Bổ sung quy định về vấn đề phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố năm 2015 quy định: Khi lý do tạm đình chỉ việc giảiquyết tố giác, tin báo về tộiphạm, kiế
Trang 1Buổi thảo luận thứ 5
I LÝ THUYẾT
Câu 1: So sánh quy định của BLTTHS 2015 và BLTTHS 2003 về tiếp nhận và giải quyết tố giác ,tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố?
Số lượng điều luật Chỉ quy định hai điều về
việc tiếp nhận, giải quyếttin báo tố giác tội phạm vàkiến nghị khởi tố của cánhân, cơ quan, tổ chức
Có tới 7 điều quy định vềvấn đề này, bao gồm cácđiều: Điều 144 Tố giác, tinbáo về tội phạm, kiến nghịkhởi tố; điều 145 Tráchnhiệm tiếp nhận và thẩmquyền giải quyết tố giác,tin báo về tội phạm, kiếnnghị khởi tố; Điều 146.Thủ tục tiếp nhận tố giác,tin báo về tội phạm, kiếnnghị khởi tố; Điều 147.Thời hạn, thủ tục giải quyết
tố giác, tin báo về tộiphạm, kiến nghị khởi tố;Điều 148 Tạm đình chỉviệc giải quyết tố giác, tinbáo về tội phạm, kiến nghịkhởi tố; Điều 149 Phục hồigiải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởitố; Điều 150 Giải quyết
Trang 2tranh chấp về thẩm quyềngiải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởitố
BLTTHS năm 2015 đã đưa
ra những khái niệm cụ thể,
rõ ràng, theo đó:
Tố giác về tội phạm là việc
cá nhân phát hiện và tố cáohành vi có dấu hiệu tộiphạm với cơ quan có thẩmquyền
Tin báo về tội phạm làthông tin về vụ việc có dấuhiệu tội phạm do cơ quan,
tổ chức, cá nhân thông báovới cơ quan có thẩm quyềnhoặc thông tin về tội phạmtrên phương tiện thông tinđại chúng
Kiến nghị khởi tố là việc
cơ quan nhà nước có thẩmquyền kiến nghị bằng vănbản kèm theo chứng cứ, tàiliệu liên quan cho Cơ quanđiều tra, Viện kiểm sát cóthẩm quyền xem xét, xử lý
vụ việc có dấu hiệu tộiphạm
Trách nhiệm tiếp nhận và Quy định chưa cụ thể. Khoản 1 điều 145
Trang 3thẩm quyền giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố
BLTTHS: Mọi tố giác, tinbáo về tội phạm, kiến nghịkhởi tố phải được tiếp nhậnđầy đủ, giải quyết kịp thời
Cơ quan, tổ chức có tráchnhiệm tiếp nhận khôngđược từ chối tiếp nhận tốgiác, tin báo về tội phạm,kiến nghị khởi tố từ chốiviệc tiếp nhận này
Về chủ thể có thẩm quyềntiếp nhận tố giác, tin báo vềtội phạm, kiến nghị khởi tố,khoản 2 điều 145 BLTTHSnăm 2015 quy định gồm
Cơ quan điều tra, Việnkiểm sát; các Cơ quan, tổchức khác
Về thẩm quyền giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố chỉbao gồm các chủ thể: Cơquan điều tra, Cơ quanđược giao nhiệm vụ tiếnhành một số hoạt động điềutra và Viện kiểm sát
Ngoài ra BLTTHS năm
2015 còn bổ sung thêm một
số chủ thể có thẩm quyền
Trang 4như trong việc xác minh sơ
bộ đối với tố giác, tin báo
về tội phạm
Thời hạn giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm
02 tháng
Về vấn đề tạm đình chỉ tố
giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố
được giao nhiệm vụ tiếnhành một số hoạt động điềutra ra quyết định tạm đìnhchỉ khi thuộc một trong cáctrường hợp:
- Đã trưng cầu giám định,yêu cầu định giá tài sản,yêu cầu nước ngoài tươngtrợ tư pháp nhưng chưa cókết quả;
- Đã yêu cầu cơ quan, tổchức, cá nhân cung cấp tàiliệu, đồ vật quan trọng có ýnghĩa quyết định đối vớiviệc khởi tố hoặc khôngkhởi tố vụ án nhưng chưa
Trang 5có kết quả.
