BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA,THỂ THAO VÀ DU LỊCH VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO NGÔ HẢI HÀ NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN VÕ THUẬT CÔNG AN NHÂN DÂN CHO S
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về giáo dục, đào tạo và võ thuật CAND trong thời kỳ đổi mới
Trước thời kỳ đổi mới, Đảng chưa ban hành nghị quyết Trung ương chuyên đề về giáo dục và đào tạo, mà thay vào đó các đường lối và chính sách của Đảng trong lĩnh vực giáo dục được thể hiện qua các văn kiện của các đại hội Đảng và các nghị quyết về các lĩnh vực kinh tế - xã hội.
Nghị quyết Đại hội IV nhấn mạnh việc tiến hành cải cách giáo dục toàn diện, phát triển giáo dục phổ thông và mở rộng, hoàn thiện mạng lưới các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, cùng với việc phát triển rộng rãi các trường dạy nghề Để thực hiện Nghị quyết này, ngày 11-1-1979, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TW về cải cách giáo dục, là nghị quyết đầu tiên sau khi đất nước thống nhất, đặt nền tảng cho các chính sách và đề án nhằm xác định mục tiêu cụ thể, sắp xếp lại hệ thống giáo dục, và thống nhất chương trình sách giáo khoa cho các bậc học.
Nghị quyết Đại hội VI nhấn mạnh rằng mục tiêu của giáo dục là hình thành và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ, đồng thời đào tạo đội ngũ lao động có kỹ thuật phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế Sự nghiệp giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học và chuyên nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong đổi mới quản lý kinh tế và xã hội, đồng thời mở rộng các trường đào tạo nghề để phát triển nguồn nhân lực lành nghề cho đất nước Ngoài ra, cần nâng cao chất lượng đào tạo chuyên môn và năng lực thực hành, kết hợp giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, pháp luật, thể chất, quốc phòng để đảm bảo sự phát triển toàn diện của học sinh, sinh viên Đến Nghị quyết Đại hội VII, mục tiêu giáo dục tập trung nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức, tay nghề, năng lực thực hành, tự chủ, sáng tạo, có đạo đức cách mạng và tinh thần yêu nước, góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần Nhà trường hướng tới đào tạo thế hệ trẻ toàn diện, có năng lực chuyên môn sâu và khả năng tự tạo việc làm trong nền kinh tế thị trường.
Năm 1993, Đảng ta ban hành Nghị quyết số 04-NQ/HNTW về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, là lần đầu tiên trong lịch sử Đảng có kỳ họp riêng bàn về vấn đề xã hội, đặc biệt là giáo dục Nghị quyết này đã đáp ứng mong đợi lâu dài của toàn Đảng, toàn dân, đặc biệt là đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, học sinh, sinh viên, nhằm xác định rõ quan điểm, chủ trương, chính sách và biện pháp thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của ngành giáo dục.
Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, các quan điểm về đầu tư cho giáo dục đã trở thành tư tưởng chỉ đạo quan trọng cho sự phát triển của ngành Nghị quyết đã nhấn mạnh rằng đầu tư vào giáo dục là đầu tư phát triển con người, phát triển sản xuất và xã hội, chuyển từ quan niệm cũ xem giáo dục như phúc lợi xã hội sang một yếu tố then chốt cho sự phát triển bền vững Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định tăng tỷ trọng chi ngân sách cho giáo dục, huy động nguồn lực từ nhân dân, tổ chức quốc tế và vay vốn nước ngoài để thúc đẩy sự nghiệp giáo dục Đến Đại hội VIII, giáo dục và đào tạo được xác định là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, chú trọng mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và khai thác hiệu quả Phương hướng chung trong 5 năm tới tập trung phát triển nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo việc làm cho thanh niên, đồng thời khắc phục các tiêu cực trong ngành Đến Đại hội IX, Nghị quyết chỉ rõ vai trò của giáo dục và đào tạo là động lực quan trọng thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao nguồn nhân lực nhằm phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Đẩy mạnh công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học nhằm chuẩn bị tốt cho thanh thiếu niên bước vào thị trường lao động phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước và từng địa phương Xây dựng các quy hoạch đào tạo nhân lực linh hoạt theo phương thức kết hợp học trung tâm, học từ xa và học qua máy tính để nâng cao chất lượng và tính phù hợp của nguồn nhân lực.
