1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luật tố tụng hành chính CHƯƠNG 7 THỦ tục PHÚC THẨM vụ án HÀNH CHÍNH

10 167 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 182,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 7: THỦ TỤC PHÚC THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNHA. Nhận định:Câu 1: Đối tượng của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm VAHC là bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm Nhận định sai CSPL: Điều 203 Luật TTHC 2015 Theo điều luật này, đối tượng của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc phẩm VAHC là bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, nhưng những bản án và quyết định đó phải chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghịCâu 2: Có trường hợp quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm không phải là đối tượng kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm VAHC Nhận định đúng CSPL: Điều 203 Luật TTHC 2015Theo Điều 203 quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm chỉ có thể là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm VAHC khi nó chưa có hiệu lực pháp luật. Vì thế quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật thì không được coi là đối tượng kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm VAHC. Ngoài ra, đối với danh sách cử tri cũng không thuộc đối tượng kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm VAHC nhưng có thể vẫn là quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm.Câu 3: Chủ thể có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm chỉ là đương sự của VAHC Nhận định saiCSPL Điều 204 Luật TTHC 2015Theo điều luật này, chủ thể có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm VAHC ngoài đương sự của VAHC thì còn có người đại diện hợp pháp của đương sự Câu 4: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm VAHC.Nhận định sai Cơ sở pháp lý: Điều 204, Khoản 7 Điều 3, Khoản 1 Điều 60, Khoản 6 Điều 61 Luật TTHC 2015Bởi vì theo Điều 204 quy định chỉ có đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự mới có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Mà theo Khoản 7 Điều 3, Đương sự bao gồm người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đồng thời theo Khoản 1 Điều 60 Người đại diện trong tố tụng hành chính bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Như vậy, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không thuộc cả hai nhóm đối tượng trên. Ngoài ra tại Khoản 6 Điều 61 cũng không xuất hiện thẩm quyền này của người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự. Từ cơ sở đó ta khẳng định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm VAHC.Câu 5: Đối tượng của kháng cáo và đối tượng của kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm VAHC là như nhau.Nhận định đúng Cơ sở pháp lý: Điều 203, Điều 204, Điều 211 Luật TTHC 2015Bởi vì theo điều 204 và điều 211 đối tượng của kháng cáo và đối tượng của kháng nghị cũng chính là đối tượng xét xử phúc thẩm theo Điều 203. Trên cơ sở đó thì đối tượng của của kháng cáo và kháng nghị đều là những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật.Câu 6: Tại phiên tòa phúc thẩm VAHC, nếu người kháng cáo không thể tiếp tục phiên tòa vì lý do sức khỏe thì Hội đồng xét xử phải ra quyết định hoãn phiên tòaNhận định sai Cơ sở pháp lý: Điểm b Khoản 1 Điều 187, Điều 232Bởi vì trước hết theo Điều 232 về các trường hợp hoãn phiên tòa phúc thẩm thì không thấy có sự xuất hiện của trường hợp nếu người kháng cáo không thể tiếp tục tham dự phiên toà vì lý do sức khoẻ thì HĐXX phải ra quyết định hoãn phiên toà. Mà theo Điểm b Khoản 1 Điều 187 thì trường hợp do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác mà người tham gia tố tụng không thể tiếp tục tham gia phiên tòa thì HĐXX tiến hành tạm ngừng phiên tòa.Câu 7. Tại phiên toà phúc thẩm VAHC, nếu người kháng cáo chết thì Hội đồng xét xử có thể ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHCNhận định đúng CSPL: Điểm a, Khoản 1 Điều 229 LTTHC 2015, Điểm a, Khoản 1 Điều 143Theo Điểm a Khoản 1 Điều 229 Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án trong trường hợp rơi vào điểm a Khoản 1 Điều 143. Mà Điểm a Khoản 1 Điều 143 có nhắc đến trường hợp Người khởi kiện là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế như đề bài đã nêu. Vì vậy nếu người kháng cáo là cá nhân chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế thì Hội đồng xét xử có thể ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHCCâu 8: Tại phiên tòa phúc thẩm VAHC, nếu người khởi kiện rút đơn khởi kiện thì Hội đồng xét xử phải ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ xét xử phúc thẩm.Nhận định sai. Cơ sở pháp lý: khoản 1 điều 234 luật TTHC 2015.Theo khoản 1 điều này, thì khi người khởi kiện muốn rút đơn khởi kiện thì Hội đồng xét xử phải hỏi ý kiến của bên bị kiện có đồng ý hay không, nếu bên bị kiện đồng ý thì Hội đồng xét xử mới ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ xét xử vụ án; nếu bên bị kiện không đồng ý thì Hội đồng xét xử sẽ không chấp nhận việc rút đơn kiện của bên kiện, và phiên tòa vẫn tiếp tục theo quy trình luật định.câu 9: Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thể rút đơn kháng nghị của Viện kiểm sát cấp dưới.Nhận định đúng. Cơ sở pháp lý: khoản 3 điều 218 Luật TTHC 2015. theo khoản 3 điều này thì trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc trong phiên phúc thẩm thì Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền rút kháng nghị của Viện kiểm sát cấp dưới khi xét thấy bản án không còn bất cập trong việc xét xử. Câu 10: Tại phiên toà phúc thẩm VAHC, Thẩm phán chủ tọa phiên toà không thể tiếp tục tiến hành tố tụng thì Toà án phải ra quyết định tạm ngừng phiên toà.Nhận định saiCspl: Điểm a, Khoản 1 Điều 