1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài thảo luận số 03 Tố tụng Hình sự

26 164 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 35,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chứng cứ trong vụ án hình sự :là những gì có thật liên quan đến vụ án hình sự mà dựa vào nó, các cơ quan tiến hành tố tụng dùng làm căn cứ xác định có hay không có hành viphạm tội, người

Trang 1

Bài thảo luận số 03 TTHS

I LÝ THUYẾT

Câu 1: So sánh quy định của BLTTHS 2015 và BLTTHS 2003 về nguồn của chứng cứ.

Chứng cứ trong vụ án hình sự :là những gì có thật liên quan đến vụ án hình sự mà dựa vào

nó, các cơ quan tiến hành tố tụng dùng làm căn cứ xác định có hay không có hành viphạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, mức độ, tính chất hành vi và từ những tìnhtiết khác liên quan đến việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự Còn nguồn chứng cứ làhình thức, nơi chứa đựng những gì có thật liên quan đến vụ án hình sự hay là “nơi, từ đó

có thể tìm ra đối tượng được chủ thể sử dụng để chứng minh”

* Giống nhau: Ở cả 2 bộ luật TTHS thì nguồn của chứng cứ đều xác định bằng:

+ Vật chứng;

+Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người cóquyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;+Kết luận giám định;

+ Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác

=> Đây là những nguồn chứng cứ cơ bản mà hầu như vụ án nào cũng cần thu thập gópphần giải quyết nhanh chóng, chính xác vụ án

* Khác nhau:

Đối với BLTTHS 2015 còn có quy định thêm các nguồn xác định chứng cứ

+ Dữ liệu điện tử: Xuất phát từ thực tiễn công nghệ hiện đại đang phát triển và đã cónhiều hành vi phạm tội được thực hiện thông qua dữ liệu điện tử

Trang 2

+ Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác: Thể hiện sự hỗ trợ lẫn nhaugiữa các quốc gia nếu công nghệ, kỹ thuật của nước ta chưa đủ để thực hiện hoạt động đểxác minh, kiểm tra chứng cứ.

+ Các tài liệu, đồ vật khác: Những nguồn chứng cứ khác tuy chưa được luật định nhưng

có thể là chứng cứ góp phần giải quyết vụ án và thỏa điều kiện để được sử dụng là chứng

cứ thì được sử dụng

=> Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quyđịnh thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hìnhsự: Quy định rộng phạm vi là các tài kiệu, đồ vật khác nhưng phải thỏa mãn điều kiệntheo luật định thì mới dùng làm nguồn chứng cứ và có giá trị pháp lý

Câu 2: Phân tích ý nghĩ của việc ghi nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ trong BLTTHS 2015.

Tội phạm ngày càng có xu hướng sử dụng thủ đoạn tinh vi, liên quan đến công nghệthông tin nên vai trò của chứng cứ từ dữ liệu điện tử ngày càng trở nên có ý nghĩa, nhất làvới sự phát triển của khoa học, công nghệ như ngày nay Nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranhchống tội phạm, đặc biệt là các tội phạm sử dụng công nghệ cao, xâm phạm an ninh mạngngày càng có xu hướng gia tăng với nhiều thủ đoạn tấn công, xâm nhập mạng, lấy cắp,phá hoại dữ liệu, đưa thông tin nhạy cảm trái phép lên mạng, gian lận thẻ ngân hàng, lừađảo qua mạng… đang ngày càng trở nên phổ biến thì BLTTHS năm 2015 bổ sung luậthóa về dữ liệu điện tử là một loại nguồn chứng cứ Vì thời đại ngày nay, có rất nhiếu hành

vi phạm tội được thực hiện trực tiếp cũng như gián tiếp thông qua dữ liệu điện tử do tínhnhanh chóng và tiện lợi của nó Do đó, việc bổ sung dữ liệu điện tử làm chứng cứ đã làmột bước tiến đáng kể

Theo Điều 99 BLTTHS : Về bản chất, dữ liệu điện tử là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hìnhảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởiphương tiện điện tử, có thể phục hồi, phân tích, tìm được dữ liệu, kể cả đã bị xóa, bị ghi

