1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài thảo luận số 02 Tố tụng Hình sự

40 283 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 52,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường hợp 2: Người tiến hành tố tụng đã tham gia tố tụng đồng thời là người bào chữa luật sư, người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa nhân dân- Điều 56 BL

Trang 1

Bài thảo luận số 02 TTHS

- Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi;

- Là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột;

- Là cụ nội, cụ ngoại của một trong những người trên đây; là bác ruột, chú ruột, cậu ruột,

cô ruột, dì ruột; là cháu ruột mà họ là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột

Nếu người tiến hành tố tụng tham gia tố tụng đồng thời là người bị hại, người đại diện,người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo thì quyết định của người tiếnhành tố tụng sẽ không vô tư khách quan, thiên vị, ưu tiên theo lợi ích của người thânthích, người đại diện dẫn đến quyết định hình phạt cho bị cáo sẽ không công bằng, dễ làmsai lệch thực tế của vụ án

Trang 2

Trường hợp 2: Người tiến hành tố tụng đã tham gia tố tụng đồng thời là người bào chữa (luật sư, người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa nhân dân- Điều 56 BLTTHS 2015)

Việc xác định sự thật vụ án không khách quan, toàn diện và đầy đủ bởi người bào chữa làngười thu thập chứng cứ cũng đồng thời chính là người kiểm tra, xác thực vụ án NgườiTHTT sẽ theo hướng giải quyết như những gì mà mình đã bào chữa, theo hướng có lợi,bảo vệ quyền lợi ích cho người mà mình bào chữa dẫn đến thu thập chứng cứ không đầy

đủ, chính xác, có thể vi phạm nghĩa vụ nếu người bào chữa đưa ra chứng cứ chống lạingười mà mình bào chữa => Bỏ lọt tội pham, xét xử không khách quan, đầy đủ, chínhxác

Người làm chứng, người giám định là người tham gia tố tụng, có nghĩa vụ cung cấpchứng cứ cần thiết cho việc giải quyết đúng vụ án Nếu vừa là người cung cấp chứng cứđồng thời là người thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ đó làm quá trình chứng minhgiải quyết vụ án không vô tư, khách quan

Người phiên dịch là người tham gia tố tụng phiên dịch cho những người tham gia tố tụngkhác không biết tiếng Việt Để đảm bảo sự khách quan, toàn diện người tiến hành tố tụngkhông thể đồng thời là người phiên dịch trong cùng một vụ án

Trường hợp 3: BLTTHS chưa quy định thế nào là có căn cứ không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ.

BLTTHS chưa quy định thế nào là có căn cứ không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ.song căn cứ theo quy định tại Nghị quyết 03/2004/NQ-HĐTP đã giải thích: có căn cứ rõràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ là ngoài trường hợpquy định tại Khoản 2 Điều 42 BLTTHS thì trong trường hợp khác (như quan hệ tình cảm,quan hệ thông gia, quan hệ cộng tác, quan hệ kinh tế…) có căn cứ rõ ràng để có thể khẳngđịnh vì những mối quan hệ trên mà Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án không thể vô tưtrong khi làm nhiệm vụ

* Đánh giá:

Nhìn chung, nguyên tắc này có nhiều ưu điểm nổi bật: nổi bật nhất là giúp đảm bảo sự vô

tư khách quan của người THTT và người TGTT, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp củacác bên, đảm bảo các bên thực hiện tốt và phù hợp quyền nghĩa vu, đảm bảo sự công bằngcủa pháp luật đúng theo các nguyên tắc cơ bản của TTHS như nguyên tắc bảo đảm phápchế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự, xác định sự thật của vụ án, nguyên tắc Thẩmphán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật…

Đảm bảo xét xử công bằng, khách quan, trọn vẹn, không bỏ lọt tội phạm

Trang 3

Bên cạnh ưu điểm nổi bật đã nêu cũng tồn tại một số nhược điểm trong hệ thống pháp luậtlàm việc thực thi nguyên tắc này còn gặp nhiều hạn chế, tính khả thi chưa cao hay luậtchưa quy định rõ ràng, cụ thể, thống nhất.

Ví như:

Theo quy định tại Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự thì đối tượng phải từ chối hoặc thay đổitiến hành tố tụng khi có những căn cứ quy định tại khoản 1, 2 và 3 điều này là người tiếnhành tố tụng Song, khi quy định căn cứ từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng cụthể tại các điều 51 - 54 BLTTHS chỉ có các đối tượng là điều tra viên, cán bộ điều tra,kiểm sát viên, kiểm tra viên, thẩm phán, hội thẩm, thư kí tòa án mà không có phó thủtrưởng cơ quan điều tra, phó viện trưởng viện kiểm sát, phó chánh án tòa án Như vậy,vấn đề này đã không được quy định rõ ràng

Trong bộ luật tố tụng hình sự quy định ngoài cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tốtụng được quy định tại điều 34 còn có các cơ quan và người được giao nhiệm vụ tiến hànhmột số hoạt động điều tra tại Điều 35 Bộ luật tố tụng hình sự (Bộ đội biên phòng, hảiquan, kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển và các cơ quan khác của công an nhân dân, quânđội nhân dân) Khi tiến hành các hoạt động tố tụng họ cũng cần tuân theo các quy định đểđảm bảo sự vô tư khi tiến hành hoạt động tố tụng Nhưng pháp luật hiện nay lại không cóquy định về trách nhiệm đảm bảo sự vô tư đối với họ

Tóm lại, không thể phủ nhận vai trò của nguyên tắc này trong suốt quá trình tố tụng.Nhưng đồng thời, pháp luật cần có những quy định cụ thể hơn đầy đủ hơn để điều chỉnhvấn đề này bởi sự vô tư của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng có ảnhhưởng lớn đến việc bảo đảm công lý được thực thi, để không xử oan người vô tội vàkhông để lọt tội phạm

Câu 2: Nêu ý kiến cá nhân về việc trực tiếp ghi nhận quyền im lặng của người bị buộc tội trong BLTTHS 2015?

