Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử: a Vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc
Trang 1I LÝ THUYẾT
Câu 1: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm có phải là một giai đoạn tố tụng không? Tại sao?
Chuẩn bị xét xử vụ án hình sự là hoạt động tố tụng hình sự do những người tiến hành tốtụng hình sự có thẩm quyền thực hiện từ khi thụ lý vụ án đến khi mở phiên tòa
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Thẩm phán phải thực hiện nhiềunhiều hoạt động và ra các quyết định tố tụng khác nhau như: Quyết định áp dụng, thay đổihoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; trả hồ sơ điều tra bổ sung; tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án;gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử; quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập những người
cần xét hỏi tại phiên tòa
Hiện nay chuẩn bị xét xử sơ thẩm không được coi là một giai đoạn tố tụng, bởi giai đoạnnày, chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền tiến hành một số công việc nhất định để phục vụcho quá trình xét xử sơ thẩm, nói cách khác đây là một quá trình diễn tra trước giai đoạnxét xử mà thôi
Câu 2: Phân tích điểm mới của BLTTHS 2015 về thẩm quyền xét xử sơ thẩm?
Trang 2chốt ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộctrung ương, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người.
Thứ hai, về thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ.
Thẩm quyền xét xử của Tòa án theo lãnh thổ được quy định tại điều 269 BLTTHS năm2015
Điểm mới đáng chú ý của BLTTHS năm 2015 là quy định “Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tùy trường hợp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh hoặc Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử” Như vậy, ngoài Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
và Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, ở BLTTHS năm 2015 còn xuất hiện thêm 1tòa án nữa là Tòa án nhân dân TP Đà NẵNg; có thẩm quyền giải quyết các vụ án hình sự
mà bị cáo phạm tội ở nước ngoài nhưng xét xử tại Việt Nam
Đây là quyết định hợp lý khi vừa giải quyết được gánh nặng cho 2 tòa (TP Hà Nội,TP.HCM), lại tạo điều kiện cho những người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của mình
Thứ ba, về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.
BLTTHS năm 2015 bổ sung quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự tại điều272:
Trang 3“1 Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử: a) Vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục
vụ chiến đấu; công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội nhân dân; b) Vụ án hình sự mà bị cáo không thuộc đối tượng quy định tại điểm
a khoản 1 Điều này liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu hoặc gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của Quân đội nhân dân hoặc phạm tội trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ.
2 Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử tất cả tội phạm xảy ra trong địa bàn thiết quân luật.”
Quy định đầy đủ thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự nhằm khắc phục những vướngmắc của pháp luật hiện hành
Điều này đã cụ thể hóa các trường hợp thuộc thẩm quyền của TAQS nên đã tạo điều kiệnthuận lợi cho việc lựa chọn vụ án nào thì thuộc thẩm quyền của TAND và vụ án nào thìthuộc thẩm quyền xét xử của TAQS Qua đó, tránh xảy ra tranh chấp trong thẩm quyềnxét xử giữa TAND và TAQS cũng như tạo được tính độc lập, bí mật đối với các vụ ánhình sự có tính chất quân sự mà TAQS thụ lý giải quyết
Thứ tư, về việc xét xử bị cáo phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân
và Tòa án quân sự.
Vấn đề này được quy định tại điều 273 BLTTHS năm 2015
“Khi vụ án vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự, vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân thì thẩm quyền xét xử được thực hiện:
Trang 41 Trường hợp có thể tách vụ án thì Tòa án quân sự xét xử những bị cáo và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự; Tòa án nhân dân xét xử những bị cáo và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân;
2 Trường hợp không thể tách vụ án thì Tòa án quân sự xét xử toàn bộ vụ án.”
Việc đưa ra điểm mới này nhằm đảm bảo tính độc lập, bí mật trong quân sự, tránh xungđột về thẩm quyền và đảm bảo được tính chặt chẽ, hợp lí trong việc xét xử bị cáo phạmnhiều tội thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự Tạo điều kiện cho vụ
án được giải quyết nhanh chóng, đúng thẩm quyền tránh ảnh hưởng đến quyền và lợi íchhợp pháp của người tham gia tố tụng
Khi xét thấy vụ án vẫn thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án đã trả hồ sơ thì Viện kiểm sát chuyển lại hồ sơ vụ án đến Tòa án kèm theo văn bản nêu rõ lý do; nếu Tòa án xét thấy vụ
án vẫn không thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì việc giải quyết tranh chấp thẩm quyền xét xử thực hiện theo Điều 275 của Bộ luật này Viện kiểm sát phải thực hiện theo quyết định của Tòa án có thẩm quyền.
