1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài thảo luận số 01 Tố tụng Hình sự

24 372 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 36,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Chức năng bào chữa: Đây là chức năng xuất phát từ quyền bào chữa của người bịbuộc tội, phát sinh ngay sau khi có quyết định buộc tội của cơ quan nhà nước trong cảquá trình tố tụng gồm

Trang 1

Bài thảo luận số 01 TTHS

I Lí thuyết.

Câu 1: Chức năng TTHS là gì? Phân tích các chức năng TTHS cơ bản?

Chức năng TTHS - một dạng chức năng nhà nước, là những định hướng lớn, cơ bảnnhằm phân định các hoạt động trong lĩnh vực TTHS của các chủ thể khác nhau trongphạm vi nhất định trên cơ sở phù hợp với mục đích quyền và nghĩa vụ tố tụng của cácbên tố tụng

TTHS có 3 chức năng cơ bản sau:

+ Chức năng buộc tội: Chức năng buộc tội còn gọi là chức năng truy cứu trách nhiệm

hình sự, là một dạng hoạt động tố tụng nhằm phát hiện kẻ phạm tội, chứng minh lỗi củangười đó, bảo đảm phán xử và hình phạt đối với người đó Cụ thể:

 Chức năng buộc tội là một dạng hoạt động TTHS

 Chức năng buộc tội đối lập với chức năng bào chữa và cùng tồn tại với chức năngnày

 Chức năng buộc tội tồn tại từ giai đoạn điều tra và sẽ kéo dài cho đến khi bản ánhoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Tức là nó phải trải qua giai đoạn điềutra và giai đoạn xét xử

 Nội dung của chức năng buộc tội là phát hiện kẻ phạm tội, chứng minh lỗi của ngườiđó

Nội dung chức năng buộc tội bao gồm những hoạt động tố tụng nhằm phát hiện người đãthực hiện hành vi phạm tội, tội phạm đã thực hiện, những tình tiết thể hiện tính chất vàmức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, chứng minh lỗi của những người đã thực hiệntội phạm, động cơ mục đích cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệmhình sự Như vậy, nội dung chức năng buộc tội chính là nội dung các quyền và nghĩa vụcủa các chủ thể buộc tội theo quy định của pháp luật

Trang 2

+ Chức năng bào chữa: Đây là chức năng xuất phát từ quyền bào chữa của người bị

buộc tội, phát sinh ngay sau khi có quyết định buộc tội của cơ quan nhà nước trong cảquá trình tố tụng gồm điều tra, truy tố, xét xử

Mục đích của việc thực hiện chức năng bào chữa là trao cho người bị buộc tội cơ hộiđược bảo vệ quyền lợi chính đáng trước thủ tục tố tụng, hỗ trợ họ tự vệ trước áp buộc củabên buộc tội, mang ý nghĩa nhân đạo tạo thế cân bằng cho cả hai bên

+ Chức năng xét xử: Đây là chức năng cơ bản của TTHS, chức năng xét xử chỉ do Tòa

thực hiện Khi thực hiện chức năng xét xử, Tòa án giải quyết các vụ án theo thẩm quyền,xác định tội phạm và hình phạt Tòa án thực hiện chức năng xét xử qua 3 nội dung chính:

 Xác định sự thật khách quan của vụ án, đánh giá một cách khách quan, tổng thể,toàn diện sự kiện đó

 Đánh giá pháp lý đối với sự việc phạm tội một cách độc lập và công bằng, tiếnhành định tội danh chính xác và phù hợp với hành vi phạm tội và sự việc phạm tội

 Áp dụng các hình thức trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất và mức độnguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

Câu 2: Mô hình TTHS là gì? Có những mô hình TTHS nào đã và đang tồn tại trên thế giới? Ưu điểm và hạn chế của từng mô hình TTHS.