BLTTHS 2015 không trực tiếp ghi nhận quyền im lặng Tuy nhiên, tại Điều 15 BLTTHS

2015 “Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội” –đây cũng là nền tảng ghi nhận quyền im lặng của người bị buộc tội đến khi có người bàochữa

Tuy nhiên, nếu quy định quyền im lặng trực tiếp vào Bộ luật Tố tụng hình sự thì có nhữngvấn đề:

- Một là, nếu quyền im lặng được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự thì được áp

dụng như thế nào và trong giai đoạn nào của quá trình tố tụng Theo đó, quyền im lặng chỉđược áp dụng từ khi một người bị bắt cho đến khi được gặp luật sư hay quyền im lặng

Trang 4

được áp dụng trong suốt quá trình tố tụng, theo đó, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can,

bị cáo không chỉ im lặng trong suốt quá trình điều tra mà đến giai đoạn xét xử, tại phiêntòa đều có quyền giữ im lặng, không cần trả lời bất cứ câu hỏi nào

=> Nếu quyền im lặng được áp dụng thì sẽ khó khăn trong điều tra vụ án cũng như lấy lờikhai Tất nhiên, quyền im lặng không phải là quyền tuyệt đối và có thể không được ápdụng trong một số trường hợp nhất định

Hai là, Bộ luật Tố tụng hình sự ghi nhận gián tiếp qua quy định tại Khoản 2 Điều 58

-Điều 61 quy định người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền “trình bày lờikhai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộcphải nhận mình có tội;” Thực chất, đây chính là một phần của quyền im lặng vì đã làquyền thì họ có thể trình bày lời khai hoặc không thực hiện việc trình bày lời khai Việc

họ không trình bày lời khai hoàn toàn thông qua việc họ im lặng trước cơ quan tiến hành

tố tụng Do đó, không cần thiết quy định “quyền im lặng” của người bị bắt, người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo nữa Thực tế họ có thể im lặng (nếu họ muốn), cơ quan tiến hành tốtụng không có quyền bắt họ phải khai báo bằng các biện pháp không hợp pháp

- Ba là, nếu nói rằng ghi nhận quyền im lặng để tránh oan sai, chống bức cung, nhục hình

là không thuyết phục bởi lẽ quyền im lặng không phải là công cụ để con người chống lạimột sự vi phạm Bộ luật hình sự đã giành riêng một số điều luật để xử lý đối với hành vibức cung, dùng nhục hình như Điều 298 (Tội dùng nhục hình), Điều 299 (Tội bức cung)

Câu 3: So sánh bị hại và nguyên đơn dân sự.

* Giống nhau:

Thứ nhất, về đối tượng Đối tượng của Bị hại và Nguyên đơn dân sự đều là cá nhân, cơ

quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra

Thứ hai, về quyền của Bị hại và Nguyên đơn dân sự Bị hại và Nguyên đơn dân sự đều có

các quyền sau đây:

Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ;

Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vậtliên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

Được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án;

Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giátài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;

Trang 5

Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và người kháctham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;xem biên bản phiên tòa;

Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình…

Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơquan, tổ chức bị thiệt hại do tộiphạm gây ra và có đơn yêu cầubồi thường thiệt hại

Tính chất thiệt

hại

- Bị thiệt hại trực tiếp

- Do tội phạm gây ra hoặc đe dọagây ra

VD:

+ A đánh B B được coi là bị hại

+ Trường Đại học A bị trộm độtnhập và bị mất 10 chiếc máychiếu Trong trường hợp nàyTrường Đại học A là bị hại

- Bị thiệt hại gián tiếp

- Do tội phạm gây ra, đã xảy rathiệt hại chứ không đe dọa

Ví dụ: A đánh B tại nhà C làm hưhỏng đồ đạc nhà C C là người bịthiệt hại gián tiếp, nên sẽ được coi

là nguyên đơn dân sự

Quyền – Được quyền: Đề nghị hình phạt,

mức bồi thường thiệt hại, biệnpháp bảo đảm bồi thường

– Được quyền: Yêu cầu cơ quan

có thẩm quyền tiến hành tố tụngbảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh

dự, nhân phẩm, tài sản, quyền vàlợi ích hợp pháp khác của mình,

– Chỉ được quyền đề nghị mức bồithường thiệt hại, biện pháp bảođảm bồi thường

– Không có quyền yêu cầu cơquan có thẩm quyền tiến hành tốtụng tính mạng, sức khỏe, danh

dự, nhân phẩm, tài sản, quyền vàlợi ích hợp pháp khác của mình,

Trang 6

người thân thích của mình khi bị

– Chỉ được quyền: Kháng cáo bản

án, quyết định của Tòa án về phầnbồi thường thiệt hại

– Bên nguyên đơn dân sự phải cóthêm nghĩa vụ: Trình bày trungthực những tình tiết liên quan đếnviệc bồi thường thiệt hại

Nghĩa vụ

– Có mặt theo giấy triệu tập củangười có thẩm quyền tiến hành tốtụng; trường hợp cố ý vắng mặtkhông vì lý do bất khả kháng hoặckhông do trở ngại khách quan thì

có thể bị dẫn giải

– Chấp hành quyết định, yêu cầucủa cơ quan, người có thẩm quyềntiến hành tố tụng

– Bên nguyên đơn dân sự phải cóthêm nghĩa vụ: Trình bày trungthực những tình tiết liên quan đếnviệc bồi thường thiệt hại

Câu 4: So sánh người đại diện của bị hại và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại.