đè, dưới dạng ẩn, đã mã hốa => Giúp có thể đọc được, nhìn thấy được, ghi lại, sửdụng làm chứng cứ

Trang 3

Dữ liệu điện tử sử dụng làm chứng cứ thường gồm gồm 2 loại:

- Dữ liệu điện từ do máy tính tự động tạo ra như: “URL”, E-mail logs, webserver logs, IP,thông tin truy cập, website, mã độc , chứng minh về nguồn gốc truy cập, tấn công vàowebsite, cơ sở dữ liệu, thư điện tử, tài khoản, dấu vết hoạt động của thủ phạm (cài trojan,keylogger, sniffer nghe lén, lấy cắp dữ liệu )

- Dữ liệu điện tử do người sừ dụng tạo ra như văn bản, bảng biểu, hình ảnh, thông tin Trong file dữ liệu còn có thể tìm được siêu dữ liệu (thông tin về cá nhân, tổ chức liênquan đến dữ liệu metadata), có giá trị chứng minh về người và máy tính đã tạo ra dữ liệu,nguồn gốc dữ liệu

Dữ liệu điện từ có thể được thu trên đường truyền, trên mạng, website, cơ sở dữ liệu,trong máy tính, thiết bị kỹ thuật số của đối tượng Khi thu thập, phục hồi, giải mã, phântích và giám định những dấu vết điện tử để chuyển dữ liệu sang dạng có thể đọc được (inthành tài liệu), nghe thấy được (ghi âm), nhìn thấy được (hình ảnh, video) để làm chứngcứ

Trước đây, do không quy định cụ thể liên quan đến thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứđiện tử nên trong thực tiễn, chứng cứ điện tử được thu thập, kiểm tra, đánh giá thườngphụ thuộc vào năng lực, trình độ của người trực tiếp thực hiện Mặt khác, việc thu thậpchứng cứ điện tử chưa đúng bản chất của chứng cứ điện tử; nhất là trong trường hợpCQTHTT chép lại nội dung giao dịch còn lưu giữ trong phương tiện điện tử Thu thậptheo cách này sẽ bỏ sót những dữ liệu mà người dùng đã xóa bỏ Đối với trường hợp nàyviệc phục hồi dữ liệu trong các hệ thống của phương tiện điện tử hoặc trích xuất dữ liệu từnhà mạng chủ quản tương đối khó khăn vì chưa được luật hóa nên các nhà chủ quảnthường lấy lý do bảo mật thông tin khách hàng và từ chối cung cấp Vì vậy, quy định nàygóp phần giải quyết vụ án dễ dàng, nhanh chóng, chính xác, toàn diện

Câu 3: Phân tích các hoạt động thu thập chứng cứ của người bào chữa.

BLTTHS năm 2015 có một số quy định liên quan đến việc thu thập chứng cứ của ngườibào chữa:

Trang 4

- Được thu thập, đưa ra chứng cứ (Điểm h khoản 1 Điều 73); Có quyền gặp người màmình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe

họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cungcấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa (khoản 2 Điều 88)

- Ngoài ra, theo quy định tại điểm c, điểm đ khoản 2 Điều 260 BLTTHS năm 2015, nộidung của Bản án sơ thẩm phải ghi rõ: Ý kiến của người bào chữa và phân tích lý do màHội đồng xét xử không chấp nhận những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, yêu cầu, đềnghị của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ đưa ra

- Để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người mà mình bào chữa, bị hại,người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về nhữngvấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữliệu điện tử liên quan đến việc bào chữa Đây là những quy định nhằm tạo điều kiện thuậnlợi để người bào chữa thực hiện nhiệm vụ bào chữa của mình

- Tuy nhiên, do địa vị pháp lý có sự khác biệt so với người tiến hành tố tụng, người bàochữa không được áp dụng tất cả các biện pháp như cơ quan có thẩm quyền tiến hành tốtụng hình sự để thu thập chứng cứ mà chỉ có quyền áp dụng một số biện pháp nhất định

Đó là gặp người mình bào chữa, những người biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày vềnhững vấn đề có liên quan đến việc bào chữa Cùng với việc trực tiếp thu thập chứng cứ,người bào chữa còn có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật,

dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa, việc cơ quan, tổ chức, cá nhân có chấp thuận

đề nghị của người bào chữa hay không không phụ thuộc vào đề nghị của người bào chữa

và quan điểm của cơ quan, tổ chức, cá nhân được đề nghị

Câu 4: Phân tích đối tượng chứng minh, phạm vi chứng minh, giới hạn chứng minh trong VAHS?