1871. Trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử có quyền tạm ngừng phiên tòa khi có một trong các căn cứ sau đây:a) Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác mà người tiến hành tố tụng không thể tiếp tục tiến hành phiên tòa, trừ trường hợp thay thế được người tiến hành tố tụng;Nếu thẩm phán chủ tọa phiên toà không thể tiếp tục tiến hành tố tụng thì Toà án phải ra quyết định tạm ngừng phiên toà hoặc có thể thay thế thẩm phán khácCâu 11. Khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm thì bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị sẽ phát sinh hiệu lực pháp luật. Nhận định Sai. CSPL: Khoản 2 Điều 229 Luật TTHC 2015Theo khoản 2 điều này thì bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị sẽ chỉ có hiệu lực pháp luật từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm trong trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị trước khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm Tuy nhiên, theo Khoản 4 Điều này, trong trường hợp HĐXX đình chỉ việc xét xử phúc thẩm theo K2 mà phát hiện các bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thuộc một trong những trường hợp quy định tại K1Đ255 thì chúng vẫn sẽ bị tiếp tục xem xét theo thủ tục giám đốc thẩmCâu 12. Trong quá trình giải quyết phúc thẩm VAHC, nếu người khởi kiện rút đơn khởi kiện thì Tòa án ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.Nhận định Sai. CSPL:Khoản 1 Điều 234 Luật TTHC 2015Theo cơ sở pháp lý này, nếu đang trong quá trình giải quyết phúc thẩm VAHC nếu người khởi kiện rút đơn khởi kiện thì HĐXX phúc thẩm phải hỏi ý kiến người bị kiện và xem xét ý kiến của họ trong từng trường hợp. Nếu như Người bị kiện không đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của người khởi kiện; Còn nếu như đương sự đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của người khởi kiện. Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án. Như vậy Tòa án chỉ có thể Tòa án ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.Câu 13: Trong quá trình xét xử phúc thẩm VAHC, nếu người bị kiện hủy bỏ quyết định hành chính bị kiện, Tòa án có thể ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.B.BÀI TẬPBài 1: Ngày 04032019, ông Minh (ngụ tại xã NH huyện NT tỉnh NĐ) nhận được Quyết định giao đất số 2244QĐUBND và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số BQ 5143 của UBND huyện NT. Cho rằng phần diện tích đất cấp cho ông Minh nêu trên có 30m2 thuộc diện tích đất của mình nên ngày 03042019 ông Trung (cư ngụ tại xã A huyện TN tỉnh TB) đã khởi kiện VAHC yêu cầu tòa hủy Quyết định giao đất số 2244QĐUBND và GCNQSDĐ số BQ 5143 của UBND đã cấp cho ông Minh.1.Xác định Tòa án có thẩm quyền thụ lý xét xử sơ thẩm và thành phần đương sự trong vụ án trên.•Tòa án có thẩm quyền thụ lý xét xử sơ thẩm vụ án trên là Tòa án nhân dân tỉnh NĐ. Vì căn cứ theo quy định tại Khoản 4 Điều 32 thì Tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết thủ tục sơ thẩm đối với những khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp huyện trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án.•Thành phần đương sự: ông Trung (người khởi kiện), chủ tịch UBND (người bị kiện), ông Minh (người có nghĩa vụ và lợi ích liên quan). Căn cứ vào Khoản 7 Điều 3 về đương sự)2.Vụ việc được đưa ra xét xử sơ thẩm, ngày 15092019 Tòa án ban hành Bản án sơ thẩm số 122019HCST tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trung, hủy một phần quyết định giao đất số 2244QĐUBND và hủy một phần GCNQSDĐ số BQ 5143 của UBND huyện NT đối với phần tích 30m2 đã cấp cho ông Minh. Không đồng ý, người bị kiện kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm:Hãy xác định Tòa án có thẩm quyền thụ lý phúc thẩm VAHC: Tòa án có thẩm quyền thụ lý phúc thẩm VAHC là Tòa án nhân dân cấp cao (vì đối với Bản án, quyết định ST của Tòa án cấp tỉnh sẽ thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp cao)Anh chị hãy cho biết Tòa án phúc thẩm sẽ phản ứng thế nào khi•Trường hợp 1: người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện.Theo khoản 1 Điều 234 của Luật TTHC, trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm mà người khởi kiện rút đơn khởi kiện thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phải hỏi người bị kiện có đồng ý hay không và tùy từng trường hợp mà có cách thức giải quyết khác nhau. Nếu người bị kiện không đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của người khởi kiện. Trong trường hợp đương sự đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của người khởi kiện. Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.•Trường hợp 2: người kháng cáo rút toàn bộ đơn kháng cáo.Trong trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ đơn kháng cáo thì Tòa án phúc thẩm sẽ đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính theo quy định tại Khoản 1 Điều 229. Trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị trước khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì Thẩm phán được phân công làm Chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm; trong trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.BÀI 2: Ngày 04072016 ông Nguyễn Văn là chủ sở hữu căn nhà số B255 Lô S14, khu phố 1, phường BC, quận TĐ, thành phố H nhận được Thông báo nộp tiền sử dụng đất số 112TBCCT của Chi cục Thuế quận TĐ, thành phố H. Không đồng ý với Thông báo này, ngày 08072016 ông Nguyễn Văn đã khiếu nại đến Chi cục Thuế quận TĐ, thành phố H. Ngày 1572016, Chi cục trưởng Chi cục Thuế quận TĐ, thành phố H ban hành Quyết định số 511QĐCCT giải quyết khiếu nại với nội dung bác đơn khiếu nại giữ nguyên Thông báo số 112TBCCT. Không đồng ý, ngày 2872016, ông Nguyễn Văn khởi kiện VAHC với yêu cầu Tòa án có thẩm quyền tuyên hủy Thông báo số 112TBCCT của Chi cục Thuế quận TĐ, thành phố H.