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cần tổng kết các cải cách giáo dục để xây dựng chiến lược phát triển phù hợp Hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách của Nhà nước về giáo dục, đào tạo nhằm tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững Tăng cường quản lý nhà nước đối với các loại hình trường lớp giáo dục và đào tạo để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục Nâng dần tỷ trọng ngân sách dành cho giáo dục và đào tạo, đồng thời khuyến khích sự đóng góp của các cá nhân, cộng đồng và thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào lĩnh vực này Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao trình độ và mở rộng cơ hội học tập cho người dân.
Các văn kiện quan trọng của Đảng qua các giai đoạn trước đây, đặc biệt Cương lĩnh năm 2011, nhấn mạnh vai trò của phát triển giáo dục và đào tạo như là quốc sách hàng đầu, đồng thời khẳng định rằng đầu tư vào giáo dục là đầu tư cho sự phát triển bền vững của đất nước Theo Hội đồng Lý luận Trung ương, các quan điểm này không chỉ phản ánh sự tiến bộ về tư duy và kế thừa các chủ trương của Đảng qua các thời kỳ mà còn mang tính chiến lược xuyên suốt, phù hợp với xu thế phát triển của nhân loại và thực tiễn Việt Nam, đặt ra yêu cầu phải đẩy mạnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 nhấn mạnh rằng phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, với mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là các khâu then chốt để đạt được mục tiêu này Các văn kiện quan trọng của Đảng, Nhà nước trong nhiệm kỳ Đại hội XI, XII tiếp tục cụ thể hóa chủ trương đổi mới giáo dục và đào tạo, trong đó Hội nghị Trung ương 6 khóa XI khẳng định rằng đổi mới toàn diện hệ thống giáo dục là yêu cầu khách quan và cấp bách, đòi hỏi phải đổi mới tư duy, mục tiêu đào tạo, hệ thống tổ chức, nội dung, phương pháp giảng dạy, và cơ chế quản lý, cùng với xây dựng đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất và nguồn lực phù hợp, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong hệ thống giáo dục quốc dân qua từng giai đoạn.
Sau 35 năm đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, đặc biệt là 10 năm thực hiện Cương lĩnh năm 2011, 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, giáo dục và đào tạo nước ta đã có những chuyển biến tích cực Chất lượng từng bước được nâng lên, hệ thống giáo dục quốc dân tiếp tục được hoàn thiện, mạng lưới cơ sở giáo dục, đào tạo tiếp tục được mở rộng ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học Vai trò, vị trí các cơ sở giáo dục, nhất là giáo dục đại học trong hệ thống dần được khẳng định, tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm được đề cao; chất lượng đào tạo từng bước được cải thiện, hệ thống chương trình đã được đổi mới, chú trọng phát triển các phẩm chất, năng lực cho học sinh; phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực cũng được chú trọng Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên được đẩy mạnh Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế các khuyết tật của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong giáo dục và đào tạo Hợp tác quốc tế được tăng cường theo hướng chủ động, tích cực đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành giáo dục, cũng như yêu cầu phát triển bền vững, hội nhập quốc tế của đất nước Đồng thời với những thành tựu, giáo dục và đào tạo vẫn còn không ít những hạn chế về nhận thức và tổ chức thực hiện cần sớm được khắc phục Nhận thức về triết lý giáo dục Việt Nam trong thời kỳ mới, vai trò và sứ mệnh của giáo dục chưa đủ sâu sắc, chưa làm rõ được tính ưu việt của nền giáo dục cách mạng, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Việc đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng các phương tiện, công cụ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin chưa thực sự hiệu quả; vấn đề rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng học tập, kỹ năng giải quyết vấn đề ở một số nhà trường vẫn chưa thật sự được chú trọng Nội dung chương trình, giáo trình, phương pháp giảng dạy ở nhiều cơ sở giáo dục đại học chưa được hiện đại hóa tương xứng, còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, chưa thực sự chú ý kỹ năng mềm cho người học Đầu tư cho giáo dục chưa theo kịp yêu cầu phát triển Công tác quản lý cơ sở giáo dục nước ngoài, cơ sở liên kết giáo dục còn gặp nhiều khó khăn Chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao tuy đã được cải thiện, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước
Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, đã đạt được một số kết quả đáng kể trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, tuy nhiên vẫn còn tồn tại những hạn chế cần khắc phục Để thúc đẩy sự phát triển bền vững, cần tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, với nhiều điểm mới mang tính đột phá nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn coi giáo dục, đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân Phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Lực lượng Công an nhân dân (CAND) là quân chủ lực bảo vệ Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và nhân dân, luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân Dưới sự lãnh đạo của Đảng, CAND xác định giáo dục và đào tạo là yếu tố quyết định xây dựng lực lượng cách mạng chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại Lực lượng công an đóng vai trò như “thanh kiếm và lá chắn” giữ vững an ninh, trật tự, góp phần bảo vệ sự nghiệp cách mạng của đất nước.