* Mô hình TTHS là cách thức tổ chức hoạt động TTHS quyết định địa vị tố tụng của các

chủ thể tham gia hoạt động TTHS như thế nào và nguồn động lực của hoạt động TTHS làgì: là hoạt động tích cực của các bên tham gia tranh tụng hay là hoạt động tích cực của các cơ quan nhà nước mà trước hết là cơ quan Tòa án hay là sự kêt hợp của cả hai

* Theo quan điểm phổ biến, có 04 mô hình TTHS sau:

Tố tụng tố cáo

Tố tụng thẩm vấn

Tố tụng tranh tụng

Tố tụng hỗn hợp

Trang 3

* Ưu điểm và hạn chế của từng mô hình TTHS.

- Tố tụng tố cáo:

Ưu điểm: Chủ thể thực hiện chức năng bào chữa chính là người bị buộc tội Hơn nữa,

mọi người đều có thể tham gia nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người bị buộc tội như lànhững người thân, bạn bè của người bị buộc tội Bào chữa mang ý nghĩa nhằm bảo vệ người bị buộc tội

Nhược điểm: Để hạn chế tình trạng lợi dụng quyền tố cáo gây thiệt hại đến tính mạng,

danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác, loại hình tố tụng tố cáo đòi hỏi khi tố cáo tộiphạm với nhà chức trách, người tố cáo phải tuyên thệ; nếu người bị tố cáo không phạm tội, người tố cáo có thể bị xử phạt Điều này đã làm cho việc tố cáo của người bị hại giảmdần Dần dần, trong loại hình tố tụng tố cáo, chủ thể buộc tội là cá nhân (người bị hại) được chuyển giao cho người đại diện lợi ích của nhà vua nên tư tố chuyển sang công tố.Chủ thể thực hiện chức năng xét xử không có sự thống nhất, ở các thời điểm khác nhau thì cơ quan xét xử cũng được quy định khác nhau

- Tố tụng thẩm vấn:

Ưu điểm: Tố tụng thẩm vấn ra đời từ những nguyên nhân sau: thứ nhất, từ yêu cầu tăng

cường quyền lực công; thứ hai, do tình hình tội phạm tăng; thứ ba, do thái độ thờ ơ, vô trách nhiệm của quyền lực công đối với các quyền của con người

Đặc trưng cơ bản của hoạt động tố tụng này là: đưa công tố của nhà vua thành một chủthể bắt buộc của bất cứ vụ án hình sự nào, điều này thừa nhận sự quan tâm của Nhà nướcđối với vụ án và tình hình tội phạm; quy định hai thẩm phán trong suốt quá trình điều tra,truy tố và xét xử Phiên tòa xét xử trong loại hình này không phải là sự tranh luận giữahai bên đối trọng mà là tiếp tục điều tra Các bên phải cung cấp tất cả các chứng cứ chotòa án, sự thật được đánh giá và kết luận trong quá trình xét hỏi

Nhược điểm: Trong tố tụng thẩm vấn, các cơ quan có thẩm quyền dùng nghiệp vụ điều

tra để xác định hành vi phạm tội của người bị buộc tội, nên không thể công khai rộng rãi,nhất là đối với người bị buộc tội

Trang 4

Các hoạt động tố tụng không được phân biệt rõ ràng và được thể hiện ở những mức độkhác nhau Đặc biệt, các cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng tố tụng không được xácđịnh cụ thể mà hầu như tập trung vào toà án Người bị hại không có chức năng buộc tội

mà thay vào đó là người thuộc các cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng tố tụng Người

bị buộc tội bị hạn chế quyền bào chữa, họ không phải là một chủ thể trong quan hệ tốtụng mà chỉ là khách thể của quan hệ tố tụng

- Tố tụng tranh tụng:

Ưu điểm: Thứ nhất, mô hình tranh tụng có một quy trình tố tụng, đặc biệt là trong giai

đoạn xét xử, thể hiện tính công bằng cao Điều này được thể hiện qua vai trò bình đẳnggiữa bên buộc tội và bên gỡ tội, giữa công tố viên và luật sư Cả hai chủ thể này đều cóquyền và nghĩa vụ như nhau trong suốt quá trình tố tụng Thông qua đối tụng giữa công

tố viên và luật sư mà tòa án, gồm đoàn bồi thẩm và thẩm phán chủ tọa, phán quyết về sựthật khách quan và định hình phạt