Trong thời hạn 24 giờ, kể
từ khi ra quyết định tạmđình chỉ việc giải quyết tốgiác, tin báo tội phạm vàkiến nghị khởi tố phải gửiquyết định tạm đình chỉkèm theo tài liệu liên quanđến Viện kiểm sát cùngcấp; cho cơ quan, tổ chức,
cá nhân đã tố giác,báo tintội phạm, kiến nghị khởi tố
Bổ sung quy định về vấn
đề phục hồi giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố
năm 2015 quy định: Khi lý
do tạm đình chỉ việc giảiquyết tố giác, tin báo về tộiphạm, kiến nghị khởi tốkhông còn, Cơ quan điềutra, cơ quan được giaonhiệm vụ tiến hành một sốhoạt động điều tra ra quyếtđịnh phục hồi giải quyết tốgiác, tin báo về tội phạm,kiến nghị khởi tố Thời hạngiải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi
tố tiếp không quá 01 tháng
kể từ ngày ra quyết địnhphục hồi
Trang 6Quy định về vấn đề giải
quyết tranh chấp về thẩm
quyền giải quyết tố giác,
tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố
Chỉ quy định: Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố.
Điều 150 BLTTHS năm
2015 đã khắc phục đượcvấn đề này bằng cách quyđịnh cụ thể thẩm quyền củaViện kiểm sát các cấp trongviệc giải quyết tranh chấp
Câu 2: Nêu quan điểm cá nhân về thẩm quyền KTVAHS của Hội đồng xét xử?
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩmquyền tiến hành tố tụng tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, xác định có haykhông dấu hiệu của tội phạm để quyết định khởi tố vụ án hình sự hay không khởi tố vụ ánhình sự, là cơ sở để chấm dứt hoạt động tố tụng hình sự hay thực hiện các hoạt động tốtụng tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án hình sự
Theo Điều 153 BLTTHS 2015 quy định về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự: Thẩmquyền này thuộc về các cơ quan gồm: Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiếnhành một số hoạt đông điều tra, Viện kiểm sát và Hội đồng xét xử
Về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử được quy định như sau: Căn cứ
theo khoản 4 Điều 153 BLTTHS 2015 có quy định “Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm” Như vậy, trong quá trình xét xử, qua hoạt động xét hỏi
bị cáo, bị can và những người tham gia tố tụng, cũng như qua nội dung tranh luận, đối đápgiữa bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác về bản luận tội củaKiểm sát viên, mà HĐXX phát hiện những tình tiết mới của vụ án, thì HĐXX có quyềnlựa chọn: Quyết định khởi tố vụ án hình sự; hoặc Yêu cầu Viện Kiểm sát khởi tố vụ ánhình sự
Trường hợp HĐXX ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, thì quyết định khởi tố của
HĐXX phải được gửi tới Viện kiểm sát để xem xét, quyết định việc điều tra Rõ ràng là,
Trang 7trên không thuộc thẩm quyền của HĐXX, mà cơ quan Viện Kiểm sát sẽ xem xét, để quyếtđịnh Nếu Viện Kiểm sát đồng ý với Quyết định khởi tố, quyết định cho cơ quan điều tratiến hành điều tra vụ án, coi như đồng nghĩa với việc thừa nhận, trong quá trình tiến hành
tố tụng Viện Kiểm sát đã bỏ sót tội phạm, vi phạm nhiệm vụ quan trọng của BLTTHS Nếu như Viện Kiểm sát cho rằng quyết định khởi tố vụ án hình sự của HĐXX không cócăn cứ thì có quyền kháng nghị lên Tòa án cấp trên Hiện nay các văn bản luật chưa cóquy định về xử lý Quyết định khởi tố vụ án hình sự của HĐXX bị Viện Kiểm sát khángnghị
Tuy nhiên, bên cạnh đó, chúng ta cần đề cập đến khía cạnh pháp lý nữa là: Ngoài việcthực hành quyền công tố, Viện Kiểm sát còn có chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp,theo quy định Điều 107 Hiến pháp năm 2013 nên quyết định khởi tố của HĐXX phảiđược gửi tới Viện kiểm sát để xem xét, quyết định việc điều tra là hợp lý
Và trên thực tiễn áp dụng pháp luật, hầu như HĐXX chưa bao giờ thực hiện thẩm quyềnnày, vì nó không phù hợp với chức năng xét xử của Tòa án, và tâm lý “e ngại” đối mặt vớihoạt động kiểm sát tư pháp của cơ quan Viện Kiểm sát
Trường hợp HĐXX yêu cầu Viện Kiểm sát khởi tố vụ án hình sự thì yêu cầu khởi tố
được gửi cho Viện kiểm sát để xem xét, quyết định việc khởi tố Pháp luật hiện hành cũngkhông có quy định ràng buộc nào đối với việc Viện Kiểm sát có quyết định khởi tố vụ ánhay không khởi tố theo yêu cầu của HĐXX, và như vậy, việc “yêu cầu” nêu trên sẽ không
có tính khả thi, bởi lẽ như đã trình bày, khó mà cơ quan Viện Kiểm sát chấp nhận việc bỏsót tội phạm của cơ quan mình
