1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN án TIẾN sĩ) nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn võ thuật công an nhân dân cho sinh viên (hệ đào tạo) tại học viện an ninh nhân dân

243 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn võ thuật Công an nhân dân cho sinh viên (hệ đào tạo) tại Học viện An ninh nhân dân
Tác giả Ngô Hải Hà
Người hướng dẫn TS Nguyễn Đương Bắc, TS Nguyễn Thy Ngọc
Trường học Học viện An ninh nhân dân
Chuyên ngành Giáo dục học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 243
Dung lượng 6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA,THỂ THAO VÀ DU LỊCH VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO NGÔ HẢI HÀ NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN VÕ THUẬT CÔNG AN NHÂN DÂN CHO S

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA,THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO

NGÔ HẢI HÀ

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

GIẢNG DẠY MÔN VÕ THUẬT CÔNG AN NHÂN DÂN CHO SINH VIÊN HỆ ĐÀO TẠO TẠI HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN

Tên ngành: Giáo dục học

LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC

HÀ NỘI - 2022

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA,THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO

NGÔ HẢI HÀ

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

GIẢNG DẠY MÔN VÕ THUẬT CÔNG AN NHÂN DÂN CHO SINH VIÊN HỆ ĐÀO TẠO TẠI HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả luận án

Ngô Hải Hà

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

GD-ĐT: Giáo dục - đào tạo GDTC: Giáo dục thể chất

Trang 5

MỤC LỤC

TRANG BÌA

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về giáo dục, đào tạo và võ thuật CAND trong thời kỳ đổi mới 5

1.2 Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 13

1.2.1.Các khái niệm 13

1.2.2.Một số quan điểm về chất lượng giáo dục 16

1.2.3.Quan niệm chất lượng giáo dục của Việt Nam 20

1.3 Cơ sở lý luận về đánh giá chất lượng giảng dạy 22

1.4 Khái quát về võ thuật CAND 31

1.4.1.Giới thiệu sơ lược về Học viện ANND 31

1.4.2.Khái niệm, vị trí, vai trò và đặc điểm môn võ thuật CAND 31

1.4.3.Phân loại và một số đặc trưng của môn võ thuật CAND 37

1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy võ thuật trong lực lượng CAND 38

1.6 Những công trình nghiên cứu có liên quan 42

1.6.1. Các công trình nghiên cứu trong nước 42

1.6.2 Các công trình nghiên cứu ngoài nước……….46

1.6.3 Những nghiên cứu về đánh giá hoạt động giảng dạy trong các trường đại học ở Việt Nam và trên thế giới 49

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 53

2.1 Phương pháp nghiên cứu 53

2.1.1.Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 53

2.1.2.Phương pháp phỏng vấn tọa đàm 53

Trang 6

2.1.3.Phương pháp quan sát sư phạm 55

2.1.4.Phương pháp phân tích SWOT 56

2.1.5.Phương pháp kiểm tra sư phạm 57

2.1.6.Phương pháp thực nghiệm sư phạm 61

2.1.7.Phương pháp toán học thống kê 62

2.2 Tổ chức nghiên cứu 63

2.2.1.Đối tượng nghiên cứu: 63

2.2.2.Phạm vi nghiên cứu 63

2.2.3.Địa điểm nghiên cứu: 63

2.2.4.Thời gian nghiên cứu: 63

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 65

3.1 Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy võ thuật CAND cho sinh viên tại Học viện ANND 65

3.1.1 Thực trạng về đội ngũ giảng viên võ thuật CAND tại Học viện ANND 65 3.1.2 Thực trạng về phương pháp giảng dạy và hoạt động kiểm tra đánh giá học môn võ thuật CAND tại Học viện ANND 65

3.1.3 Thực trạng về những vấn đề liên quan đến công tác giảng dạy võ thuật CAND tại Học viện ANND 68

3.1.4 Thực trạng kết quả học tập môn võ thuật CAND của sinh viên tại Học viện ANND 74

3.1.5.Bàn luận kết qua mục tiêu 1 74

3.2 Những yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng giảng dạy môn võ thuật CAND cho sinh viên tại Học viện ANND 81

3.2.1 Xác định những yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng giảng dạy môn võ thuật CAND cho sinh viên tại Học viện ANND 81

3.2.2 Thực trạng những yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng giảng dạy môn võ thuật CAND cho sinh viên tại Học viện ANND 85

3.2.3 Kết quả phân tích SWOT về thực trạng chất lượng giảng dạy võ thuật CAND cho sinh viên tại Học viện ANND 92

3.2.4.Bàn luận mục tiêu 2 96

Trang 7

3.3 Lựa chọn và đánh giá giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn võ

thuật CAND cho sinh viên tại Học viện ANND 104

3.3.1 Lựa chọn và xây dựng nội dung giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn võ thuật CAND cho sinh viên tại Học viện ANND 105

3.3.2 Lựa chọn tiêu chí đánh giá chất lượng giảng dạy môn võ thuật CAND cho sinh viên tại Học viện ANND 123

3.3.3 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn võ thuật CAND cho sinh viên tại Học viện ANND 129

3.3.4.Bàn luận mục tiêu 3 139

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 145

KẾT LUẬN: 145

KIẾN NGHỊ 147

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Đội ngũ giảng viên võ thuật CAND tại Học viên ANND trong 3 năm học gần đây

Sau tr63 3.2

Thực trạng năng lực sư phạm của giảng viên võ thuật CAND tại học viên ANND qua đánh giá của sinh viên (n=300)

Tr64

3.3

Thực trạng sử dụng phương pháp giảng dạy của giảng viên võ thuật CAND tại học viên ANND (n=300)

Tr66

3.4 Thực trạng hoạt động kiểm tra đánh giá môn võ

thuật CAND tại Học viện ANND (n=300) Tr67 3.5

Hoạt động giảng dạy của giảng viên võ thuật CAND tại Học viện ANND qua ý kiến của sinh viên (n=300)

Sau tr68 3.6

Hành vi của giảng viên võ thuật CAND tại Học viện ANND trong giảng dạy (n=300)

Sau tr69

3.7 Mối quan hệ giữa giảng viên võ thuật CAND và

sinh viên tại Học viện ANND (n=300) Tr70 3.8 Kết quả học tập môn võ thuật CAND của sinh viên

tại Học viện ANND năm học 2019-2020 (n=300) Tr74 3.9

Kết quả phỏng vấn xác định những yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng giảng dạy môn võ thuật CAND cho sinh viên tại Học viện ANND (n=335)

Sau tr82

3.10

Mức độ ảnh hưởng của những yếu tố đến chất lượng giảng dạy môn võ thuật CAND cho sinh viên tại Học viện ANND (n=335)

Sau tr83

Trang 9

3.11

Thực trạng mức độ đầy đủ (số lượng) của cơ sở vật

chất và trang thiết bị phục vụ công tác giảng dạy võ

thuật CAND cho sinh viên tại Học viện ANND

(n=300)

Sau tr86

3.12

Thực trạng chất lượng của cơ sở vật chất và trang

thiết bị phục vụ cho môn võ thuật CAND cho sinh

viên tại Học viện ANND (n=300)

Sau tr86

3.13

Thực trạng nguồn học liệu trong công tác giảng dạy

võ thuật CAND cho sinh viên tại học viên ANND

(n=300)

Tr87

3.14

Thực trạng chất lượng nguồn học liệu trong công

tác giảng dạy võ thuật CAND cho sinh viên tại học

viên ANND (n=300)

Tr87

3.15

Thực trạng về nội dung giảng dạy môn võ thuật

CAND cho sinh viên tại Học viện ANND (n=300)

Sau tr90 3.16

Thực trạng phương pháp giảng dạy của giảng viên

võ thuật CAND tại Học viện ANND

Sau tr91 3.17

Kết quả phỏng vấn lựa chọn các giải pháp nâng cao

chất lượng giảng dạy môn võ thuật CAND cho sinh

viên tại Học viện ANND (n = 35)

Sau tr109 3.18

Các tiêu chí đánh giá chất lượng giảng dạy môn võ

thuật CAND tại Học viện ANND

Sau tr125 3.19

Kết quả phỏng vấn lựa chọn tiêu chí đánh giá chất

lượng giảng dạy môn võ thuật CAND tại Học viên

ANND (Phiếu dành cho giảng viên tự đánh giá)

Sau tr128

3.20

Kết quả phỏng vấn lựa chọn tiêu chí đánh giá chất

lượng giảng dạy môn võ thuật CAND tại Học viên

ANND (Phiếu dành cho sinh viên đánh giá)

Sau tr128

3.21

Đặc điểm đối tượng thực nghiệm ứng dụng các giải

pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn võ thuật

CAND cho sinh viên tại Học viện ANND

Tr129

3.22

Kết quả đánh giá chất lượng giảng dạy môn võ thuật

CAND tại Học viên ANND do giảng viên tự đánh

giá, thời điểm trước thực nghiệm (n=7)