Luật sư có thể tham gia đầy đủ vào quá trình tố tụng nên tòa án có thêm được một nguồnthông tin giá trị để khám phá sự thật khách quan của vụ án thay vì chỉ xem xét các chứng

cứ có trong hồ sơ hình sự của mô hình thẩm vấn thì đoàn bồi thẩm của mô hình tranhtụng được tiếp cận chứng cứ của cả bên buộc tội và bên gỡ tội -=> Giúp tìm ra sự thậtkhách quan một cách chính xác hơn Chất lượng tố tụng vì thế cũng có thể được nâng caohơn

Trong một mô hình tố tụng tranh tụng có tính công bằng cao, người bào chữa và bị cáocũng dễ cảm thấy rằng mình đã có một cơ hội tốt và công bằng để đi tìm công lý Vì vậy,

họ sẽ ít có xu hướng kháng cáo hơn

Thứ hai, với sự công bằng của quy trình tố tụng, mô hình tranh tụng thể hiện ở mức độcao hơn sự tôn trọng quyền cơ bản của công dân Vai trò của luật sư giúp giảm đi sự lạmquyền của các cơ quan tiến hành tố tụng, quyền được suy đoán vô tội của người dân đượctôn trọng hơn so với các mô hình TTHS khá

Nhược điểm:

Trang 5

Thứ nhất, người có nhiệm vụ xét xử tham gia một cách thụ động vào phiên tòa và làngười không chuyên nghiệp, đó chính là thành viên đoàn bồi thẩm Điều này vô hìnhchung gây ra phản tác dụng đối với chính ưu điểm thứ nhất của mô hình này.

Thứ hai, việc quá đề cao sự đối tụng giữa các lợi ích cá nhân làm cho mô hình tranh tụngkhông phản ánh được hết tầm quan trọng của việc bảo vệ lợi ích công cộng trong các vụ

án hình sự Chính điều này dẫn đến việc áp dụng tràn lan hình thức đàm phán nhận tộidẫn tới khả năng bỏ lọt những tội phạm nghiêm trọng có tác động lớn tới trật tự xã hộihoặc việc xét xử chúng có tính giáo dục cao

Thứ ba, trong mô hình này, năng lực của luật sư có vai trò quyết định tới phán quyết củađoàn bồi thẩm Điều này dẫn đến tình trạng các luật sư giỏi sẽ được nhiều người muốnthuê và gây nên bất công cho những người nghèo không có điều kiện để thuê luật sư giỏi,vốn nổi tiếng là có chi phí cao, điều này gây nên sự bất công cho người nghèo so vớingười giàu

Thứ tư, không kiểm soát được thời gian xét xử Trong mô hình tranh tụng, thẩm phán vàđoàn bồi thẩm không biết về vụ án từ trước và cũng không kiểm soát một cách toàn diệnđối với thời gian xét xử Người quyết định thời gian xét xử bao lâu lại chính là các bênđối tụng, những người thường tận dụng thời gian tối đa tại phiên xét xử để thuyết phụcđoàn bồi thẩm nghe theo lập luận của mình

Thứ năm, những chứng cứ tuy có giá trị sử dụng cao cho việc xác định sự thật kháchquan nhưng lại có thể bị loại bỏ do vi phạm thủ tục, ví dụ lời khai của các nhân chứnggián tiếp hay chứng cứ thu thập được nhưng có thủ tục vi phạm quyền cơ bản công dân.Việc không sử dụng những chứng cứ như vậy có thể dẫn tới khó khăn trong việc đấutranh chống một số loại tội phạm, đặc biệt là các tội phạm có tổ chức vốn có cách thứchoạt động tinh vi, phức tạp

- Tố tụng hỗn hợp:

Ưu điểm: Loại hình tố tụng hỗn hợp đã có những cải tiến theo hướng dân chủ, tích cực

và được phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước thuộc truyền thống luật lục địa như Đức, áo, ý,

Trang 6

Bỉ Thực chất, tố tụng hỗn hợp là loại hình hỗn hợp giữa tố tụng xét hỏi, tố tụng tranhtụng và cả một chút của tố tụng tố cáo.