2 Thời hạn truy tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn được thực hiện theo quy định tại Điều 240 và Điều 241 của Bộ luật này.”
Thứ sáu, giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử.
Trang 5Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử được quy định tại điều 275 BLTTHS năm2015.
“1 Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các Tòa án nhân dân cấp huyện trong cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, giữa các Tòa án quân sự khu vực trong cùng một quân khu do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân
sự cấp quân khu quyết định.
2 Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau, giữa các Tòa án quân sự khu vực thuộc các quân khu khác nhau do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa
án quân sự cấp quân khu nơi kết thúc việc điều tra quyết định.
3 Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các Tòa án nhân dân cấp tỉnh, giữa các Tòa án quân sự cấp quân khu do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương quyết định.
4 Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa Tòa án nhân dân và Tòa án quân
sự do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định.
Việc chuyển vụ án để xét xử theo thẩm quyền được thực hiện theo quy định tại Điều 274 của Bộ luật này.”
Điều 275 BLTTHS năm 2015 quy định chi tiết, cụ thể hơn về các trường hợp tranh chấp
về thẩm quyền xét xử Tuy nhiên, theo ý kiến cá nhân, việc quy định như vậy vẫn chưagiải quyết được triệt để những vướng mắc về thẩm quyền xét xử
Câu 3: Nêu quan điểm cá nhân về giới hạn xét xử sơ thẩm trong BLTTHS 2015.
Quy định tại Điều 298 BLTTHS năm 2015 về giới hạn của việc xét xử
“1 Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố
và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.
2 Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Trang 63 Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy
tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó.”
Theo quy định về giới hạn xét xử của BLTTHS năm 2015 bao gồm 03 nội dung:
Thứ nhất: Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát
truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.
BLTTHS năm 2015 đã bỏ khái niệm “Tòa án chỉ xét xử …” trong quy định của BLTTHS
năm 2003 thành quy định “Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh
mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử” Quy định nêu trên
gồm hai nội dung:
+ Về chủ thể: Điều kiện Tòa án xét xử thì chủ thể bị Viện kiểm sát truy tố bằng bản cáotrạng Ngoài ra, Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố
vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm.+ Tòa án xét xử những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố Chỉ được khởi tố
vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên
những căn cứ: Tố giác của cá nhân; Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; Người phạm tội tự thú.
Bên cạnh đó có những trường hợp không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các
căn cứ sau: Không có sự việc phạm tội; Hành vi không cấu thành tội phạm; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; Tội phạm đã được đại xá; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;
Trang 7Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và
226 của Bộ luật hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.
Thứ hai: Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy
tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát
đã truy tố.
BLTTHS năm 2015 giữ nguyên như quy định của BLTTHS năm 2003, đây là quy địnhtùy nghi, có nghĩa là với những hành vi mà VKS truy tố, Toà án có thể xét xử bị cáo theokhoản nặng hơn hoặc theo khoản nhẹ hơn so với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trongcùng một điều luật
+ Toà án có thể xét xử bị cáo về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đãtruy tố, có nghĩa là với những hành vi mà Viện kiểm sát truy tố, Toà án có thể xét xử bịcáo về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố
Tội phạm khác bằng tội phạm mà Viện kiểm sát đã truy tố là trường hợp điều luật quyđịnh về trách nhiệm hình sự (hình phạt chính, hình phạt bổ sung) đối với hai tội phạm nhưnhau
Tội phạm khác nhẹ hơn tội phạm mà Viện kiểm sát đã truy tố là trường hợp điều luật quyđịnh về trách nhiệm hình sự (hình phạt chính, hình phạt bổ sung) đối với tội phạm khácnhẹ hơn so với tội phạm mà Viện kiểm sát đã truy tố Để xác định tội nào nhẹ hơn, tội nàonặng hơn thì cần thực hiện theo thứ tự như sau:
Một là: Trước hết xem xét hình phạt chính đối với hai tội phạm, nếu tội nào điều luật có
quy định loại hình phạt nặng nhất nặng hơn thì tội đó nặng hơn
Hai là: Trong trường hợp điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất đối với cả hai tội là
tù có thời hạn (không quy định hình phạt tử hình, hình phạt tù chung thân) thì tội nào,điều luật quy định mức hình phạt tù cao nhất đối với tội ấy cao hơn là tội đó nặng hơn
Ba là: Trong trường hợp điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất đối với cả hai tội đều
tử hình hoặc đều tù chung thân hoặc đều tù có thời hạn và mức hình phạt tù cao nhất đốivới cả hai tội như nhau, thì tội nào điều luật quy định mức hình phạt tù khởi điểm cao hơn
là tội đó nặng hơn
Trang 8Bốn là: Trong trường hợp điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất đối với cả hai tội
đều là tù có thời hạn và mức hình phạt tù khởi điểm, mức hình phạt tù cao nhất như nhau,thì tội nào điều luật còn quy định loại hình phạt chính khác nhẹ hơn (cải tạo không giamgiữ, phạt tiền, cảnh cáo) thì tội đó nhẹ hơn
Năm là: Trong trường hợp điều luật quy định các loại hình phạt chính đối với cả hai tội
như nhau, thì tội nào điều luật còn quy định hình phạt bổ sung là tội đó nặng hơn Nếuđiều luật cùng quy định hình phạt bổ sung như nhau, nhưng đối với tội này thì hình phạt
bổ sung là bắt buộc, còn đối với tội khác hình phạt bổ sung có thể áp dụng, thì tội nàođiều luật quy định hình phạt bổ sung bắt buộc là tội đó nặng hơn
+ Toà án cũng có thể xét xử bị cáo về tội nhẹ nhất trong các tội mà Viện kiểm sát truy tốhoặc về tội nhẹ hơn tất cả các tội mà Viện kiểm sát truy tố đối với tất cả các hành vi phạmtội đó
Thứ ba: Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm
sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó.