Sau tr133

Trang 10

3.23

Kết quả đánh giá chất lượng giảng dạy môn võ thuật

CAND tại Học viên ANND do sinh viên đánh giá,

thời điểm trước thực nghiệm (n=160)

Sau tr133

3.24

So sánh mức độ đánh giá chất lượng giảng dạy môn võ

thuật CAND tại Học viện ANND trước thực nghiệm

giữa giảng viên và sinh viên

Tr134

3.25

Kết quả đánh giá chất lượng giảng dạy môn võ thuật

CAND tại Học viên ANND do giảng viên tự đánh

giá, thời điểm sau 1 năm học thực nghiệm (n=7)

Sau tr135

3.26

Kết quả đánh giá chất lượng giảng dạy môn võ thuật

CAND tại Học viên ANND do sinh viên đánh giá,

thời điểm sau 1 năm học thực nghiệm (n=160)

Sau tr135

3.27

So sánh mức độ đánh giá chất lượng giảng dạy môn

võ thuật CAND tại Học viện ANND trước thực

nghiệm giữa giảng viên và sinh viên

Tr135

3.28

So sánh mức độ đánh giá chất lượng giảng dạy môn võ

thuật CAND tại Học viện ANND sau và trước TN giữa

giảng viên và sinh viên

Tr136

3.29

Nhịp tăng trưởng về sự đánh giá chất lượng giảng

dạy môn võ thuật CAND tại Học viên ANND do

giảng viên tự đánh giá trước và sau 1 năm thực

nghiệm (Theo tổng điểm và giá trị trung bình)

Sau tr136

3.30

Nhịp tăng trưởng về sự đánh giá chất lượng giảng

dạy môn võ thuật CAND tại Học viên ANND do

sinh viên đánh giá trước và sau 1 năm thực nghiệm

(Theo tổng điểm và giá trị trung bình)

Sau tr136

3.31

Kết quả phỏng vấn đánh giá hiệu quả thực hiện các

giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn võ

thuật CAND tại Học viên ANND (n=15)

Sau tr137

3.32

Kết quả học tập môn võ thuật CAND của sinh viên

tại Học viện ANND sau khi áp dụng các giải pháp

(n=300)

Sau tr138 3.1 Đánh giá sự tâm huyết của giảng viên giảng dạy học

Trang 11

Biểu

đồ 3.2

Thực trạng thời lượng học tập môn võ thuật CAND

3.3 Số lượng nguồn học liệu võ thuật CAND Tr88 3.4 Chất lượng nguồn học liệu võ thuật CAND Tr89 3.5

Thực trạng nội dung giảng dạy môn võ thuật CAND tại Học viện ANND theo giá trị trung bình

Sau tr90 3.6

Thực trạng phương pháp giảng dạy của giảng viên dạy võ thuật CAND (Theo giá trị trung bình)

Sau tr91 3.7 Cấu trúc trình độ người được phỏng vấn Tr106

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU Tính cấp thiết:

Giáo dục, đào tạo là một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân (CAND) Điều đó được khẳng định trong Đề án 1252/2006/ĐA-BCA ngày 17/7/2006 về "Tăng cường, đổi mới giáo dục và đào tạo trong Công an nhân dân giai đoạn 2006-2020" nêu rõ những nhiệm vụ trọng tâm: Củng cố và hoàn thiện quy mô, hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trong CAND; kiện toàn, hoàn thiện hệ thống ngành nghề đào tạo và đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo; phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí, giáo dục "

[3] Đặc biệt, trước tình hình mới của đất nước, kinh tế - văn hoá đang trên đà phát

triển, quan hệ, giao lưu, hợp tác quốc tế được tăng cường mở rộng, việc đảm bảo

ổn định chính trị, giữ vững an ninh, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ đặc biệt

quan trọng Đòi hỏi phải xây dựng lực lượng công an nhân dân cách mạng, chính

quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng

và chế độ xã chủ nghĩa, tận tuỵ phục vụ nhân dân Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

đó đòi hỏi cán bộ, chiến sỹ công an phải không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt; giỏi pháp luật, nghiệp vụ, tinh thông võ thuật, kỹ chiến thuật quân sự, không ngừng rèn luyện phẩm chất đạo đức theo 6 lời dạy của Bác Hồ Có như vậy, mới xứng đáng với lòng tin yêu và nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho

Nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh quốc phòng, đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới, Bộ trưởng Bộ Công An đã ra Chỉ thị số 10/CT/2006

- BCA (X11) ngày 15/11/2006 về tăng cường công tác huấn luyện quân sự, võ

thuật trong lực lượng CAND Trong đó, đã chỉ rõ: "Bộ yêu cầu Công An các đơn

vị, địa phương thực hiện một số việc như đánh giá tình hình công tác huấn luyện quân sự, võ thuật ở các đơn vị, địa phương, nêu rõ thuận lợi khó khăn và đề ra nội dung, biện pháp đề phòng chấn chính khắc phục thiếu sót, tồn tại trong công tác quân sự, võ thuật Nghiên cứu biên soạn nội dung, chương trình đào tạo, huấn

Trang 13

luyện quân sự, võ thuật cho sát hợp tình hình hiện nay; đưa nội dung quân sự, võ thuật và điều lệnh vào huấn luyện chính khoá trong các trường CAND" [4] Học viện ANND (tiền thân là Trường công an trung ương) là cái nôi đào tạo

sỹ quan đầu tiên của lực lượng Công an nhân dân (CAND) với bề dày lịch sử gần

70 năm xây dựng và trưởng thành Hiện nay, Học viện ANND (ANND) là một

trong những trường lớn nhất trong lực lượng CAND, có nhiệm vụ đào tạo cán bộ,

sĩ quan an ninh phục vụ sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội Quán triệt sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, ngành Công an

và ý thức được vai trò và tầm quan trọng của mình, Học viện ANND đã nghiêm chỉnh thực hiện những nhiệm vụ được giao với mục đích nâng cao chất lượng đào tạo nói chung và nâng cao chất lượng giảng dạy, huấn luyện võ thuật CAND nói riêng

Quyết định số 1546/QĐ-T31 ngày 25/07/2008 của Giám đốc Học viện

ANND về việc ban hành chương trình môn học hệ chính quy đã chỉ rõ [20] "Võ

thuật CAND là môn học thuộc khối kiến thức cơ sở của nhóm ngành và ngành trong chương trình khung giáo dục Đại học khoa học An ninh " Võ thuật CAND

là một trong những môn học có tầm quan trọng đặc biệt chiếm thời lượng học tập lớn Vì vậy, việc nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập võ thuật CAND trong Học viện ANND không chỉ là trách nhiệm của cán bộ, giáo viên mà còn là nghĩa

vụ của mỗi sinh viên, học viên Học viện ANND ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường Nhờ sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của các cấp lãnh đạo và sự nỗ lực không ngừng của đội ngũ giáo viên, huấn luyện viên và các thế hệ sinh viên, học viên, công tác giảng dạy, huấn luyện, học tập võ thuật CAND trong Học viện ANND

đã đạt được nhiều thành tích to lớn

Võ thuật CAND là một môn võ tổng hợp được lực lượng CAND nghiên cứu, tập luyện và sử dụng phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ

an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội Bên cạnh đó, môn võ thuật

CAND không chỉ trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về võ thuật CAND mà còn nâng cao thể chất, sức khoẻ, bản lĩnh chiến đấu, ý thức kỷ luật

Trang 14

nhằm góp phần vào rèn luyện nhân cách người chiến sĩ CAND Học tập và rèn

luyện môn võ thuật CAND là điều kiện rất cần thiết để sinh viên Học viện ANND phát triển thể lực, hình thành những kỹ năng, kỹ xảo vận động cần thiết đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác

Mục tiêu hàng đầu của công tác giảng dạy là ứng dụng hiệu quả các kỹ chiến thuật vào công tác thực tế chiến đấu với các loại hình tội phạm, góp phần hoàn thành nhiệm vụ được giao Từ những yêu cầu của thực tế chiến đấu, đòi hỏi các chuyên gia, giáo viên, giảng viên, huấn luyện viên phải nghiên cứu, lựa chọn những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn võ thuật CAND cho cán bộ chiến sĩ trong lực lượng, đặc biệt cho sinh viên hệ đào tạo Học viện ANND Tuy nhiên, cho đến nay mới có một số ít các công trình nghiên cứu khoa học đề cập tới vấn đề này như: Bùi Trọng Phương (2019) [30], Hà Mười Anh (2019) [1], Lê Mạnh Cường (2020) [10], Nguyễn Thanh Hải [18] Trong thực tế, sinh viên Học viện ANND tập luyện môn võ thuật CAND còn có bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu hụt mà chưa được khắc phục như: Khả năng thực hiện các kỹ chiến thuật chưa tốt, khả năng phối hợp các kỹ chiến thuật chưa linh hoạt hay khả năng ứng dụng, vận dụng võ thuật chưa hiệu quả cao trong các tình huống khác nhau Do vậy, việc phải nghiên cứu các giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy

để từ đó góp phần nâng cao năng lực thực hành và khả năng vận dụng võ thuật CAND trong điều kiện thực tiễn cho sinh viên tại Học viện ANND là nhiệm vụ cấp thiết cần làm

Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn võ thuật Công

an Nhân dân cho sinh viên hệ đào tạo tại Học viện An ninh Nhân dân

Hiện nay Học viện ANND tồn tại 02 hệ đào tạo: Hệ đào tạo đại học chính

quy và đại học liên thông, trong luận án sử dụng cụm từ “sinh viên hệ đào tạo”

nhằm chỉ những sinh viên thuộc hệ đào tạo đại học chính quy, để đảm bảo sự tập trung theo quyết định của hội đồng đánh giá đề cương luận án, chúng tôi chỉ nghiên cứu nhóm khách thể nghiên cứu là sinh viên đại học chính quy

Trang 15

Mục đích nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác giảng dạy võ thuật CAND cho sinh viên tại Học viện ANND, luận án nghiên cứu xác định yếu tố ảnh hưởng tới công tác giảng dạy võ thuật, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến chất lượng giảng dạy và thực trạng các yếu tố ảnh hưởng Trên cơ sở đó luận án lựa chọn các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giảng dạy võ thuật CAND cho sinh viên tại Học viện ANND Qua đó giúp sinh viên nâng cao khả năng vận dụng môn võ

thuật CAND

Mục tiêu nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên đề tài giải quyết ba mục tiêu sau:

Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy võ thuật CAND cho sinh

viên tại Học viện ANND

Mục tiêu 2: Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy

môn võ thuật CAND cho sinh viên tại Học viện ANND

Mục tiêu 3: Lựa chọn và đánh giá giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy

môn võ thuật CAND cho sinh viên tại Học viện ANND

Giả thuyết khoa học

Chất lượng giảng dạy võ thuật tại Học viện ANND hiện tại còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được với mục tiêu giáo dục đề ra Việc triển khai tổ chức giảng dạy võ thuật trong Học viện thực sự chưa có hiệu quả do chương trình cũ, chưa hợp lý, chưa xây dựng được giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng giảng dạy

võ thuật Lựa chọn được những giải pháp mang tính khoa học, chặt chẽ và phù hợp với điều kiện thực tiễn của Học viện ANND sẽ nâng cao hiệu quả công tác giảng dạy môn võ thuật CAND cho sinh viên tại Học viện ANND góp phần nâng cao kết quả học tập và khả năng vận dụng môn võ thuật CAND vào thực tiễn

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về giáo dục, đào tạo và võ thuật CAND trong thời kỳ đổi mới

Giai đoạn trước đổi mới, Đảng ta chưa ban hành nghị quyết Trung ương có tính chuyên đề về giáo dục và đào tạo Đường lối và các chính sách của Đảng về lĩnh vực này được thể hiện trong các văn kiện của các đại hội Đảng và các nội

dung được đưa vào các nghị quyết về các lĩnh vực kinh tế - xã hội

Nghị quyết Đại hội IV nêu rõ: “ Tiến hành cải cách giáo dục trong cả nước;

phát triển giáo dục phổ thông; sắp xếp, từng bước mở rộng và hoàn chỉnh mạng lưới các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp; phát triển rộng rãi các trường dạy nghề” Để cụ thể hoá thực hiện Nghị quyết Đại hội IV, ngày 11-1-1979 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 14-NQ/TW “về cải cách giáo dục”

Đây là nghị quyết đầu tiên về chuyên đề giáo dục sau khi đất nước được thống nhất, có nhiều vấn đề cần cụ thể hoá bằng các chính sách, các đề án để thực hiện, từ xác định mục tiêu cụ thể, sắp xếp lại cơ cấu hệ thống cho đến vấn

đề biên soạn sách giáo khoa thống nhất cho các cấp học bậc học

Nghị quyết Đại hội VI xác định: Giáo dục nhằm mục tiêu hình thành và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có kỹ thuật đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với yêu cầu phân công lao động của xã hội Sự nghiệp giáo dục, nhất là giáo dục đại học và chuyên nghiệp, trực tiếp góp phần vào việc đổi mới công tác quản lý kinh tế và xã hội Mở rộng

và củng cố các trường, các lớp dạy nghề để đào tạo, bồi dưỡng công nhân lành nghề, phát triển các trung tâm dạy nghề rộng rãi cho thanh niên và nhân dân lao động Đi đôi với việc nâng cao chất lượng đào tạo chuyên môn và năng lực thực hành, cần coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, pháp luật, giáo dục thể chất và giáo dục quốc phòng

Đến Nghị quyết Đại hội VII nêu rõ: Mục tiêu giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có

Trang 17

đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội Nhà trường đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện và có năng lực chuyên môn sâu, có ý thức và khả năng tự tạo việc làm trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Ngày 14-1-

1993, Đảng ta ban hành Nghị quyết số 04-NQ/HNTW, “Về tiếp tục đổi mới sự

nghiệp giáo dục và đào tạo”

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Đảng ta, Ban Chấp hành Trung ương Đảng

đã có kỳ họp riêng bàn về một số vấn đề xã hội, trong đó tập trung xem xét sâu rộng vấn đề giáo dục và đào tạo và ra Nghị quyết về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo Đây là Nghị quyết đáp ứng lòng mong đợi từ lâu của toàn Đảng, toàn dân ta, nhất là đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, học sinh, sinh viên trong cả nước, về việc xác định quan điểm, chủ trương, chính sách, biện pháp tiếp tục phát triển mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục

Có thể nói, những quan điểm nói trên là những tư tưởng chỉ đạo rất quan trọng cho sự phát triển giáo dục nước ta trong những năm đầu trong thời kỳ đổi

mới Đặc biệt, Nghị quyết đã nêu rõ tư tưởng mới hết sức quan trọng: đầu tư

cho giáo dục là đầu tư phát triển Nhiều năm trước đây, đầu tư cho giáo dục

được coi là đầu tư cho phúc lợi xã hội Từ đây, đầu tư cho giáo dục là đầu tư

để phát triển con người, phát triển sản xuất, phát triển xã hội Vì vậy, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định: “Tăng dần tỷ trọng chi trong ngân sách cho giáo dục và đào tạo Huy động các nguồn đầu tư trong nhân dân, viện trợ của các tổ chức quốc tế, kể cả vay vốn của nước ngoài để phát triển giáo dục”

Đến Đại hội VIII, về giáo dục và đào tạo, Nghị quyết nhấn mạnh với những

nội dung chủ yếu: cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc

sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Coi

trọng cả ba mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả Phương hướng chung của lĩnh vực giáo dục, đào tạo trong 5 năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo điều kiện cho

Trang 18

nhân dân, đặc biệt là thanh niên, có việc làm; khắc phục những tiêu cực, yếu kém trong giáo dục và đào tạo

Đến Đại hội IX, Nghị quyết nhất mạnh “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”

Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương Xây dựng quy hoạch đào tạo nhân lực theo phương thức kết hợp học tập trung, học từ xa, học qua máy tính

Tổng kết cải cách giáo dục, xây dựng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp và chính sách của Nhà nước về giáo dục, đào tạo Tăng cường quản lý Nhà nước đối với các loại hình trường lớp giáo dục và đào tạo Nâng dần tỷ trọng chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo Động viên đúng mức sự đóng góp của mỗi nhà, mỗi người, đồng thời thu hút nguồn đầu tư từ các cộng đồng, các giới, trong và ngoài nước cho giáo dục, đào tạo Đẩy mạnh hợp tác quốc

tế trong giáo dục, đào tạo

Các văn kiện quan trọng của Đảng trong các giai đoạn trước đây, Cương lĩnh năm 2011 đã đưa ra những quan điểm, định hướng lớn về phát triển giáo dục và

đào tạo: "Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công

nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội"[13] Theo Hội đồng Lý luận Trung ương, các quan điểm trên không chỉ thể hiện sự phát triển về tư duy, nhận thức, kế thừa chủ trương nhất quán của Đảng ta qua các giai đoạn lịch sử, coi trọng sự nghiệp giáo dục và đào tạo, mà còn là vấn

