Chương 1: Khái niệm, nhiệm vụ và nguyên tắc cơ bản của LTTHS. I. Nhận định 1. Quan hệ pháp luật TTHS chỉ phát sinh khi có quyết định KTVAHS của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nhận định này là sai. CSPL: Điều 143 BLTTHS. Giải thích: Quan hệ pháp luật TTHS đã phát sinh khi giai đoạn khởi tố vụ án hình sự bắt đầu, từ lúc cơ quan có thẩm quyền có các căn cứ khởi tố vụ án theo quy định tại Điều 143 BLTTHS. Cơ quan có thẩm quyền sau khi tiếp nhận thông tin về tội phạm sẽ tiến hành các biện pháp điều tra sơ bộ nhằm xác định sự việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm hay không để ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự. Quyết định khởi tố sẽ là cơ sở khởi động bộ máy tố tụng để giải quyết vụ án hình sự và chuyển sang giai đoạn điều tra vụ án hình sự. 2. Quan hệ pháp luật TTHS xuất hiện sau và trên cơ sở quan hệ pháp luật hình sự. Nhận định này là sai. + Về lý thuyết, khi hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định là tội phạm trong Bộ luật Hình sự xảy ra sẽ làm phát sinh trách nhiệm của người thực hiện hành vi đó trước Nhà nước, tức là phát sinh quan hệ pháp luật hình sự. Quan hệ pháp luật TTHS sẽ phát sinh sau và trên cơ sở quan hệ pháp luật hình sự, từ lúc hành vi đó được cơ quan có thẩm quyền biết được và bắt đầu giai đoạn khởi tố vụ án hình sự. + Nhưng trên thực tế có trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận thông tin tố giác tội phạm và khởi động giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, làm xuất hiện quan hệ pháp luật TTHS nhưng sau khi xác minh thì thông tin đó là không chính xác, không có dấu hiệu của tội phạm được quy định trong BLHS, nghĩa là quan hệ pháp luật HS chưa phát sinh. Chẳng hạn TH không xác định được dấu hiệu tội phạm thì không có quan hệ PLHS nhưng lại có quan hệ PL TTHS. VD: Tội phạm che giấu tinh vi, quan hệ PL TTHS thực thực các hoạt động khám nghiệm hiện trường, tử thi,.. để xác định tội phạm. Khi này quan hệ PLTTHS phát sinh để chứng minh có quan hệ PLHS 3. Quan hệ giữa người bào chữa và người bị buộc tội thuộc đối tượng điều chỉnh của luật TTHS. Nhận định này là sai. CSPL: điều 55 BLTTHS 2015. + Đối tượng điều chỉnh của luật TTHS là nhóm những quan hệ xã hội phát sinh giữa cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng với người tham gia tố tụng phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự: mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền tố tụng với nhau, mối quan hệ giữa những người tiến hành tố tụng với nhau, mối quan hệ giữa người tham gia tố tụng với cơ quan và người THTT,... Có thể thấy rằng quan hệ pháp luật TTHS mang tính quyền lực nhà nước và Luật TTHS điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể trong quá trình giải quyết vụ án mà trong đó có ít nhất một bên chủ thể mang quyền lực nhà nước. + Quan hệ giữa người bào chữa và người bị buộc tội chỉ là quan hệ giữa các chủ thể là người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 55 BLTTHS, không mang quyền lực nhà nước. => Quan hệ này có thể được xem là quan hệ được điều chỉnh bởi luật khác không phải luật TTHS. 4. Quan hệ của CQĐT và nguyên đơn dân sự trong VAHS là quan hệ pháp luật tố tụng hình sự. Nhận định này là đúng CSPL: khoản 9 Điều 55, điểm a khoản 1 điều 34 BLTTHS 2015 Theo điểm a khoản 1 điều 34 thì Cơ quan điều tra là cơ quan tiến hành tố tụng hình sự. Theo khoản 9 điều 55 thì nguyên đơn dân sự là người tham gia tố tụng hình sự. Như vậy quan hệ giữa CQĐT và nguyên đơn dân sự trong một VAHS là mối quan hệ giữa cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra và xét xử VAHS, CQĐT thực hiện các hoạt động như điều tra, lấy lời khai và các hoạt khác thông qua đó làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng hình sự với người tham gia tố tụng. 5. QHPL mang tính quyền lực nhà nước là QHPL TTHS Nhận định này là sai Giải thích: QHPL TTHS là quan hệ pháp luật mang tính quyền lực nhà nước và thỏa mãn những điều kiện về chủ thể, khách thể và đối tượng điều chỉnh của quan hệ tố tụng hình sự. Quan hệ pháp luật mang tính quyền lực nhà nước chưa chắc là quan hệ pháp luật tố tụng hình sự vì ngoài ra có các quan hệ pháp luật như QHPL hành chính, QHPL tố tụng hành chính,... cũng là những quan hệ pháp luật mang tính quyền lực nhà nước, có sự tham gia của CQNN, đảm bảo bằng quyền lực nhà nước và những quan hệ này không phải là QHPL TTHS. PS: Có nhiều quan hệ khác không phải quan hệ TTHS. Ví dụ: quan hệ pháp luật hành chính và quan hệ pháp luật tố tụng hành chính đều mang tính quyền lực nhà nước nhưng chúng k phải là quan hệ pháp luật tố tụng hs 6. Phương pháp phối hợp chế ước chỉ điều chỉnh các mối quan hệ giữa các CQTHTT Nhận định này là sai PP phối hợp chế ước điều chỉnh mối quan hệ giữa các cơ quan và cả người có thẩm quyền tiến hành tố tụng với nhau chứ không chỉ điều chỉnh mỗi các quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng. Ví dụ: Điểm a, b, k1 điều 4, k1 điều 35 BLTTHS 2015. Cụ thể là điểm a k1 điều 164 Ví dụ: Điểm a b k1đ4, khoản 1 điều 35 Cụ thể là điểm a khoản 1 điều 165, phát sinh quan hệ giữa VKS và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành 1 số hoạt động điều tra, cơ quan này cũng chịu sự công tố của VKS, có sự phối hợp và chế ước 7. Quan hệ giữa điều tra viên với người bào chữa được điều chỉnh bởi phương pháp quyền uy. Nhận định đúng CSPL: K2 Đ34, K17 Đ55 Giải thích: Điều tra viên là đại diện cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người bào chữa đại diện cho cho người tham gia tố tụng. Sự bất bình đẳng về địa vị pháp lý trong mối quan hệ giữa cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng với người tham gia tố tụng nên các quyết định của họ có tính chất bắt buộc với các chủ thể tham gia tố tụng. Vì vậy, phương pháp quyền uy là phương pháp điều chỉnh mối quan hệ giữa 2 chủ thể trên. 8. Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án chỉ được quy định trong pháp luật TTHS. Nhận định này là SAI CSPL: Điều 15 BLTTHS 2015 Giải thích: Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án ko chỉ là nguyên tắc cơ bản được quy định trong pháp luật TTHS mà còn có trong TT dân sự, TT hình sự. Tinh thần mà các ngành luật Tố tụng muốn hướng đến là tìm ra sự thật khách quan của vụ án nhằm giải quyết đúng đắn. Tuy nhiên, tùy vào các ngành luật mà nguyên tắc xác định sự thật vụ án sẽ được quy định phù hợp với từng chế định của ngành luật đó. 9. Nguyên tắc xét xử công khai được áp dụng cho tất cả các phiên tòa hình sự. Nhận định này là sai CSPL: Điều 25 BLTTHS 2015, TTLT 06 Giải thích: Về nguyên tắc thì mọi phiên tòa đều phải được mở xét xử công khai. Tuy nhiên, xét xử công khai không được áp dụng cho tất cả các phiên tòa hình sự. Theo đó, vụ án sẽ được tiến hành xét xử kín và phải tuyên án công khai đối với trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người dưới 18 tuổi hoặc để giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự. Xét trên thực tế thì việc quy định những trường hợp ngoại lệ này để Tòa án được quyền không thực hiện xét xử công khai là hoàn toàn cần thiết và hợp lý. điều 423 => bv bí mật đời tư 10. Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm chỉ có trong Luật TTHS. Nhận định này là sai. CSPL: điều 26 BLTTHS 2015, điều 24 BLTTDS
Trang 1Chương 1: Khái niệm, nhiệm vụ và nguyên tắc cơ bản của LTTHS.
I Nhận định
1 Quan hệ pháp luật TTHS chỉ phát sinh khi có quyết định KTVAHS của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Nhận định này là sai.
- CSPL: Điều 143 BLTTHS
- Giải thích: Quan hệ pháp luật TTHS đã phát sinh khi giai đoạn khởi tố vụ ánhình sự bắt đầu, từ lúc cơ quan có thẩm quyền có các căn cứ khởi tố vụ án theo quyđịnh tại Điều 143 BLTTHS Cơ quan có thẩm quyền sau khi tiếp nhận thông tin vềtội phạm sẽ tiến hành các biện pháp điều tra sơ bộ nhằm xác định sự việc xảy ra códấu hiệu tội phạm hay không để ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ ánhình sự Quyết định khởi tố sẽ là cơ sở khởi động bộ máy tố tụng để giải quyết vụ
án hình sự và chuyển sang giai đoạn điều tra vụ án hình sự
2 Quan hệ pháp luật TTHS xuất hiện sau và trên cơ sở quan hệ pháp luật hình sự.
- Nhận định này là sai.
+ Về lý thuyết, khi hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định là tội phạm trong
Bộ luật Hình sự xảy ra sẽ làm phát sinh trách nhiệm của người thực hiện hành vi
đó trước Nhà nước, tức là phát sinh quan hệ pháp luật hình sự Quan hệ phápluật TTHS sẽ phát sinh sau và trên cơ sở quan hệ pháp luật hình sự, từ lúc hành
vi đó được cơ quan có thẩm quyền biết được và bắt đầu giai đoạn khởi tố vụ ánhình sự
+ Nhưng trên thực tế có trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận thông tin tốgiác tội phạm và khởi động giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, làm xuất hiện quan
hệ pháp luật TTHS nhưng sau khi xác minh thì thông tin đó là không chính xác,không có dấu hiệu của tội phạm được quy định trong BLHS, nghĩa là quan hệpháp luật HS chưa phát sinh
Chẳng hạn TH không xác định được dấu hiệu tội phạm thì không có quan hệ PLHSnhưng lại có quan hệ PL TTHS
VD: Tội phạm che giấu tinh vi, quan hệ PL TTHS thực thực các hoạt động khámnghiệm hiện trường, tử thi, để xác định tội phạm Khi này quan hệ PLTTHS phátsinh để chứng minh có quan hệ PLHS
3 Quan hệ giữa người bào chữa và người bị buộc tội thuộc đối tượng điều chỉnh của luật TTHS.
- Nhận định này là sai.