Dưới góc nhìn đó, việc kế thừa thành tựu của giáo dục, đào tạo CAND qua các thời kỳ và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 29 của Ban Chấp hành Trung ương đã góp phần nâng cao chất lượng đào tạo Trong những năm gần đây, Đảng ủy Công an Trung ương và lãnh đạo Bộ Công an đã tăng cường chỉ đạo với các Nghị quyết như số 17-NQ/ĐUCA và Chỉ thị số 13/CT-BCA ngày 28-10-2014 về đổi mới toàn diện giáo dục trong CAND Công tác giáo dục, đào tạo đã có những thành tựu tích cực nhờ nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy được đổi mới phù hợp với xu hướng khoa học và hiện đại, từ đó nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu của học viên và chất lượng đào tạo ngày càng được cải thiện rõ rệt.
Hệ thống ngành, nghề đào tạo tiếp tục được hoàn thiện và mở rộng theo hướng đa dạng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường lao động Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục tăng về số lượng, từng bước nâng cao chất lượng giảng dạy và quản lý Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học được cải thiện theo hướng hiện đại, đồng bộ, góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo Quan hệ hợp tác trong nước và quốc tế về giáo dục, đào tạo ngày càng mở rộng, đem lại những lợi ích thiết thực cho hệ thống giáo dục quốc gia.
Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Các quan điểm tiếp cận về giải pháp
Trong các văn bản của Đảng, Nhà nước về thể dục thể thao, khái niệm giải pháp thường được đề cập nhưng chưa được hệ thống hóa một cách đầy đủ, mà chủ yếu tập trung vào những giải pháp cấp bách và quan trọng để thúc đẩy phát triển ngành.
Trong các tài liệu chính thống về quản lý TDTT ở nước ta vẫn chưa đề cập đầy đủ và rõ ràng về khái niệm giải pháp, khiến cho việc áp dụng các phương pháp quản lý trở nên thiếu cụ thể Các tác giả thường tập trung vào ứng dụng các phương pháp quản lý mà chưa mô tả rõ cách thức thực hiện cụ thể, gây ra khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn quản lý Phương pháp quản lý giúp xác định các giải pháp đúng hướng, phù hợp với quy luật và nguyên tắc quản lý, từ đó mỗi phương pháp đều có nhóm giải pháp riêng Việc lựa chọn giải pháp phù hợp phụ thuộc vào các yếu tố quyết định như đặc điểm tình hình, mục tiêu cụ thể và điều kiện thực tế của từng trường hợp.
Yếu tố tình thế phản ánh hiện trạng của quá trình quản lý, bao gồm các yếu tố nội lực và ngoại lực, đồng thời phân biệt giữa các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến quá trình quản lý Hiểu rõ yếu tố tình thế giúp nâng cao hiệu quả quản lý bằng cách điều chỉnh các chiến lược phù hợp với trạng thái hiện tại Việc đánh giá chính xác các yếu tố này là chìa khóa để đưa ra quyết định quản lý đúng đắn và thích nghi với biến động của môi trường.
Yếu tố mục tiêu quản lý cần đạt ở mức độ, phạm vi nhất định
Sự thông minh và sáng tạo của người quản lý là yếu tố then chốt trong lĩnh vực quản lý Để tiếp cận các giải pháp quản lý hiệu quả, trước tiên cần xác định và hiểu rõ phạm trù của chúng Theo "Từ điển quản lý xã hội" của Nguyễn Tuấn Dũng và Đỗ Minh Hợp, giải pháp quản lý xã hội được hiểu là phương tiện và hành vi nhằm tác động qua quản lý, thể hiện qua các mối quan hệ quản lý Bản chất của giải pháp quản lý xã hội là các dự án được xây dựng, thực hiện và ghi nhận nhằm cải tạo xã hội, điều tiết chung trong điều kiện lịch sử cụ thể.