đề mang tính chiến lược xuyên suốt, bám sát xu thế phát triển của nhân loại, phù

Trang 19

hợp với thực tiễn Việt Nam, luôn đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đẩy mạnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 xác định: "Phát triển giáo

dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc

tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán

bộ quản lý là khâu then chốt" [13] Các văn kiện quan trọng khác của Đảng, Nhà nước trong nhiệm kỳ Đại hội XI, XII tiếp tục cụ thể hóa chủ trương đổi mới giáo

dục và đào tạo Hội nghị Trung ương 6 khóa XI khẳng định: "Đổi mới căn bản,

toàn diện giáo dục và đào tạo là một yêu cầu khách quan và cấp bách", đòi hỏi

phải: đổi mới tư duy, đổi mới mục tiêu đào tạo; hệ thống tổ chức, loại hình giáo dục và đào tạo; đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học; cơ chế quản lý xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý; cơ sở vật chất, nguồn lực, điều kiện bảo đảm trong toàn hệ thống giáo dục quốc dân, tiếp tục cần được cụ thể hóa trong từng giai đoạn

Sau 35 năm đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, đặc biệt là 10 năm thực hiện Cương lĩnh năm 2011, 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, giáo dục và đào tạo nước ta đã có những chuyển biến tích cực Chất lượng từng bước được nâng lên, hệ thống giáo dục quốc dân tiếp tục được hoàn thiện,

mạng lưới cơ sở giáo dục, đào tạo tiếp tục được mở rộng ở tất cả các cấp học, bậc

học, ngành học Vai trò, vị trí các cơ sở giáo dục, nhất là giáo dục đại học trong

hệ thống dần được khẳng định, tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm được đề cao; chất lượng đào tạo từng bước được cải thiện, hệ thống chương trình đã được đổi mới, chú trọng phát triển các phẩm chất, năng lực cho học sinh; phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực cũng được chú trọng Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên được đẩy mạnh Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế các khuyết tật của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong giáo dục và đào tạo Hợp tác quốc tế được

Trang 20

tăng cường theo hướng chủ động, tích cực đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành giáo dục, cũng như yêu cầu phát triển bền vững, hội nhập quốc tế của đất nước Đồng thời với những thành tựu, giáo dục và đào tạo vẫn còn không ít những hạn chế về nhận thức và tổ chức thực hiện cần sớm được khắc phục Nhận thức

về triết lý giáo dục Việt Nam trong thời kỳ mới, vai trò và sứ mệnh của giáo dục chưa đủ sâu sắc, chưa làm rõ được tính ưu việt của nền giáo dục cách mạng, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Việc đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng các phương tiện, công cụ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin chưa thực sự hiệu quả; vấn đề rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng học tập, kỹ năng giải quyết vấn đề ở một số nhà trường vẫn chưa thật sự được chú trọng Nội dung chương trình, giáo trình, phương pháp giảng dạy ở nhiều cơ sở giáo dục đại học chưa được hiện đại hóa tương xứng, còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, chưa thực sự chú ý kỹ năng mềm cho người học Đầu tư cho giáo dục chưa theo kịp yêu cầu phát triển Công tác quản lý cơ sở giáo dục nước ngoài, cơ sở liên kết giáo dục còn gặp nhiều khó khăn Chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao tuy đã được cải thiện, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước

Những kết quả và hạn chế trong giáo dục và đào tạo của nhiệm kỳ Đại hội XII đòi hỏi phải tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện chủ trương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, với nhiều điểm mới [14], [15]

Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn quan tâm chăm lo, coi giáo dục, đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Phát triển giáo dục và đào tạo là góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Là lực lượng vũ trang cách mạng, “thanh kiếm và lá chắn” bảo vệ Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và nhân dân; dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng Công an nhân dân (CAND) luôn xác định giáo dục, đào tạo là nhân tố quyết định tới nhiệm

Trang 21

vụ xây dựng lực lượng CAND cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại

Với quan điểm ấy, kế thừa thành tựu đã đạt được của giáo dục, đào tạo CAND trong suốt chiều dài lịch sử, quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết

số 29 của Ban Chấp hành Trung ương, những năm gần đây, Đảng ủy Công an Trung ương và lãnh đạo Bộ Công an đã tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, ban hành Nghị quyết số 17-NQ/ĐUCA và Chỉ thị số 13/CT-BCA ngày 28-10-2014

về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong CAND; ngoài ra, hằng năm đều ban hành chỉ thị về nhiệm vụ công tác trọng tâm năm học trong CAND Theo đó, công tác giáo dục, đào tạo CAND đã đạt được những kết quả tích cực: Nội dung chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy không ngừng được đổi mới, bảo đảm tính khoa học, hiện đại, góp phần nâng cao tính chủ động và khả năng tự học, tự nghiên cứu của học viên, qua đó chất lượng giáo dục và đào tạo từng bước được nâng cao

Hệ thống ngành, nghề đào tạo tiếp tục được hoàn thiện và mở rộng theo hướng đa dạng hóa; đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục tăng về số lượng, từng bước nâng cao về chất lượng; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được cải thiện theo hướng hiện đại, đồng bộ; quan hệ hợp tác trong nước và quốc tế về giáo dục, đào tạo được mở rộng, đem lại hiệu quả thiết thực…

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, giáo dục, đào tạo CAND vẫn còn những hạn chế, bất cập làm ảnh hưởng đến chất lượng công tác giáo dục, đào tạo, từ đó tác động tới các mặt, lĩnh vực công tác Công an như: việc quy hoạch tổng thể mạng lưới trường thiếu tính ổn định, bền vững, thiếu sự liên kết giữa các

cơ sở đào tạo trong việc thực hiện nhiệm vụ chung của Ngành Việc phân định mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo giữa các cơ sở đào tạo, giữa các cấp, bậc học chưa thực sự rõ ràng, còn trùng dẫm, chồng chéo Kỷ luật, kỷ cương trong giáo dục, đào tạo có lúc, có nơi bị buông lỏng, chưa được chấn chỉnh kịp thời Chất lượng đầu ra còn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn công tác, chiến đấu của lực lượng CAND Công tác quản lý giáo dục và đào tạo chưa thật sự khoa học, còn

Trang 22

nặng về quản trị, nên không phát huy được hết tính năng động, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở đào tạo

Thế giới đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) với việc ứng dụng công nghệ 3D, công nghệ sinh học, vật liệu mới, tự động hóa, kết nối vạn vật, trí tuệ nhân tạo đã và đang tạo ra nhiều thời cơ, thuận lợi nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức đối với các quốc gia, dân tộc trong quá trình đổi mới, hợp tác, hội nhập và phát triển

Ở trong nước, các thế lực thù địch, phản động đang ráo riết thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ với những phương thức, thủ đoạn ngày càng nguy hiểm, tinh vi, xảo quyệt hơn Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội

bộ còn nghiêm trọng; tội phạm, vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội vẫn diễn biến phức tạp Trong bối cảnh đó, để hoàn thành xuất sắc trọng trách được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, lực lượng CAND cần phải chủ động, tích cực, đổi mới toàn diện, nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả các mặt công tác Công an, trong đó, giáo dục, đào tạo là một trong những giải pháp đột phá, chiến lược, lâu dài

Quán triệt các quan điểm chỉ đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về giáo dục, đào tạo, nhất là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ; Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 15-3-2018 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Nghị định số 01/2018/NĐ-CP ngày 6-8-2018 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an, Nghị quyết số 17-NQ/ĐU ngày 28-10-2014 của Đảng ủy Công an Trung ương, trong thời gian tới, công tác

Trang 23

giáo dục, đào tạo CAND cần tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau đây:

Một là, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý điều hành tập trung, thống nhất

của Đảng ủy Công an Trung ương và lãnh đạo Bộ Công an đối với công tác giáo dục, đào tạo; đồng thời, phát huy vai trò chủ động của Công an các đơn vị, địa phương, các học viện, trường CAND trong công tác tham mưu, triển khai nhiệm

vụ giáo dục và đào tạo CAND Đẩy nhanh việc sắp xếp tổ chức bộ máy, phân định

rõ ràng, rành mạch khoa học, hợp lý, có tính ổn định, bền vững, tránh trùng dẫm, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng của các học viện, trường CAND theo nguyên tắc: “Một cơ quan, đơn vị có thể thực hiện nhiều việc và một việc chỉ giao cho một cơ quan, đơn vị chủ trì và chịu trách nhiệm chính”

Hai là, quán triệt và thực hiện quan điểm giáo dục, đào tạo CAND có tính

mở, linh hoạt, hệ thống, đồng bộ, liên thông, gắn kết chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, lý thuyết và thực hành, bảo đảm tính chuyên sâu, gắn với từng lĩnh vực cụ thể của từng cơ sở đào tạo để xác định ngành, chuyên ngành đào tạo, bậc học, đối tượng học và phân định kiến thức phù hợp với các cấp bậc đào tạo tương ứng Kết quả đào tạo, bồi dưỡng phải đáp ứng mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể đối với từng cấp học, bậc học; đồng thời, đáp ứng yêu cầu sử dụng cán bộ rất linh hoạt trong thực tiễn công tác, chiến đấu