Trang 1

Luật tố tụng hành chính

CHƯƠNG 7: THỦ TỤC PHÚC THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

A Nhận định:

Câu 1: Đối tượng của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm VAHC là bản

án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm

-Nhận định sai

-CSPL: Điều 203 Luật TTHC 2015

Theo điều luật này, đối tượng của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc phẩm VAHC

là bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, nhưng những bản án và quyết định đó phải chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị

Câu 2: Có trường hợp quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm không phải là đối tượng kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm VAHC

-Nhận định đúng

-CSPL: Điều 203 Luật TTHC 2015

Theo Điều 203 quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm chỉ có thể là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm VAHC khi nó chưa có hiệu lực pháp luật Vì thế quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật thì không được coi là đối tượng kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm VAHC

Ngoài ra, đối với danh sách cử tri cũng không thuộc đối tượng kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm VAHC nhưng có thể vẫn là quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa

án cấp sơ thẩm

Câu 3: Chủ thể có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm chỉ là đương sự của VAHC

-Nhận định sai

-CSPL Điều 204 Luật TTHC 2015

Theo điều luật này, chủ thể có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm VAHC ngoài đương

sự của VAHC thì còn có người đại diện hợp pháp của đương sự

Câu 4: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm VAHC

-Nhận định sai

Trang 2

-Cơ sở pháp lý: Điều 204, Khoản 7 Điều 3, Khoản 1 Điều 60, Khoản 6 Điều 61 Luật TTHC

2015

-Bởi vì theo Điều 204 quy định chỉ có đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương

sự mới có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án

cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm Mà theo Khoản 7 Điều 3, Đương sự

bao gồm người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đồng thời theo Khoản 1 Điều 60 Người đại diện trong tố tụng hành chính bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền Như vậy, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không thuộc cả hai nhóm đối tượng trên Ngoài ra tại Khoản 6 Điều

