận án “Giải pháp thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp
ở Việt Nam” tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của các
thầy cô giáo tại trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh; Phòng Đào tạo, các thầy cô giáo Khoa Quản lý - Luật Kinh tế, các thầy cô giáo bộ môn đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong suốt quá trình hình thành luận án
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Công Toàn và TS Ngô Thị Việt Nga đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận án
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Tổng Cục Thống kê, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo quốc gia (NSSC), các Sở Kế hoạch và Đầu tư của các tỉnh đã tạo điều kiện cho tôi tiến hành nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc nhất tới gia đình và bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ tôi thực hiện luận án
Tác giả luận án
Phạm Thị Quỳnh Nga
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC HÌNH, HỘP ix
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Những đóng góp của luận án 4
5 Kết cấu luận án 5
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG KHỞI NGHIỆP 6
1.1 Các nghiên cứu của nước ngoài về thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp 6
1.2 Các nghiên cứu trong nước về thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp 10
1.3 Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khởi nghiệp 15
1.4 Khoảng trống nghiên cứu 17
1.4.1 Đánh giá chung về kết quả của các công trình đã nghiên cứu 17
1.4.2 Khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu 18
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG KHỞI NGHIỆP 21
2.1 Lý luận chung về thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp 21
2.1.1 Các khái niệm có liên quan 21
2.1.2 Các lý thuyết, đặc điểm và vai trò thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp 28
2.2 Nội dung thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp 34
2.2.1 Xây dựng và ban hành các chính sách thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp 34
2.2.2 Hỗ trợ phát triển các ý tưởng khởi nghiệp 35
2.2.3 Xây dựng và liên kết các tổ chức trong hệ sinh thái khởi nghiệp 36
2.2.4 Hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp khởi nghiệp 38
Trang 62.2.5 Hoạt động kiểm tra, giám sát công tác hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp 41
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khởi nghiệp 42
2.3.1 Vốn con người 42
2.3.2 Văn hóa địa phương và văn hóa doanh nghiệp 43
2.3.3 Khả năng tiếp cận tài chính 44
2.3.4 Mối quan hệ giữa các thành phần trong hệ sinh thái khởi nghiệp 45
2.3.5 Môi trường kinh doanh 46
2.4 Kinh nghiệm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp của các quốc gia 46
2.4.1 Kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp 46
2.4.2 Bài học kinh nghiệm về thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam 51
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 53
3.1 Câu hỏi nghiên cứu 53
3.2 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu 53
3.2.1 Tiếp cận kế thừa những công trình đã có 53
3.2.2 Phương pháp tiếp cận hệ thống 53
3.2.3 Tiếp cận có sự tham gia 54
3.3 Khung phân tích và giả thuyết nghiên cứu về thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam 54
3.3.1 Khung phân tích về thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam 54
3.3.2 Các giả thuyết nghiên cứu 55
3.4 Quy trình nghiên cứu 56
3.5 Nghiên cứu định tính thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam 57
3.5.1 Mục đích 57
3.5.2 Phương pháp nghiên cứu 58
3.5.3 Quy trình thực hiện nghiên cứu định tính 59
3.5.4 Kết quả nghiên cứu định tính 60
3.6 Phương pháp thu thập thông tin 62
3.6.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 63
3.6.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 63
Trang 73.6.3 Phương pháp phân tích thông tin 67
3.7 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 69
Chương 4: THỰC TRẠNG THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG KHỞI NGHIỆP Ở VIỆT NAM 72
4.1 Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Việt Nam 72
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 72
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 73
4.1.3 Thuận lợi và khó khăn từ điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đối với thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam 76
4.2 Thực trạng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam 78
4.3 Thực trạng thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam 85
4.3.1 Xây dựng và ban hành các chính sách thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp 85
4.3.2 Hỗ trợ phát triển các ý tưởng khởi nghiệp 94
4.3.3 Xây dựng và liên kết các thành phần trong hệ sinh thái khởi nghiệp 96
4.3.4 Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam 100
4.3.5 Hoạt động kiểm tra, giám sát công tác hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp 114
4.4 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam 116
4.4.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 116
4.4.2 Phân tích thống kê mô tả về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam 118
4.4.3 Kết quả kiểm định thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha 126
4.4.4 Kết quả kiểm định thang đo bằng phân tích yếu tố khám phá (EFA) 128
4.4.5 Phân tích mô hình hồi quy đa biến về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam 130
4.5 Đánh giá chung về thực trạng thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam 133
4.5.1 Những mặt đạt được trong thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam 133
4.5.2 Những vấn đề còn tồn tại thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam 134
4.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam 137 Chương 5: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG KHỞI NGHIỆP Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2035 139
5.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước ảnh hưởng đến quá trình thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam 139
Trang 85.1.1 Bối cảnh quốc tế 139
5.1.2 Bối cảnh trong nước 139
5.2 Mục tiêu, quan điểm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam 140
5.2.1 Mục tiêu tổng quát 140
5.2.2 Mục tiêu cụ thể 141
5.2.3 Quan điểm chỉ đạo 142
5.3 Giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam trong thời gian đến năm 2025 và tầm nhìn 2030 143
5.3.1 Cơ sở của hệ thống giải pháp 143
5.3.2 Giải pháp thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam thời gian tới 144
5.4 Một số kiến nghị 164
5.4.1 Kiến nghị với Chính phủ 164
5.4.2 Kiến nghị với Bộ Tài chính 164
5.4.3 Kiến nghị với Bộ Khoa học & Công nghệ 165
5.4.4 Kiến nghị với Bộ Kế hoạch và Đầu tư 165
KẾT LUẬN 166
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 168
TÀI LIỆU THAM KHẢO 169
PHỤ LỤC 185
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ tiếng Việt
1 BKHCN Bộ Khoa học & Công nghệ
10 KH&CN Khoa học & Công nghệ
11 KNĐMST Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Phân tổ mẫu nghiên cứu 65
Bảng 3.2 Thang đo quãng Likert đo lường mức độ đồng ý 66
Bảng 4.1 Kết quả hoạt động khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam 79
Bảng 4.2 Khảo sát tỷ lệ đồng ý về các chính sách nâng cao hiệu quả hoạt động khởi nghiệp 92
Bảng 4.3 Khảo sát tỷ lệ đồng ý về chính sách nâng cao hiệu quả đầu ra cho khởi nghiệp 93
Bảng 4.4 Tổng hợp kết quả hỗ trợ ý tưởng khởi nghiệp ở Việt Nam 95
Bảng 4.5 Phân cấp quản lý của các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp Việt Nam 99
Bảng 4.6 Hỗ trợ của nhà đầu tư thiên thần 108
Bảng 4.7 Hỗ trợ của vườn ươm doanh nghiệp cho giai đoạn ươm mầm 108
Bảng 4.8 Giai đoạn đầu tư của DNKN 109
Bảng 4.9 Các hoạt động đào tạo, tuyên truyền, tập huấn về hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo 110
Bảng 4.10 Khảo sát ý kiến đánh giá về chương trình tập huấn, hỗ trợ về đào tạo 113
Bảng 4.11 Khảo sát ý kiến về đề xuất về chính sách đào tạo nguồn nhân lực 113 Bảng 4.13 Mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu 116
Bảng 4.14 Đánh giá về yếu tố vốn con người 119
Bảng 4.15 Đánh giá về yếu tố văn hoá địa phương và doanh nghiệp 120
Bảng 4.16 Đánh giá về yếu tố khả năng tiếp cận tài chính 122
Bảng 4.17 Đánh giá về yếu tố kết nối thành phần trong hệ sinh thái khởi nghiệp 123 Bảng 4.18 Đánh giá về yếu tố môi trường kinh doanh 125
Bảng 4.19 Đánh giá về yếu tố hoạt động khởi nghiệp 126
Bảng 4.20 Kiểm định thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha 126
Bảng 4.21 Tổng hợp kết quả phân tích EFA các biến 128
Bảng 4.22 Kết quả phân tích EFA tổng thể mô hình nghiên cứu 128
Bảng 4.23 Kiểm định tương quan giữa các biến 129
Bảng 4.24 Phân tích hồi quy về các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam 131
Bảng 4.25 Giá trị Beta chuyển hóa của các biến 132
Trang 11DANH MỤC HÌNH, HỘP Hình
Hình 2.1 Mô hình thiết lập và thực thi mục tiêu 31 Hình 2.2 Mô hình liên kết giữa các tổ chức trong hệ sinh thái khởi nghiệp 38 Hình 3.1 Khung phân tích thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam 55 Hình 3.2 Quy trình nghiên cứu 56 Hình 3.3 Mô hình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khởi
nghiệp ở Việt Nam 69 Hình 4.1 Xếp hạng chỉ số ĐMST toàn cầu của các nước thuộc khối
ASEAN giai đoạn 2014 - 2021 81 Hình 4.2 Xếp hạng các nhóm chỉ số ĐSMT toàn cầu của Việt Nam giai