Ở giai đoạn xét xử, phiên tòa được tiến hành công khai, quyền bình đẳng trước phiên tòa

và quyền bào chữa của người bị buộc tội được đảm bảo, bên buộc tội và bên bị buộc tội

có quyền và nghĩa vụ như nhau trong việc đưa ra các chứng cứ và các yêu cầu Lúc này,tòa án đóng vai trò là người trọng tài bảo đảm cho các bên thực hiện quyền và nghĩa vụcủa mình

Nhược điểm: Ở giai đoạn trước xét xử, các hoạt động tố tụng phần nhiều được tiến hành

bí mật, hạn chế sự tham gia của những người tham gia tố tụng Mọi hoạt động đều đượcghi thành văn bản, người bị buộc tội hầu như bị tách khỏi quá trình tố tụng

Câu 3: Nêu đặc điểm để nhận diện mô hình TTHS VN hiện nay? VN nên đổi mới

mô hình TTHS theo hướng nào? Tại sao?

* Đặc điểm nhận diện mô hình TTHS VN:

 Mục tiêu của TTHS: Xác định sự thật khách quan vụ án

 Phương pháp tố tụng sử dụng trong quá trình giải quyết vụ án:

Phương pháp quyền uy: Điều chỉnh quan hệ giữa cơ quan có thẩm quyền THTT vớingười TGTT

Phương pháp phối hợp, chế ước: Điều chỉnh quan hệ giữa cơ quan có thẩm quyền THTTvới nhau

Trang 7

 Sự phân chia chức năng tố tụng: Chức năng buộc tội, chức năng bào chữa, chứcnăng xét xử phân chia cho các chủ thể khác nhau.

 Vị trí, vai trò của các chủ thể tố tụng: Chia các chủ thể quan hệ tố tụng thành cơquan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng

=> Các chủ thể độc lập, có hai bên tranh tụng đối trọng nhau là bên buộc tội và bên bàochữa: tranh tụng

Phát sinh quan hệ PL TTHS phụ thuộc vào ý chí của nhà nước: xét hỏi

 Cách thức, giai đoạn:

Ở giai đoạn xét xử, phiên tòa được tiến hành công khai, quyền bình đẳng trước phiên tòa

và quyền bào chữa của người bị buộc tội được đảm bảo, bên buộc tội và bên bị buộc tội

có quyền và nghĩa vụ như nhau trong việc đưa ra các chứng cứ và các yêu cầu Lúc này,tòa án đóng vai trò là người trọng tài bảo đảm cho các bên thực hiện quyền và nghĩa vụcủa mình

Gồm các giai đoạn: Khởi tố, điều tra: Cơ quan điều tra

Truy tố: VKS

Xét xử, thi hành án: Tòa án

=> Mô hình TTHS hiện nay của nước ta là mô hình pha trộn

* Định hướng đổi mới mô hình TTHS VN: Hoàn thiện mô hình pha trộn theo hướng

thiên về tranh tụng

Mô hình TTHS pha trộn là cơ sở lý luận về khả năng tiếp nhận và giao thoa giữa các mô hình TTHS khác nhau, là tiếp nhận những yếu tố tích cực của các mô hình nên không phải chuyển đổi mô hình khác và cần nâng cao tính tranh tụng

Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm cho thấy tranh tụng chủ yếu xuất hiện trong xét xử Cần thiên về tranh tụng trong suốt quá trình tố tụng, xuất hiện chức năng buộc tội thì song song chức năng bào chữa Cần mở rộng tối đa tính tranh tụng của phiên tòa sơ thẩm để lấy lại niềm tin của người dân về công lý, về cơ quan Tòa án Đó cũng

Trang 8

chính là một trong những mục tiêu của cải cách tư pháp đang được tiến hành ở nước ta hiện nay.

Các bên cần được quyền ngang nhau về khả năng thu thập cứng cứ Cần tăng cường những bảo đảm cho tính công khai của hoạt động điều tra Cơ quan có thẩm quyền THTTđược thực hiện hoạt độg tố tụng mang tính quyền lực Nhà nước để thu thập chứng cứ, còn người tham gia tố tụng như người bào chữa thì vai trò hạn chế, thực hiện hoạt động

tố tụng nhưng không được hậu thuẫn bằng quyền lực nhà nước nên vai trò trong tranh tụng hạn chế => Xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa phải bảo đảm sự bình đẳng của các bên và khả năng của các bên trong việc trình bày quan điểm, chứng cứ của mình

Câu 4: Đánh giá quy định của BLTTHS 2015 về nguyên tắc “Suy đoán vô tội”.