* Đối tượng chứng minh trong VAHS

Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự là tất cả những vấn đề chưa biết nhưng cầnphải biết để làm sáng tỏ bản chất của vụ án, trên cơ sở đó các cơ quan tiến hành tố tụng racác quyết định phù hợp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Trang 5

Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự bao gồm những sự kiện và tình tiết khác nhau;mỗi sự kiện, tình tiết nói riêng cũng như toàn bộ vụ án đều phải được nghiên cứu, làmsáng tỏ một cách khách quan, đầy đủ, toàn diện và chính xác Để chứng minh tội phạmtrong tố tụng hình sự thì vấn đề quan tâm hàng đầu chính là các cấu thành tội phạm Cấuthành tội phạm chính là tổng hợp những dấu hiệu đặc trưng cho một loại tội phạm cụ thểđược quy định trong luật hình sự Tuy nhiên, không phải bất cứ cấu thành tội phạm nàocũng có những dấu hiệu bắt buộc giống nhau; có những dấu hiệu bắt buộc phải có trongtất cả các cấu thành tội phạm, có những dấu hiệu có trong cấu thành tội phạm của tội nàynhưng lại không có trong cấu thành tội phạm của tội khác Song để chứng minh tội phạmtrong tố tụng hình sự thì đối với bất cứ một tội phạm nào, các cơ quan tiến hành tố tụng

và người tiến hành tố tụng đều phải chứng minh được những vấn đề sau:

 Dấu hiệu hành vi thuộc yếu tố mặt khách quan của tội phạm;

 Dấu hiệu lỗi thuộc yếu tố mặt chủ quan của tội phạm;

 Dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi thuộc yếu tố chủ thể của tộiphạm

Theo Điều 85 Bộ Luật Tố tụng hình sự 2015 quy định những vấn đề phải chứng minh khiđiều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự như sau:

“ 1 Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;

2 Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;

3 Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;

4 Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra;

5 Nguyên nhân và điều kiện phạm tội;

6 Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.”

Trang 6

Mỗi vụ án có tính chất của vụ án đó nên nội dung chứng minh ở từng vụ án khác nhau.

Do đó, trong mỗi vụ án trên cơ sở những nội dung quy định tại Điều 85 BLTTHS, cơ quantiến hành tố tụng cần xác định giới hạn, phạm vi chứng minh phù hợp với tình hình cụ thểnhằm làm rõ bản chất của vụ án Ví dụ:

Đối với người bị buộc tội là người chưa thành niên, thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần phải xác định rõ rõ thêm những nội dung sau:

- Tuổi, mức độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tộicủa người chưa thành niên

- Ðiều kiện sinh sống và giáo dục

- Có hay không có người thành niên xúi giục

- Nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội

Đối với pháp nhân bị buộc tội thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần phải xác định rõ:

- Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác củahành vi phạm tội thuộc trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo quy định của Bộ luật hìnhsự

- Lỗi của pháp nhân và lỗi của cá nhân là thành viên của pháp nhân

- Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội của pháp nhân gây ra

- Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và những tình tiết khác liênquan đến việc loại trừ trách nhiệm, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt

- Nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội (Điều 441 BLTTHS)

* Phạm vi chứng minh trong VAHS.