- CSPL: điều 55 BLTTHS 2015
+ Đối tượng điều chỉnh của luật TTHS là nhóm những quan hệ xã hội phát sinhgiữa cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng với người tham gia tốtụng phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự: mối quan hệ giữa các
cơ quan có thẩm quyền tố tụng với nhau, mối quan hệ giữa những người tiếnhành tố tụng với nhau, mối quan hệ giữa người tham gia tố tụng với cơ quan vàngười THTT, Có thể thấy rằng quan hệ pháp luật TTHS mang tính quyền lực
Trang 2nhà nước và Luật TTHS điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể trong quátrình giải quyết vụ án mà trong đó có ít nhất một bên chủ thể mang quyền lựcnhà nước.
+ Quan hệ giữa người bào chữa và người bị buộc tội chỉ là quan hệ giữa các chủthể là người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 55 BLTTHS, không mangquyền lực nhà nước
=> Quan hệ này có thể được xem là quan hệ được điều chỉnh bởi luật khác khôngphải luật TTHS
4 Quan hệ của CQĐT và nguyên đơn dân sự trong VAHS là quan hệ pháp luật tố tụng hình sự.
- Nhận định này là đúng
- CSPL: khoản 9 Điều 55, điểm a khoản 1 điều 34 BLTTHS 2015
- Theo điểm a khoản 1 điều 34 thì Cơ quan điều tra là cơ quan tiến hành tốtụng hình sự
- Theo khoản 9 điều 55 thì nguyên đơn dân sự là người tham gia tố tụng hìnhsự
Như vậy quan hệ giữa CQĐT và nguyên đơn dân sự trong một VAHS là mốiquan hệ giữa cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trìnhđiều tra và xét xử VAHS, CQĐT thực hiện các hoạt động như điều tra, lấy lờikhai và các hoạt khác thông qua đó làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng hình
sự với người tham gia tố tụng
5 QHPL mang tính quyền lực nhà nước là QHPL TTHS
- Nhận định này là sai
- Giải thích: QHPL TTHS là quan hệ pháp luật mang tính quyền lực nhà nước
và thỏa mãn những điều kiện về chủ thể, khách thể và đối tượng điều chỉnh củaquan hệ tố tụng hình sự
Quan hệ pháp luật mang tính quyền lực nhà nước chưa chắc là quan hệ pháp luật
tố tụng hình sự vì ngoài ra có các quan hệ pháp luật như QHPL hành chính,QHPL tố tụng hành chính, cũng là những quan hệ pháp luật mang tính quyềnlực nhà nước, có sự tham gia của CQNN, đảm bảo bằng quyền lực nhà nước vànhững quan hệ này không phải là QHPL TTHS
PS: Có nhiều quan hệ khác không phải quan hệ TTHS Ví dụ: quan hệ pháp luậthành chính và quan hệ pháp luật tố tụng hành chính đều mang tính quyền lực nhànước nhưng chúng k phải là quan hệ pháp luật tố tụng hs
6 Phương pháp phối hợp chế ước chỉ điều chỉnh các mối quan hệ giữa các CQTHTT
- Nhận định này là sai
- PP phối hợp chế ước điều chỉnh mối quan hệ giữa các cơ quan và cả người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng với nhau chứ không chỉ điều chỉnh mỗi các quan
hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng
- Ví dụ: Điểm a, b, k1 điều 4, k1 điều 35 BLTTHS 2015 Cụ thể là điểm a k1điều 164
Trang 3Ví dụ: Điểm a b k1đ4, khoản 1 điều 35
Cụ thể là điểm a khoản 1 điều 165, phát sinh quan hệ giữa VKS và cơ quan đượcgiao nhiệm vụ tiến hành 1 số hoạt động điều tra, cơ quan này cũng chịu sự công tốcủa VKS, có sự phối hợp và chế ước
7 Quan hệ giữa điều tra viên với người bào chữa được điều chỉnh bởi phương pháp quyền uy.
- Nhận định đúng
- CSPL: K2 Đ34, K17 Đ55
- Giải thích: Điều tra viên là đại diện cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
và người bào chữa đại diện cho cho người tham gia tố tụng Sự bất bình đẳng vềđịa vị pháp lý trong mối quan hệ giữa cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng vớingười tham gia tố tụng nên các quyết định của họ có tính chất bắt buộc với các chủthể tham gia tố tụng Vì vậy, phương pháp quyền uy là phương pháp điều chỉnhmối quan hệ giữa 2 chủ thể trên
8 Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án chỉ được quy định trong pháp luật TTHS.
- Nhận định này là SAI
- CSPL: Điều 15 BLTTHS 2015
- Giải thích: Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án ko chỉ là nguyên tắc cơbản được quy định trong pháp luật TTHS mà còn có trong TT dân sự, TThình sự Tinh thần mà các ngành luật Tố tụng muốn hướng đến là tìm ra sựthật khách quan của vụ án nhằm giải quyết đúng đắn Tuy nhiên, tùy vào cácngành luật mà nguyên tắc xác định sự thật vụ án sẽ được quy định phù hợpvới từng chế định của ngành luật đó
9 Nguyên tắc xét xử công khai được áp dụng cho tất cả các phiên tòa hình sự.
- Nhận định này là sai
- CSPL: Điều 25 BLTTHS 2015, TTLT 06
- Giải thích: Về nguyên tắc thì mọi phiên tòa đều phải được mở xét xử côngkhai Tuy nhiên, xét xử công khai không được áp dụng cho tất cả các phiên tòahình sự Theo đó, vụ án sẽ được tiến hành xét xử kín và phải tuyên án công khaiđối với trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dântộc, bảo vệ người dưới 18 tuổi hoặc để giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đángcủa đương sự Xét trên thực tế thì việc quy định những trường hợp ngoại lệ này đểTòa án được quyền không thực hiện xét xử công khai là hoàn toàn cần thiết và hợplý
điều 423 => bv bí mật đời tư
10 Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm chỉ có trong Luật TTHS.
- Nhận định này là sai.
- CSPL: điều 26 BLTTHS 2015, điều 24 BLTTDS 2015, điều 18 BLTTHC
2015
Trang 4- Giải thích: Theo đó, nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm khôngchỉ được ghi nhận trong tố tụng hình sự (điều 26 BLTTHS) mà còn được ghinhận tố tụng dân sự và cả tố tụng hành chính Cụ thể trong luật tố tụng dân
sự nguyên tắc này được ghi nhận trong điều 24 BLTTDS 2015 hay trong BLTTHC 2015 cũng ghi nhận tại điều 18 Điều này thể hiện quá trình thay đổi
về nhận thức của cơ quan lập pháp, là sự thể chế hóa chiến lược cải cách tưpháp của Bộ Chính trị
11 Kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ tại phiên tòa là căn cứ duy nhất để
Nhận định: SAI
→ CSPL: Điều 26 BLTTHS 2015
→ Ngoài việc dựa vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ tại phiên tòa thì Tòa áncòn phải dựa vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa để Tòa án có thể ra bản án, quyếtđịnh một cách hợp lý, đúng đắn và khách quan, công bằng,
12 Người THTT và người TGTT có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình
sự kiểm sát của Kiểm sát viên M Vì A là người chưa thành niên nên được chỉ địnhluật sư C làm người bào chữa CQĐT nhận thấy A có nhiều tình tiết giảm nhẹ,phạm tội ít nghiêm trọng, đã tự nguyện khắc phục hậu quả, nên quyết định miễn
Trang 5TNHS và áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng Điều tra viên N được phâncông chủ trì việc hòa giải giữa bị can A, cha mẹ A và bị hại D Trong biên bản hòagiải, các bên đã thỏa thuận về vấn đề bồi thường thiệt hại, bị can A xin lỗi người bịhại D.
Nhóm 1: giữa cơ quan có thẩm quyền với nhau.
+ Công an Phường X và CQĐT ca quận: thông qua việc Công an phường Xtiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển hồ sơ cho CQĐT công anquận -> Phối hợp - chế ước
+ Điều tra viên N và KSV M: thông qua việc Điều tra viên N là người đượcphân công trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra dưới sự kiểm sát củangười Kiểm sát viên M -> Phối hợp - chế ước
+ Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và Điều tra viên N: thông qua việcphân công điều tra viên N hòa giải vụ án -> Mệnh lệnh - quyền uy
Nhóm 2: giữa cơ quan có thẩm quyền với người tham gia tố tụng.
+ B và CA Phường X: thông qua việc B tố giác với công an Phường X ->PPĐC: mệnh lệnh- quyền uy
+ Tòa án và ls C: thông qua việc Tòa án chỉ định luật sư C làm người bào chữacho A -> mệnh lệnh - quyền uy
+ CQĐT và A: thông qua việc CQĐT quyết định miễn TNHS đối với A và ápdụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng -> Mệnh lệnh - quyền uy
+ Điều tra viên N và bị can A, cha mẹ bị can A và bị hại D qua việc Điều traviên N chủ trì việc hòa giải giữa bị can A, cha mẹ A và bị hại D -> mệnhlệnh - quyền uy
Bài tập 2:
A (là người nước ngoài) bị CQĐT tỉnh X khởi tố vụ án và khởi tố bị can về tộitrộm cắp tài sản Trong quá trình tố tụng, A nhờ luật sư B bào chữa cho mình Vì Akhông sử dụng được tiếng Việt nên cơ quan có thẩm quyền đã nhờ C phiên dịchcho A Sau khi kết thúc giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra đã làm bản kết luậnđiều tra và đề nghị viển kiểm sát truy tố A về tội trộm cắp tài sản VKS đã làm bảncáo trạng để truy tố A về tội danh trên Sau đó Tòa án tiến hành xét xử sơ thẩm vàtuyên phạt 05 năm tù
Trang 6- Thứ 4: Quan hệ giữa CQĐT và VKS qua việc lập bản kết luận điều tra và đềnghị VKS truy tố A
- Thứ 5: Tòa án tiến hành xét xử sơ thẩm và tuyên phạt A 05 năm tù đối vớiA
- Thứ 6: Quan hệ giữa A và C
- Thứ 7: Quan hệ giữa VKS và Tòa án
2 Trong những quan hệ đó, quan hệ nào thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật TTHS?
Các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật TTHS:
- Quan hệ giữa bị can A và CQĐT tỉnh X qua việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can vềtội trộm cắp tài sản: quan hệ giữa cơ quan có thẩm quyền THTT và người tham gia
- Quan hệ giữa VKS và Tòa án: quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền THTT
- Quan hệ giữa VKS và A qua việc lập bản cáo trạng để truy tố bị can: quan hệ giữa
cơ quan có thẩm quyền THTT và người tham gia tố tụng
- Quan hệ giữa Tòa án và A qua hoạt động xét xử sơ thẩm: quan hệ giữa cơ quan cóthẩm quyền THTT và người tham gia tố tụng
3 Xác định phương pháp điều chỉnh đối với từng quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật TTHS?
- Phương pháp Quyền uy: CQTT với Người tham gia tố tụng
1 Giả sử A là người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam và thuộc đối tượng được hưởng đặc quyền ngoại giao hoặc quyền ưu đãi, miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên thì vụ án được giải quyết như thế nào?