Ba là, nghiên cứu đánh giá, đề xuất đổi mới chương trình đào tạo, gắn với

việc phân định chức năng, nhiệm vụ của các cơ sở đào tạo nhằm cụ thể hóa từng

vị trí, chức danh công tác từ lãnh đạo, chỉ huy đến cán bộ quản lý, tham mưu chiến lược, cán bộ nghiên cứu, cán bộ trực tiếp chiến đấu và cán bộ Công an cơ sở…theo từng lĩnh vực công tác lớn của lực lượng CAND

Cùng với đó, các học viện, trường CAND cần chủ động đổi mới phương thức đào tạo và phương pháp dạy học theo hướng, “lấy người học làm trung tâm”, học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn; chuyển từ truyền thụ kiến thức một chiều sang hình thành phẩm chất và phát triển năng lực của học viên; đồng thời, kết hợp chặt chẽ giữa “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau

Trang 24

và học nhân dân” Tích cực ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình quản

lý, giáo dục và học tập; thí điểm xây dựng các mô hình giáo dục có sự hỗ trợ của các thiết bị thông minh, phần mềm, trí tuệ nhân tạo trong các học viện, trường CAND

Bốn là, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục, bồi dưỡng

lòng tự tôn nghề nghiệp, ý thức trách nhiệm, niềm vinh dự, tự hào của những chiến

sĩ tiên phong trên mặt trận trồng người cho đội ngũ cán bộ, giáo viên và những người làm công tác giáo dục, đào tạo CAND Xây dựng đội ngũ giáo viên các học viện, trường CAND không chỉ là những nhà giáo mẫu mực, nhà khoa học có uy tín, tấm gương sáng về đạo đức, trí tuệ, nhân cách, về sự trung thành với Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và nhân dân mà còn là những nhà hoạt động thực tiễn giàu kinh nghiệm trong các lĩnh vực công tác công an, có những đóng góp nhiều hơn nữa trong sự nghiệp giáo dục, đào tạo của Đảng, Nhà nước và của lực lượng CAND

Tiếp tục siết chặt kỷ luật, kỷ cương, điều lệnh CAND, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý, giáo dục học viên, giúp học viên nhận thức được mục tiêu, động cơ học tập đúng đắn, đó là: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại” Quan tâm xây dựng cảnh quan, môi trường văn hóa, sư phạm, giáo dục thân thiện, nhân văn trong các học viện, trường CAND

1.2 Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Các khái niệm

Các quan điểm tiếp cận về giải pháp

Trong các văn bản của Đảng, Nhà nước về TDTT có đề cập đến khái niệm giải pháp, nhưng cũng chưa được hệ thống hóa đầy đủ mà chỉ nhấn mạnh các giải pháp cấp bách, quan trọng

Trong các tài liệu chính thống về quản lý TDTT ở nước ta vẫn chưa đề cập một cách đầy đủ, rõ ràng về khái niệm giải pháp Trong nhiều tài liệu quản lý TDTT, các tác giả mới chỉ đề cập đến việc ứng dụng các phương pháp quản lý

Trang 25

vào quá trình quản lý vì phương pháp mới chỉ định hướng chưa nói lên cách thức

cụ thể là làm như thế nào, làm bằng cách nào? Giữa phương pháp và thực tiễn quản lý còn có khoảng cách Phương pháp giúp cho lựa chọn các giải pháp đúng hướng, đúng quy luật, nguyên tắc quản lý Do đó, mỗi phương pháp có nhóm giải pháp Việc lựa chọn giải pháp nào phù hợp do các yếu tố sau đây quyết định [6], [9]

Yếu tố tình thế là yếu tố hiện trạng của quá trình quản lý khác đây là tình trạng nội lực, ngoại lực hay khách quan, chủ quan trong quản lý

Yếu tố mục tiêu quản lý cần đạt ở mức độ, phạm vi nhất định

Sự thông minh, sáng tạo của người quản lý chủ thể đây thuộc lĩnh vực quản lý

Để có thể tiếp cận cơ sở lý luận các giải pháp quản lý trước tiên ta phải xác định, tìm hiểu phạm trù của giải pháp quản lý Theo “Từ điển quản lý xã hội” của tác giả Nguyễn Tuấn Dũng, Đỗ Minh Hợp có đề cập đến khái niệm giải pháp quản

lý xã hội như sau: “Giải pháp quản lý xã hội là phương tiện, hành vi thực hiện sự tác động bằng quản lý; phương thức biểu thị các mối quan hệ quản lý Xét về bản chất của mình, giải pháp quản lý xã hội là dự án được xây dựng, thông qua và ghi nhận về mặt hình thức – dự án, về những cải tạo xã hội về sự điều tiết chung trong điều kiện lịch sử cụ thể” [11]

Như vậy, từ các quan điểm tiếp cận nêu trên thì các giải pháp bản chất là những phương pháp, phương tiện, hành vi, công cụ được tác động sử dụng thông qua quản lý theo một lộ trình quy định Các phương tiện, hành vi, công cụ này thể hiện ở hình thức là các chương trình và dự án được thực hiện trong một phạm vi

lộ trình xác định để đạt được mục tiêu quản lý Như vậy, nói một cách dễ hiểu các giải pháp là những chương trình, dự án được sử dụng như một phương pháp quản

lý để đạt mục tiêu quản lý đề ra

Trên các cơ sở, quan điểm nêu trên, đề tài xác định khái niệm giải pháp như sau: Giải pháp là những phương pháp cụ thể, là cách thức thực hiện các phương pháp Giải pháp là cụ thể hóa các phương pháp hay ứng dụng các phương pháp vào thực tiễn quản lý

Trang 26

Trong một phương pháp có nhiều giải pháp cụ thể, mặt khác một giải pháp

cụ thể có thể đại diện cho nhiều phương pháp khác nhau Như vậy, giữa phương pháp và giải pháp có sự tương đồng nhưng không phải đồng nghĩa với nhau Một nhóm giải pháp cụ thể tổng hợp thành phương pháp quản lý

Theo quan điểm phân tích hệ thống các giải pháp quản lý hợp thành một hệ thống các giải pháp Trong một giải pháp lớn có cả hệ thống giải pháp con (hệ thống con) hay giải pháp thành phần Cả hệ thống giải pháp con tác động để hình thành và phát triển thành giải pháp lớn

Nâng cao:

Theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm nâng cao được hiểu là làm tăng thêm [28] Trong đề tài luận án này sử dụng khái niệm “giải pháp” với ý nghĩa là cách thức giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó để nâng cao chất lượng giảng dạy, tức

là làm tăng giá trị của các tiêu chí đánh giá chất lượng công tác giảng dạy môn GDTC cho sinh viên

Chất lượng:

Hiện nay thế giới đang ở trong thời đại của những cuộc cách mạng về chất lượng, bởi vì chất lượng là vũ khí cạnh tranh quan trọng nhất Vậy chất lượng là gì? “Chất lượng” là một khái niệm phức tạp, đa chiều Mỗi người có thể đưa ra những quan niệm hay định nghĩa khác nhau về chất lượng Khái niệm “chất lượng” có thể hiểu được, nhưng khó giải thích và diễn đạt một cách đầy đủ và rõ ràng [42]

Dưới đây là một số cách hiểu về khái niệm “chất lượng”:

Chất lượng là sự xuất sắc, là tuyệt hảo, là giá trị vật chất, là sự biến đổi về

chất, là sự phù hợp với mục tiêu đề ra và là sự đáp ứng nhu cầu

Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc) làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác [40]

Chất lượng là cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật hoặc là cái tạo nên bản chất sự vật, làm sự vật này khác sự vật kia

Trang 27

Chất lượng là mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản [42]

Chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn

có trong đó yêu cầu được hiểu là các nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu hay bắt buộc (Định nghĩa của ISO 9000 – 2000)

Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm

ẩn (TCVN – ISO 8402)

Chất lượng là một khái niệm đa dạng, có ý nghĩa đối với những người hưởng lợi tùy thuộc vào quan niệm của những người đó tại một thời điểm nhất định và đáp ứng các mục tiêu đã được đề ra tại thời điểm đó Do chất lượng được đo bằng

sự thoả mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn biến động nên chất lượng cũng biến động theo các yếu tố không gian, thời gian và điều kiện sử dụng Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêu chuẩn nhưng cũng có nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng Người sử dụng chỉ có thể cảm nhận hay phát hiện ra trong quá trình sử dụng [39]