Đây là quy định mới BLTTHS năm 2015 về giới hạn xét xử bổ sung so với quy định củaBLTTHS năm 2003 Quy định mới này là cần thiết và quan trọng, trong quy định củaBLTTHS năm 2003 không quy định việc Tòa án được xét xử tội danh nặng hơn đã dẫnđến tình trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung nhiều lần nhưng kết quả không bổ sung điều trađược và Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, Hội đồng xét xử phải xét xửtheo đúng quy định của pháp luật và có nhiều trường hợp bản án sơ thẩm bị hủy, gây nênxôn xao trong dư luận đặc biệt gần đây là vụ án nhập khẩu thuốc chữa bệnh của Công ty
VN Pharma, đây là những bất cập, hạn chế trong quá trình thi hành BLTTHS năm 2003,
vì vậy việc BLTTHS năm 2015 bổ sung quy định Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tộinặng hơn chính là sự đảm bảo trong nguyên tắc xét xử độc lập của Tòa án được ghi nhậntrong Hiến pháp, Luật tổ chức Tòa án Nhân Dân
Trang 9Trong trường hợp không đồng ý với tội danh nặng hơn mà Tòa án đã xét xử thì Viện kiểmsát có quyền kháng nghị theo đúng quy định của BLTTHS
Câu 4: Phân tích mối quan hệ giữa thẩm quyền điều tra và thẩm quyền xét xử sơ thẩm VAHS?
Trong TTHS thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TA là một chế định quan trọng Thẩm quyềncàng được phân định rõ ràng, chính xác thì càng đảm bảo cho việc xét xử khách quan,chính xác, đúng người, đúng tội Việc xác định đúng đắn thẩm quyền xét xử sơ thẩm của
TA có ý nghĩa rất lớn không chỉ giúp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, xã hội
và công dân mà còn có ý nghĩa trong việc xác định thẩm quyền của các Cơ quan tiến hành
tố tụng khác như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát Vì vậy nếu xét về mối quan hệ giữathẩm quyền điều tra với thẩm quyền xét xử sơ thẩm VAHS thì thẩm quyền xét xử đượccoi là cơ sở để quy định thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra Sự thay đổi thẩm quyềnxét xử sơ thẩm của TA dẫn đến sự thay đổi tương ứng thẩm quyền của cơ quan điều tra.Xét xử sơ thẩm chỉ được tiến hành khi Cơ quan điều tra đã điều tra vụ án, Viện kiểm sát
đã truy tố bị can trước TA bằng một cáo trạng Với tầm quan trọng đó các quy định vềthẩm quyền xét xử sơ thẩm luôn được chú ý từ khi ban hành pháp luật
Câu 5: Phân biệt thẩm quyền xét xử và giới hạn xét xử sơ thẩm VAHS?
Tiêu chí Thẩm quyền xét xử sơ thẩm Giới hạn xét xử sơ thẩm
Khái niệm
Thẩm quyền xét xử sơ thẩm làquyền xem xét và quyết định sơthẩm trong hoạt động xét xử củaToà án theo quy định của phápluật
giới hạn xét xử sơ thẩm là phạm vi,mức độ nhất định, mà Toà án khôngđược vượt qua trong quá trình thựchiện chức năng xét xử, xác định giớihạn cho Toà án trong việc thực hiệnquyền hạn của mình trong quá trìnhgiải quyết vụ án
Căn cứ Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo
sự việc là sự phân định thẩm quyềnxét xử giữa các cấp Tòa án, căn cứvào tính chất và mức độ nguy hiểm
Tòa án xét xử những bị cáo vànhững hành vi theo tội danh màViện kiểm sát truy tố và Tòa án đã
Trang 10của tội phạm gồm: cấp huyện vàcấp tỉnh: Điều 268.