Mặt khác, Tòa án là cơ quan có thẩm quyền ra phán quyết bị cáo có tội hay không có tội;việc quyết định chủ yếu dựa vào kết quả thẩm vấn công khai tại phiên tòa Nếu HĐXX raquyết định khởi tố hoặc yêu cầu khởi tố vụ án và Viện Kiểm sát cũng như cơ quan Điềutra chấp nhận quyết định của HĐXX thì tâm lý của HĐXX trong trường hợp này sẽ theo
xu hướng buộc tội, mà chưa cần xem xét đến kết quả thẩm vấn công khai, do tâm lý củaHĐXX là phải bảo vệ quan điểm của mình, như vậy sẽ gây bất lợi cho bị cáo
Trang 8Những phân tích trên cho thấy, việc quy định thẩm quyền quyết định khởi tố vụ án hình
sự, hoặc là yêu cầu cơ quan Viện Kiểm sát quyết định khởi tố cũng không có tính khả thitrong việc áp dụng pháp luật, hoặc theo hướng suy đoán có tội sẽ không có lợi cho bị cáo,điều này không phù hợp với chức năng xét xử của Tòa án Bên cạnh đó, pháp luật cũngchưa có cơ chế ràng buộc để Viện Kiểm sát thực hiện
Câu 3: Khởi tố VAHS theo yêu cầu bị hại có mẫu thuẫn với quyền công tố không? Tại sao?
Thứ nhất, khởi tố VAHS theo yêu cầu bị hại được quy định tại Điều 155 BLTTHS 2015nhưng không phải trường hợp nào người bị hại cũng có thể khởi tố mà chỉ những tội đượcquy định mới được áp dụng những quy định này Như vậy, khởi tố vụ án hình sự theo yêucầu của bị hại là quy định của pháp luật tố tụng hình sự về những trường hợp mà trongnhững trường hợp đó cơ quan tiến hành tố tụng chỉ khởi tố vụ án hình sự nếu có yêu cầucủa bị hại hoặc người đại diện của họ
Thứ hai, quyền công tố là một loại quyền lực nhà nước, do cơ quan có thẩm quyền (VKS)thực hiện nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội trước Tòa án để xét xử vàbảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa
Có thể thấy việc quy định hai quyền này không có mâu thuẫn với nhau bởi: Khởi tố vụ ánhình sự theo yêu cầu của người bị hại là trường hợp do tính chất của vụ án và vì lợi íchcủa người bị hại, các cơ quan có thẩm quyền không tự ý quyết định việc khởi tố vụ ánhình sự, mà việc khởi tố vụ án được thực hiện theo yêu cầu ý chí của người bị hại Quyđịnh việc khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại chính là tạo điều kiện chongười bị hại được cân nhắc, tính toán việc khởi tố vụ án hình sự có gây bất lợi cho họ haykhông Đương nhiên, những trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bịhại chỉ trong giới hạn Nhà nước và xã hội chấp nhận được để bảo đảm mọi hành vi phạmtội đều được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đúngngười, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, người phạm tội và không làm oanngười vô tội Chính vì vậy, ngoài những tội phạm mà người bị hại có quyền khởi tố,những tội phạm còn lại cũng cần phải được khởi tố xét xử thông qua quyền khởi tố của
Trang 9VKS để mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không đểlọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, không để người nào bị khởi
tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sứckhoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật và đảm bảo việc truycứu trách nhiệm hình sự đối với bị can phải có căn cứ và đúng pháp luật
Vì vậy không có sự mâu thuẩn với quyền công tố ở đây, Viện kiểm sát nhân dân thựchành quyền công tố là góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh vàthống nhất qua đó bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền côngdân
Câu 4: Phân tích điểm mới của BLTTHS 2015 về khởi tố VAHS theo yêu cầu của bị hại?
Khởi tố vụ án hình sự là quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyềnnhằm duy trì trật tự và công lý, không phụ thuộc vào ý muốn cá nhân và không ai có thể
can thiệp Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, xuất phát từ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, pháp luật quy định cho phép người bị hại lựa chọn quyền yêu cầu
khởi tố hoặc không khởi tố vụ án
Khởi tố VAHS theo yêu cầu của người bị hại được quy định tại Điều 155 BLTTHS 2015:
“1 Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135,
136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật Hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
2 Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị
ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
Trang 103 Bị hại hoặc người đại diện của bị hại rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.”