* Giống nhau:

- Đều là người tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại

- Đều có các quyền:

Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầungười có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

Yêu cầu giám định, định giá tài sản;

Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa; xem biên bản phiên tòa;

Khiếu nại, kháng cáo;

Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giátài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;

* Khác nhau:

Tiêu chí Người đại diện bị hại Người bảo vệ quyền lợi ích bị

hại

Trang 7

Định nghĩa

Là người tham gia tố tụng thaymặt cho bị hại thực hiện cácquyền và nghĩa vụ tố tụng bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của bịhại

Khoản 1 Điều 84 Người bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của bịhại là người được bị hại nhờ bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp

Quyền Khoản 2 Điều 62 Quyền của

người đại diện của bị hại tương tựvới quyền của chính bị hại trong

vụ án hình sự

=> Nhóm quyền này rộng hơn và

đa dạng hơn so với quyền củangười bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của bị hại như có thêm cácquyền mà người bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp bị hại không cónhư:

Quyền được thông báo kết quảđiều tra, giải quyết vụ án

Đề nghị hình phạt, mức bồithường thiệt hại, biện pháp bảođảm bồi thường;

Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp chomình;

Yêu cầu cơ quan có thẩm quyềntiến hành tố tụng bảo vệ tínhmạng, sức khỏe, danh dự, nhânphẩm, tài sản, quyền và lợi íchhợp pháp khác của mình, ngườithân thích của mình khi bị đe dọaNgoài ra, trường hợp vụ án đượckhởi tố theo yêu cầu của bị hại thìngười đại diện của họ trình bày

Có các quyền cơ bản tương tựngười đại diện bị haị nhưng cóthêm quyền:

Có mặt khi cơ quan có thẩmquyền tiến hành tố tụng lấy lờikhai, đối chất, nhận dạng, nhậnbiết giọng nói của người mà mìnhbảo vệ; đọc, ghi chép, sao chụpnhững tài liệu trong hồ sơ vụ ánliên quan đến việc bảo vệ quyềnlợi của bị hại và đương sự sau khikết thúc điều tra;

Trang 8

lời buộc tội tại phiên tòa.

Nghĩa vụ

Khoản 4 Điều 62 BLTTHS a) Có mặt theo giấy triệu tập củangười có thẩm quyền tiến hành tốtụng ; trường hợp cố | ý vắng mặtkhông vì lý do bất khả kháng hoặckhông do trở ngại khách quan thì

có thể bị dẫn giải : b) Chấp hành quyết định , yêucầu của cơ quan , người có thẩmquyền tiến hành tố tụng

Khoản 4 Điều 84 BLTTHSa) Sử dụng các biện pháp do pháp

| luật quy định để góp phần làm rõ

sự thật khách quan của vụ án;b) Giúp bị hại , đương sự về pháp

lý nhằm bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của họ

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

Cha, mẹ, người giám hộ của cánhân làngười dưới 18 tuổi, người

có nhược điểm về tâm thần hoặcthể chất

Người đại diện theo pháp luậthoặc tổ chức, cá nhân kế thừaquyền và nghĩa vụ bị hại là cơquan, tổ chức

Luật sư;

Người đại diện;

Bào chữa viên nhân dân;

Trang 9

quyền, lợi ích hợp pháp củabị hạikhi xét thấy cần thiết.

- Người đại diện do Tòa án chỉđịnh tham gia tố tụng từ khi cóquyết định của Tòa án chỉ định họđại diện cho bị hại

quá trình tố tụng dân sự

Câu 5: Phân tích và đánh giá quy định về nghĩa vụ của người bị hại trong BLTTHS 2015?

* Phân tích nghĩa vụ của người bị hại:

Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổchức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra (Khoản 1 Điều

– Nghĩa vụ chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tốtụng

=> Bị hại bắt buộc phải có mặt trong quá trình tham gia tố tụng khi có giấy triệu tập theoyêu cầu của cơ quan có thẩm quyền trong bất cứ quá trình tố tụng nào Trong trường hợp

có sự kiện bất khả kháng hoặc lý do khách quan thì có thể tạm hoãn để chờ đến khi bị hại

có mặt, còn nếu bị hại cố ý vắng mặt thì cơ quan, người có thẩm quyền phối hợp dẫn giải.Yêu cầu bị hại phải chấp hành theo đúng quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩmquyền tiến hành tố tụng khi đã tham gia xét xử Nếu không thỏa mãn với quyết định thì cóthể kháng cáo, khiếu nại chứ không được tự ý thỏa thuận, định đoạt mà trái với pháp luật,trái quyết định

* Đánh giá quy định nghĩa vụ của bị hại:

- Ưu điểm: Yêu cầu bị hại chấp hành đúng theo quy định của pháp luật đảm bảo thực thi

theo pháp luật, tôn trọng, thực hiện đúng theo quyết định cơ quan, người có thẩm quyền