Phạm vi chứng minh trong VAHS là khuôn khổ giới hạn trong hoạt động chứng minhnhững điều cần có trong VAHS

Trang 7

Theo đó giới hạn trong hoạt động chứng minh là giới hạn của quá trình xác định sự thậtcủa vụ án Vậy phạm vi chứng minh trong VAHS sẽ được giới hạn trong quá trình xácđịnh sự thật vụ án thông qua những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự Cụthể phạm vi chứng minh trong VAHS sẽ được giới hạn trong việc xác định những vấn đềcần làm rõ theo Điều 85 BLHS 2015:

“ Để chứng minh “có hành vi phạm tội xảy ra hay không” là việc xác định hành vi đã xảy

ra có đủ yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật Hình sự hay thuộccác trường hợp không phải là hành vi phạm tội (quan hệ dân sự, kinh tế, vi phạm hànhchính và các trường hợp khác theo quy định của luật);

Để chứng minh “thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội” là xácđịnh nếu có hành vi phạm tội xảy ra thì xảy ra vào thời gian nào, ở đâu; phương pháp, thủđoạn, công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm như thế nào;

Để chứng minh “ai là người thực hiện hành vi phạm tội” là chứng cứ xác định một chủthể cụ thể đã thực hiện hành vi phạm tội đó;

Để chứng minh “có lỗi hay không có lỗi” là xác định chủ thể có lỗi hoặc không có lỗi khithực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội; nếu có lỗi thì là lỗi cố ý trực tiếp hay lỗi cố ýgián tiếp hoặc lỗi vô ý do quá tự tin hay lỗi vô ý do cẩu thả theo quy định tại Điều 10 vàĐiều 11 của Bộ luật Hình sự;

Để chứng minh “có năng lực trách nhiệm hình sự không” là xác định khi thực hiện hành

vi nguy hiểm cho xã hội, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã đủ tuổi chịutrách nhiệm hình sự chưa; có mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năngnhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình hay không; nếu có thì mắc bệnh đóvào thời gian nào, trong giai đoạn tố tụng nào;

Để chứng minh “mục đích, động cơ phạm tội” là xác định chủ thể thực hiện hành vi phạmtội với mục đích, động cơ gì; mục đích, động cơ phạm tội là tình tiết tăng nặng tráchnhiệm hình sự hay là tình tiết định tội, tình tiết định khung hình phạt;

Để chứng minh “tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bịcáo” là xác định bị can, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào

Trang 8

quy định tại Điều 51, Điều 84 của Bộ luật Hình sự hoặc áp dụng tình tiết tăng nặng tráchnhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52, Điều 85 của Bộ luật Hình sự;

Chứng minh “đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo” là việc xác định lý lịch của bịcan, bị cáo; nếu bị can, bị cáo là pháp nhân thương mại thì phải chứng minh tên, địa chỉ

và những vấn đề khác có liên quan đến địa vị pháp lý và hoạt động của pháp nhân thươngmại;

Chứng minh “tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra” là việc đánh giátính chất, mức độ thiệt hại, hậu quả về vật chất, phi vật chất do hành vi phạm tội gây ra;Chứng minh “nguyên nhân và điều kiện phạm tội” xác định nguyên nhân chủ quan, kháchquan, điều kiện cụ thể dẫn đến việc chủ thể thực hiện hành vi phạm tội;

Chứng minh “những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễntrách nhiệm hình sự, miễn hình phạt” là chứng minh những vấn đề được quy định tại cácĐiều 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 59, 88 và các điều luật khác của Bộ luật Hìnhsự.”

* Giới hạn chứng minh trong VAHS.

Xác định sự thật của vụ án phải có điểm dừng Đây chính là giới hạn của quá trình xácđịnh sự thật của vụ án Việc xác định giới hạn này luôn được đặt ra trong quá trình chứngminh nhằm xác định sự thật của vụ án và được cụ thể hoá trong Luật tố tụng hình sự(TTHS) bằng giới hạn chứng minh Điều này xuất phát từ ý nghĩa của nó trong TTHS:Một là, nếu xác định giới hạn chứng minh quá rộng thì hoặc là lãng phí thời gian vànguồn lực, không tập trung làm rõ được những vấn đề bản chất của vụ án hoặc rơi vàotình trạng “bất khả tri”, kết luận mơ hồ không biết thế nào là đủ làm cho quá trình giảiquyết vụ án không có điểm kết thúc