61 cũng không xuất hiện thẩm quyền này của người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự

Từ cơ sở đó ta khẳng định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm VAHC

Câu 5: Đối tượng của kháng cáo và đối tượng của kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm VAHC là như nhau

-Nhận định đúng

-Cơ sở pháp lý: Điều 203, Điều 204, Điều 211 Luật TTHC 2015

-Bởi vì theo điều 204 và điều 211 đối tượng của kháng cáo và đối tượng của kháng nghị cũng chính là đối tượng xét xử phúc thẩm theo Điều 203 Trên cơ sở đó thì đối tượng của của kháng cáo và kháng nghị đều là những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật

Câu 6: Tại phiên tòa phúc thẩm VAHC, nếu người kháng cáo không thể tiếp tục phiên tòa vì lý do sức khỏe thì Hội đồng xét xử phải ra quyết định hoãn phiên tòa

-Nhận định sai

-Cơ sở pháp lý: Điểm b Khoản 1 Điều 187, Điều 232

-Bởi vì trước hết theo Điều 232 về các trường hợp hoãn phiên tòa phúc thẩm thì không thấy có sự xuất hiện của trường hợp nếu người kháng cáo không thể tiếp tục tham dự phiên toà vì lý do sức khoẻ thì HĐXX phải ra quyết định hoãn phiên toà Mà theo Điểm b Khoản

1 Điều 187 thì trường hợp do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác mà người tham gia tố tụng không thể tiếp tục tham gia phiên tòa thì HĐXX tiến hành tạm ngừng phiên tòa

Câu 7 Tại phiên toà phúc thẩm VAHC, nếu người kháng cáo chết thì Hội đồng xét

xử có thể ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC

Nhận định đúng

CSPL: Điểm a, Khoản 1 Điều 229 LTTHC 2015, Điểm a, Khoản 1 Điều 143

Trang 3

Theo Điểm a Khoản 1 Điều 229 Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án trong trường hợp rơi vào điểm a Khoản 1 Điều 143 Mà Điểm a Khoản 1 Điều

143 có nhắc đến trường hợp Người khởi kiện là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của

họ không được thừa kế như đề bài đã nêu Vì vậy nếu người kháng cáo là cá nhân chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế thì Hội đồng xét xử có thể ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC

Câu 8: Tại phiên tòa phúc thẩm VAHC, nếu người khởi kiện rút đơn khởi kiện thì Hội đồng xét xử phải ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ xét xử phúc thẩm

-Nhận định sai

-Cơ sở pháp lý: khoản 1 điều 234 luật TTHC 2015

Theo khoản 1 điều này, thì khi người khởi kiện muốn rút đơn khởi kiện thì Hội đồng xét

xử phải hỏi ý kiến của bên bị kiện có đồng ý hay không, nếu bên bị kiện đồng ý thì Hội đồng xét xử mới ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ xét xử vụ án; nếu bên bị kiện không đồng ý thì Hội đồng xét xử sẽ không chấp nhận việc rút đơn kiện của bên kiện,

và phiên tòa vẫn tiếp tục theo quy trình luật định

câu 9: Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thể rút đơn kháng nghị của Viện kiểm sát cấp dưới

-Nhận định đúng

-Cơ sở pháp lý: khoản 3 điều 218 Luật TTHC 2015

theo khoản 3 điều này thì trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc trong phiên phúc thẩm thì Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền rút kháng nghị của Viện kiểm sát cấp dưới khi xét thấy bản án không còn bất cập trong việc xét xử

Câu 10: Tại phiên toà phúc thẩm VAHC, Thẩm phán chủ tọa phiên toà không thể

tiếp tục tiến hành tố tụng thì Toà án phải ra quyết định tạm ngừng phiên toà

-Nhận định sai

-Cspl: Điểm a, Khoản 1 Điều 187

1 Trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử có quyền tạm ngừng phiên tòa khi có một trong

các căn cứ sau đây:

a) Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác mà người tiến hành tố tụng không thể tiếp tục tiến hành phiên tòa, trừ trường hợp thay thế được người tiến hành tố tụng;

Nếu thẩm phán chủ tọa phiên toà không thể tiếp tục tiến hành tố tụng thì Toà án phải ra quyết định tạm ngừng phiên toà hoặc có thể thay thế thẩm phán khác