Đây là một quy định vừa mang tính kế thừa của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, vừa
có sự sửa đổi, bổ sung:
Một điểm mới đáng chú ý trong BLTTHS năm 2015 là quy định cơ chế sử dụng quyềnyêu cầu của người bị hại trong khởi tố vụ án hình sự Khoản 2 Điều 155 BLTTHS năm
2015 quy định: “Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải đượcđình chỉ…”
Như vậy, so với quy định trong BLTTHS năm 2003 thì BLTTHS năm 2015 đã có tiến bộhơn khi mở rộng quyền rút yêu cầu của người bị hại là người bị hại được quyền rút yêucầu bất cứ lúc nào trong suốt quá trình tố tụng từ giai đoạn điều tra, truy tố đến xét xử(Khoản 2 Điều 105 BLTTHS năm 2003 quy định người bị hại chỉ được rút yêu cầu trướckhi mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án mới được đình chỉ)
Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi có một trongcác căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 (điểm a khoản 1 Điều 230 BLTTHS); trong giaiđoạn truy tố, Viện kiểm sát quyết định không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án khi
có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 (khoản 1 Điều 248 BLTTHS);trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ vụ ánkhi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 (điểm a khoản 1 Điều 282BLTTHS)
Ngoài ra, một quy định mới khác của BLTTHS năm 2015 về khởi tố vụ án theo yêu cầucủa người bị hại tiến bộ hơn quy định của BLTTHS năm 2003 là tại khoản 1 Điều 155 đã
bỏ một tội được khởi tố theo yêu cầu người bị hại là tội “Xâm phạm quyền tác giả”(Khoản 1 Điều 105 BLTTHS năm 2003 quy định tội này chỉ được khởi tố khi có yêu cầucủa người bị hại)
Trang 11Việc BLTTHS năm 2015 bãi bỏ điều luật này mang lại một tín hiệu tích cực, vì thực trạnghiện nay quyền tác giả đang bị xâm phạm ngày càng nhiều và nghiêm trọng cũng nhưhành vi xâm phạm ngày càng tinh vi, phức tạp hơn, thậm chí việc xâm phạm diễn ranhưng tác giả vẫn không hay biết Do đó, hành vi xâm phạm này cần được bảo vệ màkhông cần phải có yêu cầu của người bị hại nhằm bảo vệ tốt hơn quyền tác giả, quyền liênquan và phù hợp với tình hình mới.
Câu 5: Phân tích căn cứ không KTVAHS.
Theo quy định tại Điều 157 BLTTHS 2015 Có 08 căn cứ không khởi tố vụ án hình sựgồm:
-Không có sự việc phạm tội;
-Hành vi không cấu thành tội phạm;
-Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; -Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định định chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;
-Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
-Tội phạm đã được đại xá;
-Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;
-Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 226 của Bộ luật hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.
Phân tích các căn cứ:
1 Không có sự việc phạm tội.
Trường hợp mà sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quanđiều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành kiểm
Trang 12tra, xác minh và có đủ căn cứ xác định sự việc được nêu trong các nguồn tin này khôngphải là sự việc phạm tội hay không phải sự thật
Có hai trường hợp xác định không có sự việc phạm tội gồm:
+ Có sự việc xảy ra nhưng không phải do hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra
Ví dụ: Sáng tỉnh dậy, Hoàng Thị N phát hiện xe ô tô của mình dựng trước nhà bị bể kính,nghĩ rằng bị kẻ gian hãm hại nên chị N báo Công an Sau khi thực hiện các biện pháp điềutra, Cơ quan điều tra nhận thấy việc ô tô bị bể kính là do bị cành cây khô rơi trúng chứkhông có hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” nên quyết định không khởi tố vụ án hình sự.+ Không có sự việc xảy ra như nguồn tin tội phạm đã tiếp nhận
Ví dụ: Phan Văn A cho Huỳnh Văn N mượn xe mô tô Sau đó, A không thấy N trả lại xe,gọi điện thoại thì không liên lạc được với N Nghĩ rằng mình bị N “Lạm dụng tín nhiệmchiếm đoạt tài sản” nên A đến Cơ quan công an trình báo sự việc Qua điều tra, Cơ quanđiều tra xác định N không trả được xe cho A là do bị tai nạn, N không có ý định chiếmđoạt tài sản của A nên ra quyết định không khởi tố vụ án