Trang 10

Việc quy định người bị hại sẽ bị dẫn giải nếu cố ý vắng mặt góp phần tháo gỡ nhiều khókhăn mà thực tiễn gặp phải Bởi vì, có nhiều vụ án bao gồm vụ án khởi tố theo yêu cầucủa người bị hại và các vụ án khởi tố không theo yêu cầu của người bị hại nhưng tỷ lệthương tật, sức khỏe là căn cứ để xem xét có khởi tố vụ án hay không hoặc giám định tỷ

lệ thương tật để xử lý người vi phạm Ngoài ra, bị hại tham gia tố tụng, không vắng mặttrong quá trình tố tụng để có thể đảm bảo thực hiện được quyền và lợi ích của mình trongphiên tòa như được phát biểu, trình bày ý kiến để bảo vệ cho quyền và lợi ích của mình,trình bày mong muốn Tòa án xét xử người phạm tội với hình phạt như thế nào, mức bồithường cũng như yêu cầu, lợi ích của mình và đảm bảo xét xử vụ án nhanh chóng, côngkhai, đúng đắn, trọn vẹn và khách quan

- Nhược điểm: Trong một số trường bất khả kháng hoặc lý do khách quan thì người bị hại

không thể tham gia quá trình phiên tòa được, Điều 292 BLTTHS 2015 quy định về việcHội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử khi bị hại vắng mặttại phiên tòa Nếu tạm hoãn phiên tòa thì có thể làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án.Nếu vẫn tiến hành xét xử thì không đảm bảo được quyền tham gia phiên tòa, hỏi và tranhluận, đưa ra và trình bày chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; đề nghị hình phạt, mức bồithường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường => Ảnh hưởng, không đảm bảo quyền lợiích hợp pháp trọn vẹn bị hại, có thể dẫn đến giải quyết vụ án không chính xác, bỏ lọt tộiphạm

Câu 6: Phân tích và đánh giá những điểm mới trong quy định của BLTTHS 2015 về địa vị pháp lý của người bào chữa.

Hiện nay, trong pháp luật TTHS chưa có một khái niệm về địa vị pháp lý của người bàochữa Ta có thể hiểu nôm na địa vị pháp lý của người bào chữa là tổng thể các quy địnhcủa pháp luật TTHS quy định cho người bào chữa có các quyền và nghĩa vụ khi tham gia

tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, tìm ra sựthật vụ án Theo đó:

+ Quyền của người bào chữa:

Nhóm quyền tham gia vào các hoạt động tố tụng:

- Điểm b khoản 1 Điều 73 BLTTHS 2015 quy định người bào chữa có quyền “có mặt khilấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyềntiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can.Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa

có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can” và Điểm c khoản 1 Điều 73 BLTTHS

2015 quy định người bào chữa có quyền “có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng,nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này”

Trang 11

Như vậy, BLTTHS 2015 quy định việc người bào chữa có mặt trong các hoạt động đốichất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác là một “quyền” và ngườibào chữa hoàn toàn chủ động chứ không phải lệ thuộc vào ý chí của Cơ quan điều tra

“nếu Điều tra viên đồng ý” như trong quy định tại điểm a khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm

2003 BLTTHS 2015 cũng mở rộng quyền cho người bào chữa được hỏi người bị bắt,người bị tạm giữ, bị can sau khi người có thẩm quyền kết thúc việc lấy lời khai

→ Đây là quy định mới hợp lý

– Điểm d khoản 1 Điều 73 BLTTHS 2015 quy định người bào chữa có quyền “được cơquan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏicung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luậtnày” và ngoài ra theo Điều 79 BLTTHS 2015 bắt buộc cơ quan có thẩm quyền tiến hành

tố tụng phải báo trước một thời gian hợp lý cho người bào chữa về thời gian, địa điểm tiếnhành hoạt động tố tụng mà họ có quyền tham gia theo quy định của BLTTHS

Như vậy, BLTTHS 2015 đã quy định nó thành một “trách nhiệm”, “nghĩa vụ” của cơ quan

có thẩm quyền tiến hành tố tụng và cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chủđộng thực hiện thay vì chỉ thực hiện khi có “đề nghị” của người bào chữa như quy địnhtại điểm b khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003 Về phía người bào chữa, việc có mặttrong một số hoạt động tố tụng là quyền của người bào chữa, họ có thể lựa chọn có mặthoặc không có mặt

→ Đây là quy định mới hợp lý

– Điểm m khoản 1 Điều 73 BLTTHS 2015 quy định người bào chữa có quyền “tham giahỏi, tranh luận tại phiên tòa” Và tại Điều 291, Điều 351 BLTTHS 2015 yêu cầu ngườibào chữa phải có mặt tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm để bào chữa cho người mà mình đãnhận bào chữa Trường hợp người bào chữa vắng mặt lần thứ nhất vì lý do bất khả khánghoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo đồng ýxét xử vắng mặt người bào chữa Nếu người bào chữa vắng mặt không vì lý do bất khảkháng hoặc không do trở ngại khách quan hoặc được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫnvắng mặt thì Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử Đặc biệt, đối với các vụ án chỉ định ngườibào chữa, Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa nếu người bào chữa vắng mặt, trừ trườnghợp bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa Điều