Câu 11 Khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm thì bản

án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị sẽ phát sinh hiệu lực pháp luật

Trang 4

-Nhận định Sai

-CSPL: Khoản 2 Điều 229 Luật TTHC 2015

Theo khoản 2 điều này thì bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị sẽ chỉ có hiệu lực pháp luật từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm trong trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị trước khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm Tuy nhiên, theo Khoản 4 Điều này, trong trường hợp HĐXX đình chỉ việc xét xử phúc thẩm theo K2 mà phát hiện các bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thuộc một trong những trường hợp quy định tại K1Đ255 thì chúng vẫn sẽ bị tiếp tục xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm

Câu 12 Trong quá trình giải quyết phúc thẩm VAHC, nếu người khởi kiện rút đơn khởi kiện thì Tòa án ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án

-Nhận định Sai

CSPL:Khoản 1 Điều 234 Luật TTHC 2015

Theo cơ sở pháp lý này, nếu đang trong quá trình giải quyết phúc thẩm VAHC nếu người khởi kiện rút đơn khởi kiện thì HĐXX phúc thẩm phải hỏi ý kiến người bị kiện và xem xét

ý kiến của họ trong từng trường hợp Nếu như Người bị kiện không đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của người khởi kiện; Còn nếu như đương sự đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của người khởi kiện Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án Như vậy Tòa án chỉ có thể Tòa án ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án

Câu 13: Trong quá trình xét xử phúc thẩm VAHC, nếu người bị kiện hủy bỏ quyết định hành chính bị kiện, Tòa án có thể ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án

-Nhận định đúng

-CSPL: K1 Điều 235 Luật TTHC 2015 sửa đổi 2019

- Theo quy định tại K1 Điều 235 Luật TTHC 2015 sửa đổi 2019, Trường hợp người bị kiện sửa đổi, hủy bỏ quyết định hành chính bị kiện hoặc dừng, khắc phục hành vi hành chính bị khởi kiện liên quan đến quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân và người khởi kiện đồng ý rút đơn khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đồng ý rút yêu cầu thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án, quyết định sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án; trong quyết định của bản án phải ghi rõ cam kết của đương sự để

bảo đảm thi hành án hành chính

Như vậy, trong quá trình xét xử phúc thẩm VAHC, nếu người bị kiện hủy bỏ quyết định hành chính bị kiện, Tòa án có thể ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết

vụ án

Trang 5

Câu 14: Đơn kháng cáo phải được gửi cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định bị kháng cáo

-Nhận định sai

-CSPL: Khoản 7 Điều 205

-Theo cơ sở pháp lý này, Đơn kháng cáo phải được gửi cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản

án, quyết định bị kháng cáo Tuy nhiên ngoài ra đơn kháng cáo cũng có thể gửi đến Tòa án cấp phúc thẩm, đối với trường hợp này, khi nhận đơn Tòa án câp phúc thẩm sẽ có nhiệm

vụ chuyển đơn cho Tòa án cấp sơ thẩm Như vậy, đơn kháng cáo không chỉ được gửi cho Tòa án cấp sơ thẩm mà còn có thể gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm, điều này nhằm giúp đỡ cho người khởi kiện khi có những khó khăn khách quan trong quá trình nộp đơn

15 KSV phải có mặt tại phiên tòa phúc thẩm VAHC, nếu họ vắng mặt thì Tòa án phải hoãn phiên tòa

- Nhận định sai

- CSPL: Điều 224, SSiểm b Khoản 1 điều 232

-Trước nhất, theo Khoản 1 Điều 224 HĐXX chỉ quyết định hoãn phiên tòa khi KSV vắng mặt trong trường hợp VKS có kháng nghị Không những thế, theo Khoản 2 Điều 224 trường hợp trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên tòa, nhưng

có Kiểm sát viên dự khuyết tham gia phiên tòa từ đầu thì người này được thay thế Kiểm sát viên vắng mặt tham gia phiên tòa xét xử vụ án Nếu không có người thay thế thì mới hoãn phiên tòa theo điểm b Khoản 1 Điều 232 Tựu chung lại, sự vắng mặt của KSV không phải là tiền đề dẫn đến việc hoãn phiên tòa nếu như rơi vào trường hợp VKS không có kháng nghị hoặc trường hợp tại Khoản 2 Điều 224