đoạn 2016 - 2021 82 Hình 4.3 Biểu đồ phân loại tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp ở Việt Nam theo
hình thức sở hữu 99 Hình 4.4 Biểu đồ doanh nghiệp đang hoạt động giai đoạn 2017 - 2021 100 Hình 4.5 Biểu đồ doanh nghiệp thành lập mới giai đoạn 2017 - 2021 101 Hình 4.6 Biểu đồ doanh nghiệp quay trở lại hoạt động giai đoạn 2017 - 2021 102 Hình 4.7 Biểu đồ doanh thu theo khu vực kinh tế, loại hình doanh nghiệp
và quy mô doanh nghiệp 103 Hình 4.8 Biểu đồ lợi nhuận theo khu vực kinh tế, loại hình doanh nghiệp
và quy mô doanh nghiệp 104 Hình 4.9 Biểu đồ vốn đầu tư vào doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam 105 Hình 4.10 Biểu đồ cơ cấu nguồn vốn theo khu vực kinh tế, loại hình doanh
nghiệp và quy mô doanh nghiệp 106 Hình 4.11 Chu kỳ tăng trưởng tài chính của DNKN 107
Trang 12tế, gắn kết hài hoà, hiệu quả thị trường trong nước và quốc tế” [4] Trong những
năm qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách, tạo điều kiện, môi trường thuận lợi nhất cho hoạt động khởi nghiệp hình thành và phát triển
Cụ thể Quyết định 844/QĐ-TTg của Thủ tướng năm 2016 về việc phê duyệt Đề án
“Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Quốc gia đến năm 2025” gọi tắt
là Đề án 844 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng để hệ sinh thái khởi nghiệp - sáng tạo phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam Đồng thời, các bộ, ngành, địa phương cũng có các chương trình, đề án riêng nhằm thúc đẩy phong trào khởi nghiệp quốc gia Hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã ban hành kế hoạch triển khai Đề
án 844 hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp nhằm hỗ trợ khởi nghiệp lâu dài
Khởi nghiệp và thúc đẩy doanh nghiệp phát triển luôn là một động lực, nguồn lực quan trọng trong phát triển của mỗi quốc gia, đặc biệt trong thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư Thực tiễn kinh nghiệm quốc tế đã minh chứng, trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay, khởi nghiệp và tạo dựng doanh nghiệp là động lực quan trọng của nền kinh tế các quốc gia, góp phần giải quyết khó khăn, thách thức mang tính toàn cầu cũng như hướng tới sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia nói riêng và của toàn thế giới nói chung, trong đó có Việt Nam
Những năm gần đây, nền kinh tế của Việt Nam đã chứng kiến sự hình thành
và phát triển rất năng động của phong trào khởi nghiệp khi Việt Nam xếp hạng thứ 54/100 hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu, 84 vườn ươm, 116 bằng sáng chế được cấp, 35 tổ chức thúc đẩy kinh doanh và 68 quỹ đầu tư mạo hiểm Đồng thời, nước ta hiện có số lượng doanh nghiệp đang hoạt động là 857.551 doanh nghiệp và 116.839 doanh nghiệp thành lập mới năm 2021 [3] Năm 2016 được chọn là năm “Quốc gia khởi nghiệp” cùng với đó là một loạt chính sách ban hành nhằm hỗ trợ khởi nghiệp quốc gia, điều này cho thấy vấn đề khởi nghiệp đang được Nhà nước và xã hội quan
Trang 13tâm đặc biệt [12] Bởi vì thực tế cho thấy khuyến khích phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp giúp khai thác nguồn lao động, nguồn vốn, công nghệ và thị trường, đặc biệt là môi trường thuận lợi để khai thác tối đa lượng chất xám, tinh thần và ước
mơ vươn mình ra thế giới của thế hệ trẻ hiện nay Ngoài ra, DNKN làm giảm nguy
cơ thất nghiệp, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giảm bớt sự chênh lệch giàu nghèo, thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ của quốc gia
Mặc dù đã đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ, song do xuất phát điểm chậm hơn nên hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo của Việt Nam vẫn còn có khoảng cách so với một số nước trong khu vực và trên thế giới Bối cảnh giai đoạn 5 năm qua đã cho thấy các giải pháp thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam còn nhiều vướng mắc, khó khăn Cụ thể như văn bản chính sách hỗ trợ cho đối tượng thụ hưởng là DNKN còn chưa rõ ràng, hoạt động kết nối triển khai và chuyển giao công nghệ giữa các doanh nghiệp khởi nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học; hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao công nghệ vẫn còn chưa đạt được hiệu quả cao Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ về tài chính, tiếp cận tín dụng và cơ sở mặt bằng mặc dù đã có nhưng đều là quy định chung, chưa cụ thể theo khu vực cũng như chưa có hướng dẫn chi tiết dẫn đến sự thiếu đồng nhất trong hành động Đồng thời, vốn nhân lực còn thiếu và yếu do sự liên kết giữa các trường đại học và viện nghiên cứu
ở Việt Nam với chính quyền các tỉnh và các Bộ, ngành Trung ương [13][17]
Trong thời gian tới, để phong trào khởi nghiệp phát triển mạnh và bền vững, Việt Nam cần nhanh chóng xây dựng các chính sách và quy định pháp luật phù hợp, đồng thời có những chương trình cụ thể giúp hình thành và phát triển những DNKN mới, trong đó, việc quan trọng nhất là thiết lập các cơ chế tài chính để tham gia cùng khối đầu tư tư nhân vào khởi nghiệp… từ đó giúp sớm thu hẹp khoảng cách và đưa Việt Nam trở thành một quốc gia mạnh mẽ về khởi nghiệp
Chính vì những lý do nêu trên dẫn đến căn cứ cần phải nhận diện và làm rõ thực trạng thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam, tìm ra các yếu tố chính ảnh hưởng đến hoạt động khởi nghiệp để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp góp phần xây dựng nền kinh tế phát triển mạnh mẽ và bền vững
là một yêu cầu cần thiết với bối cảnh của Việt Nam hiện nay Trên góc độ đó, tác
giả đã lựa chọn đề tài “Giải pháp thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam”
làm đề tài nghiên cứu của mình
Trang 142 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Luận án được thực hiện với mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn từ
đó đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam đến năm
2030, tầm nhìn năm 2035 góp phần xây dựng và phát triển nền kinh tế; đồng thời hoàn thiện hệ sinh thái khởi nghiệp hướng tới tăng trưởng bền vững nền kinh tế ở Việt Nam
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về khởi nghiệp và thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp
- Phân tích, đánh giá thực trạng thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam giai đoạn năm 2017 - 2021
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn năm 2035
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Luận án được thực hiện tại không gian nghiên cứu trên địa bàn nước Việt Nam
- Phạm vi thời gian: Luận án tiến hành thu thập số liệu thứ cấp trong khoảng thời gian từ năm 2017 - 2021 Số liệu sơ cấp được thu thập từ tháng 02/2022 đến tháng 12/2022 Giải pháp được kiến nghị đề xuất đến năm 2030, tầm nhìn năm 2035
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung phân tích một số nội dung chính liên quan đến thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp, bao gồm: xây dựng và ban hành các chính sách thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp; hỗ trợ phát triển các ý tưởng khởi nghiệp; xây dựng và liên kết các thành phần trong hệ sinh thái khởi nghiệp; hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam và hoạt động kiểm tra, giám sát công tác hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp Do giới hạn về thời gian và phạm vi nghiên cứu, trong luận án, tác giả giới hạn nghiên cứu các DNKN là những doanh nghiệp thành lập trong 5 năm gần đây từ năm 2017 đến năm 2021
Trang 154 Những đóng góp của luận án
Luận án khi được hoàn thành đã đóng góp ý nghĩa quan trọng về cả mặt lý luận và thực tiễn như sau:
Thứ nhất, luận án đã làm sáng tỏ hơn các vấn đề lý luận về thúc đẩy hoạt động
khởi nghiệp như khái niệm thúc đẩy khởi nghiệp, các lý thuyết nền tảng, đặc điểm
và vai trò của thúc đẩy khởi nghiệp Trong đó, đặc biệt nhất luận án đã tập trung nghiên cứu và tổng hợp thành các nội dung thúc đẩy khởi nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam
Thứ hai, luận án đã dựa vào nội dung thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp để
đánh giá kinh nghiệm tại một số quốc gia như Ấn Độ, Israel, Singapore, Thụy Điển nhằm thấy được những điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân của những điểm yếu để rút ra năm bài học kinh nghiệm cho Việt Nam nhằm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp
Thứ ba, luận án là nghiên cứu đầu tiên tiến hành phân tích, đánh giá các nội
dung thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam một cách khái quát và toàn diện bao gồm năm nội dung chính như: Xây dựng và ban hành các chính sách thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp; hỗ trợ phát triển các ý tưởng khởi nghiệp; xây dựng và liên kết các thành phần trong hệ sinh thái khởi nghiệp; hỗ trợ phát triển DNKN ở Việt Nam và hoạt động kiểm tra, giám sát công tác hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp Đồng thời, xây dựng mô hình và khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam
Thứ tư, luận án đã đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến hoạt động
khởi nghiệp ở Việt Nam Thông qua phân tích định lượng bằng mô hình hồi quy đa biến, luận án đã chứng minh được trong số 05 yếu tố được đưa vào phân tích thì cả
05 yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam Trong đó, yếu tố môi trường kinh doanh và khả năng tiếp cận tài chính có ảnh hưởng lớn nhất Căn