Hai là, nếu xác định giới hạn chứng minh quá hẹp thì dẫn đến bỏ sót các tình tiết có ýnghĩa pháp lý hình sự và TTHS, thu thập không đầy đủ tài liệu chứng cứ dẫn đến kết luận,bản án không đủ sức thuyết phục từ đó không những bỏ lọt tội phạm mà còn làm oanngười vô tội

Trang 9

Về giới hạn chứng minh trong khoa học Luật TTHS còn nhiều quan điểm khác nhau:

 Quan điểm thứ nhất, đồng nhất giới hạn chứng minh với đối tượng chứng minh.Theo đó, giới hạn chứng minh là giới hạn các vấn đề cần chứng minh bao gồm các nhómnội dung cần chứng minh (đối tượng chứng minh)

 Quan điểm thứ hai, xác định giới hạn chứng minh là giới hạn nội dung chứng minhthuộc vấn đề cần chứng minh Đó là số tài liệu, chứng cứ cần và đủ để chứng minh chocác tình tiết đó

“Giới hạn chứng minh là tổng hợp những chứng cứ khác nhau, đủ và cần thiết cho việcgiải quyết vụ án được đúng đắn” Như vậy, đối tượng chứng minh và giới hạn chứngminh là hai vấn đề khác nhau Đối tượng chứng minh là các tình tiết do luật định nói lênmục đích mà hoạt động chứng minh cần đạt được Còn giới hạn chứng minh nhằm chỉ rõkhối lượng chứng cứ cần và đủ để xác định một cách khách quan, toàn diện các tình tiết

có ý nghĩa đối với việc làm sáng tỏ sự thật của vụ án

Theo Điều 15 BLTTHS 2015 có quy định: “Các cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ Làm rõ những chứng cứ xác định có tội và vô tội, những tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội ”.

Như vậy, trong TTHS Việt Nam hiện nay, giới hạn chứng minh chưa có bộ tiêu chuẩn cụthể kiểu như “vượt qua nghi ngờ hợp lý” như một số nước mà chỉ quy định giới hạnchứng minh mang tính chất định tính là: các cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minhmột cách khách quan, toàn diện và đầy đủ

Câu 5: Nêu những điểm khác biệt của hoạt động chứng minh trong các giai đoạn thực hiện TTHS?

Tiêu Khởi tố Điều tra Truy tố Xét xử sơ Xét xử phúc

Trang 10

chí thẩm thẩm Chủ

- Cơ quanđược giaonhiệm vụđiều tra

- Viện kiểmsát

- Viện kiểmsát

- Tòa án

- Viện Kiểmsát

- Tòa án phúcthẩm

- Viện kiểmsát đã khángnghị

- Bị hại,đương sự

- Người bảo

vệ quyền vàlợi ích hợppháp của bịhại, đươngsự

- Bị can

- Người bàochữa

- Bị hại,đương sự

- Người bảo

vệ quyền vàlợi ích hợppháp của bịhại, đươngsự

- Bị cáo

- Người bàochữa

-Bị hại, đươngsự

- Người bảo

vệ quyền vàlợi ích hợppháp của bịhại, đương sự

- Người bàochữa

- Người bảo

vệ quyền vàlợi ích hợppháp của bịhại, đương sự

- Người khángcáo

- Người cóquyên nghĩa

vụ liên quanđến kháng cáokháng nghị

- Kết thúckhi cơ quan

- Bắt đầu khiVKS nhậnđược hồ sơ

vụ án, bảnkết luận điềutra và đềnghị truy tố

- Bắt đầu khinhận được hồ

sơ vụ án vàquyết địnhtruy tố vụ án

- Kết thúc khi

- Bắt đầu khiTòa án nhậnđược hồ sơkháng cáokháng nghị

- Kết thúc khiTòa án phúc

Trang 11

của cơ quanđiều tra.