16 Người kháng cáo chỉ có quyền rút, thay đổi, bổ sung kháng cáo trước khi mở phiên tòa phúc thẩm

- Nhận định sai

- CSPL: Khoản 2, 3 Điều 218 LTTHC

-Trước nhất theo Khoản 2 Điều 218 trước khi bắt đầu phiên toà hoặc tại phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo Tuy nhiên, tại Khoản 3 Điều

218 có nêu người kháng cáo có quyền rút kháng cáo không những trước phiên tòa mà còn

có thể ngay tại phiên tòa phúc thẩm Vậy người kháng cáo vừa có quyền rút, thay đổi, bổ sung kháng cáo trước khi phiên toà phúc thẩm mở mà họ có quyền đó ngay trong lúc phiên toà phúc thẩm diễn ra

17 Trong quá trình xét xử phúc thẩm VAHC, tòa án phát hiện người khởi kiện không

có quyền khởi kiện thì Tòa án phải ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm

-Nhận định sai

Trang 6

-Cơ sở pháp lý: Khoản 4 Điều 241, Điểm h Khoản 1 Điều 143, Điểm a Khoản 1 Điều 123 Trước nhất theo Khoản 4 Điều 241 HĐXX phúc thẩm sẽ ra quyết định hủy bản án sơ thẩm

và quyết định đình chỉ vụ án việc giải quyết vụ án nếu trong quá trình xét xử sơ thẩm nếu

có một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 143 Mà theo điểm h Khoản 1 Điều

143 và theo Điểm a Khoản 1 Điều 123 người khởi kiện không có quyền khởi kiện thuộc một trong các trường hợp này Thế nên đây là nhận định sai

18 Tòa án cấp phúc thẩm có thể ban hành phán quyết buộc người bị kiện phải bồi thường thiệt hại cho người khởi kiện trong VAHC

Nhận định này Đúng

CSPL:Điều 7, Điểm a, b Khoản 2 Điều 241

Vì Căn cứ vào Điều 7 trong trường hợp người khởi kiện có yêu cầu bồi thường thiệt hại thì tòa án có quyền giải quyết vấn đề bồi thường, đền bù thiệt hại và căn cứ khoản 2 Điều

241 tòa án có thể bàn hành phán quyết buộc người bị kiện phải bồi thường thiệt hại cho người khởi kiện thông qua việc sửa đổi một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm nếu tòa án cấp sơ thẩm quyết định không đúng pháp luật theo điểm a, b khoản 2 Điều 241

Câu 19 Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại trong trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý sai

thẩm quyền theo lãnh thổ

Nhận định trên là đúng

Cơ sở pháp lý: Khoản 3 Điều 241 Luật TTHC 2015

Theo đó, trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý sai thẩm quyền theo lãnh thổ được xem

là trường hợp có vi phạm đặc biệt nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền ra quyết định hủy bản án và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại Việc này nhằm đảm bảo tính hợp pháp của bản án sơ thẩm, nghĩa là có căn

cứ về mặt pháp lý về áp dụng nội dung và việc tuân thủ thủ tục tố tụng

Câu 20 Tòa án cấp phúc thẩm phải sửa bản án hành chính sơ thẩm nếu phát hiện Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm về việc thu thập chứng cứ vụ án

Nhận định trên là sai

Cơ sở pháp lý: Khoản 3 Điều 241 Luật TTHC 2015

Theo đó, nếu phát hiện Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm về việc thu thập chứng cứ vụ án, cần phải thu thập chứng cứ mới quan trọng mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung ngay được thì theo thẩm quyền, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại

→ Đây là trường hợp vi phạm về việc thu thập chứng cứ vụ án, cụ thể là chứng cứ chưa được thu thập đầy đủ, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung ngay được

Trang 7

A BÀI TẬP

Bài 1: Ngày 04/03/2019, ông Minh (ngụ tại xã NH huyện NT tỉnh NĐ) nhận được Quyết định giao đất số 2244/QĐ-UBND và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số BQ 5143 của UBND huyện NT Cho rằng phần diện tích đất cấp cho ông Minh nêu trên có 30m2 thuộc diện tích đất của mình nên ngày 03/04/2019 ông Trung (cư ngụ tại xã A huyện TN tỉnh TB) đã khởi kiện VAHC yêu cầu tòa hủy Quyết định giao đất số 2244/QĐ-UBND và GCNQSDĐ số BQ 5143 của UBND đã cấp cho ông Minh