Trang 7-> K2 Điều 3 BLTTHS → Giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặctheo tập quán quốc tế đó Trường hợp điều ước quốc tế đó không quy định hoặckhông có tập quán quốc tế thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng conđường ngoại giao.
yêu cầu phải được chấp nhận
3 Giả sử A không có khả năng nhờ luật sư bào chữa thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ giải quyết như thế nào?
- CSPL: Điểm a khoản 1 điều 76 BLTTHS 2015 quy định: “1 Trong các trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ:
a) Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình”
A là người đủ tuổi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự (sinh năm 1976) và bịtuyên hình phạt tử hình về tội mua bán trái phép chất ma túy, trong trường hợp Akhông có khả năng nhờ luật sư bào chữa thì theo quy định trên, cơ quan tiến hành
tố tụng tiến hành chỉ định người bào chữa cho A
Chương 2: Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng.
1 Người có thẩm quyền giải quyết VAHS là người THTT
Nhận định này là sai
CSPL: khoản 2 điều 34, điều 35, Điều 39 BLTTHS 2015
Giải thích: Theo đó, chủ thể giải quyết vụ án hình sự bao gồm: Chủ thể tiến hành
tố tụng và một số chủ thể đặc biệt khác theo luật định tại Điều 35 Bộ Luật tố tụnghình sự quy định Mà chủ thể tiến hành tố tụng bao gồm cơ quan có thẩm quyềntiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng Còn các chủ thể đặcbiệt khác như: Bộ đội biên phòng; Hải quan; Kiểm lâm; Cảnh sát biển; Kiểm ngư
Do đó, người có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự không phải chỉ có người tiếnhành tố tụng
2 Giám thị, Phó Giám thị trại giam là người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
Nhận định này là đúng
Trang 8CSPL: điểm g khoản 2 điều 35 BLTTHS 2015
Theo đó, người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của các cơquan khác trong Quân đội nhân dân bao gồm Giám thị, Phó Giám thị Trại giam,Thủ tướng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương Chính vì vậy Giám thị,Phó Giám thị trại giam là người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt độngđiều tra
3 Thẩm quán chủ tọa phiên tòa phải từ chối hoặc bị thay đổi nếu là người thân thích của kiểm sát viên trong cùng VAHS.
KSV tham gia trước và thẩm phán tham gia sau nên bị thay đổi
***Thẩm phán và hội thẩm đều phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu là người thân thích với nhau trong cùng một vụ án
Nhận định sai
CSPL: điểm b khoản 1 điều 53 BLTTHS 2015, điểm a mục 6 phần I NĐ 03/2004Theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 53 BLTTHS thì nếu thẩm phán, hội thẩmtrong cùng 1 hội đồng xét xử là người thân thích với nhau thì phải từ chối tham giaxét xử hoặc bị thay đổi Thêm vào đó, điểm a, mục 6 phần 1 NQ 03/2004 thì khi cóhai người thân thích với nhau thì chỉ có 1 người phải từ chối hoặc bị thay đổi
4 Chỉ có kiểm sát viên thực hành quyền công tố mới có quyền trình bày lời buộc tội tại phiên tòa
CSPL: Điểm b khoản 2 Điều 72, khoản 4 Điều 72 BLTTHS 2015
Giải thích: Điểm b khoản 2 Điều 72, trường hợp vừa là người đại diện, vừa làngười bào chữa Hai tư cách tố tụng phải có quyền và lợi ích không mâu thuẫn và
Trang 9trái ngược nhau Theo quy định tại khoản 4 Điều 72 BLTTHS 2015, pháp nhâncũng có thể tham gia tố tụng với hai tư cách là người đại diện và người bào chữacho bị cáo
6 Những người TGTT có quyền và lợi ích pháp lý trong VAHS có quyền
đề nghị thay đổi người THTT
Nhận định Sai
CSPL: điều 50 BLTTHS 2015
Giải thích: Theo Điều 50 BLTTHS, những người có quyền đề nghị thay đổi người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng bao gồm: Kiểm sát viên; người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện của họ; ngườibào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, nguyên đơn dân sự,
bị đơn dân sự Do đó, những người tham gia tố tụng khác như người làm chứng,người phiên dịch không có quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiếnhành tố tụng
7 Đương sự có quyền đề nghị thay đổi người giám định, người phiên dịch
=> Nhận định này sai
CSPL: điểm g khoản 1 điều 4, điểm e khoản 2 điều 63, điểm g khoản 2 điều 64,khoản 2 điều 65 BLTTHS 2015
Điểm g khoản 1 điều 4 BLTTHS quy định đương sự bao gồm nguyên đơn dân sự,
bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự Tuynhiên, căn cứ theo điểm e khoản 2 điều 63, điểm g khoản 2 điều 64, khoản 2 điều
65 BLTTHS 2015 thì chỉ có nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự mới có quyền đềnghị thay đổi người giám định, người phiên dịch còn người có quyền lợi, nghĩa vụliên quan đến vụ án hình sự thì không có quyền này
8 Những người TGTT có quyền và lợi ích pháp lý trong vụ án có quyền nhờ luật sư bào chữa cho mình.
Nhận định này sai
Cơ sở pháp lý: điểm g khoản 1 điều 58, điểm d khoản 2 điều 59, điểm h khoản 2điều 60, điểm g khoản 2 điều 61 BLTTHS 2015
Căn cứ theo điểm g khoản 1 điều 58, điểm d khoản 2 điều 59, điểm h khoản 2 điều
60, điểm g khoản 2 điều 61 và những những quy định tại chương IV BLTTHS vềngười tham gia tố tụng thì chỉ có người bị tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp,người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mới có quyền tự bào chữa hoặc nhờngười khác bào chữa cho mình vì họ là những người bị buộc tội còn những ngườitham gia tố tụng khác thì không có quyền này Vì vậy, chỉ có người bị tạm giữtrong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người người bị tạm giữ, bị can, bị cáomới có quyền nhờ luật sư bào chữa cho mình
9 Chỉ có người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mới có quyền tự bào chữa, nhờ người khác bào chữa
Nhận định sai
Cơ sở pháp lý: điểm đ khoản 1 điều 4, điều 16, điểm g khoản 1 điều 58, điểm dkhoản 2 điều 59, điểm h khoản 2 điều 60, điểm g khoản 2 điều 61 BLTTHS 2015
Trang 10Căn cứ vào điều 16 BLTTHS 2015 quy định: “Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa” mà người bị buộc tội theo quy định
tại điểm đ khoản 1 điều 4 BLTTHS 2015 bao gồm người bị bắt, người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo nên quyền tự bào chữa, nhờ người khác bào chữa không chỉ thuộc vềngười bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà còn thuộc về người bị bắt
Ngoài ra, tại điểm g khoản 2 điều 58, điểm d khoản 2 điều 59, điểm h khoản 2 điều
60, điểm g khoản 2 điều 61 BLTTHS 2015 cũng chỉ ra người bị bắt, người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo là những chủ thể có quyền này
Theo điều 74 thì người bị bắt bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tốtụng từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giaonhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ
10 Trong mọi trường hợp, người bảo chữa phải bị thay đổi nếu là người thân thích của người THTT.
Nhận định này là SAI
Căn cứ vào mục 1, phần II NQ 03/2004 thì căn cứ vào thời điểm mà người bàochữa tham gia để quyết định thay đổi hoặc không thay đổi Nếu người bào chữakhông tham gia trong các giai đoạn tố tụng ngay từ đầu mà có quan hệ thân thíchvới người đã và đang tiến hành tố tụng thì sẽ từ chối cấp giấy chứng nhận ngườibào chữa cho người được nhờ bào chữa đó Còn nếu người bào chữa tham giatrong các giai đoạn tố tụng ngay từ đầu thì sẽ được cấp giấy chứng nhận người bào
chữa và người bị thay đổi trong trường hợp này là người tiến hành tố tụng có mối quan hệ thân thích với người bào chữa Như vậy, không phải trong mọi
trường hợp, người bào chữa phải bị thay đổi nếu là người thân thích của người tiếnhành tố tụng
PS: Lời khai của người làm chứng chỉ là nguồn của vụ án
12 Người thân thích của Thẩm phán không thể tham gia tố tụng với tư cách
là người làm chứng trong vụ án đó.
Nhận định này là sai
Trang 11CSPL: Điều 66 BLTTHS 2015
Theo quy định tại khoản 2 điều 66 BLTTHS 2015 quy định về hai trường hợp
không được làm chứng thì người thân thích của Thẩm phán không nằm trong hai
trường hợp đó Nếu người thân thích của Thẩm phán là người biết được những tìnhtiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền
tố tụng triệu tập đến làm chứng thì người thân thích của Thẩm phán vẫn được thamgia tố tụng với tư cách là người làm chứng theo khoản 1 Điều 66 BLTTHS 2015.Vậy nên Người thân thích của Thẩm phán có thể tham gia tố tụng với tư cách làngười làm chứng trong vụ án đó
13 Người giám định có thể là người thân thích của bị can, bị cáo
cứ của việc không chấp nhận
[NQ 03/2004 => từ chối là cả 2 cùng từ chối thì mới chấp nhận (bao gồm người bịbuộc tội dưới 18 và người đại diện của họ]
15 Một người khi thực hiện hành vi tội phạm là người chưa thành niên, nhưng khi khởi tố VAHS đã đủ tuổi thì họ không thuộc trường hợp quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 76 BLTTHS
Nhận định sai
CSPL: Điểm b Khoản 1 Điều 76 BLTTHS 2015
Một người khi thực hiện hành vi tội phạm là người chưa thành niên, nhưng khikhởi tố VAHS đã đủ tuổi thì họ vẫn có thể thuộc trường hợp quy định tại Điểm bKhoản 1 Điều 76 BLTTHS Khi người đó đã đủ 18 tuổi nhưng có nhược điểm vềthể chất mà không thể tự bào chữa hoặc người đã đủ 18 tuổi nhưng có nhược điểm
về tâm thần
16 Đầu thú là việc người phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành vi phạm tội của mình trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện
Nhận định sai
Trang 12→ CSPL: Điểm i Khoản 1 Điều 4 BLTTHS 2015.