383 BLTTHS 2015 quy định trong trường hợp xét thấy cần thiết hoặc có căn cứ sửa mộtphần bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, Tòa án phải triệu tập người bị kết án,người bào chữa và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghịtham gia phiên tòa giám đốc thẩm; nếu họ vắng mặt thì phiên tòa giám đốc thẩm vẫn đượctiến hành

Trang 12

Trong khi đó, theo BLTTHS năm 2003, trừ trường hợp chỉ định người bào chữa mà ngườibào chữa vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, các trường hợp còn lại nếungười bào chữa vắng mặt – dù với bất cứ lý do gì và được triệu tập hợp lệ lần thứ baonhiêu thì Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử (Điều 190, Điều 245) Những quy định nêu trêncủa BLTTHS 2015 thể hiện sự đề cao vai trò của người bào chữa đối với hoạt động tranhtụng tại phiên tòa, đánh giá đúng tầm quan trọng và sự cần thiết có mặt người bào chữa tạiphiên tòa hơn so với BLTTHS năm 2003.

→ Đây là quy định mới hợp lý

Nhóm quyền về kiểm tra, đánh giá, đề nghị, khiếu nại, kháng cáo:

– Điểm e khoản 1 Điều 73 BLTTHS 2015 quy định người bào chữa có quyền “đề nghịthay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản,người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biệnpháp cưỡng chế”

So với quy định của BLTTHS năm 2003, có thể nhận thấy rằng quyền này của người bàochữa đã được mở rộng hơn – không chỉ dừng lại ở việc chỉ đề nghị thay đổi người cóthẩm quyền tiến hành tố tụng và một số người tham gia tố tụng mà còn được đề nghị thayđổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn (giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạmgiam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh), biệnpháp cưỡng chế (áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản) khi nhận thấy cácbiện pháp này không còn cần thiết, không còn đủ điều kiện để áp dụng đối với người bịbuộc tội Thực tế cho thấy, do hạn chế về kiến thức pháp luật cũng như tâm lý mà người

bị buộc tội thường không dám nêu lên ý kiến, quan điểm, đề nghị về các biện pháp ngănchặn, biện pháp cưỡng chế áp dụng đối với bản thân hoặc nếu có thì cũng không có đủcăn cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình Do đó, việc quy định cho người bào chữa cóquyền này là rất cần thiết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội,hạn chế sự tùy tiện của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng

→ Đây là quy định mới hợp lý

– Điểm g khoản 1 Điều 73 BLTTHS 2015 quy định người bào chữa có quyền “đề nghịtiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; đề nghị triệu tập người làmchứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng”

Đây là một quyền hoàn toàn mới mà BLTTHS 2015 quy định cho người bào chữa Theo

đó, người bào chữa có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện cáchoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật mà người bào chữa cho rằng hoạt động nàygiúp cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, khách quan, toàn diện hơn hoặc giúpcho việc làm sáng tỏ các tình tiết chứng minh sự vô tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của

Trang 13

người bị buộc tội Thể hiện sự bình đẳng giữa bên buộc tội (Kiểm sát viên) và bên gỡ tội(người bào chữa) trong việc đề nghị Tòa án triệu tập người tham gia tố tụng, người cóthẩm quyền tiến hành tố tụng đến phiên tòa Đặc biệt, trong trường hợp có dấu hiệu hoặcnghi ngờ về việc người bị buộc tội bị người có thẩm quyền tiến hành tố tụng ép cung,mớm cung, dùng nhục hình thì việc đề nghị triệu tập người có thẩm quyền tiến hành tốtụng để đối chất với người bị buộc tội, làm rõ dấu hiệu hoặc nghi ngờ về vấn đề nêu trên

là hết sức cần thiết

→ Đây là quy định mới hợp lý

– Điểm i khoản 1 Điều 73 BLTTHS 2015 quy định người bào chữa có quyền “kiểm tra,đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người cóthẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá”

Đây cũng là một trong những quyền mới của người bào chữa so với BLTTHS năm 2003.Việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ là rất quan trọng và cần thiết để xác định tính hợp pháp,xác thực và liên quan đến vụ án, bảo đảm chứng cứ thu thập được đủ để giải quyết vụ ánhình sự Chính vì vậy, Điều 108 BLTTHS 2015 bắt buộc người có thẩm quyền tiến hành

tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ,khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập được về vụ án Nếu người có thẩm quyềntiến hành tố tụng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm của mìnhtrong việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ thì người bào chữa có quyền yêu cầu họ phải thựchiện Hơn thế nữa, người bào chữa cũng có quyền kiểm tra, đánh giá chứng cứ, tài liệu,

đồ vật liên quan bình đẳng với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng

→ Đây là quy định mới hợp lý

– Điểm e khoản 1 Điều 73 BLTTHS 2015 quy định người bào chữa có quyền “đề nghị cơquan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám địnhlại, định giá lại tài sản”

Đây cũng là một quyền mới của người bào chữa được BLTTHS 2015 ghi nhận, tương tựnhư quyền đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng; đề nghị triệu tập người làm chứng, ngườitham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng Pháp luật quy định tráchnhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Trongphạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải ápdụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàndiện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăngnặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội

→ Đây là quy định mới hợp lý

Nhóm quyền về thu thập thông tin; thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu:

Trang 14

– Điểm a Khoản 1 Điều 73 BLTTHS 2015 quy định người bào chữa có quyền “gặp, hỏingười bị buộc tội”