cứ vào quan điểm và mục tiêu thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp trong thời gian tới, kết hợp với những vấn đề còn tồn tại và kết quả phân tích mô hình hồi quy, luận án
đề xuất 07 nhóm giải pháp chính và 04 nhóm kiến nghị nhằm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn năm 2035
Trang 16Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Thực trạng thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam
Chương 5: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn năm 2035
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN THÚC ĐẨY
HOẠT ĐỘNG KHỞI NGHIỆP
1.1 Các nghiên cứu của nước ngoài về thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp
Khởi nghiệp không còn là vấn đề mới, trong các công trình nghiên cứu của nước ngoài đã có nhiều công trình nghiên cứu về khởi nghiệp nhưng những nghiên cứu liên quan đến thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp thì không có nhiều và chủ yếu theo các hướng nghiên cứu như sau:
Theo hướng chính sách thúc đẩy khởi nghiệp
Xu và Chen [185] đã đánh giá tác động của các chính sách khởi nghiệp đối với
sự phát triển của các DNKN Nghiên cứu đã điều tra 315 doanh nghiệp khởi nghiệp,
sử dụng mô hình SEM để đánh giá yếu tố chính sách Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng chính sách thúc đẩy có tác động cùng chiều với sự phát triển của DNKN Nghiên cứu cũng đề xuất một số chính sách để thúc đẩy khởi nghiệp như: hỗ trợ về vốn, hỗ trợ thuế, hỗ trợ thị trường… Trong nghiên cứu của Reynolds và cộng sự [153] sử dụng số liệu của 43 quốc gia trong giai đoạn từ 1998 đến 2003 đã khẳng định rõ vai trò của DNKN đối với sự phát triển của nền kinh tế và chính sách hỗ trợ khởi nghiệp sẽ giúp các DNKN vượt qua được những khó khăn ban đầu, đây sẽ là nền tảng để phát triển một nền kinh tế mới trong tương lai Tuy nhiên trong nghiên cứu này chưa chỉ ra được tính đặc thù của từng quốc gia đối với các chính sách thúc đẩy khởi nghiệp Nghiên cứu Yang [186], sử dụng mô hình SEM với việc phỏng vấn 1231 người trả lời từ 31 tỉnh thành và chỉ ra chính sách hỗ trợ khởi nghiệp có vai trò hàng đầu trong việc tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động khởi nghiệp đặc biệt là các sinh viên tại các trường đại học cao đẳng Đồng quan điểm đó, Xie và cộng sự [184] cũng cho rằng mỗi địa phương có những điều kiện khác nhau, các nhà xây dựng chính sách cần chú ý đến những nguồn lực hiện tại để có những những chính sách phù hợp và điều chỉnh theo xu hướng của thị trường Tuy nhiên các nghiên cứu này mới dừng ở dưới góc độ các DNKN mà chưa có góc nhìn từ các nhà quản lý Nhà nước như quá trình xây dựng, ban hành cũng như những điều
chỉnh chính sách này theo thời gian
Trang 18Theo hướng hỗ trợ các ý tưởng khởi nghiệp
Ý tưởng khởi nghiệp là bước tiền đề để khởi nghiệp Chính vì vậy, các địa phương cần phải nuôi dưỡng ý tưởng từ khi mới hình thành Shane và cộng sự [160]
đã dựa trên 08 công ty khởi nghiệp phát hiện ra rằng: các doanh nhân sẵn sàng lựa chọn công nghệ để phục vụ quá trình sản xuất và tinh thần khởi nghiệp dựa trên thông tin về cơ hội cũng như hỗ trợ của chính phủ đối với ý tưởng khởi nghiệp đó Cùng với quan điểm trên, trong nghiên cứu của Boudreaux [83] đã sử dụng dữ liệu
từ 25 nước và sử dụng biểu đồ phân tán, hệ số tương quan và hồi quy OLS để đánh giá hoạt động hỗ trợ ý tưởng khởi nghiệp Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ sử dụng mô hình OLS giản đơn, không dùng các dữ liệu không gian nên chưa thể đánh giá mức
độ thay đổi của các biến theo thời gian
Trong nghiên cứu của Dimov [97], McMullen và Shepherd [142] thông qua tổng hợp các nghiên cứu trước đây cũng đã khẳng định vai trò của chính phủ trong việc hỗ trợ ý tưởng khởi nghiệp đó là cung cấp thông tin, hỗ trợ, tư vấn… để các doanh nhân có được góc nhìn toàn diện về ý tưởng khởi nghiệp Từ đó đưa ra quyết định có thực hiện ý tưởng đó hay không nhằm tránh những rủi ro không cần thiết, cái mà nhiều doanh nhân không nhận thức được những khó khăn và nguy cơ xảy ra đối với những ý tưởng đó Các nghiên cứu này tập trung tại các nước phát triển, nơi
mà điều kiện kinh tế tốt, các dịch vụ hỗ trợ nhiều mà chưa nghiên cứu tới những nước đang phát triển, những nơi điều kiện khó khăn, nguồn lực nhà nước phải sử dụng vào nhiều nhiệm vụ quan trọng khác
Theo hướng xây dựng và liên kết các tổ chức trong hệ sinh thái khởi nghiệp
Basso và cộng sự [75] đã thực hiện nghiên cứu về hệ sinh thái khởi nghiệp ở
08 nước Nam Âu Bằng phương pháp thống kê mô tả, nghiên cứu đã chỉ ra các tổ chức trong hệ sinh thái khởi nghiệp bao gồm: doanh nghiệp lớn, các trường đại học, các tổ chức hỗ trợ, các tổ chức tài trợ, các tổ chức nghiên cứu, các nhà cung cấp dịch vụ Mỗi một tổ chức có những vai trò và chức năng khác nhau Do vậy, để có thể phát huy được lợi thế so sánh của các tổ chức cần phải có biện pháp liên kết giữa các tổ chức này Các thành viên của hệ sinh thái có thể tạo ra nhiều lợi ích khi cùng làm một nhóm hơn là thực hiện một mình và việc hợp tác trong hệ sinh thái
Trang 19được kỳ vọng sẽ mở ra hiệu quả vượt trội [170] Tuy nhiên, các giải pháp đưa ra vẫn mang tính chung chung như tập trung vào thế mạnh địa phương, xây dựng chiến lược phù hợp, tập trung vào những ý tưởng kinh doanh khả thi… mà chưa chỉ
rõ được những giải pháp riêng cho từng quốc gia cũng như điều kiện để thực hiện các giải pháp đó Chính phủ với vai trò rất lớn trong việc tạo ra môi trường phát triển nhằm mang lại lợi ích lâu dài cho các DNKN Trong nghiên cứu của Fredrickson [105] được dựa trên từ các lý thuyết về động lực cũng như vai trò của các thành phần trong hệ sinh thái đã làm rõ vai trò của chính phủ là cầu nối giữa các
tổ chức trong hệ sinh thái khởi nghiệp thông qua những chính sách hỗ trợ dành riêng cho từng tổ chức, xây dựng cơ chế phối hợp, các chương trình liên kết để phát huy tốt nhất những thế mạnh của các tổ chức trong hệ sinh thái Thêm vào đó, các nghiên cứu Schiffer và cộng sự [155], Watson và cộng sự [178] cũng chỉ rõ sự cần thiết phải kết nối giữa các tổ chức trong hệ sinh thái Các nghiên cứu này đã đề xuất một số chính sách để liên kết các tổ chức trong hệ sinh thái như tạo các trung tâm khởi nghiệp nơi mà các DNKN tìm được các tổ chức phù hợp, ký hợp đồng liên kết
và chuyển giao giữa các tổ chức… Nhà nước sẽ là chủ thể trung gian điều phối các mối quan hệ này, đưa ra những chính sách hỗ trợ kịp thời để duy trì và phát triển mạng lưới hệ sinh thái khởi nghiệp Tuy nhiên trong các nghiên cứu này mới dừng lại trong việc xây dựng mô hình liên kết chung chung, chủ yếu tại các nước phát triển mà chưa có những nghiên cứu cụ thể về mô hình liên kết, chính sách liên kết cho từng quốc gia cụ thể, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển
Theo hướng hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp khởi nghiệp
Các DNKN là đối tượng tiên phong trong việc áp dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh nên sẽ gặp rất nhiều rủi ro DNKN có vai trò rất lớn đối với nền kinh tế: tạo bước đột phá trong nền kinh tế, tạo mô hình kinh doanh mới… Vì vậy, cần phải có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp Trong nghiên cứu của Schiffer và cộng sự [155] đã phân tích chỉ ra các nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào các chương trình và dự án cụ thể mà không có một góc nhìn bao quát với nhiều đối tượng và không gian rộng, như vậy, rất khó để các nhà hoạch định chính sách có thể đánh giá chính xác mức độ hiệu quả của các chính sách đó để đưa ra
Trang 20những điều chỉnh trong tương lai Bằng việc sử dụng 2 phương pháp hồi quy cơ bản
và hồi quy mở rộng với số liệu lấy từ 42 quốc gia nghiên cứu đã làm rõ vai trò của các chính sách hỗ trợ phát triển các DNKN về tài chính, cơ sở hạ tầng, tỷ giá hối đoái… mà chưa làm rõ được sự ảnh hưởng của các chính sách cụ thể đối với từng giai đoạn phát triển của các DNKN
Verheul và cộng sự [176] nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 1972 đến năm
1998 tại 23 quốc gia đã tập trung nghiên cứu chính sách hỗ trợ về mặt tài chính như thành lập các quỹ hỗ trợ DNKN, các quỹ đầu tư mạo hiểm, hỗ trợ về lãi suất từ phía ngân hàng Điều này cũng được chỉ ra trong nghiên cứu của Pretorius và cộng sự [152] Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa đề cập nhiều vai trò của chính phủ trong việc xây dựng chính sách tổng thể, cơ chế phối hợp giữa DNKN với các tổ chức tài chính mà chỉ tập trung đánh giá việc cung cấp vốn cho DNKN Trong nghiên cứu của Leffler và Svedberg [133], Paco và cộng sự [151], O’Connor [148], GEM [107]
đã chỉ rõ vai trò của giáo dục đối với hoạt động khởi nghiệp và sự cần thiết hỗ trợ giáo dục cho các DNKN Điều này giúp các DNKN vượt qua được những khó khăn, khai thác tốt các tiềm năng, đặc biệt áp dụng thành công KHCN mới vào những ý tưởng kinh doanh mới Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ tập trung vào vai trò của giáo dục mà chưa đề cập đến những vấn đề quan trọng khác như văn hóa, trình độ, điều kiện từng địa phương… Trong các nghiên cứu này mới đang tập trung vào hỗ trợ cung cấp kiến thức cho DNKN từ các tổ chức giáo dục nhưng chưa giải quyết được tận gốc của vấn đề như: nguồn kinh phí, chính sách, cơ chế… để các tổ chức giáo dục này có thể tiếp tục hỗ trợ cũng như đồng hành cùng các DNKN trong quá trình sản xuất kinh doanh
Theo hướng hoạt động kiểm tra, giám sát công tác hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp
Kiểm tra, giám sát là thành phần rất quan trọng đối với quá trình thúc đẩy khởi nghiệp của mỗi địa phương, mỗi quốc gia Điều này sẽ đảm bảo các đối tượng tham gia thực hiện đúng các quy định pháp luật, hạn chế thất thoát lãng phí nguồn lực của nhà nước Nghiên cứu của Chowdhury và cộng sự [91] được thực hiện trong giai đoạn 2001 đến 2005 với 44 quốc gia đã sử dụng mô hình dữ liệu bảng để đánh giá các giả thuyết Nghiên cứu cũng đề cập đến sự khác biệt về thời gian, bối cảnh địa
Trang 21lý và cho thấy những quốc gia ít tham nhũng, ít thủ tục hành chính và nhận nhiều
hỗ trợ của cán bộ nhà nước có tác động tích cực đến việc thành lập các DNKN và ngược lại Để có được kết quả trên là sự đóng góp rất lớn của hoạt động kiểm tra, giám sát nhằm ngăn chặn kịp thời những sai phạm, điều chỉnh hành vi của các chủ thể liên quan, tạo điều kiện tốt nhất cho các DNKN Tuy nhiên nghiên cứu cũng chưa chỉ ra được phương pháp, cách thức để thực hiện thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách hỗ trợ cho các DNKN Cùng chung với quan điểm trên có các nghiên cứu Argandona [68], Anokhin và cộng sự [67], đã sử dụng dữ liệu từ
64 quốc gia, thời gian từ năm 1996 đến năm 2002 và sử dụng mô hình DEA Tuy nhiên các nghiên cứu này mới chỉ đề cập đến vai trò kiểm tra, giám sát mà chưa nghiên cứu sâu về các hoạt động kiểm tra, giám sát như: nội dung, quy trình kiểm tra, giám sát, hình thức xử lý vi phạm… Do vậy, cần phải làm rõ các vấn đề trên
để có góc nhìn toàn diện đối với hoạt động kiểm tra, giám sát [67] [128]
1.2 Các nghiên cứu trong nước về thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp
Tại Việt Nam cũng có khá nhiều các nghiên cứu về khởi nghiệp, tuy nhiên các nghiên cứu về thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam đến nay chủ yếu chỉ dừng lại ở những nghiên cứu trong những trường hợp cụ thể mà chưa có nghiên cứu nào mang tính toàn diện với góc nhìn vĩ mô và chủ yếu theo các hướng nghiên cứu như sau:
Theo hướng xây dựng và ban hành chính sách thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp
Để có hệ thống các chính sách thúc đẩy khởi nghiệp tại Việt Nam từ năm 2015 phải kể đến các nghiên cứu của nhóm biên soạn Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo 2025” [44] trong đó đáng lưu ý có nghiên cứu của Phan Hoàng Lan [17] đã sử dụng dữ liệu từ năm 2012 đến năm 2016, với phương pháp thống kê mô tả đã đặt ra vấn đề quan trọng đối với thúc đẩy khởi nghiệp, coi thúc đẩy khởi nghiệp là nhu cầu cấp thiết đối với việc Nhà nước tham gia hỗ trợ và thúc đẩy phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp Nghiên cứu đã chỉ ra nhóm cơ chế, chính sách cần thiết cho khởi nghiệp gồm: đầu tư cho khởi nghiệp, hỗ trợ tài chính cho khởi nghiệp, đào tạo nâng cao năng lực cho khởi nghiệp, cơ sở hạ tầng cho khởi nghiệp, kết nối cộng đồng hệ sinh thái khởi nghiệp, hỗ trợ truyền thông cho khởi
Trang 22nghiệp Trong đó, khẳng định để thúc đẩy khởi nghiệp vai trò của Nhà nước là vô cùng cần thiết Nghiên cứu của VCCI [31] đã phân tích việc xây dựng và thực hiện chính sách thúc đẩy khởi nghiệp tại Việt Nam, nghiên cứu khẳng định các DNKN khi thành lập sẽ gặp rất nhiều rủi ro, vì vậy rất cần chính sách hỗ trợ về đào tạo, thủ tục hành chính, xác nhận quyền sở hữu… Để có được những hỗ trợ này trước hết phải xuất phát từ Chính quyền địa phương và sử dụng nguồn lực địa phương để làm nền tảng cho những hỗ trợ Vì vậy, việc xây dựng chính sách hỗ trợ cần được dựa trên tình hình phát triển của thị trường cũng như cần phải phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của từng địa phương Tại hội thảo “Rào cản khởi nghiệp” [62], các nghiên cứu cũng đã chỉ ra những rào càn mà DNKN gặp phải khi triển khai cần nhà nước nỗ lực tháo gỡ để thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động khởi nghiệp Hoàng Thị Hải Yến [64] đã đưa ra 5 tiêu chí lớn để đánh giá một chính sách thúc đẩy khởi nghiệp thành công đó là: khích lệ sáng tạo và tinh thần kinh thương; hỗ trợ DNKN; kết nối các thành phần trong hệ sinh thái khởi nghiệp; không tạo ra các rào cản pháp lý và hành chính cho khởi nghiệp; hỗ trợ khởi nghiệp hội nhập thị trường quốc tế Đây là căn cứ khoa học để các nhà hoạch định xây dựng chính sách hỗ trợ cho DNKN phù hợp với tình hình thực tế hơn, tháo gỡ các khó khăn cho DNKN Tuy nhiên các nghiên cứu này mới chỉ đề cập một cách tổng quát về việc ban hành chính sách mà chưa đề cập cụ thể cho từng lĩnh vực và điều kiện để thực hiện các chính sách đó
Theo hướng hỗ trợ phát triển các ý tưởng khởi nghiệp
Để có thể đưa ra được giải pháp hỗ trợ ý tưởng khởi nghiệp tốt nhất, trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Linh và cộng sự [22] đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Kiên Giang Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng các biến độc lập như: đặc điểm tính cách, thái độ đối với hành vi kinh doanh, nhận thức kiểm soát, ý kiến của người xung quanh, địa
vị xã hội của chủ doanh nghiệp Biến trung gian là Niềm đam mê và biến phụ thuộc
là ý định khởi nghiệp Nghiên cứu đã sử dụng mô hình SEM, với số liệu điều tra từ
459 sinh viên từ năm thứ 2, 3 và 4 Kết quả nghiên cứu cho thấy đam mê ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp, trong đó thái độ tính cách, môi trường khởi nghiệp, ý kiến người xung quanh có tác động tích cực đến đam mê khởi nghiệp Tuy nhiên hạn
Trang 23chế của nghiên cứu này được thực hiện ở lứa tuổi rất trẻ đó là đối tượng sinh viên, thêm vào đó đối tượng này có nền tảng kiến thức tương đối tốt Trong khi đó cũng có những đối tượng khác cũng có rất nhiều ý tưởng khởi nghiệp, đặc biệt là những người lớn tuổi hoặc những người đang sinh sống tại các vùng sâu vùng xa nơi mà có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn trong nghiên cứu này chưa đề cập đến
Ý tưởng khởi nghiệp được hình thành từ các vấn đề cuộc sống dựa trên sự phát triển của khoa học công nghệ Theo nghiên cứu của Nguyễn Phúc Nguyên và cộng sự [27] đã tiến hành điều tra 115 hộ kinh doanh cá thể và 42 doanh nghiệp vừa
và nhỏ, với việc sử dụng mô hình EFA đã cho rằng các ý tưởng khởi nghiệp nếu không được tìm hiểu một cách kỹ lưỡng, với những đóng góp và tư vấn của các chuyên gia trong cùng lĩnh vực thì rất dễ thất bại Để nuôi dưỡng và khuyến khích ý tưởng khởi nghiệp cũng như khuyến khích thực hiện ý tưởng khởi nghiệp cần được dựa trên những hỗ trợ cần thiết như: hỗ trợ thông tin, hỗ trợ pháp luật, hỗ trợ nghiên cứu thử nghiệm, hỗ trợ chia sẻ kinh nghiệm Thông qua các hỗ trợ này, các nhà khởi nghiệp có thể xác định xem ý tưởng khởi nghiệp có tính khả thi hay không Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ đánh giá các yếu tố quyết định sự thành công của khởi nghiệp từ phía doanh nghiệp mà chưa có góc nhìn hay đánh giá từ phía nhà quản lý
Theo hướng xây dựng và liên kết các tổ chức trong hệ sinh thái khởi nghiệp
Phan Hoàng Lan [17] tiếp cận dựa trên chính sách thúc đẩy khởi nghiệp cần tạo điều kiện để hình thành các phần tử trong hệ sinh thái, tiếp đó là tạo cơ hội liên kết và phát triển các tổ chức trong hệ sinh thái khởi nghiệp thông qua việc cung cấp nền tảng pháp lý và hạ tầng Nghiên cứu đã chỉ ra được vòng đời hệ sinh thái khởi nghiệp bao gồm các giai đoạn: giai đoạn kích hoạt; giai đoạn toàn cầu hóa; giai đoạn thu hút; giai đoạn hội nhập Các tổ chức thuộc hệ sinh thái bao gồm: các công ty lớn, các trường đại học, các tổ chức cung cấp vốn, các nhà cung cấp dịch vụ, các tổ chức nghiên cứu và các tổ chức hỗ trợ Để có thể liên kết các tổ chức này với nhau cần dựa
trên một số yếu tố như sau: (i) lợi ích: tất cả các đối tác/các tổ chức đều mong đợi lợi ích cho mình; (ii) chi phí giao dịch: kết quả đạt được của các hợp tác bao gồm các chi phí liên quan; (iii) sức mạnh tổng hợp: các đối tác có thể tạo ra tiềm năng mới cho tất
cả mọi người/mọi tổ chức bằng cách sử dụng sức mạnh của họ
Trang 24Trong nghiên cứu của Phạm Trần Lê [18] thông qua việc nghiên cứu các hoạt động thúc đẩy khởi nghiệp đã cho rằng các DNKN cần có một môi trường đặc biệt
để có thể tồn tại và phát triển, mạng lưới hệ sinh thái khởi nghiệp trong đó yếu tố trường đại học là một trong những mắt xích quan trọng biến những công nghệ từ ý tưởng trở thành hiện thực Thêm vào đó, nghiên cứu cũng chỉ ra cần có sự liên kết giữa trường đại học với các tổ chức khác như Ngân hàng, tổ chức tài trợ, các dịch
vụ hỗ trợ… để các DNKN tìm được đối tác, giảm thời gian và công sức phát triển
và đưa sản phẩm ra thị trường Cùng chung với nhận định trên, nghiên cứu của Nguyễn Thu Thủy và Nguyễn Ngọc Huyền [47] cũng khẳng định quá trình khởi nghiệp rất cần có hệ sinh thái khởi nghiệp, nơi mà những người khởi nghiệp có được những hỗ trợ cần thiết để biến ý tưởng thành hiện thực Tuy nhiên các nghiên cứu này chưa chỉ ra được vai trò của Nhà nước là chủ thể trung gian trong việc kết nối giữa các thành phần trong hệ sinh thái cũng như cơ chế và hình thức hợp tác giữa các bên liên quan
Theo hướng hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp khởi nghiệp
Các DNKN thường gặp rất nhiều rủi ro như rủi ro về công nghệ, rủi ro về vốn, rủi ro về con người, chiến lược kinh doanh,…Vì vậy cần rất nhiều hỗ trợ từ bên ngoài, đặc biệt là từ chính quyền địa phương Trong nghiên cứu của Hoàng Xuân Hòa, Phạm Thị Hồng Yến [11] đã tổng hợp và phân tích một số chính sách hỗ trợ đối với các DNKN Thông qua việc phân tích những ưu điểm cũng như những bất cập chủ yếu còn tồn tại trong quá trình thực hiện các chính sách như: vườn ươm công nghệ còn kém, kiến thức kinh doanh còn nhiều hạn chế, chậm trễ trong quá trình triển khai các chính sách hỗ trợ Tuy nhiên nghiên cứu lại chưa chỉ rõ được những hạn chế cụ thể và những ảnh hưởng của những hạn chế này đối với sự phát triển của DNKN Bên cạnh đó, các nghiên cứu của Nguyễn Phúc Nguyên và cộng