→ Theo BLTTHS 2015, nhận định trên đang trình bày định nghĩa về tự thú, còn
đầu thú là việc người phạm tội sau khi bị phát hiện thì họ đã tự nguyện ra trình
diện và khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình
17 Người có nhược điểm về thể chất có thể tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng
- Nhận định đúng
- Giải thích:
+ CSPL: Điểm b khoản 2 điều 66 BLTTHS
Theo quy định này thì người có nhược điểm về thể chất mà không có khả năngnhận thức được những tình tiết liên quan nguồn tin về tội phạm, về vụ án hoặckhông có khả năng khai báo đúng đắn sẽ thuộc nhóm người không được làmchứng
Như vậy, người có nhược điểm về thể chất vẫn có thể tham gia tố tụng với tư cách
là người làm chứng khi người này có khả năng nhận thức được những tình tiết liênquan nguồn tin về tội phạm, về vụ án và có khả năng khai báo đúng đắn
18 Chức danh Điều tra viên chỉ có trong TTHS.
Cơ sở pháp lý: Điều 62, Điều 63 BLTTHS
Giải thích: Theo quy định tại k1 Đ62 BLTTHS thì “Bị hại là cá nhân trực tiếp bịthiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tàisản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra” Thiệt hại đó phải có mối quan
hệ nhân quả với hành vi phạm tội, đây là căn cứ quan trọng để xác định cá nhân, cơquan, tổ chức bị thiệt hại là bị hại hay là chỉ là nguyên đơn dân sự trong VAHS.Đồng thời, cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại chỉ được tham gia tố tụng với tưcách là bị hại khi được cơ quan tiến hành tố tụng công nhận Ví dụ: Tội đầu cơ(Điều 196 BLHS), Tội đánh bạc (Điều 321 BLHS),
Không thể xác định NN là bị hại: ví dụ các tội phạm xâm phạm an ninh tổ quốc,xâm phạm đến rừng, tội phạm ma túy,
→ Nhận định đúng
→ Trong trường hợp là tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, xâmphạm trật tự công cộng, an toàn công cộng, ma túy, bài bạc thìkhông có người bị hại cụ thể nên sẽ không có người tham gia tốtụng với tư cách là người bị hại
Trang 13IV Bài tập
Bài tập 1:
A thuê một chiếc xe ô tô của công ty X (do N làm Giám đốc) để đi du lịch nhưngsau đó lại sử dụng chở B đi trộm cắp tài sản của công ty Z (do M làm chủ tịch Hộiđồng quản trị) Vụ việc bị quần chúng nhân dân phát hiện và báo với cơ quan công
an CQĐT khởi tố VAHS, khởi tố bị can đối với A, B và làm bản kết luận điều tra
đề nghị truy tố VKS hoàn thành cáo trạng và Tòa án đã quyết định đưa vụ án raxét xử
Câu hỏi:
1 Xác định tư cách tham gia tố tụng của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong
vụ án trên tại phiên tòa sơ thẩm?
Tư cách tham gia tố tụng của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phiên tòa sơthẩm
- Bị cáo: A và B
- Bị hại: Công ty Z
- Người đại diện theo pháp luật của bị hại là M
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: công ty X
- Người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là N.Mấu chốt để xác định nguyên đơn chính là bị thiệt hại, mà sau đó có đơn yêu cầu
bồi thường thiệt hại
Tình tiết bổ sung thứ nhất
Sau khi nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử, phát hiện D (Hội thẩm nhândân) tham gia trong Hội đồng xét xử là anh em kết nghĩa với A, nên M đề nghịthay đổi D
2 Tòa án sẽ giải quyết như thế nào trong trường hợp này? Ai có thẩm quyền giải quyết?
Theo quy định tại khoản 1 điều 53 thì Hội thẩm phải từ chối tham gia xét xử hoặc
bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 49 của Bộ luậtnày Mà theo khoản 3 điều 49 quy định các trường hợp phải từ chối hoặc thay đổingười có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ
có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ
Do đó trong TH này thì D là Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án khi bị cáo Achính là anh em kết nghĩa của mình nên Hội thẩm nhân dân phải bị thay đổi Căn
cứ vào điểm c mục 4 phần I NQ 03/2004/NQ-HĐTP thì TH anh em kết nghĩa làmột trong những căn cứ để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.Như vậy khi M là người đại diện theo pháp luật của bị hại cũng chính là người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại theo điểm b khoản 2 điều 84 BLTTHS
2015 có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng theo khoản 2 điều 50 của
Bộ luật này
Căn cứ vào khoản 2 điều 53 BLTTHS 2015 thì việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩmtrước khi mở phiên tòa do Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án được phân cônggiải quyết vụ án quyết định Do đó trong TH này khi M là là người đại diện theo
Trang 14pháp luật của bị hại đề nghị thay đổi D là Hội thẩm nhân dân thì sẽ do Chánh ánhoặc Phó Chánh án Tòa án giải quyết
Tình tiết bổ sung thứ hai
Tại phiên tòa sơ thẩm, phát hiện luật sư F (người đã tham gia bào chữa cho A từkhi khởi tố bị can) là con nuôi của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, nên Kiểm sát viên
đã đề nghị phải thay đổi luật sư F
3 Đề nghị của Kiểm sát viên có hợp lý không? Tại sao?
Đề nghị của Kiểm sát viên là chưa hợp lý Bởi vì
Mặc dù theo quy định tại điểm a khoản 4 điều 72 thì người không được bào chữa làngười thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng vụ án đó Trong TH nàythì người bào chữa là F lại là con nuôi của Thẩm phán chủ tọa phiên Tòa, mà theođiểm e khoản 1 điều 4 thì người thân thích của người tham gia tố tụng, người cóthẩm quyền tiến hành tố tụng có bao gồm con nuôi Đồng thời theo quy định tạiđiểm k khoản 1 điều 42 thì Kiểm sát viên có quyền yêu cầu thay đổi người bàochữa
Tuy nhiên căn cứ theo quy định điểm b mục 1 Phần II NQ 03/2004/NQ-HĐTP thì
“Trường hợp trong các giai đoạn tố tụng trước đó, bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ đã có nhờ người bào chữa và nay vẫn tiếp tục nhờ người đó bào chữa thì cần phải xem xét người đó có quan hệ thân thích với người nào (Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án) được phân công tiến hành tố tụng trong vụ án hay không Nếu có quan hệ thân thích với người nào đó được phân công tiến hành tố tụng trong vụ án, thì cần phân công người khác không có quan hệ thân thích với người được nhờ bào chữa thay thế tiến hành tố tụng và cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho người được nhờ bào chữa đó”
Do đó trong TH này việc kiểm sát viên đề nghị thay đổi luật sư F là chưa hợp lýbởi vì luật sư này đã tham gia bào chữa cho A từ các giai đoạn tố tụng trước đó cụthể là từ khi khởi tố bị can, do đó trong tình huống này cần phải tiến hành thay đổiThẩm phán, chủ tọa phiên tòa
Bài tập 2: Gia đình A bị cưỡng chế thu hồi đất và N ( 17 tuổi, con của A) đã có
hành vi chốnh người thi hành công vụ ( gây thương tích cho B nhưng không cấuthành tội độc lập)
Câu hỏi:
1 Xác định tư cách TGTT của B trong các TH sau:
Tư cách TGTT của B trong các TH sau: Do hành vi của N không cấu thành tội độclập, nên vụ án chỉ khởi tố điều tra với tội danh chống người thi hành công vụ:
a B làm đơn yêu cầu BTTH
Tư cách tham gia tố tụng của B là (nguyên đơn dân sự vì chủ thể này cũng bị thiệthại nhưng là thiệt hại gián tiếp)
b B không làm đơn yêu cầu BTTH
Tư cách tham gia tố tụng của B là người có quyền và nghĩa vụ liên quan vì họ cólợi ích
Trang 152 Xác định tư cách TGTT của A và N trong giai đoạn điều tra Nếu N chỉ mới
14 tuổi 06 tháng thì tư cách tham gia tố tụng của A có thay đổi không? Tại sao?
Tư cách tham gia tố tụng của A: người đại diện hợp pháp (Căn cứ vào Điều 9TTLT 06/2018 quy định về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi thì để đảmbảo việc có mặt và tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ngườidưới 18 tuổi là N thì A sẽ đại diện cho N)
Tư cách tham gia tố tụng của N:là bị can (theo khoản 1 điều 60 BLTTHS 2015)Nếu N chỉ mới 14 tuổi 06 tháng thì tư cách tham gia tố tụng của A có thay đổi Bởi
vì 17 tuổi thì đã đủ cấu thành tội chống thi hành công vụ nên A bị truy cứu TNHS
về tội chống người thi hành công vụ ở điều 330 BLHS 2015 và A trở thành ngườiđại diện theo pháp luật và cũng là người đại diện tham gia tố tụng nhưng nếu N 14tuổi 6 tháng thì chưa đủ độ tuổi chịu trách nhiệm HS về tội này theo khoản 2 điều
12 BLHS Vì thế trong trường hợp N 14 tuổi 6 tháng thì N sẽ không bị truy cứuTNHS về tội chống người thi hành công vụ nên A cũng sẽ không phải là chủ thểđại diện cho N trong vụ án
Căn cứ vào khoản 3 điều 157, căn cứ không được khởi tố VAHS: “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự”
3 Giả sử B không bị thiệt hại về sức khỏe thì B có thể tham gia tố tụng với tư cách gì?
Nếu B không bị thiệt hại về sức khỏe thì B vẫn có thể tham gia tố tụng với tư cách
là người làm chứng theo điều 66 BLTTHS 2015
4 Giả sử Điều tra viên K trong vụ án này là người trước đây 02 năm đã từng trực tiếp tiến hành điều viên N trong một vụ án khác về tội gây rối trật tự công cộng (Vụ án N đã được xác định là bị oan) Nếu N đề nghị thay đổi Điều tra viên K thì có được chấp nhận không? Tại sao?
Nếu N đề nghị thay đổi điều tra viên K thì theo em sẽ không được chấp nhận.Căn cứ vào điều 51 BLTTHS quy định về việc thay đổi điều tra viên nếu Điều traviên đó đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Kiểm sát viên, Kiểm traviên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thẩm tra viên hoặc Thư ký Tòa án Theo đó trong tìnhhuống này N đề nghị thay đổi điều tra viên K với lý do là người này trước đây 02năm từng trực tiếp tiến hành điều tra N trong một vụ án về tội gây rối trật tự côngcộng Tuy nhiên, căn cứ theo quy định trên thì đây là lý do không hợp pháp để đềnghị thay đổi điều tra viên Cụ thể là quy định thay đổi điều tra viên nếu điều traviên đó đã từng tiến hành tố tụng trong vụ án đó, còn trong TH này thì điều traviên tiến hành tố tụng trong 2 vụ án khác nhau Đồng thời căn cứ theo Khoản 3Điều 49 BLTTHS 2015 thì cũng không đủ căn cứ để cho rằng K sẽ không vô tưkhi làm nhiệm vụ trong vụ án này vì người này trước đây 2 năm đã từng trực tiếptiến hành điều tra N trong vụ án khác (Vụ án đó N đã được xác định là bị oan) Do
đó thì nếu N đề nghị thay đổi điều tra viên K thì theo em sẽ không được chấp nhận
Bài tập 3:
A (17 tuổi) là con ông B và bà C Ngày 20/7/2015 A lẻn vào nhà ông D hàng xómtrộm được 01 chiếc xe máy, 02 lượng vàng và 10 triệu đồng Sau đó, A mang chiếc
Trang 16xe máy cầm cố cho ông X được 10 triệu đồng, 02 lượng vàng A mang ra doanhnghiệp tư nhân kinh doanh vàng bạc do ông Y làm chủ để bán (ông X và ông Y khicầm cố chiếc xe và mua số vàng không biết là tài sản do phạm tội mà có) Toàn bộ
số tiền trộm cắp được A đã tiêu xài hết Sau đó hành vi phạm tội của A bị pháthiện CQĐT đã ra quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với A Trong quátrình giải quyết vụ án, gia đình A nhờ luật sư K làm người bào chữa cho A, cònông D nhờ luật sư L bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình
1 Xác định tư cách của các chủ thể TGTT trong vụ án trên?
- A (17 tuổi): do A đã bị CQĐT ra quyết định khởi tố bị can nên A TGTT với tư các
là bị can theo quy định tại Điều 60 BLTTHS 2015
- Ông B và bà C: do A là người chưa thành niên (17 tuổi) và là con của ông B và bà
C nên trong trường hợp A không có tài sản độc lập để bồi thường thiệt hại thìngười giám hộ của A có nghĩa vụ bồi thường thay cho A Vì vậy, ông B và bà C cóthể TGTT với tư cách là bị đơn dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 64 BLTTHS2015
- Ông D: hành vi trộm cắp của A đã trực tiếp dẫn đến hậu quả thiệt hại về tài sản đốivới ông D nên ông D sẽ TGTT với tư cách là bị hại theo quy định tại khoản 1 Điều
62 BLTTHS 2015
- Luật sư K: do gia đình bị can A nhờ luật sư K bào chữa cho A trong quá trình giảiquyết vụ án nên K TGTT với tư cách là người bào chữa cho người bị buộc tội là Atheo quy định tại khoản 1 Điều 72 BLTTHS 2015
- Luật sư L: do bị hại D nhờ luật sư L bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mìnhnên luật sư L sẽ TGTT với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
bị hại theo quy định tại khoản 1 Điều 84 BLTTHS 2015
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: X, Y => ngay tình
2 Giả sử trong quá trình điều tra, Điều tra viên được phân công phụ trách giải quyết vụ án là cháu ruột của D thì có ảnh hưởng gì đến việc giải quyết vụ
án không?
- Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 49 BLTTHS 2015, mục 1khoản 4 NQ 03/2004 thì Điều tra viên trong trường hợp này là người thân thích củađương sự (cháu ruột của đương sự) nên phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thayđổi nhằm đảm bảo sự vô tư, khách quan trong quá trình giải quyết vụ án
- Bị can và người bào chữa có quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiếnhành tố tụng nếu như biết về quan hệ giữa các chủ thể trên và Thủ trưởng, Phó Thủtrưởng Cơ quan điều tra sẽ ra quyết định thay đổi Điều tra viên
3 Giả sử trong quá trình điều tra, Kiểm sát viên phát hiện Điều tra viên được phân công phụ trách giải quyết vụ án là cha của luật sư K thì phải giải quyết như thế nào?
- Nếu luật sư K là người đại diện cho A thì căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 51 vàkhoản 1 Điều 49 BLTTHS 2015 thì Điều tra viên trong trường hợp này phải từchối hoặc bị thay đổi
Trang 17- Trường hợp luật sư K không phải người đại diện của A thì có thể căn cứ quy địnhtại khoản 3 Điều 49 và điểm c mục 4 phần I NQ 03/2004 xác định căn cứ cho rằng
họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ để đề nghị thay đổi người THTT.Xem ai là người tham gia trước, người tham gia trước thì sẽ được giữ lại
4 Giả sử trong quá trình giải quyết vụ án A không nói được tiếng Việt thì cha
mẹ của A là ông B và bà C có thể tham gia vụ án để làm người phiên dịch cho con mình hay không? Tại sao?
=> Trường hợp A không sử dụng được tiếng Việt thì cha mẹ A là ông B và bà Ckhông thể tham gia vụ án để phiên dịch cho con mình do ông B và bà C là ngườithân thích và cũng là người đại diện theo pháp luật của bị can thuộc trường hợpphải từ chối hoặc bị thay đổi làm người phiên dịch khi tham gia TTHS theo quyđịnh khoản 4 Điều 70 BLTTHS 2015
5 Giả sử toàn bộ hành vi của A bị con gái của D (8 tuổi) chơi bên nhà hàng xóm nhìn thấy Trong quá trình giải quyết vụ án, con gái ông D có thể tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng hay không? Tại sao?
- Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 66 BLTTHS thì trong tình huống con gáicủa D nhìn thấy hành vi phạm tội diễn ra và cơ quan có thẩm quyền THTT xác
định không thuộc trường hợp “Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan nguồn tin về tội phạm, về vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn” thì có thể tham gia tố
tụng với tư cách người làm chứng do pháp luật hiện nay không có quy định về độtuổi tối thiểu của người làm chứng
Lời khai chỉ là nguồn của chứng cứ, do đó có dùng hay không dùng thì do người
- C: Theo quy định tại khoản 1 Điều 117 BLTTHS 2015, C tự thú thì tư cách tố
tụng của C có thể là người bị tạm giữ Tùy vào từng giai đoạn tố tụng tiếp theo mà
tư cách của C có thể thay đổi Nhưng C lại được miễn truy cứu trách nhiệm hình sựthì C có thể tham gia tố tụng với vai trò là người làm chứng
- A và B: Nếu A và B bị khởi tố hình sự thì tư cách của A và B là bị can, nếu A và
B đã bị Tòa án đưa ra xét xử thì tư cách của A và B là bị cáo
- N: tư cách tham gia tố tụng của N là người bị hại vì N bị thiệt hại về vật chất dohậu quả của A, B, C gây ra
- H: Do C là con của H và vẫn là người chưa thành niên (17 tuổi), trong trường hợpnày nếu C không có tài sản riêng để bồi thường thiệt hại thì H có trách nhiệm bồithường thay cho C Như vậy, H là bị đơn dân sự
Trang 18- Cơ quan X: Nếu cơ quan X có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại thì cơ quan X sẽtham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự
(Theo khoản 1 Điều 62 BLTTHS 2015)
Cơ quan của E: Người có quyền và nghĩa vụ liên quan (Theo Khoản 1 Điều 65BLTTHS 2015)
A: người bào chữa cho D nếu A không thuộc trường hợp không được bào chữatheo quy định tại khoản 4 điều 72 BLTTHS 2015 (Theo khoản 1 điều 72BLTTHS)
Bài tập 5:
1 Tư cách tham gia tố tụng được xác định như sau:
A: bị hại (theo quy định tại Điều 62 BLTTHS 2015), vì A bị thiệt hại trực tiếp từhành vi phạm tội của B, C Cụ thể, A bị thiệt hại 1 chiếc túi xách trong đó có mộtsợi dây chuyền vàng và một khoản tiền mặt
B: bị can (theo quy định tại Điều 60 BLTTHS 2015), vì B đã bị CQĐT khởi tố C: bị can (theo quy định tại Điều 60 BLTTHS 2015) vì C đã bị CQĐT khởi tố D: người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (theo quy định tại Điều 65 BLTTHS2015) nếu cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập
M: nguyên đơn dân sự (theo quy định tại Điều 63 BLTTHS 2015) nếu M có đơnyêu cầu BTTH, vì hành vi phạm tội của B, C đã gây thiệt hại về tài sản cho anh M,
cụ thể anh M bị thiệt hại các mặt hàng trên kệ trưng bày bị chị A đụng trúng do B,
TH2: X là người đại diện của C nếu C đủ tài sản để tự bồi thường
2 Nếu B và C không yêu cầu người bào chữa và người thân thích của B, C cũngđồng thời không yêu cầu người bào chữa thì CQĐT sẽ phải tiến hành chỉ địnhngười bào chữa cho C theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 76 BLTTHS 2015,
vì khi thực hiện hành vi phạm tội C mới chỉ 17 tuổi (chỉ chỉ định người bào chữacho B nếu B thuộc các trường hợp được chỉ định người bào chữa theo Khoản 1Điều 76 BLTTHS 2015 ví dụ: B có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bàochữa)
=> Theo Đ.60.2.h, B và C có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa
Trang 19Đối với B đã đủ 18 tuổi, B không yêu cầu người chữa cho mình thì B có quyền tựbào chữa cho mình
Đối với C dưới 18 tuổi, vì C thuộc TH tại Điều 76.1.b nên CQĐT phải chỉ địnhngười bào chữa cho họ ngay cả khi C không yêu cầu người bào chữa cho mình Đối với B, nếu tội phạm thuộc quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20năm tù, tù chung thân, tử hình (khoản 4 Điều 171 BLHS) thì CQĐT phải chỉ địnhngười bào chữa cho B Nếu không thuộc trường hợp trên, theo quy định tại điểm b
khoản 1 Điều 3 Thông tư 46/2019/TT-BCA: “Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam chưa yêu cầu nhờ người bào chữa thì trong lần đầu tiên lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ, lần đầu tiên hỏi cung bị can, Điều tra viên hoặc Cán bộ điều tra phải hỏi rõ người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can có nhờ người bào chữa hay không và phải ghi ý kiến của họ vào biên bản […] Trường hợp họ không nhờ người bào chữa thì trong thời hạn 12 giờ sau khi lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ, 24 giờ kể từ khi hỏi cung bị can lần đầu, Điều tra viên, Cán bộ điều tra đã lấy lời khai, hỏi cung có trách nhiệm thông báo cho người đại diện hoặc người thân thích của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam.” Như vậy, CQĐT phải hỏi rõ ý kiến của B về việc có nhờ người
bào chữa hay không và ghi đầy đủ ý kiến của B vào văn bản Nếu B vẫn không nhờngười bào chữa, người của CQĐT có trách nhiệm thông báo cho người đại diệnhoặc người thân thích của B
3 Nếu VKS phát hiện điều tra viên trong vụ án trên là anh rể của B thì VKS giảiquyết như thế nào?
=> Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 51 thì Điều tra viên phải từ chối tiếnhành tố tụng hoặc bị thay đổi khi rơi vào trường hợp được quy định tại Điều 49 VìĐiều tra viên trong vụ án là anh rể của B nên có căn chứng để cho rằng Điều traviên sẽ không vô tư khách quan khi làm việc Do đó, theo quy định tại khoản 3Điều 49 thì cần thay đổi Điều tra viên Theo quy định tại khoản 15 Điều 50 thìKiểm sát viên của VKS có thể đề nghị thay đổi Điều tra viên
Chương 3: Chứng cư và chứng minh trong TTHS Nhận định
1 Chứng cứ trực tiếp có độ tin cậy và giá trị chứng minh cao hơn chứng
cứ gián tiếp.