Có thể nhận thấy, quy định về trình tự, thủ tục để người bào chữa gặp người bị buộc tội làmột quy định mới của BLTTHS 2015 Nhằm tạo điều kiện cho người bào chữa thực hiệntốt chức năng bào chữa của mình, pháp luật cho phép người bào chữa có quyền gặp người

bị buộc tội Để bảo đảm cho người bào chữa thực hiện quyền gặp, hỏi người bị buộc tội,Điều 80 BLTTHS 2015 quy định để gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáođang bị tạm giam, người bào chữa phải xuất trình văn bản thông báo người bào chữa, Thẻluật sư hoặc Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cướccông dân Điều 256 BLTTHS quy định tại phiên tòa, bị cáo đang bị tạm giam chỉ đượctiếp xúc với người bào chữa cho mình, việc tiếp xúc với những người khác phải được chủtọa phiên tòa cho phép Việc luật hóa trình tự, thủ tục này chứng tỏ nhà lập pháp đã quantâm nhiều hơn đến vấn đề bảo đảm thực thi các quyền của người bào chữa trên thực tế,trong đó có quyền “gặp, hỏi người bị buộc tội”

→ Đây là quy định mới hợp lý

– Điểm h khoản 1 Điều 73 BLTTHS 2015 quy định người bào chữa có quyền “thu thập,đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu”

Quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa và đưa ra tài liệu đồvật, yêu cầu đã được quy định tại Điều 58 BLTTHS năm 2003 nhưng BLTTHS 2015 kếthừa và có một bước phát triển mới đáng ghi nhận đó là bổ sung thêm cho người bào chữaquyền “thu thập chứng cứ” và “đưa ra chứng cứ” BLTTHS 2015 cũng bỏ giới hạn về việcngười bào chữa chỉ thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến vụ án từ người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cánhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước,

bí mật công tác Thay vào đó, để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người

mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi,nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhâncung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa Trong trường hợpkhông thể thu thập được chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa thì ngườibào chữa có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập Tùy từng giaiđoạn tố tụng, khi thu thập được chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa,người bào chữa phải kịp thời giao cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để đưavào hồ sơ vụ án Chứng cứ do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập và chứng

cứ do người bào chữa thu thập có giá trị như nhau và đều phải được người có thẩm quyềntiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện để xác định tính hợppháp, xác thực và liên quan đến vụ án Quy định này thể hiện sự bình đẳng giữa các bên

Trang 15

trong việc thu thập, đưa ra các chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; là cơ sở quan trọng gópphần bảo đảm thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử.

→ Đây là quy định mới hợp lý

+ Nghĩa vụ của người bào chữa:

– Điểm đ Khoản 2 Điều 73 BLTTHS 2015 quy định người bào chữa có nghĩa vụ “có mặttheo giấy triệu tập của Tòa án; trường hợp chỉ định người bào chữa theo quy định tạikhoản 1 Điều 76 của Bộ luật này thì phải có mặt theo yêu cầu của Cơ quan điều tra, Việnkiểm sát”

So với BLTTHS năm 2003 chỉ yêu cầu người bào chữa có mặt theo giấy triệu tập của Tòa

án BLTTHS đã bổ sung thêm phần nghĩa vụ phải có mặt theo yêu cầu của Cơ quan điềutra, Viện kiểm sát trong trường hợp chỉ định người bào chữa Có mặt trong một số hoạtđộng tố tụng là quyền của người bào chữa, do đó, người bào chữa có thể lựa chọn thamgia hoặc không tham gia theo thông báo, triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tốtụng Tuy nhiên, có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án mà chủ yếu là triệu tập đến phiêntòa xét xử vụ án hình sự vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của người bào chữa và người bàochữa không được từ chối Bởi lẽ phiên tòa là giai đoạn quan trọng nhất của toàn bộ quátrình tố tụng, ở đó sẽ xác định được bị cáo có tội hay không có tội và trách nhiệm hình sựcủa bị cáo trong trường hợp họ bị tuyên là có tội Người bào chữa tham gia phiên tòakhông chỉ để sử dụng, đưa các chứng cứ, tài liệu mà người bào chữa thu thập được, trìnhbày nhận xét, ý kiến, quan điểm về các chứng cứ, tài liệu do các cơ quan có thẩm quyềntiến hành tố tụng thu thập mà còn để tranh luận nhằm bác bỏ sự buộc tội của Kiểm sátviên Qua đó người bào chữa giúp làm sáng tỏ nội dung vụ án, xác định sự thật kháchquan để Hội đồng xét xử có phán quyết đúng đắn, chính xác Đây cũng là quy định nhằmbảo đảm quyền bào chữa của bị cáo

→ Đây là quy định mới hợp lý

– Điểm g khoản 2 Điều 73 BLTTHS 2015 quy định người bào chữa có nghĩa vụ “khôngđược tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết khi bào chữa, trừ trườnghợp người này đồng ý bằng văn bản và không được sử dụng thông tin đó vào mục đíchxâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơquan, tổ chức, cá nhân”

Có thể nhận thấy, điểm g khoản 2 Điều 73 BLTTHS 2015 là quy định mới bổ sung thêm

so với BLTTHS năm 2003 Do đặc thù công việc, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bàochữa, người bào chữa có thể biết được thông tin về vụ án, về người bị buộc tội Pháp luậtquy định họ không được tiết lộ những thông tin này (trừ thông tin về người bị buộc tội cóthể tiết lộ nếu được người bị buộc tội đồng ý bằng văn bản) vì nó sẽ ảnh hưởng đến lợi ích

Trang 16

của Nhà nước và xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, cơ quan, tổchức, cá nhân

→ Đây là quy định mới hợp lý

Câu 7: Phân tích và đánh giá quy định của BLTTHS 2015 về vấn đề người bào chữa chỉ định của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi?

Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có nội dung đã được sửa đổi, bổ sung nhiều quy định thểhiện điểm tiến bộ hơn so với quy định tại Bộ luật tố tụng 2003 Một trong những quy địnhđược bổ sung tại bộ luật này đó là đề ra thủ tục tiến hành tố tụng đối với người dưới 18tuổi nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi

Về vấn đề quyền bào chữa của người chưa thành niên, Điều 305 Bộ luật Tố tụng hình sựnăm 2003 mới chỉ quy định quy định một cách khái quát: Người đại diện hợp pháp củangười bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên có thể lựa chọn người bào chữahoặc tự mình bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Đến Bộ luật Tố tụng hình sựnăm 2015 đã quy định cụ thể về vấn đề bào chữa của người dưới 18 tuổi (Bộ luật năm

2015 đã thay cụm từ người chưa thành niên bằng cụm từ người dưới 18 tuổi)

Điểm đáng chú ý là, Điều 422 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung quy địnhkhẳng định quyền bào chữa của người dưới 18 tuổi: Người bị buộc tội là người dưới 18tuổi có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Ngoài ra, Điều luật đã bỏ cụm

từ mang tính chất tùy ghi “có thể” và thay vào đó là cụm từ “có quyền”: Người đại diệncủa người dưới 18 tuổi bị buộc tội có quyền lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bàochữa cho người dưới 18 tuổi bị buộc tội

Việc sửa đổi, bổ sung quy định rõ hơn cơ chế thực hiện quyền bào chữa của người dưới

18 tuổi bị buộc tội sẽ đảm bảo sự chặt chẽ, cụ thể về trình tự, thủ tục bào chữa, bảo vệ tốthơn các quyền và lợi ích hợp của họ khi tham gia tố tụng

Việc bào chữa cho người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Điều 422 Bộ luật tốtụng hình sự 2015 quy định bắt buộc phải có người bào chữa tham gia tố tụng trong các

vụ án có bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi Người bị buộc tội là người chưa đủ 18 tuổi

có đầy đủ các quyền liên quan đến vấn đề bào chữa cho mình Trong trường hợp khôngtìm được luật sư bào chữa, các cơ quan liên quan phải tìm bằng được người bào chữa chongười bị buộc tội

Cụ thể về vấn đề người bào chữa chỉ định của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cónội dung như sau: Trường hợp người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi không có ngườibào chữa hoặc người đại diện của họ không lựa chọn người bào chữa thì Cơ quan điều tra,Viện kiểm sát, Tòa án phải chỉ định người bào chữa theo quy định tại Điều 76 của Bộ luậtnày

Trang 17

Căn cứ khoản 1 Điều 76 BLTTHS 2015 về Chỉ định người bào chữa:

“1 Trong các trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thânthích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phảichỉ định người bào chữa cho họ:

a) Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là

20 năm tù, tù chung thân, tử hình;

b) Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người cónhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi.”

Theo đó, bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi hoặc người đại diện hợp pháp của họ khônglựa chọn được người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải yêucầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị ủyban Mặt trận Tổ quổc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa chothành viên của tổ chức mình, trừ trường hợp người dưới 18 tuổi hoặc người đại diện hợppháp của họ từ chối

Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tổ tụng phải tạo điều kiện cho người bào chữathực hiện quyền tiếp xúc, gặp gỡ với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi theo quy địnhcủa pháp luật

Sự tham gia bắt buộc của người bào chữa trong tố tụng hình sự là quy định mang tínhnhân đạo của luật tố tụng hình sự nước ta Trong một số trường hợp đặc thù, do tính chất

và hậu quả của tội phạm, hoặc do hạn chế về năng lực nhận thức, năng lực hành vi, dù bịcan, bị cáo không mời người bào chữa thì các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải chỉ địnhngười bào chữa để đảm bảo quyền lợi cho họ Do đó, vấn đề người bào chữa chỉ định củangười bị buộc tội là người dưới 18 tuổi không chỉ có ý nghĩa nhân đạo mà còn có ý nghĩa

to lớn trong nỗ lực bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự

Câu 8: Có nên quy định thủ tục đăng kí bào chữa không? Tại sao?

Nên có quy định về thủ tục đăng kí bào chữa

Do Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 có quy định về cấp Giấy chứng nhậnngười bào chữa được hiểu như một dạng cấp giấy phép cho người bào chữa và qua thựctiễn thi hành cho thấy, quy định về thủ tục cấp Giấy chứng nhận người bào chữa gây khókhăn đối với hoạt động tham gia tố tụng hình sự của Luật sư, ảnh hưởng đến quyền đượcbào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Vì vậy, BLTTHS năm 2015 đã thay bằng quy định đăng ký bào chữa để đơn giản hóa thủtục, tránh trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng chậm trễ trong việc cấp Giấy chứngnhận người bào chữa, ảnh hưởng đến quyền được bào chữa trong tố tụng hình sự

Trang 18

BLTTHS năm 2015 quy định trong mọi trường hợp tham gia tố tụng, người bào chữa phảiđăng ký bào chữa.