2 Hành vi không cấu thành tội phạm.
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự Do đó,nếu hành vi mặc dù nguy hiểm cho xã hội nhưng không được quy định trong Bộ luật hình
sự hoặc có quy định trong Bộ luật hình sự nhưng hành vi đó không đủ yếu tố cấu thànhtội phạm thì hành vi đó không cấu thành tội phạm nên người thực hiện nó không phải chịuTNHS
Hành vi không cấu thành tội phạm có thể thiếu một hoặc một số yếu tố cấu thành tộiphạm gồm:
Khách thể: Xâm phạm qua nhệ xã hội được BLHS quy định bảo vệ
Chủ thể: Đủ tuổi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự
Mặt khách quan: Hành vi, Hậu quả, Mối quan hệ nhân quả
Trang 13Mặt chủ quan: Lỗi, Động cơ, Mục đích
Ví dụ: Ngày 21/09, Trần Thành Đ trộm cắp xe mô tô thì bị phát hiện bắt quả tang Tuynhiên, qua định giá tài sản xác định giá trị tài sản trộm cắp chỉ có giá 1.900.000 đồng và
Đ không có tiền án, tiền sự về các tội xâm phạm sở hữu nên hành vi trộm cắp của Đkhông đủ định lượng để cấu thành tội phạm (dưới 2.000.000 đồng) Do đó, Cơ quan điềutra quyết định không khởi tố vụ án hình sự về hành vi trộm cắp của Đ
3 Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015 quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự thìngười từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; người từ đủ 14tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thươngtích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới
16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cócnhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọngquy định tại một trong các điều sau đây: Điều 143, 150-151, 168-171, 173, 178, 248-252,265-266, 286-290, 299, 303 và 304 BLHS năm 2015
Theo đó, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nếu dưới 14 tuổi hoặc từ đủ 14tuổi đến dưới 16 tuổi nhưng phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hoặc mặc dù phạmtội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng nhưng không thuộc các trường hợp nêu trênthì không phải chịu TNHS
Người chưa đến tuổi chịu TNHS thực hiện hành vi nguy hiểm thì không truy cứu TNHS
Do đó, trường hợp này không khởi tố vụ án hình sự
Ví dụ: Ngày 22/12, Nguyễn Văn A (13 tuổi) dùng dao đâm chết bạn cùng lớp Nhưng do
A chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên không xử lý hình sự đối với hành vi “Giếtngười” của A
4 Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật.
+ Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án có hiệu lực pháp luật
Trang 14Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án có hiệu lực pháp luật được hiểu là:Trường hợp hành vi phạm tội của người phạm tội đã bị xử lý rồi (họ đã bị truy cứu tráchnhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình bằng Bản án đã có hiệu lực pháp luật).Nên họ không bị xử lý đối với hành vi phạm tội đó nữa.
Ví dụ: Tháng 01/2020, Trần Mộng B trình báo đến Công an phường trình báo về việc bị A
“Lừa đảo chiếm đoạt 10.000.000 đồng” Qua xác minh làm rõ, Cơ quan điều tra xác địnhđược B đã bị Tòa án nhân dân thành phố H tuyên phạt 02 năm tù về hành vi trên từ 02năm trước nên Cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự đối với vụviệc
+ Người mà hành vi phạm tội của họ đã có quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực phápluật
Người mà hành vi phạm tội của họ đã có quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luậtđược hiểu là trường hợp người đó đã có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ
án có hiệu lực pháp luật đối với vụ án hình sự đối với hành vi phạm tội của họ Quyếtđịnh đình chỉ này có thể do:
CQĐT đình chỉ điều tra vụ án theo quy định tại Điều 234 BLTTHS năm 2015 hoặc khi hếtthời hạn điều tra nhưng không chứng minh được bị can phạm tội
Vụ án đã được Viện kiểm sát đình chỉ theo quy định tại Điều 248 BLTTHS năm 2015
Vụ án đã được Tòa án đình chỉ theo quy định tại Điều 282 BLTTHS năm 2015
Ví dụ: Nguyễn Lan A yêu cầu xử lý hình sự đối với hành vi gây thương tích của B đối vớimình Qua xác minh, Cơ quan điều tra xác định: đối với hành vi “Cố ý gây thương tích”nêu trên, trước đây A đã trình báo, vụ án đã được khởi tố theo yêu cầu của bị hại nhưngsau đó A tự nguyện rút đơn yêu cầu nên CQĐT đã ra quyết định đình chỉ điều tra vụ ánhình sự đúng quy định Nên trường hợp A yêu cầu xử lý hình sự đối với hành vi gâythương tích của B thuộc trường hợp không được khởi tố VAHS
5 Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.