Thẩm quyền xét xử theo đối tượngchính là sự phân định thẩm quyềnxét xử giữa Tòa án nhân dân vàTòa án quân sự căn cứ vào đốitượng phạm tội
Thẩm quyền theo lãnh thổ là sựphân định thẩm quyền xét xử căn
cứ vào nơi tội phạm được thựchiện và nơi kết thúc điều tra: Điều269
quyết định đưa vụ án ra xét xử.Tòa án có thể xét xử bị cáo theokhoản khác với khoản mà Việnkiểm sát đã truy tố trong cùng mộtđiều luật hoặc về một tội khác bằnghoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát
đã truy tố
Trường hợp xét thấy cần xét xử bịcáo về tội danh nặng hơn tội danhViện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả
hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại vàthông báo rõ lý do cho bị cáo hoặcngười đại diện của bị cáo, ngườibào chữa biết; nếu Viện kiểm sátvẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa
án có quyền xét xử bị cáo về tộidanh nặng hơn đó
Cấp toà án
Tòa án quân sự khu vực và tòa ánnhân dân cấp huyện
Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa
án quân sự cấp quân khu
Các tòa án các cấp huyện, tỉnh,TANDTC
Giải quyết việc
Trang 11- Việc trao đổi giữa VKS và Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VAHS làkhông vi phạm nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo phápluật” theo quy định tại Điều 23 BLTTHS 2015
Bởi vì:
+ Việc làm này vẫn tuân thủ theo đúng quy tắc trên theo đó thẩm phán, hội thẩm không bịchi phối, chỉ đạo của bất kỳ cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc cá nhân nào Và khixét xử họ chỉ tuân theo pháp luật
+ BLTTHS 2015 không quy định thủ tục này do nó không phải là thủ tục bắt buộc mà chỉ
là hướng đến làm việc trong quan hệ phối hợp giữa Tòa án và VKS nhằm giúp nhau thựchiện tốt hơn những việc thuộc chức năng của các bên
+ Ngoài ra, theo hướng dẫn ở thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 8/12/1988 quy địnhnhững trường hợp cần trao đổi thì chủ yếu là khi tòa án chủ động và cảm thấy cần thiếttức Tòa án lúc này vẫn độc lập, không phải bị chi phối, chỉ đạo của bất kì ai mà việc nàychỉ giúp tòa án đưa ra được quyết định đúng theo pháp luật và sát thực tiễn hơn như: trả
hồ sơ để VKS điều tra bổ sung, thay đổi tội danh nặng hơn hoặc áp dụng khung hình phạtnặng hơn; khi Tòa án thấy cần đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án, khi cần chuyển vụ án choTòa án khác giải quyết,
+ Đặc biệt sau khi trao đổi, dù nhất trí hay không nhất trí, mỗi bên vẫn tiến hành nhữngcông việc thuộc chức năng của mình Tức dù Tòa án và VKS có bất đồng quan điểm thìviệc đưa ra quyết định, phán quyết sau cùng cũng do Thẩm phán, Hội thẩm theo nguyêntắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”
Câu 7: Phân tích điểm mới của BLTTHS 2015 về thủ tục tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm.
1 Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm.
* Thủ tục công bố cáo trạng:
Điều 306 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định “Trước khi tiến hành xét hỏi, kiểm sát viêncông bố bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung (nếu có) Ý kiến bổ sung không được
Trang 12làm xấu đi tình trạng của bị cáo” So với Bộ luật TTHS năm 2003, Điều luật này bổ sungquy định mới là kiểm sát viên trình bày ý kiến bổ sung cáo trạng không được làm xấu đitình trạng của bị cáo Quy định này nhằm mục đích bảo đảm quyền của người bị buộc tội.Tuy nhiên, cách thể hiện của Điều luật không nêu rõ việc bổ sung của kiểm sát viên chỉ đểlàm rõ, giải thích cáo trạng hay bao gồm cả những tình tiết, chứng cứ và các vấn đề kháccủa vụ án Mặt khác, quy định này lại chưa đề cập đến lời buộc tội của kiểm sát viên.Kiểm sát viên trình bày lời buộc tội là cơ sở để bị cáo, người bào chữa, người đại diệnhợp pháp của bị cáo đưa ra lập luận về nội dung buộc tội, có nhận tội hay không, nhận tộiđến đâu, vì sao, trước khi bước vào phiên tranh tụng.