1 Xác định Tòa án có thẩm quyền thụ lý xét xử sơ thẩm và thành phần đương sự trong vụ án trên

 Tòa án có thẩm quyền thụ lý xét xử sơ thẩm vụ án trên là Tòa án nhân dân tỉnh NĐ

Vì căn cứ theo quy định tại Khoản 4 Điều 32 thì Tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết thủ tục sơ thẩm đối với những khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp huyện trên cùng phạm

vi địa giới hành chính với Tòa án

 Thành phần đương sự: ông Trung (người khởi kiện), chủ tịch UBND (người bị kiện), ông Minh (người có nghĩa vụ và lợi ích liên quan) Căn cứ vào Khoản 7 Điều 3 về đương sự)

2.Vụ việc được đưa ra xét xử sơ thẩm, ngày 15/09/2019 Tòa án ban hành Bản án sơ thẩm số 12/2019/HC-ST tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trung, hủy một phần quyết định giao đất số 2244/QĐ-UBND và hủy một phần GCNQSDĐ số BQ 5143 của UBND huyện NT đối với phần tích 30m2 đã cấp cho ông Minh Không đồng ý, người bị kiện kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm:

-Hãy xác định Tòa án có thẩm quyền thụ lý phúc thẩm VAHC: Tòa án có thẩm quyền

thụ lý phúc thẩm VAHC là Tòa án nhân dân cấp cao (vì đối với Bản án, quyết định ST của Tòa án cấp tỉnh sẽ thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp cao)

-Anh/ chị hãy cho biết Tòa án phúc thẩm sẽ phản ứng thế nào khi

Trường hợp 1: người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện

Theo khoản 1 Điều 234 của Luật TTHC, trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm mà người khởi kiện rút đơn khởi kiện thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phải hỏi người bị kiện có đồng ý hay không và tùy từng trường hợp mà có cách thức giải quyết khác nhau Nếu người bị kiện không đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của người khởi kiện Trong trường hợp đương sự đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của người khởi kiện Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án

Trường hợp 2: người kháng cáo rút toàn bộ đơn kháng cáo

Trang 8

Trong trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ đơn kháng cáo thì Tòa án phúc thẩm sẽ đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính theo quy định tại Khoản 1 Điều

229 Trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn

bộ kháng nghị trước khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì Thẩm phán được phân công làm Chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ xét

xử phúc thẩm; trong trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm

BÀI 2: Ngày 04/07/2016 ông Nguyễn Văn là chủ sở hữu căn nhà số B2-55 Lô S14, khu phố 1, phường BC, quận TĐ, thành phố H nhận được Thông báo nộp tiền sử dụng đất số 112/TB-CCT của Chi cục Thuế quận TĐ, thành phố H Không đồng ý với Thông báo này, ngày 08/07/2016 ông Nguyễn Văn đã khiếu nại đến Chi cục Thuế quận TĐ, thành phố H Ngày 15/7/2016, Chi cục trưởng Chi cục Thuế quận TĐ, thành phố H ban hành Quyết định số 511/QĐ-CCT giải quyết khiếu nại với nội dung bác đơn khiếu nại giữ nguyên Thông báo số 112/TB-CCT Không đồng ý, ngày 28/7/2016, ông Nguyễn Văn khởi kiện VAHC với yêu cầu Tòa án có thẩm quyền tuyên hủy Thông báo số 112/TB-CCT của Chi cục Thuế quận TĐ, thành phố H

1 Xác định thời hiệu khởi kiện, thành phần tư cách những người tham gia tố tụng trong vụ án trên? (Biết ông Nguyễn Văn nhận đc QĐ 511/QĐ-CCT vào ngày

18/7/2016)

- Thời hiệu khởi kiện: 18/7/2016-18/7/2017

CSPL: điểm a khoản 3 Điều 116 Luật TTHC 2015

Vì ông Nguyễn Văn A trước khi khởi kiện đã khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật nên thời hiệu khởi kiện của vụ án trên được tính là 01 năm kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại là ngày 18/07/2016

- Thành phần tư cách những người tham gia tố tụng vụ án trên:

CSPL: k7,8,9 Đ3 LTTHC 2015, Đ53 LTTHC 2015

Đương sự bao gồm người khởi kiện là ông Nguyễn Văn và người bị kiện là Chi cục Thuế quận TĐ, thành phố H

2 Vụ việc được Tòa án có thẩm quyền thụ lý giải quyết theo đúng quy định Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Văn xin bổ sung thêm yêu cầu bồi thường thiệt hại 50 triệu đồng do Thông báo 112/TB-CCT gây ra Việc bổ sung yêu cầu này có được Tòa án chấp nhận hay không? Vì sao?