Nhận định này là sai
CSPL: Điều 15, Điều 85, Điều 86 BLTTHS 2015
Giải thích: Theo đó không phải lúc nào chứng cứ trực tiếp cũng có độ tin cậy vàgiá trị chứng minh cao hơn chứng cứ gián tiếp Mà mỗi loại chứng cứ đều cónhững vai trò quan trọng trong quá trình chứng minh sự thật vụ án hình sự Mặc dùchứng cứ trực tiếp có giá trị chứng minh rất cao nhưng lời nhận tội của bị can, bịcáo không được sử dụng làm chứng cứ duy nhất để buộc tội
Vì vậy, trong quá trình chứng minh, cơ quan tiến hành tố tụng phải thu thập, kiểmtra, đánh giá đầy đủ, khách quan các chứng cứ, không coi trọng hay xem nhẹchứng cứ nào Bởi vì thực tiễn cho thấy trong nhiều vụ án chứng cứ trực tiếp thu
Trang 20thập được rất hạn chế mà phải dùng các chứng cứ gián tiếp để giải quyết vụ ánhoặc thông qua chứng cứ gián tiếp để tìm ra chứng cứ trực tiếp
2 CQĐT không có trách nhiệm làm rõ những chứng cứ xác định vô tội
hoặc làm giảm nhẹ TNHS cho bị can
Nhận định sai
Cơ sở pháp lý: điều 15, khoản 3, khoản 6 điều 85, điểm a khoản 1 điều 34
BLTTHS 2015
Căn cứ theo quy định tại điều 15 BLTTHS 2015 thì Trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện
và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội Ngoài
ra tại khoản 3, khoản 6 điều 85 BLTTHS 2015 thì những tình tiết giảm nhẹ, tăngnặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo, những tình tiết khác liên quan đếnviệc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt lànhững vấn đề cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh trong vụ
án hình sự
Mà theo điểm a khoản 1 điều 34 BLTTHS 2015 CQĐT là CQ có thẩm quyền tiếnhành tố tụng nên CQĐT có trách nhiệm làm rõ những chứng cứ xác định vô tộihoặc làm giảm nhẹ TNHS cho bị can
ở giai đoạn truy tố; do Chánh án Tòa án quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giaiđoạn chuẩn bị xét xử; do Hội đồng xét xử quyết định nếu vụ án đã đưa ra xét xử.Việc thi hành quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản
Như vậy không phải chỉ có CQTHTT mới có quyền xử lý vật chứng mà quyền xử
lý vật chứng còn có thể do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt độngđiều tra quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra
4 Vật chứng chỉ được trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp
khi vụ án bị đình chỉ.
Nhận định sai
CSPL: Khoản 1, khoản 3 Điều 106 BLTTHS
Giải thích: Căn cứ theo quy định tại điểm a, b khoản 3 Điều 106 thì vật chứng chỉđược trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp khi vụ án bị đình chỉtrong trường hợp tài sản thu giữ không phải là vật chứng hoặc trường hợp nếu xétthấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án Và trong trường hợp vụ
án bị đình chỉ nhưng vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể
Trang 21được bán theo quy định của pháp luật; trường hợp không bán được thì tiêu hủyhoặc nếu vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai thì ngay sau khi cókết luận giám định phải giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử
lý theo quy định của pháp luật (điểm c, d khoản 3 Điều 106)
5 Tất cả người THTT đều có quyền đánh giá chứng cứ.
Nhận định này là sai
CSPL: khoản 2 Điều 34 ,khoản 2 Điều 108 BLTTHS,
Theo quy định tại khoản 2 Điều 34 BLTTHS 2015, người tiến hành tố tụng baogồm: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra;Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; Chánh
án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên.Nhưng không phải tất cả người tiến hành đều có quyền đánh giá chứng cứ căn cứtheo khoản 2 Điều 108 BLTTHS, chỉ những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
có quyền hạn đánh giá chứng cứ thì mới có thể đánh giá chứng cứ
VD: Theo khoản 1 Điều 47 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thư ký Tòa ánkhông có nghĩa vụ, quyền hạn nào liên quan đến việc chứng minh vụ án hình sự
mà đánh giá chứng cứ là một hoạt động quan trọng trong việc chứng minh vụ ánhình sự do đó Thư ký Tòa án ko có quyền đánh giá chứng cứ Như vậy không phảitất cả người THTT đều có quyền đánh giá chứng cứ
6 Thông tin thu được từ facebook có thể được sử dụng làm chứng cứ
trong TTHS
Nhận định này là đúng
CSPL: Điều 99, điểm c khoản 1 Điều 87, Điều 86 Bộ luật TTHS
Theo Điều 99 Bộ luật TTHS thì thông tin thu được từ facebook là dữ liệu điện tử Theo điểm c khoản 1 Điều 87 Bộ luật TTHS thì dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ Nhưng theo Điều 86 Bộ luật TTHS thì để làm chứng cứ trong TTHS thì phải đáp ứng 3 điều kiện: phải có thật, phải liên quan tới vấn đề cần chứng minh trong vụ
án, phải được thu thập đúng theo trình tự, thủ tục do luật định Như vậy, thông tin thu được từ Facebook phải là thông tin có thật, liên quan tới ĐTCM và phải được thu thập đúng theo trình tự, thủ tục theo luật định thì mới được sử dụng làm chứng
cứ trong TTHS
imà ĐTCM là gì m điều tra chứng minh ??ê hay là đời tư cá nhân
7 Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp là nguồn của chứng cứ.
Trang 22khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án nên biên bản này được xem là nguồncủa chứng cứ.
Theo khoản 1 điều 155 người thi hành lệnh bắt trong mọi trường hợp đều phải lậpbiên bản đầy đủ, chính xác Trong biên bản được lập phải ghi rõ ngày, giờ, tháng,năm, địa điểm bắt, nơi lập biên bản; những việc đã làm, tình hình diễn biến khi thihành lệnh bắt, những ai đã chứng kiến việc bắt, những đồ vật, tài liệu bị tạm giữgồm những loại gì, đặc điểm, tính chất, số lượng của những đồ vật, tài liệu đó;những khiếu nại của người bị bắt
Ngoài ra căn cứ tại khoản 3, 4 Điều 110 thì biên bản giữ người đương nhiên lànguồn của chứng cứ khi bắt giữ người trong TH khẩn cấp
8 Mọi tình tiết, sự kiện được rút ra từ nguồn của chứng cứ đều được xem
9 Đối tượng chứng minh trong các VAHS đều giống nhau.
Nhận định sai
CSPL: điều 85 BLTTHS 2015
Đối tượng chứng minh trong các VAHS là không giống nhau Theo đó, đối tượngchứng minh là tổng thể tất cả các vấn đề cần phải được xác định và làm rõ để giảiquyết chính xác vụ án hình sự Đối tượng chứng minh của VAHS phụ thuộc vàotừng đặc điểm của mỗi vụ án hình sự Cụ thể căn cứ vào điều 85 có thể chia vấn đềcủa vụ án hình sự thành 3 nhóm: vấn đề liên quan đến yếu tố cấu thành tội phạm;vấn đề liên quan đến TNHS và hình phạt; vấn đề có ý nghĩa giải quyết đúng đắnVAHS
đối tượng chứng minh trong vụ án có người dưới 18t thì phải cm thêm những vần
đề khác tại Đ416
điều 416 đối tượng chứng minh của TH người dưới 18 thì ngoài những vấn đềtrong điều 85 thì vẫn còn những đối tượng khác thì mới cấu thành tội danh đó
Trang 23Chương 4: Biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế trong TTHS.
I Nhận định:
1 BPNC được áp dụng đối với mọi VAHS về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng.
Nhận định Sai
CSPL: Khoản 2 Điều 109, Điều 419 BLTTHS 2015
BPNC là BPCC do luật TTHS quy định và được áp dụng đối với bị can, bị cáo,hoặc người chưa bị khởi tố về hình sự nhằm kịp thời ngăn chặn những hành vinguy hiểm đối với xã hội của họ Việc áp dụng BPNC mang tính lựa chọn Trướckhi tiến hành các hoạt động tố tụng để giải quyết VAHS, các cơ quan và người cóthẩm quyền cần phải cân nhắc về việc có nên áp dụng BPNC hay không
Ví dụ, đối với người bị buộc tội dưới 18 tuổi chỉ áp dụng BPNC trong trường hợpthật cần thiết theo quy định của pháp luật Như vậy, không phải trong mọi VAHS
về tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đều được áp dụng BPNC (ĐIỀU419)
2 BPNC không áp dụng đối với bị can là pháp nhân.
Nhận định đúng
CSPL: Điều 431, Điều 436 BLTTHS 2015
Theo Điều 431 BLTTHS 2015 “Thủ tục tố tụng đối với pháp nhân bị tố giác báotin về tội phạm, kiến nghị, khởi tố, bị điều tra, truy tố, xét xử,thi hành án được tiếnhành theo quy định của chương này, đồng thời theo quy định khác của bộ luật nàykhông trái với quy định của Chương này.” Tuy nhiên, BLTTHS 2015 lại khôngquy định về BPNC đối với pháp nhân thương mại phạm tội mà chỉ quy định về cácbiện pháp cưỡng chế tại Điều 436 Vì vậy, chủ thể phạm tội là pháp nhân thươngmại thì không thể bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của BLTTHS
2015 Các BPNC không được áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tộixuất phát từ đặc điểm của pháp nhân là một chủ thể có tư cách độc lập tham giavào quan hệ pháp luật nhưng pháp nhân lại không phải là chủ thể mang tính cơhọc
3 Chỉ cơ quan có thẩm quyền THTT mới có quyền áp dụng BPNC trong TTHS
Nhận định trên là sai.
CSPL: Khoản 3 Điều 123 BLTTHS 2015,
Theo quy định của BLTTHS: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm
vi thẩm quyền tố tụng của mình hoặc những người có thẩm quyền theo quy địnhcủa pháp luật tố tụng có quyền áp dụng một trong số các biện pháp ngăn chặn theoquy định của pháp luật Như quy định tại Khoản 3 Điều 123 BLTTHS 2015, theo
đó Đồn trường Đồn biên phòng có quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, và Đồntrưởng Đồn biên phòng không là cơ quan có thẩm quyền THTT
Do đó, không chỉ cơ quan có thẩm quyền THTT mới có quyền áp dụngBPNC trong TTHS
Trang 24[chỉ ra 1 TH ngoai lệ bất kì trong các biện pháp ngăn chặn mà k phải là cơ quan có thẩm quyền THTT]
4 Lệnh bắt người của CQĐT trong mọi trường hợp đều phải có sự phê chuẩn của VKS cùng cấp trước khi thi hành.
Nhận định đúng
CSPL: điểm d khoản 1 điều 80, điểm a khoản 2 điều 81 BLTTHS 2015
Theo quy định của BLTTHS thì có hai trường hợp bắt người CQĐT phải ra lệnhbắt người đó là: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam được quy định tại Điểm d K1 Đ80BLTTHS và bắt người trong trường hợp khẩn cấp được quy định tại Điểm a K2Đ81 BLTTHS Và cả hai trường hợp này đều phải có sự phê chuẩn của Việntrưởng VKS cùng cấp (bắt bị can, bị cáo để tạm giam thì phải được VKS cùng cấpphê chuẩn trước khi thi hành còn bắt người trong trường hợp khẩn cấp thì phảithông báo ngay cho VKS và phê chuẩn sau khi thi hành)
=> Tất cả những lệnh bắt của CQĐT đều cần VKS phê chuẩn
5 Những người có quyền ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp cũng có quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam.