=> Để bảo đảm quyền chứng minh, quyền nhận tội hay không của bị cáo, không nhữngphải quy định kiểm sát viên trình bày lời buộc tội thông qua bản cáo trạng, mà còn phảiquy định thủ tục chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo về việc có nhận tội hay không trước khibước vào xét hỏi
* Trình tự xét hỏi:
Điều 307 Bộ luật TTHS năm 2015 bổ sung trách nhiệm của chủ tọa phiên tòa về điềuhành xét hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý Quy định này phùhợp với từng vụ án và diễn biến cụ thể tại các phiên tòa xét xử, bảo đảm cho hoạt độngtranh tụng được thực hiện ngay trong phần xét hỏi tại phiên tòa Tuy nhiên, quy định này
đã làm tăng vai trò của chủ tọa phiên tòa, ít nhiều làm giảm vai trò của kiểm sát viên với
tư cách là chủ thể buộc tội tại phiên tòa Điều này chưa phù hợp với chủ trương cải cách
tư pháp, tăng tính tranh tụng và bảo đảm nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa Bên cạnh đó,
nó có thể làm lẫn lộn các chức năng tố tụng
=> Chủ tọa phiên tòa nên tập trung vào nhiệm vụ dẫn dắt phiên tranh tụng, chỉ nên hỏi bổsung và sau cùng, nếu thấy cần thiết Nếu hội đồng xét xử và chủ tọa phiên tòa đảm tráchviệc hỏi, công bố lời khai, vật chứng, tài liệu để buộc tội thì như là Tòa án đã đứng vềphía cơ quan buộc tội có thể dẫn đến buộc tội và thiên vị (hỏi để buộc tội), cũng như sẽgây bất lợi cho bị cáo và làm cho phiên tranh tụng thiếu tính khánh quan, công bằng.Trong phiên tòa, trách nhiệm xét hỏi chính thuộc về kiểm sát viên - người giữ vai trò buộc
Trang 13tội
Giai đoạn tranh tụng, thủ tục xét hỏi và tranh luận đóng vai trò quan trọng nhất Bởi lẽ,quá trình chứng minh làm rõ sự thật khách quan của vụ án phụ thuộc rất lớn vào phần xéthỏi
Đổi mới thủ tục xét xử và đổi mới phiên tòa theo hướng tăng cường yếu tố tranh tụng làmục tiêu lớn của quá trình cải cách tư pháp ở nước ta, nhưng quy định này của Bộ luậtTTHS năm 2015 vẫn chưa tạo ra được sự chuyển biến căn bản về hoạt động tranh tụng
* Thủ tục công bố lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố:
Điều 308 Bộ luật TTHS năm 2015 bổ sung thêm các trường hợp công bố lời khai tạiphiên tòa hình sự sơ thẩm Đó là, khi người được xét hỏi không nhớ những lời khai củamình trong giai đoạn điều tra, truy tố; khi người được xét hỏi đề nghị công bố lời khai của
họ trong giai đoạn điều tra, truy tố và quy định không được công bố các tài liệu trong hồ
sơ vụ án có liên quan đến bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục, bí mật nghềnghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư v.v Đây là những điểm bổ sung hợp lý để mởrộng quyền chứng minh cho bị cáo và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa Tuynhiên, điều luật này vẫn chưa quy định trường hợp phải công bố lời khai khi bị cáo chốitội, không thừa nhận hành vi nào đó xuyên suốt quá trình điều tra cho đến tại phiên tòa vàkhi cần phải đối chất, chứ không chỉ đơn thuần là có lời khai mâu thuẫn Bên cạnh đó,khoản 1 Điều 308 vẫn quy định thẩm quyền của hội đồng xét xử được công bố lời khaitrong giai đoạn điều tra, truy tố là chưa hợp lý Bởi lẽ, hội đồng xét xử chủ động công bốlời khai sẽ không tránh khỏi được định kiến buộc tội, cũng như người tham gia phiên tòanghi ngại tính khách quan của hoạt động tranh tụng
* Phạm vi xét hỏi:
Điều 309, Điều 310 và Điều 311 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định thủ tục xét hỏi đối với
bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quanđến vụ án hoặc người đại diện của họ, và người làm chứng Điểm mới trong các quy địnhnày là việc mở rộng phạm vi xét hỏi của kiểm sát viên và người bào chữa Theo đó, kiểm