Thứ nhất, chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền phán quyết, xác định một người có tội bằng

bản án kết tội có hiệu lực pháp luật

Thứ hai, nghĩa vụ chứng minh thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải

tuân thủ nghiêm ngặt trình tự, thủ tục luật định

Tại Điều 15 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về ngyên tắc xác định sự thật vụ

án như sau: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình có tội.”

Chứng minh tội phạm là một quá trình diễn ra ở cả ba giai đoạn điều tra – truy tố – xét

xử Ba giai đoạn này độc lập nhưng lại có cơ chế giám sát, chế ước, bổ sung cho nhau nhằm bảo đảm việc kết tội được chính xác, không làm oan người không phạm tội

Thứ ba, việc truy tố, xét xử phải tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

Nội dung này nhấn mạnh yêu cầu về mặt thủ tục pháp lý, là dấu hiệu quan trọng nhất của chế độ pháp quyền, theo đó, thủ tục công khai, minh bạch là đòi hỏi số một cho việc bảo

vệ quyền con người chống lại sự truy bức tùy tiện

Thứ tư, phải đảm bảo xem xét các tình tiết vụ án 1 cách khách quan, đầy đủ.

Trang 9

Đảm bảo xem xét vụ án tình tiết vụ án một cách khách quan thì cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật vụ án một cáchkhách quan, toàn diện không bị chi phối bới ý chí của người khác và không xem xét vụ

án một cách phiến diện, đảm bảo xem xét tình tiết vụ án vụ án một cách đầy đủ là bất cứ

vụ án nào cũng phải được chứng minh theo thủ tục đầy đủ theo quy định của luật tố tụng hình sự

 Suy đoán vô tội là một nguyên tắc tiến bộ Nguyên tắc này bảo vệ chính sách nhânđạo của pháp luật hình sự và lợi ích của người bị truy cứu trách nhiệm hình sự là khi cơquan tố tụng không chứng minh được hành vi phạm tội thì phải suy đoán theo hướngngược lại nhằm xác định sự thật vụ án một cách đúng đắn chính xác nhất, từ đó xem xét

bị cáo có tội hay không có tội để đưa ra một bản án xét xử đúng người đúng tội

Ngoài ra, nguyên tắc suy đoán vô tội cũng đặt ra yêu cầu cao hơn cho những người tiếnhành tố tụng trong việc chứng minh tội phạm Vì vậy, việc bảo đảm nguyên tắc suy đoán

vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cần được coi là một trong những nguyêntắc trụ cột và là một nhu cầu cấp thiết nhằm thực hiện đúng đắn, kịp thời chủ trương,đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về cải cách tư pháp trong điềukiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Câu 5: Phân tích nguyên tắc “Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm”.

Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm là một trong những nguyên tắc mới được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 tại điều 14

Thứ nhất, đây là nguyên tắc mới được bổ sung trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015

Nguyên tắc này bắt nguồn từ Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị

1966 mà Việt Nam đã tham gia: "Không ai bị đưa ra xét xử hoặc bị trừng phạt lần thứ hai

về cùng một tội phạm mà người đó đã bị kết án hoặc đã được tuyên trắng án phù hợp với pháp luật và thủ tục tố tụng hình sự của mỗi nước"

Nguyên tắc này cũng đã cụ thể hóa Điều 31 Hiến pháp Việt Nam 2013: Không ai bị kết

án hai lần vì một tội

Trang 10

Thứ hai, nguyên tắc này thể hiện tinh thần nhân đạo và bảo vệ quyền con người, quyền

công dân trong tố tụng hình sự Các cơ quan tiến hành tố tụng không được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và kết án đối với một người mà hành vi của người đó đã bị kết án bằngbản án có hiệu lực pháp luật của tòa án Trong quá trình giải quyết vụ án nếu xác định được hành vi phạm tội đã bị xử lý bằng quyết định, bản án đã có hiệu lực pháp luật thì phải đình chỉ vụ án

Trường hợp xem xét lại tính có căn cứ và hợp pháp của bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật không phải là xét xử lần thứ hai đối với hành vi phạm tội mà họ đã được xét xử, không vi phạm nguyên tắc này Việc xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là thủ tục có tính chất tương đối đặc biệt để khắc phục sai lầm trong bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án và đưa ra phương án khắc phục những sai lầm này không phải xét xử lần nữa với người đã bị kết án

Câu 6: Phân tích những quy định của BLTTHS 2015 nhằm thực hiện nguyên tắc

“Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội”?