=>Việc bổ sung yêu cầu này vẫn được Tòa án chấp nhận

CSPL: khoản 3 Đ55, Đ56, Đ7, Đ173, Điều 8 LTTHC 2015

Trang 9

Người khởi kiện là ông Nguyễn Văn, căn cứ theo k3 Đ55 đương sự có quyền được bổ sung yêu cầu Tại Đ56 cũng quy định về việc thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn Trong trường hợp này, thời hiệu khởi kiện vẫn còn nên ông Nguyễn Văn vẫn có thể bổ sung yêu cầu khởi kiện Căn cứ theo k1 Đ7 LTTHC 2015, người khởi kiện ở đây là ông Văn có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại do quyết định hành chính của Chi cục thuế gây ra Ông Văn phải có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án xem xét yêu cầu được bổ sung này Vì vậy, Tòa án vẫn chấp nhận việc bổ sung yêu cầu này nhưng yêu cầu này có được chấp nhận hay không thì cần phải qua xem xét

Căn cứ điều 8 Luật TTHC 2015 thì trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, người khởi kiện có quyền bổ sung yêu cầu khởi kiện theo quy định của Luật này Nếu số tiền yêu cầu bồi thường lớn hơn 50 triệu thì Tòa vẫn chấp nhận vì không làm phát sinh QHPl mới và không đưa Tòa vào thế bị động => không vượt quá yc khởi kiện ban đầu

3.Vụ việc được đưa ra xét xử sơ thẩm, Tòa án ban hành Bản án sơ thẩm số 121/2016/HC-ST với phần tuyên xử: bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn, giữ nguyên Thông báo số 112/TB-CCT bị kiện Anh ( chị) nêu ý kiến về phán quyết này của Tòa án cấp sơ thẩm?

-Căn cứ: Điều 227 Luật TTHC 2015

-Nếu ông Nguyễn Văn chủ động thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp theo đúng quy định của khoản 1 điều 9 Luật TTHC 2015 thì Tòa án phải xem xét về tính hợp pháp của hành vi hành chính bị kiện

và kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ở đây là Chi cục Thuế quận TĐ, thành phố H xem xét lại và trả lời kết quả cho Tòa án theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan rồi mới đưa ra Bản án thích hợp → Bản án này là không hợp lệ và cần được xét xử lại

-Nếu ông Nguyễn Văn không giao nộp tài liệu, chứng cứ cần thiết thì Bản án này là hợp lệ

vì yêu cầu khởi kiện không có căn cứ pháp luật tuy nhiên nếu có lí do chính đáng thì ông Nguyễn Văn có thể kháng cáo và giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ trong giai đoạn chuẩn

bị xét xử phúc thẩm

2.Bản án sơ thẩm số 121/2016/HC-ST nêu trên bị ông Nguyễn Văn kháng cáo hợp lệ theo trình tự phúc thẩm Anh (chị) hãy xác định:

-Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm?

-CSPL: K1Đ31 Luật TTHC 2015,

-Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng cáo, kháng nghị -Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa

án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị

Trang 10

Mà trong trường hợp này tòa án nhân dân xét xử bản án sơ thẩm kiện Chi cục thuế quận

TĐ, thế nên tòa có thẩm quyền xét xử sơ thẩm là Tòa án nhân dân huyện, vì vậy Tòa án nhân dân tỉnh sẽ là cơ quan có quyền xét xử phúc thẩm theo Điều 32

- Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ giải quyết như thế nào khi nhận định rằng Thông báo

số 112/TB-CCT là đúng quy định của pháp luật

CSPL: Khoản 1, Khoản 2 Điều 241, Điểm a Khoản 5 Điều 243 Luật TTHC 2015

Nếu HĐXX cấp phúc thẩm nhận định rằng Thông báo số 112/TB-CCT là đúng quy định của pháp luật tức bản án cấp sơ thẩm đúng với quy định của pháp Luật thì HĐXX sẽ giải quyết: HĐXX sẽ bác kháng cáo và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 121/2016/HC-ST

Ngày đăng: 25/03/2022, 14:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w