Các giải pháp quản lý được hiểu là những phương pháp, công cụ và hành vi được sử dụng qua các chương trình, dự án cụ thể nhằm đạt mục tiêu quản lý theo một lộ trình đã định Những phương tiện này thể hiện dưới dạng các chương trình và dự án thực hiện trong phạm vi lộ trình để đảm bảo hiệu quả trong quản lý Nói cách dễ hiểu, các giải pháp là các chương trình, dự án như một phương pháp quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đề ra trong quản lý hành chính và điều hành.
Giải pháp là những phương pháp cụ thể, nhằm thực hiện các phương pháp quản lý một cách hiệu quả Đây là cách thức cụ thể hóa các phương pháp hoặc ứng dụng chúng vào thực tiễn quản lý, giúp đạt được mục tiêu đề ra.
Trong quản lý, phương pháp và giải pháp có mối quan hệ chặt chẽ nhưng không hoàn toàn đồng nghĩa Một nhóm giải pháp cụ thể có thể đại diện cho nhiều phương pháp khác nhau, giúp xây dựng các chiến lược quản lý phù hợp Một phương pháp gồm nhiều giải pháp cụ thể, tạo thành một hệ thống quản lý hiệu quả Do đó, phương pháp là tập hợp các giải pháp được tổ chức để đạt mục tiêu quản lý, trong khi từng giải pháp phản ánh các phương án cụ thể để giải quyết vấn đề.
Trong quan điểm phân tích, các giải pháp quản lý được hợp thành từ hệ thống các giải pháp con hoặc giải pháp thành phần, tạo thành một hệ thống thống nhất Một giải pháp lớn bao gồm nhiều hệ thống giải pháp con, góp phần hình thành và phát triển thành giải pháp tổng thể Các hệ thống giải pháp con tác động lẫn nhau để đảm bảo sự liên kết chặt chẽ, thúc đẩy quá trình phát triển của giải pháp lớn Việc xây dựng và quản lý các hệ thống giải pháp con nhằm tối ưu hóa hiệu quả và đảm bảo sự thành công của hệ thống giải pháp toàn diện.
Theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm nâng cao được hiểu là làm tăng thêm
Trong đề tài luận án này, khái niệm “giải pháp” được hiểu là các phương pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn Giáo dục Thể chất (GDTC) cho sinh viên Các giải pháp này nhằm cải thiện các tiêu chí đánh giá chất lượng công tác giảng dạy, giúp tăng giá trị và hiệu quả của công tác đào tạo trong lĩnh vực giáo dục thể chất.
Trong thời đại hiện nay, thế giới đang trải qua các cuộc cách mạng về chất lượng, vì chất lượng chính là vũ khí cạnh tranh quan trọng nhất Khái niệm “chất lượng” là một khái niệm phức tạp, đa chiều, và mỗi người có thể có những quan niệm hoặc định nghĩa khác nhau về nó Mặc dù “chất lượng” có thể hiểu được, nhưng việc diễn đạt đầy đủ, rõ ràng và chính xác về khái niệm này vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
Dưới đây là một số cách hiểu về khái niệm “chất lượng”:
Chất lượng thể hiện sự xuất sắc và tuyệt hảo của sản phẩm hoặc dịch vụ, đồng thời phản ánh giá trị vật chất và khả năng biến đổi về chất để phù hợp với mục tiêu đề ra Ngoài ra, chất lượng còn đảm bảo sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng, góp phần nâng cao uy tín và sự hài lòng Việc duy trì và nâng cao chất lượng là yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp phát triển bền vững và đạt được thành công lâu dài.
Chất lượng là tổng thể các tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật, giúp phân biệt nó với các sự vật hoặc sự việc khác Đây là yếu tố then chốt để xác định giá trị và đặc điểm riêng biệt của mỗi đối tượng trong cuộc sống và các lĩnh vực khác nhau.
Chất lượng là yếu tố tạo nên phẩm chất và giá trị của sự vật, phản ánh bản chất thực sự của nó Chính nhờ vào chất lượng, một món hàng hoặc dịch vụ có thể khác biệt và nổi bật so với các đối thủ cạnh tranh Chất lượng quyết định sự uy tín và lòng tin của khách hàng, góp phần nâng cao giá trị thương hiệu trên thị trường Vì vậy, đảm bảo chất lượng tốt là yếu tố cốt lõi trong xây dựng và duy trì sự thành công của mọi sản phẩm hay dịch vụ.