Trên cơ sở quy định tại khoản 4 Điều 131 Hiến pháp năm 2013 thì nguyên tắc Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội được quy định tại Điều 16 BLTTHS 2015

* Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa:

- Khi tự bào chữa cho mình, người bị buộc tội sử dụng các quyền mà pháp luật TTHS chophép để chứng minh bản thân vô tội, sự thật không đúng như hồ sơ vụ án hay chứng minhgiảm nhẹ TNHS cho mình được quy định từ Điều 58 đến Điều 61 BLTTHS 2015

- Nếu người bị buộc tội không tự bào chữa thì có thể nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa Người khác có thể là bào chữa viên nhân dân, người đại diện hợp pháp của người

bị buộc tội, trợ giúp viên pháp lí

Các quyền cụ thể như:

 Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;

 Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

Trang 11

 Tự bào chữa, nhờ người bào chữa;

 Đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi hoặc tự mình hỏi người tham gia phiên tòa nếu đượcchủ tọa đồng ý; tranh luận tại phiên tòa;

 Nói lời sau cùng trước khi nghị án;

 Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án;

* Nhiệm vụ của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng:

Đảm bảo cho người bị buộc tội thực hiện tốt quyền bào chữa: Cơ quan, người có thẩmquyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm:

Thông báo người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa và giải thíchquyền và nghĩa vụ, bảo đảm cho người bị buộc tội thực hiện đầy đủ quyền bào chữa,

quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này.

Tạo điều kiện cho người bào chữa tham gia vào giải quyết vụ án và thực hiện quyền,nghĩa vụ của mình được quy định tại Điều 73 BLTTHHS 2015 nhằm hỗ trợ người bị buộctội về pháp lý

* Bào chữa chỉ định:

Để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người bị buộc tội trong những trường hợp

do pháp luật quy định: Điều 76 BLTTHS 2015 quy định những trường hợp bắt buộc cơquan có thẩm quyền THTT phải chỉ định người bào chữa, yêu cầu hoặc đề nghị Đoàn luật

sư phân công tổ chức hành nghề luật sư, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, Ủy banMặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên mặt trận cử người bào chữa nếungười bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bàochữa:

* Quyền tự bào chữa và quyền nhờ người bào chữa có thể tồn tại song song:

Trang 12

Quyền bào chữa của người bị buộc tội bao gồm quyền tự bào chữa và quyền nhờ người bào chữa Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa đồng thời vẫn có quyền nhờ người bàochữa Trong trường hợp nhờ người bào chữa thì họ vẫn có quyền tự bào chữa.

Câu 7: Trình bày cơ sở của việc ghi nhận nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” trong BLTTHS 2015

- Nguyên tắc tranh tụng được thể hiện tại Điều 26 BLTTHS 2015: Trong quá trình khởi

tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bị buộc tội, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án tạo

ra cơ sở pháp lý định hướng cho các quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2015 nhằm đảm bảo cho các bên có điều kiện để tranh tụng hiệu quả

Quy định kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án thì Tòa án phải có trách nhiệm “tạo điều kiện” Để tranh tụng có hiệu quả thì một trong những điều kiện quan trọng nhất là các bên buộc tội và bên bào chữa phải thật sự bình đẳng với nhau và Tòa án phải đứng ở vị trí trung gian, độc lập, khách quan, là trọng tài bảo đảm cho hai bên thực hiện chức năng của mình

- Điều 13 Luật TCTAND 2014 quy định: Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho những người tham gia tố tụng thực hiện quyền

Ngày đăng: 06/12/2020, 20:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w