Chất lượng được đánh giá qua mức độ trùng khớp với mục tiêu và Chất lượng

là sự đáp ứng với mục tiêu đề ra Trước đây người ta hiểu chất lượng theo quan niệm “tĩnh” có nghĩa là “chất lượng phụ thuộc vào mục tiêu” Ngày nay, hiểu chất lượng theo quan niệm “động”, có nghĩa là “chất lượng là một hành trình, không phải là điểm dừng cuối cùng mà là đi tới”

Nội dung này được trình bày kỹ ở mục 1.4

1.2.2 Một số quan điểm về chất lượng giáo dục

Trang 28

Theo quan điểm của Parker Palmer để giảng dạy tốt cần phải thực hiện các

kỹ năng [48] cụ thể :

Thứ nhất là: Sự tham gia giao tiếp

Tổ chức giao tiếp tốt là tạo tính kích thích người học tự nhận biết kiến thức qua trao đổi, tranh luận và các hoạt động học tập giữa người học với giáo viên, giữa người học với nhau Điều đó sẽ giúp người học hiểu kiến thức không chỉ ở những câu kết luận, những con số hay những sự kiện mà còn ở trong bản thân quá trình giao tiếp, trong các hoạt động học tập, có nghĩa là nếu bạn muốn củng cố, vận dụng kiến thức đã biết và phát hiện kiến thức mới trên lớp bạn phải tham gia giao tiếp và hoạt động học tập trên lớp

Thứ hai là: Sự kết nối thực tiễn

Đưa học sinh vào trong chủ đề là rất quan trọng, đưa chủ đề vào trong học sinh cũng quan trọng như thế Bằng cách phân cắt kiến thức kết nối với thực tiễn, chúng ta không chỉ làm cho học sinh tự hiểu được mà còn làm cho chủ đề được học có vẻ thích hợp hơn Khi học sinh không thấy được sự liên quan giữa chủ đề

và bản thân họ, hiệu quả khuyến khích học là rất thấp

Thứ ba là: Nghe người học nói

Nếu việc dạy tốt phụ thuộc vào việc lôi kéo người học vào cuộc hội thoại, thì người thầy dạy tốt phải đối mặt với một sự thật là có rất nhiều người học thích ngồi yên lặng Chính vì thế việc khơi dậy tinh thần phát biểu của người học là điều cần thiết nhất của người thầy

Có rất nhiều cách để thực hành việc “nghe người học nói” Người thầy thay

vì phải giảng hầu hết thời gian thì có thể nêu ra một số điểm nhỏ của chủ đề để tạo cho người học có cảm giác có thể được nói và được nghe

Thứ tư là: Mâu thuẫn, cạnh tranh và đồng thuận (nhất trí)

Nhiều người cho rằng, mâu thuẫn tạo ra sự cạnh tranh hơn là sự đồng thuận Tuy nhiên, mục đích của kỹ năng này là tạo ra mâu thuẫn dẫn đến cạnh tranh và tranh luận để đồng thuận hoặc quyết định ý kiến nào sẽ thắng những ý kiến khác

Trang 29

Mục đích cuối cùng là tạo sự va chạm của hai bên đối lập để học sinh tự hiểu và làm mới kiến thức

Thứ năm là: Kết quả của sự đánh giá

Bất kỳ việc học hay dạy nào cũng nhanh chóng đưa đến những sự phân bậc cao thấp Chính vì vậy, thầy giáo có thể thu hút học sinh vào những yêu cầu không

có tính chất đua tranh trong khi hệ thống đánh giá giáo dục yêu cầu phải có sự cạnh tranh

Giáo viên có thể cho học sinh cơ hội để đánh giá bài tập của họ một vài lần trước khi hoàn tất Cho điểm quá trình là một công cụ để giúp học tốt hơn là sự đánh giá cuối cùng

Thứ sáu là: Học sinh có cơ hội đánh giá giáo viên

Nếu việc dạy và học hợp tác với nhau, học sinh cũng cần có cơ hội để đánh giá giáo viên Ở đây không phải là đánh giá thông qua việc thu thập các câu hỏi

và công bố chúng, mà việc đánh giá thể hiện công khai ở cuối mỗi kỳ, thời gian

đủ để phản ánh những gì đang diễn để giữa khoá học có thể có những sửa đổi Khi

cả lớp biết rằng, tất cả sẽ tiến bộ, cả thầy giáo và học sinh sẽ đến lớp với nhiều ý định, nhiều tình cảm chung

Thứ bảy là: Có dũng khí để dạy

Dạy tốt đòi hỏi phải có dũng khí – dũng khí để bộc lộ sự thiếu hiểu biết lẫn

sự sáng suốt, nhận thua để trao quyền cho nhóm, để khơi gợi người học và để họ tiết lộ về bản thân

Theo quan điểm của Burrows và A & Harvey người giáo viên cần có kỹ năng:

Thứ nhất là: Dạy tốt phản ánh sự học rộng và khả năng giao tiếp với người

trẻ Điều này bao gồm việc nắm được kiến thức trong lĩnh vực và tính khí cởi mở, thân thiện Một giáo viên dạy có hiệu quả phải thúc đẩy cả hai điều này từ học sinh

Thứ hai là: Dạy tốt yêu cầu phải có tính chính trực, tính liêm khiết, thật thà,

nguyên tắc, nhẹ nhàng, không thiên vị Những đặc điểm này là nền tảng cho cuộc

Trang 30

sống tốt của mỗi người, nhưng chúng đóng một vai trò đặc biệt trong cách cư xử của chúng ta bởi vì chúng ta sống cùng với chúng, làm gương cho chúng [51]

Như vậy: Từ các quan niệm của các nhà khoa học trên ta có thể thấy một số

điểm chung về các yêu cầu đối với giáo viên để giảng dạy tốt như sau:

Kiến thức

Nắm vững mục tiêu môn học, mục tiêu ngành học, sứ mạng của nhà trường;

Có kiến thức sâu, rộng về môn học được phân công giảng dạy, xác định kiến thức cốt lõi, kiến thức trọng tâm của bài học;

Có kiến thức về chương trình, lập kế hoạch giảng dạy;

Có kiến thức cơ bản cần thiết về phương pháp dạy học tích cực;

Có kiến thức cần thiết về tâm lí học sư phạm lứa tuổi, biết sử dụng các công

cụ hỗ trợ để phục vụ cho giảng dạy;

Có kiến thức về kiểm tra đánh giá

Biết sử dụng các thiết bị đồ dùng dạy học;

Xác định hình thức và phương tiện kiểm tra, đánh giá phù hợp với mục đích, nội dung đánh giá;

Sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh việc dạy và học

Thái độ trong giảng dạy

Tạo môi trường học tập trong các giờ lên lớp, có trách nhiệm trong giờ giảng, nắm bắt được tâm lý của người học, quan tâm và giúp đỡ học sinh trong các giờ giảng;

Đánh giá người học khách quan, công bằng và phát triển khả năng tự đánh giá của người học

Trang 31

1.2.3 Quan niệm chất lượng giáo dục của Việt Nam

Có thể nói, thành tố quan trọng nhất trong quá trình dạy học là giáo viên Không có kỹ thuật, phương pháp, thiết bị và đồ dùng dạy học nào có thể đảm bảo

sự thành công cho việc dạy học, nhưng người giáo viên có thể làm điều ấy Người giáo viên bao giờ cũng là động lực quan trọng nhất của quá trình dạy học Có hai yếu tố quyết định sự thành công của người giáo viên, đó là: con người và tính nghề nghiệp

Nhân cách người thầy:

Các nhà nghiên cứu đều có chung một nhận xét rằng, sinh viên và học sinh

là những người giám khảo tốt nhất về nhân cách của giáo viên, các nghiên cứu chỉ

ra rằng những biểu hiện nhân cách của giáo viên mà học sinh thường quan tâm tới, đó là: sự đồng cảm và tấm lòng nhân hậu, giúp đỡ mọi người, tính nhẫn nại, phong cách bình tĩnh, tính điềm đạm và khả năng tự kiềm chế Ngoài những biểu hiện đó, học sinh còn quan tâm ở người thầy tính công bằng, không thiên vị, tính tôn trọng, khích lệ, động viên, tạo cho người học niềm hứng thú vươn lên, lòng nhiệt tình, say mê với nghề

Học sinh sẽ không bao giờ quên những người thầy của mình, người đã từng giúp đỡ họ trong những năm ngồi ở ghế nhà trường Họ sẽ còn nhắc mãi đến tên các giáo viên với lòng tôn trọng và biết ơn, thậm chí còn muốn bắt chước các cử chỉ và việc làm của người dạy mình

Năng lực nghề nghiệp người thầy:

Mặc dù người giáo viên có thể rất nhân hậu, gần gũi và chăm lo cho học sinh của mình, nhưng đó không thể là những yếu tố duy nhất đảm bảo cho sự thành công nếu họ không có kiến thức sâu về môn mình dạy cũng như các kiến thức chung Ngược lại, một giáo viên có thể là một con người uyên bác, có kiến thức khoa học sâu rộng, nhưng lại thiếu các tố chất cần thiết của một con người thì cũng rất khó có thể thành công trong sự nghiệp của mình) [40]