sự [27], Lê Văn Vàng [59], Hoàng Xuân Hòa, Phạm Thị Hồng Yến [11] đã đề cập đến vấn đề hỗ trợ về vốn thông qua các tổ chức phi chính phủ, các quỹ đầu tư mạo hiểm, các nhà đầu tư thiên thần Ngoài ra, các nghiên cứu này cũng đề xuất những giải pháp sử dụng NSNN để hỗ trợ vốn cho DNKN như cho vay ưu đãi về lãi suất, xây dựng các chương trình cho vay đa dạng để phù hợp với nhiều DNKN Các
Trang 25nghiên cứu trên mới dừng lại trong việc nghiên cứu các chính sách cụ thể, chưa mang tính bao quát, thêm vào đó, các chính sách hỗ trợ DNKN chủ yếu kết hợp với DNNVV mà chưa có nhiều chính sách dành riêng cho DNKN nên khó khăn trong việc triển khai và áp dụng các chính sách này
Khi nghiên cứu về các chính sách hỗ trợ DNKN tại Việt Nam, Nguyễn Văn Trưởng [54] đã sử dụng dữ liệu từ năm 2013 đến năm 2017 đối với việc thực hiện các chính sách như: chính sách thuế, chính sách tín dụng, chính sách hỗ trợ gián tiếp thông qua mô hình vườn ươm và một số chính sách khác như: hỗ trợ cơ sở hạ tầng, cải cách thủ tục hành chính Nghiên cứu dừng lại trong việc thống kê các hoạt động
hỗ trợ, chưa có nhiều đánh giá sâu về tác động của các chính sách này Cùng hướng nghiên cứu đó, Nguyễn Mạnh Quân [34] đã chỉ ra những hạn chế trong việc thực hiện chính sách hỗ trợ đó là: hành lang pháp lý cho hoạt động khởi nghiệp chưa đầy
đủ, Việt Nam chưa thực sự có văn hóa khởi nghiệp, môi trường kinh doanh còn rất nhiều điểm nghẽn trong sự phối hợp các bộ phận cấu thành hệ sinh thái và tiếp cận vốn tại các quỹ đầu tư mạo hiểm… Đặc biệt hiện nay hoạt động tiếp cận nguồn vốn
ưu đãi của của các DNKN cũng gặp rất nhiều khó khăn, trong nghiên cứu của Nguyễn Viết Lợi [20] đã sử dụng mô hình Probit với việc điều tra từ hơn 135 DNKN đã chỉ ra rằng: các DNKN có lượng vốn đầu tư ít, không có tài sản thế chấp, lợi nhuận ban đầu không cao, các thủ tục hành chính khi nhận hỗ trợ tài chính cũng còn nhiều rườm rà phức tạp, thêm vào đó là nguồn cung còn hạn chế và không đa dạng… Tất cả điều này đã cản trở rất nhiều đến khả năng tiếp cận tài chính ưu đãi của DNKN Điều này cũng được đề cập đến trong các nghiên cứu của Phạm Trần
Lê [18], Lương Ngọc Minh [21], Nguyễn Hùng [13]
Đối với nghiên cứu của Vũ Thị Vân và Vũ Hải Thúy [58] dựa trên đánh giá và phân tích thực trạng khởi nghiệp Việt Nam từ năm 2016 đến năm 2019 đã chỉ ra vai trò của các chính sách hỗ trợ đối với các DNKN, các khó khăn và vướng mắc mà các DNKN gặp phải Thêm vào đó, nghiên cứu cũng chỉ ra giải pháp để thực hiện thành công các chính sách đó là có góc nhìn toàn diện sau khi có những hỗ trợ cần thiết, đánh giá khả năng thành công của các DNKN và đưa ra được quyết định về vấn đề tiếp tục thực hiện hỗ trợ đối với DNKN đó hay không Tuy nhiên nghiên cứu
Trang 26này chưa chỉ ra được nguồn lực, cơ quan, chính sách để thực hiện hỗ trợ ý tưởng khởi nghiệp cũng như hỗ trợ, khuyến khích hình thành các DNKN trong xã hội
Theo hướng hoạt động kiểm tra, giám sát công tác hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp
Công tác thanh tra, kiểm tra luôn là vấn đề quan tâm của các cấp chính quyền, các nhà quản lý Tại nghiên cứu của Nguyên Lâm [28] đã thống kê và mô tả hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với các DNKN trong giai đoạn từ năm 2018, 2019,
2020 mà tập trung ở đây đó là tình hình sử dụng các nguồn lực được nhà nước hỗ trợ như về vốn, cơ sở hạ tầng, các thủ tục pháp lý… Trong nghiên cứu cũng đã chỉ
ra những vấn đề tồn tại cần khắc phục như các cơ quan chức năng thanh, kiểm tra không công nhận kết quả làm việc của nhau, thời gian thanh tra kiểm tra còn kéo dài, nội dung thanh tra, kiểm tra không rõ ràng… Trong quá trình thanh tra đã phát hiện nhiều sai phạm như giấy tờ, chứng từ không đầy đủ, sử dụng nguồn lực hỗ trợ không hiệu quả, gây thất thoát lãng phí Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa đưa ra các giải pháp cụ thể cũng như kiến nghị đối với từng loại hình DNKN để có biện pháp thanh tra, kiểm tra tốt hơn
1.3 Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khởi nghiệp
Khởi nghiệp đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế tri thức hiện nay nên nhiều nghiên cứu nước ngoài đã sớm tập trung tìm các phương án tốt nhất để có thể thổi bùng niềm đam mê khởi nghiệp trong mỗi cá nhân nói riêng và quốc gia mình nói chung Một trong những chìa khóa để làm được điều này là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động khởi nghiệp: vừa tìm ra được những điểm mang tính đặc thù cho mỗi khu vực, mỗi quốc gia, vừa tìm ra được những yếu tố quan trọng giúp thực hiện các giải pháp trọng điểm trong bối cảnh nguồn lực còn nhiều hạn chế
Trong nghiên cứu của Baptista và Leitão [70] đã sử dụng mô hình dữ liệu chéo với 5247 quan sát với các biến độc lập bao gồm vốn con người, môi trường làm việc, đặc điểm công việc, giới tính, độ tuổi để chỉ ra các yếu tố này ảnh hưởng đến khả năng khởi nghiệp, đặc biệt là đối với những đối tượng khởi nghiệp có trình độ học vấn cao Những đối tượng này dễ dàng tiếp cận tốt công nghệ mới cũng như nắm bắt được xu hướng của thị trường, từ đó đưa ra các sản phẩm đáp ứng tốt thị hiếu của khách hàng
Trang 27Đối với nghiên cứu của Baringer và Ireland [71] đã tiến hành điều tra 256 DNKN, tác giả đã sử dụng mô hình SEM để đánh giá các yếu tố: văn hóa địa phương, các tổ chức trong hệ sinh thái, vốn con người, môi trường kinh doanh, vay vốn tín dụng, nhận thức bản thân đến khả năng phát triển của DNKN Nghiên cứu
đã cho thấy các yếu tố này đều có tác động cùng chiều với biến phụ thuộc là sự phát triển của DNKN Tuy nhiên trong nghiên cứu này chưa đề cập đến các biến trung gian trong mô hình, hay các tác động trực tiếp và gián tiếp của các biến trung gian đến khả năng phát triển của DNKN
Trong nghiên cứu của Khan và cộng sự [122] đã sử dụng mô hình Probit với việc điều tra 3413 người về ý định khởi nghiệp với các yếu tố được đưa vào nghiên cứu đó là: Vốn tri thức, Kiến thức và kỹ năng, Cơ hội kinh doanh, Mối quan hệ với các doanh nhân khác, Nhà đầu tư thiên thần, Trình độ học vấn Kết quả nghiên cứu cho thấy, tất cả các biến đưa vào mô hình đều có ý nghĩa Nghiên cứu này đã tập trung chỉ ra vai trò của vốn con người, mối quan hệ trong hệ sinh thái khởi nghiệp
và khả năng huy động vốn đã ảnh hưởng rất lớn đến ý định khởi nghiệp
Lanero và cộng sự [131] đã nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết
định khởi nghiệp cụ thể là: (1) Giáo dục khởi nghiệp (trình độ và nhận thức về khởi nghiệp); (2) Tính khả thi (xem xét tính khả thi của ý tưởng kinh doanh, môi trường kinh doanh, cơ hội kinh doanh cũng như triển vọng của sản phẩm); (3) Mong muốn khi khởi nghiệp; (4) Ý định khởi nghiệp Để phân tích các yếu tố này, nghiên cứu sử
dụng mô hình PLS SEM thông qua 1212 người được phỏng vấn Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các biến đưa vào mô hình đều có ý nghĩa thống kê và để có quyết định khởi nghiệp tốt thì dựa rất nhiều vào yếu tố môi trường kinh doanh cũng như vốn con người
Các DNKN thường là các doanh nghiệp nhỏ, khả năng tiếp cận vốn thấp, đặc biệt là gặp nhiều rủi ro Chính vì vậy, trong nghiên cứu của Gudmundson và cộng
sự [109] để đánh giá các yếu tố đến khả năng thành công của các DNKN, nhóm tác giả đã sử dụng các biến độc lập đưa vào mô hình đó là môi trường kinh doanh, khả năng tiếp cận vốn, mối quan hệ với các tổ chức và doanh nghiệp, văn hóa kinh doanh khởi nghiệp, sự tiến bộ của khoa học công nghệ, trình độ của chủ doanh
Trang 28nghiệp và các nhận thức rủi ro Nghiên cứu đã sử tiến hành điều tra 365 doanh nghiệp khởi nghiệp và kết quả cho thấy các biến đều có tác động cùng chiều với khả năng thành công của doanh nghiệp
1.4 Khoảng trống nghiên cứu
1.4.1 Đánh giá chung về kết quả của các công trình đã nghiên cứu
Từ việc tổng quan tình hình nghiên cứu về thúc đẩy khởi nghiệp, tác giả đã khái quát lại một số nội dung như sau:
Một là, các nghiên cứu nước ngoài chủ yếu nghiên cứu tại các nước có nền
kinh tế phát triên nên nội dung và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thúc đẩy khởi nghiệp cũng cần phải phù hợp với đặc điểm của các nước này Do vậy không
dễ dàng để áp dụng vào Việt Nam, ngoài ra còn tồn tại nhiều khác biệt về kinh tế, văn hóa, xã hội, chính sách giữa Việt Nam với các quốc gia khác Bởi vậy, khi đánh giá nội dung và yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thúc đẩy khởi nghiệp cần gắn chặt chẽ với đặc điểm của từng quốc gia cụ thể
Hai là, trong các nghiên cứu hiện nay ở Việt Nam, khái niệm khởi nghiệp
được đề cập dưới dạng kế thừa (chủ yếu là dịch) từ các tài liệu nước ngoài liên quan, nhưng chưa có sự thống nhất về nội hàm cũng như cách sử dụng Các quan tâm về khởi nghiệp phần lớn hướng tới các startup (hoạt động khởi nghiệp) - những doanh nghiệp kỳ vọng vào sự tăng trưởng mạnh mẽ nhờ công nghệ hoặc sự sáng tạo đột phá Điều đó đã dẫn đến sự thiếu chú ý đúng mức tới những nỗ lực để thành lập một doanh nghiệp mới vốn phù hợp với điều kiện, năng lực và nhu cầu kinh tế - xã hội của Việt Nam Việc chưa hiểu đầy đủ khái niệm khởi nghiệp sẽ dẫn đến những chính sách, giải pháp hỗ trợ không phù hợp, gây lãng phí và không thể phát huy được nguồn nội lực nằm ở trên mọi vùng miền, trong mọi tầng lớp dân cư của Việt