Nhận định sai
CSPL: Khoản 2,4 Điều 110, Khoản 1 Điều 113 BLTTHS 2015
Theo Khoản 2,4 Điều 110 quy định về những người có quyền ra lệnh giữ ngườitrong trường hợp khẩn cấp và Khoản 1 Điều 113 quy định về những người cóquyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam thì trong những người cóquyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp chỉ có Thủ trưởng, Phó Thủtrưởng Cơ quan điều tra các cấp (điểm a Khoản 2 Điều 110) mới có quyền ra lệnh,quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam (điểm a Khoản 1 Điều 113)
6 Tạm giữ có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo.
Nhận định đúng
Theo Điều 117 BLTTHS 2015 thì các đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữgồm: người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạmtội quả tang, người phạm tội đầu thú, tự thú hoặc đối với người bị bắt theo quyếtđịnh truy nã
CSPL: Khoản 1 Điều 59 và khoản 1 Điều 117 BLTTHS 2015
7 Tạm giam không áp dụng đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai.
+ Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã;
Trang 25+ Tiếp tục phạm tội;
+ Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối,cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án,tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bịhại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này;
+ Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác địnhnếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia
8 Lệnh tạm giam của cơ quan có thẩm quyền phải được VKS phê chuẩn trước khi thi hành.
Nhận định sai
CSPL:Điểm a Khoản 1 Điều 113, Khoản 5 Điều 119 BLTTHS
Theo khoản 5 Điều 119 BLTTHS thì lệnh tạm giam của những người được quyđịnh tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùngcấp phê chuẩn trước khi thi hành, còn những người thuộc điểm b, c khoản 1 điềunày thì không cần VKS phê chuẩn trước khi thi hành
9 Người có quyền quyết định việc áp dụng biện pháp tạm giam thì cũng
có quyền quyết định việc cho bảo lĩnh để thay thế tạm giam.
Nhận định đúng CSPL: Khoản 4 Điều 121, Điểm a Khoản 1 Điều 113 BLTTHS.Theo Khoản 4 Điều 121 BLTTHS những người có thẩm quyền quy định tại khoản
1 Điều 113 của Bộ luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết địnhbảo lĩnh Quyết định của những người quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của
Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành
10 Bảo lĩnh không áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng.
Nhận định sai
CSPL: K1 Điều 121 BLTTHS 2015
Theo khoản 1 Điều 121 BLTTHS, biện pháp bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn được
áp dụng thay thế cho tạm giam Mặc dù theo quy định tại Khoản 1 Điều 121BLTTHS 2015 xác định điều kiện áp dụng biện pháp Bảo lĩnh là phải căn cứ vàomức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, tuy nhiên lại không quy định về loại tộiphạm không được áp dụng Tại Khoản 1 Điều 119 BLTTHS thì tạm giam có thể ápdụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng Do
đó, bảo lĩnh áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng
11 Đặt tiền để bảo đảm không áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng.
- Nhận định đúng
- Vì căn cứ theo điểm b, khoản 2, Điều 3, TTLT 17/2013 quy định về “Điều kiện
áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm” thì bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêmtrọng là một trong những trường hợp không được áp dụng biện pháp đặt tiền đểbảo đảm
CSPL: điểm b, khoản 2, Điều 3, TTLT 17/2013
Trang 2612 Cấm đi khỏi nơi cư trú không áp dụng đối với bị can, bị cáo là người nước ngoài.
Nhận định trên là sai
CSPL: ĐIỀU 123 BLTTHS
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 123 BLTTHS 2015 thì biện phápcấm đi khỏi nơi cư trú có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú rõràng nhằm đảm bảo sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của CQĐT, VKS, Tòa án.Như vậy, việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú không căn cứ vào bị can,
bị cáo là người Việt Nam hay người nước ngoài
Do đó, nếu bị can, bị cáo là người nước ngoài mà có nơi cư trú rõ ràng thìcũng có thể áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú
13 Tạm hoãn xuất cảnh và phong tỏa tài khoản có thể được áp dụng với người chưa bị khởi tố về hình sự.
- Nhận định trên là đúng
- Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 124 và Khoản 1 Điều 129 BLTTHS
2015 thì có thể áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị tố giác,người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người
đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốnhoặc tiêu hủy chứng cứ; còn đối với biện pháp phong tỏa tài khoản thì có thể ápdụng đối với người bị buộc tội, và theo quy định của BLTTHS thì người bị buộctội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
→ Do đó, tạm hoãn xuất cảnh và phong tỏa tài khoản có thể được áp dụng vớingười chưa bị khởi tố về hình sự
14 VKS có quyền áp dụng tất cả BPNC trong TTHS.
Nhận định trên là sai
Đối với các biện pháp ngăn chặn bắt người phạm tội quả tang, bắt người bịgiữ trong trường hợp khẩn cấp thì VKS không độc lập áp dụng, mà biện pháp bắtngười phạm tội quả tang sẽ do CQĐT thực hiện, còn bắt người bị giữ trong trườnghợp khẩn cấp thì CQĐT đề nghị và VKS phê chuẩn áp dụng
Ví dụ: Những người có thẩm quyền ra lệnh giữ người quy định tại khoản 2Điều 110 của BLTTHS có quyền ra quyết định tạm giữ Theo đó, thẩm quyềnquyết định áp dụng biện pháp tạm giữ không có Viện kiểm sát
15 Việc hủy bỏ hoặc thay thế BPNC đang được áp dụng đều do VKS quyết định.
- Nhận định Sai
- Cơ sở pháp lý: Khoản 2 Điều 125 BLTTHS 2015
- Theo đó, căn cứ khoản 2 Điều 125 BLTTHS, ngoài VKS, quyền quyết địnhhủy bỏ BPNC còn thuộc về Cơ quan điều tra, Tòa án Trừ trường hợp những biệnpháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn trong giai đoạn điều tra thì việc hủy
bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác phải do Viện kiểm sát quyết định
Trang 27Bài tập:
Bài 1: A thực hiện hành vi cướp giật, ngay sau đó đã bị quần chúng nhân dân đuổi theo và bắt được A bị giải đến trụ sở Công an quận vào lúc 10 giờ sáng Sau khi xem xét trường hợp của A, Thủ trưởng cơ quan CSĐT đã ra quyết định tạm giữ A vào lúc 16 giờ cùng ngày.
1 Thời hạn tạm giữ A được tính từ thời điểm nào? Thời hạn tạm giữ tối đa là bao lâu?
CSPL: Khoản 1, 2 Điều 118 Bộ luật tố tụng hình sự 2015
- Theo quy định tại Điều 118 BLTTHS về thời hạn tạm giữ thì:
- Thời hạn tạm giữ A được tính từ thời điểm A bị giải đến trụ sở Công an quận vàolúc 10h (khoản 1 quy định "áp giải người bị giữ, người bị bắt về trụ sở của mình")
- Thời hạn tạm giữ tối đa là 09 ngày Bởi theo luật định, thời hạn tạm giữ thôngthường đối với một người là không quá 03 ngày (khoản 1) Tuy nhiên, khoản 2cũng đã quy định về việc gia hạn thời hạn tạm giữ hai lần, mỗi lần không quá 3ngày trong trường hợp cần thiết, và trường hợp đặc biệt
2 CQĐT ra quyết định khởi tố bị can đối với A theo Khoản 1 Điều 171 BLHS
2015 (có mức phạt từ 1 tới 5 năm), thì CQĐT có thể tạm giam A được không?
CSPL: Khoản 2 Điều 119 Luật TTHS 2015
- Theo Khoản 2 Điều 119 Luật TTHS 2015 thì trong Trường hợp này CQĐT
sẽ có thể tạm giam A, nếu: CQĐT có căn cứ xác định A thuộc 1 trong các trườnghợp quy định tại Điểm a, b, c, d, đ Khoản 2 Điều 119 Luật TTHS 2015
3 Giả sử trong quá trình tạm giam, phát hiện A là người bị bệnh nặng và có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng thì Thủ trưởng CQĐT có thể ra quyết định hủy bỏ lệnh tạm giam không? Tại sao?
- Nếu trong quá trình tạm giam, phát hiện A là người bị bệnh nặng và có nơi
cư trú, lý lịch rõ ràng thì Thủ trưởng CQĐT có thể ra quyết định hủy bỏ lệnh tạmgiam
- Căn cứ theo Khoản 4 Điều 119 BLTTHS 2015 thì người bị bệnh nặng mà cónơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặnkhác trừ một số trường hợp được liệt kê tại điểm a, b, c, d Khoản 4 Điều 119BLTTHS 2015, mà A là người bệnh nặng , có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng và khôngthuộc một trong các trường hợp được liệt kê tại điểm a, b, c khoản 4 Điều 119BLTTHS
Trang 28thời mức hình phạt cao nhất là 10 năm tù Và đây là tội cướp giật tài sản Nên yêucầu sẽ không được chấp nhận.
CSPL: điểm c khoản 1 Điều 9 BLHS 2015; khoản 1 Điều 122 BLTTHS 2015 vàđiểm c khoản 2 Điều 3 TTLT số 17/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC
Bài tập 2:
Trên một chuyến bay của Việt Nam Airline từ Melbourne về Thành phố Hồ Chí Minh, hành khách A có hành vi chuẩn bị cho nổ máy bay bằng bom tự tạo dựng trong hành lý xách tay
Câu hỏi:
1 BPNC nào có thể được sử dụng trong tình huống trên? Ai có quyền quyết định áp dụng?
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 110 thì BPNC được sử dụng đối với hành khách A
đó là giữ người trong trường hợp khẩn cấp do A có hành vi chuẩn bị cho nổ máybay bằng bom tự tạo dựng trong hành lý xách tay
CSPL: điểm a khoản 1 Điều 110 BLTTHS 2015
- Người có quyền quyết định sử dụng BPNC giữ người trong trường hợp khẩn cấptrong trường hợp này là người chỉ huy tàu bay (máy bay) khi tàu bay đã rời khỏisân bay – là cơ trưởng
CSPL: điểm c khoản 2 Điều 110 BLTTHS 2015
2 Sau khi máy bay hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất, những thủ tục tiếp theo cần phải thực hiện là gì?
- Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, những người quy định tại điểm ckhoản 2 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 phải giải ngay người bị giữ kèmtheo tài liệu liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp đến Cơ quanđiều tra nơi có sân bay hoặc bến cảng đầu tiên tàu trở về Trong thời hạn 12 giờ kể
từ khi tiếp nhận người bị giữ, Cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và nhữngngười quy định tại điểm a khoản 2 điều 110 BLTTHS 2015 phải ra quyết định tạmgiữ, ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc trả tự do ngay chongười đó Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Việnkiểm sát cùng cấp kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn
- Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải ghi rõ họ tên, địa chỉ củangười bị giữ, lý do, căn cứ giữ người quy định tại khoản 1 điều 110 BLTTHS 2015
và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.CSPL: Khoản 3 điều 110 BLTTHS 2015
3 Giả sử A bị khởi tố về tội cản trở giao thông đường không (Khoản 1 Điều
278 BLHS 2015) Nếu A là người Úc thì có thể bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú không?
Trang 29- Trong trường hợp trên thì A vẫn có thể bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cưtrú nếu đáp ứng đủ hai điều kiện sau: (1) phải là bị can, bị cáo ( A là bị can do đã
có quyết định khởi tố) và (2) phải có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng theo Điều 123,BLTTHS 2015 Tuy nhiên, A là người Úc nên khi áp dụng biện pháp này thì ta căn
cứ Điều 12 Luật cư trú năm 2006 quy định “nơi cư trú của một cá nhân là chỗ ởhợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống, bao gồm nơi thường trú hoặc nơitạm trú.”, dựa vào đó để xác định cụ thể nơi cư trú của A tại Việt Nam và tiến hành
áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú của A
CSPL: Điều 123, BLTTHS 2015 và Điều 12 Luật cư trú năm 2006
4 Giả sử A bị tạm giam trong giai đoạn điều tra CQĐT sau đó xác định hành
vi của A không cấu thành tội phạm nên đã ra quyết định đình chỉ điều tra A
có được trả tự do trong trường hợp này không? Cơ sở pháp lý?
A được trả tự do trong trường hợp này
Vì khi cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra thì đồng thời biện pháp ngănchặn đang được áp dụng cũng được huỷ bỏ Do tạm giam là một trong các biệnpháp ngăn chặn của hệ thống các biện pháp ngăn chặn theo quy định của BLTTHS
2015 nên A không bị tạm giam và được thả tự do
CSPL: Điểm b Khoản 1 Điều 125 BLTTHS 2015
Bài tập 03
Vào lúc 7h30 ngày 15/10/2015, A chạy xe máy lưu thông trên đường thìthấy chị B đang dứng sát lề đường, trên cổ chị B có đeo 01 sợi dây chuyền Thấyvậy, A nảy sinh ý định cướp giật, A điều khiển xe quay lại chạy lên lề đường, épsát phía sau lưng chị B, dùng tay phải giật sợi dây chuyển trên cổ chị B Chị Bquay lại nằm lấy áo của A và cùng quần chúng nhân dân bắt giữ được A cùng tangvật và phương tiện gây án giao cho công an phường X, huyện Y, thành phố H để
xử lý
3.1 A bị bắt trong trường hợp nào theo quy định của BLTTHS?
Trường hợp của A bị bắt phạm tội quả tang theo Điều 111 BLTTHS
3.2 A có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn nào tiếp theo sau khi bị bắt? Thẩm quyền áp dụng biện pháp đó thuộc về chủ thể nào?
A có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là bắt người Theo Bộ luật tố tụng hình sựnăm 2015 quy định bất kỳ người nào cũng có quyền bắt, tước vũ khí, hung khí củangười phạm tội quả tang
Trường hợp của A là Trường hợp người bắt người phạm tội quả tang không phải làCông an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an mà sau khi bắt phải giải ngay người bịbắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất Các
cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngaycho Cơ quan điều tra có thẩm quyền
3.3 Trong giai đoạn điều tra, Thủ trưởng CQĐT ra lệnh tạm giam A 02 tháng Nhưng khi điều tra được 01 tháng, Thủ trưởng CQĐT thấy không cần thiết
Trang 30phải tiếp tục tạm giam A nên đã quyết định hủy bỏ lệnh tạm giam đối với A Nêu nhận xét về quyết định này của Thủ trưởng CQĐT?
Việc làm trên của Thủ trưởng cơ quan điều tra là trái với quy định của pháp luật
Cụ thể theo khoản 1 Điều 113 BLTTHS thì trước khi ra lệnh, quyết định bắt bị can,
bị cáo để tạm giam thì phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thihành và theo khoản 7 Điều 173 BLTTHS thì trong thời hạn tạm giam, nếu xét thấykhông cần thiết phải tiếp tục tạm giam thì Cơ quan điều tra phải kịp thời đề nghịViện kiểm sát hủy bỏ việc tạm giam để trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xétthấy cần thiết thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác Như vậy việc làm của Thủtrưởng cơ quan điều tra là không đúng thẩm quyền
Bài tập 4:
Vào buổi tối ngày 08/10/2016, A lẻn vào hầm xe của một chung cư nhằm trộm cắp xe máy Khi A đang tiến hành bẻ khóa xe thì bị bảo vệ phát hiện và hô hoán nên mọi người đuổi theo bắt được A.
Câu hỏi:
1 BPNC nào đã được áp dụng trong trường hợp này?
- Trong trường hợp này, BPNC được áp dụng là Bắt người phạm tội quả tang( Cspl: Khoản 1 Điều 111 BLTTHS)
2 Giả sử khi nhân viên bảo vệ và mọi người đuổi theo, A đã nhanh chân chạy thoát Sáng hôm sau, nhân viên bảo vệ phát hiện A đang uống cafe ở một quán ven đường Nhân viên bảo vệ đã bắt được A Việc bắt người của nhân viên bảo vệ trong trường hợp này là đúng hay sai? Vì sao? Nêu hướng xử lý thích hợp?
- Trong trường hợp này thì việc bắt người của nhân viên bảo vệ là SAI
- Vì theo tình tiết trong trường hợp trên thì sáng hôm sau, nhân viên bảo vệphát hiện A đang ngồi ở quán cafe ven đường nghĩa là đã có sự gián đoạn về mặtthời gian giữa việc đuổi bắt và việc bỏ trốn nên không còn gọi là bắt người phạmtội quả tang trong trường hợp này nữa (CSPL: Khoản 1 Điều 111)
- Do đó, nhân viên bảo vệ cần báo cho cơ quan có thẩm quyền biết để cóquyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp được quy định tại điểm bkhoản 1 Điều 110
Bài tập 5: H là người làm công cho anh A Ngày 06/08/2012, do những mâu thuẫn
liên quan đến chuyện trả lương, H và A đã xảy ra xô xát Trong quá trình xô xát, Hđâm anh A hai nhát vào ngực trái Ngày 07/08/2012, H nghe tin anh A chết nên sau
đó 02 ngày, H đã đến cơ quan công an tự thú Tại đây, H bị bắt tạm giam Ngày15/05/2012, H bị CQĐT khởi tố về tội giết người
1 Việc cơ quan công an tạm giam đối với H như vậy có đúng quy định pháp luật không?
Việc cơ quan công an tạm giam đối với H như vậy là không đúng quy định phápluật Theo Điều 119 BLTTHS thì chủ thể là bị can, bị cáo; trong khi, anh H chỉ
Trang 31mới đi tự thú chứ chưa bị khởi tố hình sự, quyết định xét xử Do đó, không thể ápdụng biện pháp tạm giam trong tình huống này Có thể áp dụng biện pháp tạm giữtheo khoản 1, Điều 117 BLTTHS.
2 Giả sử, trong quá trình H bị tạm giam, anh M (anh trai H) và chị N (chị dâu H) đứng ra nhận bảo lĩnh cho H Theo anh/chị, việc bảo lĩnh trong trường hợp này có được chấp nhận hay không?
- Theo nhóm em, việc bảo lĩnh trong trường hợp này không được chấp nhận
- Căn cứ khoản 2 Điều 121 BLTTHS quy định điều kiện nhận bão lĩnh của cá
nhân: “Cá nhân là người đủ 18 tuổi trở lên, nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý người được bảo lĩnh thì
có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ và trong trường hợp này thì ít nhất phải có 02 người.” Theo quy định trên, thì chị N (chị dâu H) đã
không đáp ứng điều kiện là người thân thích (theo điểm e khoản 1 điều 4BLTTHS) của bị can, bị cáo; mà trường hợp nhận bảo lĩnh là cá nhân phải có ítnhất hai người cùng nhận bão lĩnh Vì vậy, việc bảo lĩnh trong trường hợp nàykhông được chấp nhận
Chương 5: KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
I NHẬN ĐỊNH
1 Trong giai đoạn KTVAHS, VKS không thực hiện quyền công tố.
Nhận định sai
CSPL: Khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát 2014, Điều 161 BLTTHS 2015
- Theo Khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân 2014 có quy định: “1 Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” Quyền công tố
của VKS không chỉ được thực hiện trong quá trình khởi tố mà quyền này còn đượcthực hiện trong các giai đoạn tiếp theo như điều tra, truy tố, xét xử Quyền công tốđược thực hiện ngay khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi
tố Quyền công tố của VKS trong giai đoạn KTVAHS còn thể hiện tại Khoản 1Điều 161 BLTTHS 2015 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khithực hành quyền công tố trong khởi tố vụ án hình sự Như vậy, Quyền công tốđược VKS thực hiện trong suốt quá trình KTVAHS
2 Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là cơ quan có thẩm quyền KTVAHS
Nhận định đúng
CSPL: Khoản 3 Điều 145, Điều 153 BLTTHS 2015
CSPL: Khoản 3 Điều 145, Điều 153 BLTTHS 2015
Trên cơ sở kiểm tra, xác minh các tin tức về tội phạm, nếu có đủ căn cứ KTVAHSthì cơ quan có thẩm quyền sẽ ra quyết định KTVAHS Như vậy các cơ quan cóthẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (gồm Cơquan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và
Trang 32VKS theo K3 Đ145) sau khi giải quyết và nhận thấy có đủ căn cứ KTVAHS thì họcũng sẽ là cơ quan có thẩm quyền ra quyết định KTVAHS (Đ153).
3 Cơ quan có quyền ra quyết định khởi tố VAHS thì có quyền thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố VAHS đó
Nhận định này là sai
CSPL: Điều 153 và 156 BLTTHS 2015
Giải thích: Không phải mọi cơ quan có quyền ra quyết định khởi tố VAHS thì đều
có quyền thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố VAHS đó Cụ thể, khoản 4 điều 153quy định Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểmsát khởi tố vụ án hình sự nếu tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm.Tuy nhiên căn cứ vào khoản 1 điều 156 BLTTHS thì HĐXX không có quyền thayđổi, bổ sung quyết định khởi tố VAHS Mà các chủ thể có quyền Thay đổi hoặc bổsung quyết định khởi tố vụ án hình sự là Cơ quan điều tra, cơ quan được giaonhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát
4 Cơ quan có thẩm quyền KTVAHS là CQTHTT.
Vì vậy, ngoài các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền khởi tố VAHSthì còn có các chủ thể khác như bộ đội biên phòng, hải quan, lực lượng cảnh sátbiển, kiểm ngư và các cơ quan khác của công an nhân dân, quân đội nhân dân đượcgiao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng có thẩm quyền ra quyếtđịnh KTVAHS
5 Mọi hành vi có dấu hiệu tội phạm do cán bộ thuộc cơ quan tư pháp thực hiện đều do CQĐT của VKSNDTC khởi tố vụ án.
sự thì sẽ do tòa án quân sự giải quyết, do đó, k thuộc thẩm quyền giải quyết củaVKS