Người giáo viên cần phải có các tố chất sau đây:

Nắm được kiến thức thuộc bộ môn mình dạy;

Trang 32

Hiểu được những nguyên tắc cơ bản về sự trưởng thành và phát triển của trẻ em;

Có kiến thức chung tốt;

Có phương pháp và kỹ thuật dạy học hiệu quả;

Có thái độ tích cực đối với nghề nghiệp;

Sẵn sàng chấp nhận sự điều chỉnh để bài giảng của mình phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tế;

Dũng cảm đấu tranh để đạt đến chuẩn mực

Như thế, có thể xác định mô hình mẫu của người thầy cần xây dựng trong giai đoạn hiện nay để đảm bảo chất lượng dạy học yêu cầu là:

Nhân cách thể hiện ở phẩm chất đạo đức, lối sống, v.v

Năng lực nghề nghiệp thể hiện ở việc có kiến thức kỹ năng chuyên môn (về chương trình, nội dung, phương pháp, về kiến thức, kỹ năng đặc thù của môn học, v.v) và các kiến thức, kỹ năng sư phạm (về tâm sinh lý lứa tuổi, về giao tiếp sư phạm, về mục tiêu và chiến lược đào tạo,…) [39]

Kỹ năng nghề nghiệp người thầy:

GV muốn giảng dạy tốt cần phải thực hiện các yêu cầu sau: [39]

Một là, GV cần hiểu rõ môi trường xã hội, trong đó diễn ra việc giảng dạy

Ở đây, GV cần hiểu những đặc điểm, điều kiện cơ bản của thời đại, những yêu cầu của môi trường kinh tế xã hội, cách mạng xã hội, cách mạng khoa học kĩ thuật nói chung đối với việc đào tạo con người mới

Hai là, GV cần hiểu tính chất và đặc điểm điều kiện của nhà trường trong đó

diễn ra việc dạy học

Ba là, GV cần nắm vững mục đích, mục tiêu và nhiệm vụ dạy học; mục đích

này được quyết định trực tiếp bởi môi trường kinh tế - xã hội và môi trường đào tạo, nhiệm vụ dạy học phải là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của nhà trường, của

GV và người học

Trang 33

Bốn là, GV cần hiểu rõ SV, trình độ ban đầu của họ so với nhiệm vụ dạy

học, nói cách khác là hiểu rõ đầu vào GV cũng cần trực tiếp tác động đến SV bằng nhân cách của mình (cách cư xử với SV)

Năm là, GV cần nắm vững và lựa chọn nội dung dạy học một cách phù hợp,

ở đây GV cần dựa vào yêu cầu của môn học, số giờ học và trình độ ban đầu của

SV để lựa chọn nội dung dạy học cho phù hợp

Sáu là, GV cần phải lựa chọn một cách đúng đắn và thích hợp các phương

pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học, ở đây GV căn cứ vào đầu ra, đầu vào và nội dung dạy học

Bảy là, GV cần biết khai thác các động lực bên ngoài và bên trong của quá

trình dạy học nhằm khuyến khích SV tự học

Tám là, GV cần biết hạn chế các yếu tố nhiễu tác động đến SV, các yếu tố

tiêu cực, các phản động lực làm hại đến việc học tập của họ Ví dụ: tiếng ồn, dư luận không đúng về môn học, về nghề nghiệp các nhiễu của đời sống xã hội khó khăn

Chín là, trong quá trình lựa chọn nội dung và vận dụng các phương pháp,

phương tiện và hình thức tổ chức dạy học, GV cần tuân theo các qui luật và nguyên tắc dạy học

Cuối cùng, GV cần hướng dẫn SV học tập một cách logic, muốn thế GV cần

nắm vững bản chất của quá trình dạy học và logic vận động của nó Một số yếu

tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động giảng dạy

Qua những nội dung được phân tích ở trên, luận án có thể tổng hợp và xác định khái niệm chất lượng giảng dạy môn Võ thuật CAND như sau:

Chất lượng giảng dạy môn võ thuật CAND là sự phù hợp với mục tiêu, yêu cầu của chương trình môn học võ thuật CAND, nó thể hiện ở sự lĩnh hội về kiến thức, kỹ năng và thái độ của sinh viên

1.3 Cơ sở lý luận về đánh giá chất lượng giảng dạy

Đánh giá chất lượng giáo dục:

Trang 34

Chất lượng giáo dục đại học như đã trình bày ở phần trên, là một khái niệm động, đa chiều, và gắn với các yếu tố chủ quan thông qua quan hệ giữa người và người Do vậy không thể dùng một phép đo đơn giản để đánh giá và đo lường chất lượng trong giáo dục đại học

Trong giáo dục đại học người ta thường dùng một bộ thước đo bao gồm các tiêu chí và các chỉ số ứng với các lĩnh vực trong quá trình đào tạo, nghiên cứu khoa học và dịch vụ cộng đồng của các trường đại học Bộ thước đo này có thể dùng để đánh giá đo lường các điều kiện đảm bảo chất lượng, có thể đánh giá đo lường bản thân chất lượng đào tạo của một trường đại học Các chỉ số đó có thể

là chỉ số định lượng, tức là đánh giá và đo được bằng điểm số Cũng có thể có các chỉ số định tính, tức là đánh giá bằng yếu tố chủ quan của người được đánh giá

Việc đánh giá, đo lường chất lượng có thể được tiến hành bởi chính giáo viên giảng dạy, sinh viên của trường nhằm mục đích tự đánh giá các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo cũng như đánh giá bản thân chất lượng đào tạo của trường mình Việc đánh giá, đo lường chất lượng cũng có thể được tiến hành từ bên ngoài do các cơ quan hữu quan thực hiện với các mục đích khác nhau như khen, chê, xếp hạng, khuyến khích tài chính, kiểm định công nhận Dù đối tượng của việc đo lường, đánh giá chất lượng là gì và chủ thể của việc đo lường, đánh giá là ai thì việc đầu tiên, quan trọng nhất vẫn là xác định mục đích của việc đo lường, đánh giá Từ đó mới xác định được việc sử dụng phương pháp cũng như các công cụ

đo lường tương ứng

Ngày 04 tháng 3 năm 2014, Bộ GD&ĐT ra quyết định số: 06/VBHN- BGDĐT Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học đã nêu rõ: Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học là mức độ yêu cầu và điều kiện mà trường đại học phải đáp ứng để được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục [5]

Đánh giá chất lượng GDTC:

Trang 35

Đánh giá chất lượng GDTC cho sinh viên về cơ bản là quá trình xác định thực hiện các mục tiêu trên thực tế của việc dạy học môn GDTC trong nhà trường;

là quá trình dựa vào mục tiêu để đánh giá sự phát triển, sự tiến bộ của SV, thành quả và giá trị của việc thực hiện kế hoạch giáo dục

Theo tác giả Vũ Đức Văn: Mục tiêu cuối cùng đánh giá chất lượng GDTC phải trả lời các câu hỏi chất lượng dạy học "tăng lên", "đứng yên" hay "tụt xuống, "phù hợp" hay "chưa phù hợp", nguyên nhân và mức độ của chúng

Trong thực tiễn, người ta có thể đánh giá chất lượng GDTC một cách trực tiếp chất lượng sản phẩm giáo dục (người học) hoặc đánh giá gián tiếp, thông qua việc đánh giá chất lượng các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục và có thể kết hợp cả hai cách đánh giá nêu trên

Đánh giá trực tiếp chất lượng sản phẩm GDTC ở trường đại học: là đánh giá

sự đáp ứng các yêu cầu (mục tiêu) của sản phẩm giáo dục về các mặt kiến thức,

kĩ năng (đặc biệt là các kỹ năng vận động và các năng lực thể chất) và thái độ của sinh viên với các hoạt động GDTC, trước hết là trong giờ học GDTC chính khoá Đánh giá gián tiếp chất lượng GDTC ở trường đại học: Do đánh giá trực tiếp sản phẩm giáo dục nói chung và chất lượng GDTC là việc khó, nên trong thực tế, người ta thường đánh giá chúng một cách gián tiếp thông qua đánh giá các yếu tố đảm bảo chất lượng giáo dục, đánh giá quá trình dạy học hoặc kết hợp đánh giá một số mặt trong chất lượng sản phẩm giáo dục

Tựu chung lại, từ những cách tiếp cận trên, luận án xác định khái niệm: Đánh

giá chất lượng giảng dạy môn võ thuật CAND là quá trình xác định thực hiện các mục tiêu trên thực tế của việc dạy học môn võ thuật CAND trong trường ANND Tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động giảng dạy của giảng viên