Nam Từ đó đặt ra vấn đề phải làm rõ khái niệm, các hình thức biểu hiện và bản chất của hoạt động khởi nghiệp gắn liền với điều kiện và trình độ phát triển cụ thể của nền kinh tế Việt Nam giai đoạn hiện nay Đó chính là cơ sở cho những nghiên
cứu tiếp theo về chính sách khởi nghiệp và giải pháp tổ chức quản lý phát triển khởi nghiệp trên phạm vi quốc gia
Ba là, việc phân tích, tổng hợp và đánh giá các ưu điểm và hạn chế trong các
chính sách thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam bước đầu có một số nhà
Trang 29nghiên cứu tiếp cận, song chưa được tiến hành một cách hệ thống và bài bản, bởi vậy việc rút ra các bài học kinh nghiệm trong hoạch định chính sách và các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp còn thiếu những căn cứ xác đáng Tác giả chưa thấy có nghiên cứu nào tiến hành kiểm định các yếu tố tác động đến sự phát triển của hoạt động khởi nghiệp; các nghiên cứu về đánh giá các chính sách của chính phủ hiện tại cũng chủ yếu mang tính chất tổng kết chương trình thay vì
dựa trên các tiêu chí đánh giá từ sự tiếp cận khoa học đối với chính sách Hiện nay ở Việt Nam cũng chưa có nghiên cứu thực nghiệm nào kiểm định sự ảnh hưởng của các yếu tố đến hoạt động khởi nghiệp Ở một số nghiên cứu, việc đánh giá chính
sách thúc đẩy khởi nghiệp lại được lồng ghép vào trong đánh giá về hệ sinh thái
khởi nghiệp hay môi trường kinh doanh mà chưa được xem xét đánh giá tác động của chính sách từ các đối tượng liên quan, nhất là từ phía các nhà khởi nghiệp/các doanh nghiệp khởi nghiệp Rõ ràng, đây là những khoảng trống khoa học cần được
quan tâm và khắc phục
Bốn là, các nghiên cứu trong nước bước đầu đã có những đóng góp về giải
pháp cho hoạt động khởi nghiệp nói chung và thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp nói riêng, nhưng các công trình nghiên cứu này còn rời rạc, các giải pháp chủ yếu dựa trên các nghiên cứu định lượng các yếu tố tác động đến ý định/hành động khởi nghiệp hoặc đơn thuần tổng kết rút ra từ kinh nghiệm khởi nghiệp của các quốc gia
khác Như vậy, việc nghiên cứu toàn diện từ bài học kinh nghiệm khởi nghiệp của các quốc gia, tiến hành kiểm định tác động của các yếu tố thúc đẩy khởi nghiệp, đánh giá các chính sách hiện có thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp từ phía nhà khởi nghiệp/doanh nghiệp khởi nghiệp và phân tích thực trạng hoạt động khởi nghiệp là quan trọng và cấp thiết giúp đề xuất các giải pháp phù hợp thúc đẩy khởi nghiệp
quốc gia Đây cũng là một khoảng trống khoa học cho đề tài luận án
1.4.2 Khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu
Nghiên cứu đã tổng quan các nghiên cứu điển hình trong và ngoài nước cho thấy, hiện nay chưa có một nghiên cứu riêng nào đánh giá đầy đủ và hệ thống về chính sách và tổ chức quản lý thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp quốc gia, cũng chưa đưa ra được những giải pháp cụ thể, thiết thực nhằm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp quốc gia Các nghiên cứu đã được tổng quan chủ yếu theo hướng từng nội
Trang 30dung của thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp quốc gia, giúp cung cấp thêm cơ sở lý luận cho hoạt động nghiên cứu này Chính sách và tổ chức quản lý thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp quốc gia vẫn còn nhiều khoảng trống trong nghiên cứu Do đó, tác giả sẽ cập nhật và học hỏi những mặt tích cực và hạn chế của các nghiên cứu trước đây để xây dựng nội dung thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp quốc gia, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp, qua đó khuyến nghị các giải pháp thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam
Thứ nhất: Việc xây dựng nội dung thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp cần phải
xuất phát từ các lý thuyết nền tảng về thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp Từ đó mới
có thể tìm hiểu nguồn gốc của những hoạt động cụ thể nhằm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp mà không phải xuất phát từ chính sách, ý tưởng hay môi trường trong
hệ sinh thái khởi nghiệp Thêm vào đó, việc xây dựng nội dung cũng cần phải phù hợp với địa bàn nghiên cứu, từ đó có được góc nhìn tổng quát về các nội dung đã đưa ra trong nghiên cứu
Thứ hai: Phần lớn các nghiên cứu đều được thực hiện ở các nước phát triển,
nơi mà hoạt động khởi nghiệp được khuyến khích từ lâu và có những điều chỉnh để nhằm phù hợp với tình hình hiện tại Ngược lại, tại các quốc gia có thu nhập trung bình như Việt Nam, việc áp dụng các biện pháp tổ chức quản lý thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp còn nhiều hạn chế, cần có những thay đổi để phù hợp với bối cảnh hiện nay Do vậy, kết quả nghiên cứu ở các nước phát triển không thể áp dụng tại Việt Nam nói riêng và các nước đang phát triển nói chung Do vậy, cần thiết nghiên cứu các nội dung về chính sách và tổ chức quản lý thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp trong các bối cảnh khác nhau, đặc biệt là Việt Nam nơi mà nền kinh tế thị trường đang dần hoàn chỉnh, các chính sách, phương pháp thực hiện cũng có những điều chỉnh
để phù hợp hơn
Thứ ba: Các nghiên cứu trước đây mới chỉ tập trung nghiên cứu một số nội
dung của chính sách và tổ chức quản lý thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp quốc gia
mà chưa có một hệ thống rõ ràng và đặc biệt là trên góc độ vĩ mô về mặt chính sách
và tổ chức quản lý Thêm vào đó, nghiên cứu cũng có những đánh giá về quá trình thực hiện các chính sách thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp thông qua nội dung kiểm
Trang 31tra, giám sát công tác hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp Từ đây thấy được những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong việc áp dụng các chính sách của nhà nước đối với DNKN
Thứ tư: Đối với các nhân tố ảnh hưởng đến thúc đẩy khởi nghiệp cần phải sử
dụng mô hình kinh tế lượng như mô hình Nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy đa biến
để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố như thế nào đối với hoạt động thúc đẩy khởi nghiệp Đây là căn cứ vững chắc để xem xét đưa ra các giải pháp nâng cao hoạt động thúc đẩy được hiệu quả trong bối cảnh các nguồn lực còn nhiều hạn chế
Khoảng trống nghiên cứu ở trên là cơ sở để tác giả thực hiện đề tài “Giải pháp
thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam” thông qua hệ thống hóa cơ sở lý luận
và thực tiễn về chính sách và tổ chức quản lý thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp quốc gia, phân tích thực trạng thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp tại Việt Nam, xác định các yếu tố và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp tại Việt Nam dựa trên những khảo sát đánh giá từ phía DNKN, các nhà quản lý, các tổ chức Đây là căn cứ đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách và tổ chức quản lý thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp tại Việt Nam trong thời gian tới
Trang 32Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG
KHỞI NGHIỆP
2.1 Lý luận chung về thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp
2.1.1 Các khái niệm có liên quan
2.1.1.1 Khái niệm khởi nghiệp
Khởi nghiệp là một khái niệm đa chiều, tương đối phức tạp, được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau và kèm theo các thuật ngữ có nghĩa tương tự như: khởi
sự, khởi sự kinh doanh, lập nghiệp, khởi nghiệp, hoạt động khởi nghiệp,… Đến nay chưa có định nghĩa được thống nhất và được chấp nhận rộng rãi
Theo Từ điển tiếng Việt, “khởi nghiệp” là một từ Hán Việt, trong đó, “khởi”
có nghĩa là bắt đầu, “nghiệp” có nghĩa là công việc, nghề nghiệp, sự nghiệp, nên có thể hiểu “khởi nghiệp” là thuật ngữ chỉ sự bắt đầu sự nghiệp [61]
Theo Reynolds & cộng sự [153], Khởi nghiệp là một quá trình hoạt động của
cá nhân bao gồm 4 giai đoạn: (1) Giai đoạn tiềm năng khởi nghiệp, nhận thức khả
năng thành công nếu khởi nghiệp và có ý định sẽ khởi nghiệp; (2) Giai đoạn cá nhân huy động nguồn lực; (3) Thành lập doanh nghiệp; (4) Giai đoạn phát triển và chấm dứt doanh nghiệp
Theo Kelly & cộng sự [121], khởi nghiệp là quá trình giúp cho các chủ thể
thực hiện được ước mơ, hoài bão, khát vọng của mình với những tiêu chí khác biệt
và đặc điểm cụ thể bao gồm 6 giai đoạn: (1) Nhà khởi nghiệp tiềm năng; (2) Ý định khởi nghiệp; (3) Thành lập doanh nghiệp; (4) Quản lý hoạt động kinh doanh; (5) Phát triển hoạt động kinh doanh; (6) Chấm dứt hoạt động kinh doanh
Bên cạnh đó, nhiều quan điểm về khởi nghiệp được các nhà khoa học tiếp cận
như: Bắt đầu một công việc kinh doanh mới [123] hoặc là tạo nên một doanh nghiệp
Trang 33mới [137] Với góc độ tạo dựng doanh nghiệp mới, khởi nghiệp là một tổ chức được
thiết kế nhằm cung cấp sản phẩm và dịch vụ trong những điều kiện không chắc chắn [101] hoặc là việc bắt đầu tạo lập một công việc kinh doanh mới bằng đầu tư
vốn kinh doanh hay mở cửa hàng kinh doanh [136]
Thứ hai, có quan điểm lại cho rằng, khởi nghiệp là hoạt động tự kinh doanh,
tự làm chủ: Xu và Chen [185], cho rằng khởi nghiệp là một hoạt động có mục đích
để khởi đầu, duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh nhằm thu được lợi ích về tài chính hay các lợi ích khác trong kinh doanh mà trong quá trình đó sẽ tạo ra một sự
tự do cho chính người thực hiện hoạt động này; Begley và Tan [78] cho rằng khởi