Việc bãi bỏ thủ tục cấp Giấy chứng nhận người bào chữa là cơ hội nâng cao vị thế, bảo vệcác quyền và lợi ích hợp pháp của luật sư trong đời sống và trong hoạt động tố tụng, giatăng phạm vi, quyền hạn, trách nhiệm của luật sư trong quá trình tham gia các vụ án hìnhsự

Ngoài ra thủ tục đăng ký bào chữa có một số điểm tiến bộ hơn so với thủ tục cấp giấychứng nhận người bào chữa như rút ngắn thời gian xem xét công nhận tư cách người bàochữa hơn (24 giờ thay vì 3 ngày) Văn bản thông báo cho người đăng ký bào chữa (trườnghợp chấp nhận đăng ký) có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tố tụng thay vì chỉ có giátrị trong từng giai đoạn tố tụng

Tuy nhiên, đối với trường hợp các vụ án do cơ quan tiến hành tố tụng cấp trung ương thụ

lý giải quyết, cơ quan tiến hành tố tụng ở miền bắc, nhưng người bị bắt, người bị tạm giữ,người bị tạm giam ở Trại tạm giam phía Nam thì việc gặp hỏi để lấy ý kiến người bị buộctội về sự đồng ý hay không đồng ý nhờ Luật sư bào chữa, sau đó cơ quan tiến hành tốtụng vào sổ đăng ký và thông báo cho người đăng ký bào chữa trong thời hạn 24 giờ làkhông thể thực hiện

Do đó, để đảm bảo thời hạn luật định thì sau khi Luật sư đăng ký bào chữa, cơ quan tiếnhành tố tụng sau khi kiểm tra các giấy tờ hợp lệ ghi vào sổ đăng ký và thông báo chongười bào chữa, rồi hỏi ý kiến của người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam, nếungười bị buộc tội đồng ý nhờ Luật sư bào chữa thì để nguyên Nếu người buộc tội khôngđồng ý nhờ Luật sư bào chữa thì Cơ quan tiến hành tố tụng lại phải ra Quyết định hủy bỏviệc đăng ký bào chữa đối với Luật sư đã đăng ký bào chữa đồng thời ra thông báo choLuật sư bào chữa biết

Thủ tục đăng ký bào chữa là một bước chuyển mang tính đột phá trong quá trình xác lậpđịa vị pháp lý, vai trò của người bào chữa trong tố tụng hình sự Về bản chất, thủ tục mớinày đã hủy bỏ một rào cản lớn, xóa bỏ cơ chế hành chính xin-cho giữa người bào chữavới các cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng Vì vậy, để đảm bảo Luật TTHS năm

2015 được thi hành trong thực tế không có sự vướng mắc, đề nghị cơ quan có thẩm quyềnnghiên cứu để có văn bản hướng dẫn về vấn đề này, vừa bảo đảm đúng quy định phápluật, vừa thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình áp dụng pháp luật,đảm bảo đúng tinh thần là không để thủ tục hạn chế quyền con người, quyền công dânvốn đã được hiến định

Câu 9: So sánh người bào chữa với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự.

Trang 19

Giống nhau:

Đều là người tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chủ thể khác

Chủ thể làm người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại,đương sự gồm: Luật sư; Người đại diện; Bào chữa viên nhân dân; Trợ giúp viên pháp lý

Bản chất: Tham gia tố tụng song song, có vị trí pháp lý độc lập (không bị ràng buộc bởiviệc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng) của người bị buộc tội/đương sự

Một người có thể bào chữa/ bảo vệ quyền và lợi ích cho nhiều người trong cùng vụ án nếuquyền và lợi ích của họ không đối lập nhau và nhiều người có thể bào chữa/bảo vệ quyền

và lợi ích cho một người bị buộc tội/đương sự

Khác nhau:

Tiêu chí Người bào chữa Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại,

đương sự CSPL Điều 72 – BLTTHS 2015 Điều 84 BLTTHS 2015

Là người được đương sự,

bị hại nhờ bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp

Chủ thể được bảo vệ

quyền và lợi ích

Người bị buộc tội Đương sự, bị hại

Giai đoạn tham gia - Người bào chữa tham gia

tố tụng từ khi khởi tố bịcan

Tham gia tố tụng từkhi khởi kiện hoặc bất cứgiai đoạn nào trong quátrình tố tụng hình sự

Trang 20

- Trường hợp bắt, tạm giữngười thì người bào chữatham gia tố tụng từ khingười bị bắt có mặt tại trụ

sở của Cơ quan điều tra, cơquan được giao nhiệm vụtiến hành một số hoạt độngđiều tra hoặc từ khi cóquyết định tạm giữ

- Trường hợp cần giữ bímật điều tra đối với các tộixâm phạm an ninh quốc giathì Viện trưởng Viện kiểmsát có thẩm quyền quyếtđịnh để người bào chữatham gia tố tụng từ khi kếtthúc điều tra

Phạm vi quyền và nghĩa

Gặp, hỏi người bị buộc tội;

Được cơ quan có thẩmquyền tiến hành tố tụngbáo trước về thời gian, địađiểm lấy lời khai, hỏi cung

và thời gian, địa điểm tiếnhành hoạt động điều trakhác theo quy định của Bộluật này;

Đề nghị tiến hành hoạtđộng tố tụng theo quy địnhcủa Bộ luật này; đề nghịtriệu tập người làm chứng,người tham gia tố tụngkhác, người có thẩm quyềntiến hành tố tụng;

Ngày đăng: 06/12/2020, 20:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w