Trên cơ sở tìm hiểu các nghiên cứu, tham khảo các tiêu chí đánh giá giảng viên của một số trường đại học ở Mỹ, Úc, Canada tác giả Nguyễn Thị Tuyết (2007) cũng đã đã mô tả chi tiết các tiêu chí dùng để đánh giá giảng viên trong lĩnh vực giảng dạy gồm 4 năng lực và 13 tiêu chí như sau [39]:

Năng lực 1: Thành tích trong giảng dạy (3 tiêu chí);

Trang 36

Năng lực 2: Số lượng và chất lượng giảng dạy (3 tiêu chí);

Năng lực 3: Hiệu quả trong giảng dạy (4 tiêu chí);

Năng lực 4: Tham gia vào đánh giá và phát triển chương trình đào tạo, tài liệu học tập (3 tiêu chí)

Khi đánh giá môn học, người ta thường lấy ý kiến sinh viên, nói cách khác

là lấy ý kiến phản hồi của sinh viên về việc giảng dạy của giáo viên Đây là một trong những biện pháp hữu hiệu để giám sát và điều chỉnh hoạt động giáo dục của giảng viên nhằm cải tiến nâng cao chất lượng giảng dạy Theo tác giả Phạm Xuân Thanh (2004) [32] một số tiêu chí đánh giá môn học/học phần có thể được sử dụng như sau:

Mục đích, yêu cầu môn học/học phần rõ ràng đối với sinh viên;

Môn học/học phần được giảng dạy tốt;

Nội dung môn học/học phần bổ ích đối với sinh viên;

Tài liệu học tập cho môn học/học phần được cung cấp đầy đủ;

Khối lượng chương trình học tập phù hợp với sinh viên;

Sinh viên được động viên, khuyến khích học tốt;

Sinh viên nhận được những thông tin bổ ích về sự tiến bộ của mình trong suốt quá trình học tập;

Giảng viên quan tâm đến nhu cầu nâng cao kiến thức và kỹ năng của sinh viên; Quá trình kiểm tra đánh giá được thực hiện công bằng và khách quan [32] Các trường đại học và cao đẳng ở châu Âu và Hoa Kỳ thường đánh giá hoạt động của giảng viên theo 3 lĩnh vực chính là: Giảng dạy, Nghiên cứu khoa học và Dịch vụ [27] Khi đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên người ta đã đưa

ra 02 tiêu chí và các chỉ báo như sau:

Giảng dạy: giảng dạy trên lớp, biên soạn bài giảng, biên soạn giáo trình,… Hướng dẫn sinh viên: tư vấn cho sinh viên về chương trình học, giúp đỡ ngoài giờ lên lớp, hướng dẫn luận văn, luận án thạc sĩ và tiến sĩ,

Theo Braskamp và Ory (2000), khi đánh giá giảng viên cần phải đánh giá họ trên 04 lĩnh vực là: Giảng dạy; Nghiên cứu khoa học và hoạt động sáng tạo; Công

Trang 37

việc dịch vụ và chuyên môn; Trách nhiệm công dân Đối với lĩnh vực giảng dạy, hai tác giả này đã đưa ra 4 tiêu chí và các chỉ số để đánh giá như sau:

Tiêu chí: Truyền đạt kiến thức

Trong các khoá học, các buổi học trên truyền hình, các hội thảo/hội nghị;

Tổ chức một khoá học (lưu giữ những thông tin về sinh viên, kinh nghiệm học tập và lập kế hoạch);

Tiêu chí: Tư vấn và hướng dẫn cho sinh viên, học viên;

Giám sát sinh viên trong các phòng thí nghiệm, các buổi học ngoài trời;

Tư vấn cho sinh viên (về nghề nghiệp, học thuật, tư vấn riêng);

Giám sát sự hỗ trợ giảng dạy;

Giám sát sinh viên trong các trải nghiệm thực hành (ngành y);

Tư vấn giám sát sinh viên trong đề tài nghiên cứu/luận văn/luận án

Tiêu chí: Tiến hành các hoạt động học tập

Xem xét và thiết kế lại các khoá học;

Xét duyệt các chương trình học;

Thực hiện theo các tài liệu/sách giáo khoa, phầm mềm vi tính;

Hướng dẫn các chương trình học từ xa;

Tiêu chí: Giảng viên cần

Đánh giá giảng dạy của đồng nghiệp;

Hướng dẫn các nghiên cứu về giảng dạy;

Các hoạt động phát triển chuyên môn

Một số nhà khoa học cho rằng các tiêu chí cần thiết để đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên bao gồm:

Sự truyền đạt kiến thức;

Kỹ năng giảng dạy và quản lý lớp;

Sự tư vấn, hướng dẫn cho sinh viên/học viên/nghiên cứu sinh;

Biên soạn bài giảng, tài liệu giảng dạy;

Hoạt động phát triển trình độ chuyên môn, học thuật [32]

Trang 38

Để đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên thì không những cần quan tâm đến lĩnh vực, tiêu chí đánh giá mà còn cần quan tâm đến việc làm sao thu thập được thông tin để đánh giá Trên cơ sở tổng hợp nhiều nghiên cứu trước đây, Goe, Bell và Little (2008) đã tóm tắt lại các nguồn sử dụng đánh giá giảng viên và đưa

ra bảng 1.1 [48]

Hiện nay, cũng giống như nhiều nước trên thế giới, các trường đại học và cao đẳng ở Việt Nam đã và đang áp dụng một số phương thức sau để đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên như:

Giảng viên tự đánh giá;

Đánh giá của đồng nghiệp;

Đánh giá của sinh viên;

Đánh giá của các nhà quản lý giáo dục;

Đánh giá qua hồ sơ giảng dạy;

Quan sát của tổ trưởng chuyên môn;

Đánh giá của các chuyên gia đánh giá ngoài

Tuy vậy, ở mỗi trường đại học hay trường cao đẳng cụ thể không nhất thiết phải áp dụng đồng bộ 07 phương thức trên để đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên Để đạt hiệu quả đánh giá và kết quả đánh giá có tính khách quan cao, người đánh giá hoặc đơn vị tổ chức đánh giá cần có sự cân nhắc kỹ lưỡng trong việc sử dụng một hoặc phối hợp nhiều phương thức đánh giá cụ thể

Trang 39

Bảng 1.1 Mô tả các tiếp cận sử dụng để đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên Nguồn

- Thường được sử dụng cho mục đích tổng kết, phổ biến nhất sử dụng cho các quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm đối với các giảng viên mới

- Kết quả đưa ra dựa trên hiểu biết của nhà quản lý về nhà trường và bối cảnh của trường

- Hình thức đánh giá này khả thi và có thể hữu ích khi được sử dụng để đưa

ra những quyết định tổng kết hay cung cấp thông tin phản hồi

- Công cụ đánh giá sử dụng không phù hợp có thể ảnh hưởng đến độ giá trị

- Nhà quản lý có thể chưa đủ khả năng để đánh giá giảng viên về mặt chuyên môn ở một số môn học hoặc trong ngữ cảnh nhất định

- Có thể đo các yếu tố không quan sát được nhưng có thể ảnh hưởng đến giảng dạy, chẳng hạn như kiến thức, ý định, kỳ vọng, và niềm tin

- Thể hiện quan điểm của giảng viên

- Khả thi và chi phí hiệu quả, có thể thu thập một lượng lớn thông tin cùng một lúc

- Phương pháp này không nên được sử dụng như một biện pháp duy nhất hoặc chủ yếu khi đánh giá giáo viên

- Nếu đánh giá không trung thực thì kết quả chỉ là sự tự nhận không phản ánh đúng thực chất

Trang 40

Khảo sát

sinh viên

- Sử dụng ý kiến đánh giá của sinh viên như một phần của hoạt động đánh giá giảng viên

- Cung cấp các quan điểm của sinh viên

vì họ là đối tượng thụ hưởng của hoạt động giảng dạy

- Có thể cung cấp thông tin hình thành

để giúp giáo viên nâng chất lượng

- Thường được sử dụng tại các trường đại học và là một trong những nguồn thông tin khá quan trọng để đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên

- Đánh giá của sinh viên không nên sử dụng như một biện pháp duy nhất trong đánh giá giảng viên

- Sinh viên không thể cung cấp thông tin về một số khía cạnh của giảng dạy như nội dung kiến thức của giáo viên, hoàn thành chương trình giảng dạy và các hoạt động chuyên môn

Quan sát

lớp học

- Sử dụng để đo lường toàn bộ quá trình quan sát lớp học, bao gồm toàn bộ các khía cạnh của hoạt động giảng dạy và tương tác giữa giảng viên và sinh viên

- Cung cấp thông tin phong phú về hành

Ngày đăng: 31/12/2022, 07:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w