nghiệp là việc một cá nhân bắt đầu công việc kinh doanh của riêng họ hay khởi nghiệp là việc một cá nhân chấp nhận rủi ro để tạo lập doanh nghiệp mới và tự làm chủ nhằm mục đích làm giàu [183]
Thứ ba, khởi nghiệp dưới góc độ khai thác các cơ hội kinh doanh [160] thì khởi nghiệp là khả năng để phát hiện và khai thác các mối lợi từ sự khác biệt về mức giá giữa các thị trường [123] Khởi nghiệp là quá trình mà một cá nhân sẵn sàng tiên phong trong việc nắm bắt các cơ hội kinh doanh hấp dẫn và khả thi mà họ nhận biết được đồng thời thu thập các nguồn lực cần thiết và bắt đầu khai thác cơ hội kinh doanh [147] [161] Khởi nghiệp là quá trình mà một cá nhân tìm kiếm cơ
hội không cần xét đến những nguồn lực mà hiện họ đang kiểm soát [71]
Thứ tư, quan điểm khởi nghiệp gắn với đặc thù dựa trên đổi mới sáng tạo thì khởi nghiệp được hiểu là những dự án kinh doanh mang tính sáng tạo, có rủi ro
và tăng trưởng cao [86]; hoạt động khởi nghiệp nhằm giải quyết một vấn đề mà
giải pháp (đối với vấn đề đó) chưa rõ ràng và sự thành công không được đảm bảo Khởi nghiệp nhìn chung là một việc kinh doanh mới, dựa trên một ý tưởng sáng tạo hoặc công nghệ có thể cung cấp lợi thế cạnh tranh bền vững [144] Tuy nhiên, khởi nghiệp cũng có thể dựa trên các khía cạnh khác như điều chỉnh những công nghệ hiện tại cho mục đích mới, đặt ra một mô hình kinh doanh mới để mở ra các giá trị trước đây chưa được tìm ra, hoặc mang sản phẩm, dịch vụ đến một địa điểm mới hoặc nhóm khách hàng chưa được phục vụ Theo quan điểm này, sự sáng tạo đổi mới là chìa khóa đưa đến thành công cho khởi nghiệp sáng tạo [108] Một quá trình khởi nghiệp và kinh doanh thành công cần dựa trên sự đổi mới và sáng tạo liên tục, không có khuôn mẫu, người chủ có thể tìm thấy các ý tưởng mới cho sản phẩm, dịch vụ của mình Hướng này được nhiều học giả và nhà quản lý phân tích
Trang 34kỹ, Moore và cộng sự [143] cho rằng: Startup (khởi nghiệp sáng tạo) là tổ chức được hình thành để tìm kiếm mô hình kinh doanh có khả năng tăng trưởng và nhân rộng nhanh
Theo Đề án hỗ trợ Hệ sinh thái Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đến năm 2025 được phê duyệt tại Quyết định số 844/QĐ-TTgCP ngày 18/05/ 2016, thì Khởi nghiệp được tiếp cận theo hướng khởi nghiệp sáng tạo là quá trình hiện thực ý tưởng kinh doanh mới dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ và mô hình kinh doanh mới nhằm tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao, có khả năng tăng trưởng nhanh [44]
Nghiên cứu của Đỗ Thị Hoa Liên [19] cho rằng khởi nghiệp không phải là quyết định của một cá nhân tại một thời điểm nhất định mà là kết quả của một quá trình, do đó khởi nghiệp là việc một cá nhân (tự mình hoặc cùng người khác), có khả năng sắp xếp các nguồn lực để nắm bắt được cơ hội kinh doanh mới, trên tinh thần đổi mới, sáng tạo để tạo một công việc kinh doanh riêng nhằm tạo việc làm, thu nhập
và các giá trị cho riêng mình, đồng thời tạo ra giá trị có lợi cho nhóm khởi nghiệp, người lao động, cộng đồng và nhà nước
Theo Hoàng Thị Hải Yến [64] thuật ngữ khởi nghiệp (Start up) dùng để chỉ một dạng thức kinh doanh mới với yêu cầu tạo ra cái mới (về công nghệ, về sản phẩm, về dịch vụ hay về cách làm, cách đưa sản phẩm ra thị trường…) hoặc tìm cách giải quyết một vấn đề mới (áp dụng các kết quả của nghiên cứu khoa học, công
nghệ…) Chủ thể khởi nghiệp sáng tạo có thể là cá nhân, nhóm cá nhân hoặc tổ chức Các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo không giống với các doanh nghiệp truyền thống vì mục đích lớn nhất của việc thành lập doanh nghiệp này dựa trên nền
tảng đổi mới, sáng tạo và công nghệ rất cao Khởi nghiệp sáng tạo gắn với rất nhiều rủi ro nhưng có thể đem lại những giá trị kinh tế rất lớn vì sản phẩm của các công
ty khởi nghiệp có giá trị gia tăng cao và đặc biệt có khả năng nhân rộng được
Nguyễn Viết Lợi [20] cho rằng, khởi nghiệp là khái niệm dùng để chỉ hoạt động khởi sự tạo dựng cơ nghiệp của một nhóm người nhờ sử dụng công nghệ đổi mới và các giải pháp sáng tạo để giải quyết những vấn đề bức thiết của xã hội, của thị trường
và thu hút, hấp dẫn vốn đầu tư thiên thần nhằm tạo ra những doanh nghiệp lớn không giới hạn Về ngoại diên, có sự giống nhau giữa chủ thể của hoạt động khởi sự kinh
doanh, lập nghiệp và khởi nghiệp ở chỗ họ đều là những chủ thể khởi sự và chính vì vậy mới có nhầm lẫn giữa khởi sự kinh doanh với khởi nghiệp
Trang 35Như vậy, có nhiều quan niệm khác nhau về khởi nghiệp, song, giữa chúng có những điểm chung nhất định: Đều chỉ quá trình hoạt động của một cá nhân, tổ chức thành lập doanh nghiệp để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên nền tảng khoa học và công nghệ, qua đó giúp tăng quy mô doanh nghiệp lên vô hạn nhằm mục tiêu giải quyết những vấn đề bức xúc, cấp thiết của xã hội và thị trường Khởi nghiệp chính là quá trình thực hiện ý tưởng kinh doanh được hiện thực hóa dưới hình thức doanh nghiệp
Vì thế, khái niệm “Khởi nghiệp” trong nghiên cứu này theo tác giả là một quá trình của cá nhân trong việc tìm kiếm, nắm bắt các cơ hội đầu tư, kinh doanh và huy động nguồn lực nhằm thực hiện ý tưởng kinh doanh để thành lập doanh nghiệp
Theo tâm lý học Mácxit, “Hoạt động là quá trình con người thực hiện các quan
hệ giữa con người với thế giới tự nhiên, xã hội”.[25]
Do vậy, theo quan điểm của tác giả, hoạt động khởi nghiệp là một quá trình tìm kiếm, nắm bắt các cơ hội đầu tư, kinh doanh và huy động nguồn lực của cá nhân nhằm hiện thực hóa ý tưởng kinh doanh thông qua các hoạt động của bản thân
2.1.1.2 Khái niệm ý định khởi nghiệp
Bird [79] đã đưa ra định nghĩa về ý định “là một trạng thái tâm lý hướng sự chú ý của một cá nhân tới một đối tượng, mục tiêu, hành trình cụ thể để đạt được một cái kết quả có ý nghĩa với cá nhân đó”
Theo Lanero và các cộng sự [131] “ý định được giả định để nắm bắt được các yếu tố tạo động lực ảnh hưởng đến hành vi, do đó, nó là một chỉ số thể hiện mức độ
cố gắng, nỗ lực mà cá nhân thực hiện để có thể thực hiện được hành vi trong tương lai như mong muốn và đạt kết quả mong đợi, là trạng thái nắm bắt các yếu tố động lực ảnh hưởng tới việc thực hiện hành vi”
Như vậy, ở đây có thể được hiểu ý định là trạng thái nắm bắt các cơ hội hay là động lực để thực hiện một hành vi nào đó trong tương lai
Trong nghiên cứu của Katz [120] đã cho rằng “ý định khởi nghiệp là quá trình tìm kiếm thông tin để thực hiện mục tiêu thành lập doanh nghiệp khởi nghiệp” Theo Thompson [171] đã đưa ra định nghĩa về ý định khởi nghiệp đó là “ý định khởi nghiệp là sự khẳng định của một cá nhân về dự định làm chủ một doanh nghiệp mới và xây dựng kế hoạch thực hiện hành động này tại một thời điểm nhất
Trang 36định trong tương lai” Ý định khởi nghiệp là bước đầu tiên trong quá trình khám phá, sáng tạo, khai thác cơ hội để khởi nghiệp và thành lập doanh nghiệp mới
Từ các khái niệm trên có thể hiểu ý định khởi nghiệp ở đây là cá nhân có những nhận thức nhất định về cơ hội kinh doanh và sẵn sàng hành động để thực hiện ý định đó trong tương lai
2.1.1.3 Khái niệm doanh nghiệp khởi nghiệp
Khi nói đến khởi nghiệp là nói đến doanh nghiệp Vậy DNKN là gì? Đến nay, cũng có nhiều quan điểm khác nhau về DNKN
Theo Low và cộng sự [136], DNKN là tổ chức tìm kiếm mô hình kinh doanh
có khả năng tăng tốc phát triển, nhân rộng và mang lại lợi nhuận
Sarkar [154] cho rằng DNKN là doanh nghiệp có khả năng tăng tốc, DNKN cũng thường mang đặc điểm đổi mới sáng tạo (vì chúng thường có xu hướng phát triển hoặc hướng tới tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới cho thị trường) Những DNKN này là doanh nghiệp mới thành lập, ở nghĩa “đang phát triển” và đang hoạt động trên thị trường
Theo Basso và cộng sự [75], doanh nghiệp khởi nghiệp là một công ty hoạt
động nhằm giải quyết một vấn đề mà giải pháp (đối với vấn đề đó) chưa rõ ràng và
sự thành công không được đảm bảo
Eisemann và cộng sự [101], cho rằng doanh nghiệp khởi nghiệp là một định
chế, tổ chức con người được thiết kế nhằm tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới trong các điều kiện cực kỳ không chắc chắn
Theo Kollmann và cộng sự [124] cho rằng, DNKN là doanh nghiệp hoạt động dưới 10 năm, doanh nghiệp phát triển dựa trên nền tảng công nghệ mới hoặc mô hình kinh doanh mới và có sự tăng trưởng nhanh về nhân viên hoặc khách hàng
Theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14, “Doanh nghiệp
nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo là doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập để thực hiện ý tưởng trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và có khả năng tăng trưởng nhanh” Doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi
nghiệp sáng tạo được hỗ trợ nếu đáp ứng các điều kiện: (i) Có thời gian hoạt động không quá 05 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu; (ii) Chưa thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng đối với công ty cổ phần” [36]
Trang 37Như vậy, DNKN là một danh từ chỉ về các doanh nghiệp mới, được khởi đầu bởi một vài người sáng lập, từ những ý tưởng độc đáo hoặc từ các vấn đề xã hội
đang gặp phải Các DNKN có thể tận dụng nhu cầu thị trường để phát triển sản
phẩm, dịch vụ hoặc một công nghệ nào đó mang tính khả thi Khi mới bắt đầu thành lập, DNKN thường phải kêu gọi vốn tài trợ từ nhiều nguồn khác nhau để phát triển kinh doanh
Dựa trên những quan niệm được phân tích trên đây Theo quan điểm của tác