- Kết thúckhi Việnkiểm sát raquyết địnhtruy tố hoặcquyết địnhđình chỉ vụán

Hội đồng xét

xử ra bản án,quyết địnhgiải quyết vụán

thẩm ra bản ánquyết địnhphúc thẩm

- Chứng minh quyết định truy tố bị can

và quyết định khác của viện kiểm sát là hợp pháp.

- Tính có căn cứ

và hợp pháp của bản án, quyết định của Tòa án tuyên.

- Kiểm tra lại

vụ án về mặtnội dung

- Xem xét tính

có căn cứ vàtính hợp phápcủa bản ánquyết định sơthẩm của nộidung khángcáo khángnghị

- Sử dụngcác biệnpháp nghiệp

vụ để kiểmtra đánh giáchứng cứ do

cơ quan có

- Giai đoạnchuẩn bị xétxử: Chứngminh đưa racác quyết địnhtrong giaiđoạn chuẩn bị

- Kiểm tra,xem xét, đánhgiá

Trang 12

thẩm quyềnđiều tra thuthập

- Thu thậpthêm chứng

cứ VKS cóthể tiếnhành

xét xử

- Tại phiênTòa: Kiểmtra, Đánh giáchứng cứ đưa

* Nghĩa vụ chứng minh trong Luật Tố tụng dân sự: Theo Điều 6 Bộ Luật Tố tụng dân

sự 2015, nghĩa vụ chứng minh trong vụ án, việc dân sự thuộc về các đương sự Nguyênđơn khi khởi kiện phải đứa ra chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình là hợp pháp, bị đơnnếu có yêu cầu phản tố phải chứng minh được yêu cầu phản tố của mình là có cơ sở Tòa

án không có quyền và nghĩa vụ chứng minh

Chủ thể có nghĩa vụ chứng minh gồm 03 chủ thể sau:

(1) Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập,cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn

cứ và hợp pháp;

(2) Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản

và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sựphản đối đó

(3) Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nướchoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác phải thu thập, cung

Trang 13

cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầucủa mình là có căn cứ và hợp pháp.

=> Bản chất trong quan hệ pháp luật dân sự được hình thành dựa trên tinh thần tự nguyện,bình đẳng Do vậy, pháp luật dân sự áp dụng nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt củacác đương sự Theo đó, các bên cũng chính là chủ thể nắm rõ nhất việc thực hiện quyền,nghĩa vụ của nhau nên để bảo vệ lợi ích cho các chủ thể thì các bên phải có trách nhiệmchứng minh cho yêu cầu của mình Ngoài ra, việc quy nghĩa vụ chứng minh cho cácđương sự còn tránh việc đương sự thoái thác trách nhiệm của mình cho chủ thể khác (Tòaán) trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự

* Nghĩa vụ chứng minh trong Luật Tố tụng hình sự: Khác với tố tụng dân sự, theo

Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hình sự khôngthuộc về chủ thể bị buộc tội mà thuộc về cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành tốtụng Cụ thể, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành

tố tụng, bao gồm: Cơ quan điều tra, truy tố và xét xử và một số cơ quan được giao nhiệm

vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộcphải chứng minh là mình vô tội

=> Mối quan hệ giữa bên buộc tội và bên bị buộc tội là quan hệ giữa nhà nước và ngườiđược quy đoán là phạm tội Để bảo vệ các lợi ích chung của cộng đồng thì nhà nước (màđại diện là Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan điều tra) phải xác định rõ người bị tình nghi (bịcan, bị cáo) đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội

Khi các cơ quan này khởi tố một vụ án hình sự nghĩa là đang đưa ra một yêu cầu buộc tội,khi đó họ phải chứng minh việc buộc tội đó là có căn cứ và hợp pháp - điều này rất phùhợp với nguyên lý “Ai đưa ra yêu cầu, người đó phải chứng minh”

Câu 7: Phân tích những quy định về xử lý vật chứng.

- Vật chứng trong vụ án hình sự là phương tiện quan trọng để chứng minh tội phạm Vậtchứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm,vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và ngườiphạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án được các cơ quan tiến hành tố tụng

Ngày đăng: 06/12/2020, 20:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w