giả và phạm vi nghiên cứu của luận án được xây dựng: DNKN là một doanh nghiệp đang vận hành dưới 5 năm và chưa được niêm yết trên thị trường chứng khoán, được thành lập nhằm triển khai các ý tưởng kinh doanh trên cơ sở nắm bắt các cơ hội kinh doanh
2.1.1.4 Khái niệm hệ sinh thái khởi nghiệp
Mason và Brown [141] đã định nghĩa hệ sinh thái khởi nghiệp như là “tổng hợp các mối liên kết chính thức và phi chính thức giữa các chủ thể khởi nghiệp (tiềm năng hoặc hiện tại), tổ chức khởi nghiệp (công ty, nhà đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần, hệ thống ngân hàng,…) và các cơ quan liên quan (trường đại học, các cơ quan nhà nước, các quỹ đầu tư công,…) và tiến trình khởi nghiệp (tỉ lệ thành lập doanh nghiệp, số lượng doanh nghiệp có tỉ lệ tăng trưởng tốt, số lượng các nhà khởi nghiệp,…) tác động trực tiếp đến môi trường khởi nghiệp tại địa phương” Theo Isenberg [118] “Hệ sinh thái khởi nghiệp là cách thức một quốc gia hay một thành phố thiết lập để thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp tại địa phương”
Works [182] cho rằng “Hệ sinh thái khởi nghiệp bao gồm một loạt các bên liên quan và cơ sở hạ tầng hỗ trợ mà họ cung cấp, được cung cấp sẵn trong khu vực nhất định để hỗ trợ những người bắt đầu một doanh nghiệp mới”
Theo Startup Commons “Hệ sinh thái khởi nghiệp được hình thành bởi con người, các doanh nghiệp khởi nghiệp trong các giai đoạn phát triển khác nhau và nhiều loại tổ chức khác nhau tại một địa điểm đang tương tác với nhau như một hệ thống để tạo ra và mở rộng quy mô của các doanh nghiệp khởi nghiệp mới”
Tóm lại, hệ sinh thái khởi nghiệp (startup ecosystem/entrepreneurial
ecosystem) với sự tập trung đông đảo các cá nhân có tinh thần khởi nghiệp, công ty hay DNKN và các bên liên quan khác (đóng vai trò hỗ trợ)…có mối quan hệ hữu
Trang 38cơ, cùng tồn tại và phát triển bền vững Sức mạnh của hệ sinh thái khởi nghiệp tùy thuộc vào sự “gắn kết” chặt chẽ của các thành phần bên trong hệ sinh thái khởi
nghiệp Hệ sinh thái khởi nghiệp chính là một dạng nguồn lực vô cùng quan trọng
và là yếu tố tác động thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp
2.1.1.5 Khái niệm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp
Theo quan niệm phổ biến, thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp chính là các phương thức hành động được một chủ thể khẳng định và thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại Đây chính là các quan điểm, giải pháp và công cụ sử dụng để tác động lên chủ thể kinh tế - xã hội nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế
xã hội lặp đi lặp lại, thực hiện những mục tiêu nhất định theo hướng đã xác định Theo từ điển tiếng Việt: “thúc đẩy là kích thích, tạo điều kiện, động lực cho hoạt động, phát triển mạnh hơn theo một hướng nhất định nào đó, thường là hướng tốt”
Khi nghiên cứu về thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp quốc gia, Edquist [100] và
Dunham và cộng sự [99] cho rằng thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp là một phạm trù cần có sự can thiệp của nhà nước, tác động tới sự thay đổi công nghệ, các hình thức đổi mới khác, chính sách công nghệ, chính sách phát triển vùng Nhà nước hỗ trợ tạo
ra môi trường khuyến khích những người có suy nghĩ vượt trội dễ dàng và thuận lợi
để bắt đầu một hoạt động kinh doanh mới Thông qua các chính sách của Nhà nước giúp quá trình bắt đầu kinh doanh sẽ dễ dàng hơn với chi phí thấp hơn Đây cũng là điều kiện giúp phát triển ý tưởng kinh doanh mới hoặc một phát minh mới Hay nói một cách tổng quát, Nhà nước sử dụng các chính sách nhằm tác động tới quá trình khởi nghiệp [77] [82]
Trong nền kinh tế thị trường cần có sự quản lý của nhà nước nhằm giảm thiểu các rủi ro có thể gặp phải Nhà nước sử dụng công cụ chính sách để điều chỉnh các hành vi nhằm hướng đến mục tiêu phát triển chung [91] Qua đó, thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp được hiểu là những can thiệp của Nhà nước tới hoạt động khởi nghiệp của DNKN nhằm tạo môi trường thuận lợi hoặc có thể tài trợ trực tiếp để các doanh nghiệp nhanh chóng tiến hành các hoạt động khởi nghiệp trên cơ sở định hướng phù hợp với mục tiêu tổng thể
Từ các khái niệm trên, theo quan niệm của tác giả, xét về góc độ quản lý kinh
tế, thì thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp là các hoạt động của cơ quan Nhà nước của một quốc gia nhằm kích thích, tạo điều kiện, động lực để hoạt động khởi nghiệp
Trang 39diễn ra một cách thuận lợi, bao gồm việc tạo môi trường pháp lý, khuyến khích sự
ra đời các ý tưởng khởi nghiệp, hiện thực hóa ý tưởng khởi nghiệp, cũng như giúp các DNKN vượt qua các khó khăn về vốn, thủ tục hành chính, kinh nghiệm, nhân lực, công nghệ
Từ nội hàm khái niệm trên, thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp trên phạm vi quốc gia sẽ bao hàm các nội dung để kích thích, tạo động lực, tạo điều kiện thì vai trò của Chính phủ, cơ quan quản lý nhà nước các cấp từ việc xây dựng các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp cần phải hỗ trợ và nuôi dưỡng các ý tưởng khởi nghiệp Đồng thời, thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp phát triển và hỗ trợ các DNKN
2.1.2 Các lý thuyết, đặc điểm và vai trò thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp
2.1.2.1 Các lý thuyết nền tảng
a, Lý thuyết nền kinh tế khởi nghiệp của Richard Catillon
Catillon [89] được coi là người đầu tiên xem xét ảnh hưởng của tinh thần khởi nghiệp đến nền kinh tế Ông cho rằng tinh thần khởi nghiệp là luôn nằm trong tiềm thức của các doanh nhân Nghiên cứu cũng chỉ ra chủ sở hữu tài sản là những người tiêu dùng chính, tất cả sản xuất trong nền kinh tế nhằm đáp ứng những mong muốn của họ Trong khi đó, người lao động nhận tiền lương thường là cố định và các doanh nhân thu nhập thì thường không ổn định vì phải phụ thuộc vào thị trường, phụ thuộc vào số lượng sản phẩm bán ra Các doanh nhân chịu trách nhiệm sản xuất, lưu hành và trao đổi hàng hoá trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu của chủ sở hữu tài sản Các doanh nhân sẽ hành động theo cơ hội chênh lệch về giá tức là sản xuất, mua các sản phẩm với giá thấp và bán ở những nơi giá cao [112]
Catillon [89] khẳng định tinh thần khởi nghiệp có sức lan toả trong nền kinh
tế, được bắt nguồn từ các hoạt động sản xuất kinh doanh theo chuỗi cung ứng, từ việc sản xuất nguyên liệu thô đến phân phối bán lẻ các thành phẩm Bên cạnh đó, vị trí địa lý cũng rất quan trọng đối với các quyết định đầu tư của các doanh nhân vì nó liên quan đến chi phí vận chuyển và giao dịch Vì vậy, hoạt động khởi nghiệp là động lực cơ bản trong phát triển nền kinh tế, sự vắng mặt của các doanh nghiệp sẽ khiến cho hoạt động cung cấp các sản phẩm tới dân cư sẽ bị gián đoạn nếu không muốn nói là khó khăn [104]
b, Lý thuyết xã hội khởi nghiệp
Xã hội khởi nghiệp thường bắt đầu bởi các doanh nghiệp nhỏ khởi nghiệp tại các địa phương nhưng giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu như thúc đẩy thành
Trang 40lập các doanh nghiệp mới, quản lý và xử lý nước, chất thải… Các doanh nghiệp này thường áp dụng các giải pháp sáng tạo trong địa phương và được nhân rộng ra các địa phương khác, tạo ra một mạng lưới lớn mạnh và vươn ra toàn cầu [187] Do
đó các DNKN có ý nghĩa sâu sắc trong hệ thống kinh tế, tạo ra những ngành công nghiệp mới, xác định mô hình kinh doanh mới và phân bổ nguồn lực xã hội một cách hợp lý hơn
Đã có nhiều nghiên cứu về xã hội khởi nghiệp nhưng vẫn chưa đầy đủ như vai trò đối với nền kinh tế, tính logic trong các hoạt động khởi nghiệp xã hội [138], [141] nhưng tất cả đều cho rằng xã hội khởi nghiệp ở đây là các DNKN theo đuổi các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường bằng các hoạt động mạo hiểm, có nhiều rủi ro cao vì áp dụng những phương thức sản xuất kinh doanh mới [110] Các DNKN trong xã hội khởi nghiệp sẽ là một tác nhân làm thay đổi nền kinh tế Chính
vì điều này mà chính phủ nhiều nước đã áp dụng các chính sách nhằm khuyến khích các DNKN, đây được coi là một cách tốt nhất để tạo nên sự đột phá trong nền kinh
tế đất nước [141] Các chuẩn mực xã hội ảnh hưởng đến mức độ của hành vi kinh doanh trong một quốc gia Nếu cách nhìn nhận của xã hội về việc bắt đầu kinh doanh theo chiều hướng tích cực, thì mọi người sẽ có động lực đối với việc khởi nghiệp kinh doanh Mặt khác, thái độ bất lợi trong xã hội có thể dẫn đến tinh thần hoạt động khởi nghiệp kinh doanh ở mức độ thấp Trong nghiên cứu Schwab [157]
đã đề cập đến “hiệu ứng đám đông”, tức là một xã hội khởi nghiệp sẽ là môi trường tốt để các DNKN hình thành và phát triển bởi đối với các doanh nhân khi mới chỉ
có ý định khởi nghiệp nhưng bên cạnh họ có rất nhiều các doanh nhân khác đã và đang khởi nghiệp thành công Tác động đặc biệt của các doanh nhân thành công, những người đã truyền bá kiến thức chuyên môn của họ thông qua mạng xã hội và
sự công nhận của các nhà lãnh đạo đối với họ sẽ tạo ra một hình ảnh tích cực về các hoạt động tự doanh và khởi nghiệp [158] Đây sẽ là nguồn động lực thúc đẩy để các doanh nhân vượt qua được tâm lý e ngại, sẵn sàng chấp nhận rủi ro và đặc biệt là sự cảm thông, động viên của những người xung quanh khi gặp phải các vấn đề khó khăn trong khi khởi nghiệp
c, Lý thuyết khởi nghiệp dựa trên nguồn lực
Các nguồn lực đầu vào là rất quan trọng để phát triển nền kinh tế khởi nghiệp Dựa trên các nguồn lực mang đến nhiều cơ hội, tạo nên những lợi thế cạnh tranh cũng như tính bền vững của nền kinh tế Đối với các DNKN, các nguồn lực sẽ giúp