Chất lượng là mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản [42]
Chất lượng được định nghĩa là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính, trong đó các yêu cầu này bao gồm các nhu cầu hoặc mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu hoặc bắt buộc (Theo định nghĩa của ISO 9000 – 2000), việc đảm bảo chất lượng giúp doanh nghiệp đáp ứng tốt các nhu cầu khách hàng và nâng cao uy tín của mình trên thị trường.
Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể hoặc đối tượng, tạo ra khả năng đáp ứng nhu cầu đã đề ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn của người tiêu dùng Theo tiêu chuẩn TCVN và ISO 8402, chất lượng giúp xác định mức độ phù hợp của sản phẩm hoặc dịch vụ nhằm thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng Do đó, việc đảm bảo chất lượng là yếu tố then chốt để nâng cao giá trị và uy tín của sản phẩm trên thị trường.
Cơ sở lý luận về đánh giá chất lượng giảng dạy
Đánh giá chất lượng giáo dục:
Chất lượng giáo dục đại học là một khái niệm động, đa chiều, phản ánh các yếu tố chủ quan thông qua mối quan hệ giữa người và người Do đó, không thể sử dụng các phương pháp đo lường đơn giản để đánh giá chính xác chất lượng giáo dục đại học Thay vào đó, cần áp dụng các phương pháp toàn diện và phù hợp để phản ánh đúng thực trạng và nâng cao chất lượng đào tạo.
Trong giáo dục đại học, người ta sử dụng một bộ thước đo gồm các tiêu chí và chỉ số phản ánh các lĩnh vực trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và dịch vụ cộng đồng của các trường Bộ thước đo này giúp đánh giá điều kiện đảm bảo chất lượng và tự đánh giá chất lượng đào tạo của trường đại học Các chỉ số trong thước đo có thể là chỉ số định lượng, đo lường bằng điểm số, hoặc chỉ số định tính dựa trên đánh giá chủ quan của người đánh giá.
Việc đánh giá, đo lường chất lượng đào tạo có thể do chính giáo viên và sinh viên thực hiện nhằm tự đánh giá điều kiện đảm bảo chất lượng cũng như chất lượng đào tạo của trường Ngoài ra, các cơ quan có thẩm quyền cũng tiến hành đánh giá bên ngoài với mục đích khác nhau như công nhận, xếp hạng, khuyến khích tài chính hoặc kiểm định chất lượng Điều quan trọng là phải xác định rõ mục đích của việc đánh giá để chọn phương pháp và công cụ đo lường phù hợp, qua đó đảm bảo độ chính xác và hiệu quả của quá trình đánh giá chất lượng giáo dục.
Ngày 04 tháng 3 năm 2014, Bộ GD&ĐT ra quyết định số: 06/VBHN- BGDĐT Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học đã nêu rõ: Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học là mức độ yêu cầu và điều kiện mà trường đại học phải đáp ứng để được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục [5] Đánh giá chất lượng GDTC: Đánh giá chất lượng GDTC cho sinh viên về cơ bản là quá trình xác định thực hiện các mục tiêu trên thực tế của việc dạy học môn GDTC trong nhà trường; là quá trình dựa vào mục tiêu để đánh giá sự phát triển, sự tiến bộ của SV, thành quả và giá trị của việc thực hiện kế hoạch giáo dục
Theo tác giả Vũ Đức Văn, để đánh giá chất lượng GDTC một cách hiệu quả, cần trả lời các câu hỏi về mức độ cải thiện chất lượng dạy học như "tăng lên", "đứng yên" hay "tụt xuống", cũng như xác định xem chương trình đã "phù hợp" hay còn "chưa phù hợp" Đồng thời, việc phân tích nguyên nhân và mức độ của các thay đổi này là yếu tố quan trọng giúp xác định chính xác tiến trình phát triển của hoạt động giáo dục thể chất trong nhà trường.
Trong thực tiễn, đánh giá chất lượng GDTC có thể được thực hiện trực tiếp qua việc đánh giá sản phẩm giáo dục của sinh viên về kiến thức, kỹ năng vận động, năng lực thể chất và thái độ trong các hoạt động GDTC, đặc biệt là trong giờ học chính khoá Đồng thời, còn có thể đánh giá gián tiếp thông qua việc xem xét các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục, quá trình dạy học, hoặc kết hợp cả hai phương pháp để có cái nhìn toàn diện về chất lượng GDTC trong trường đại học.
Luận án xác định khái niệm đánh giá chất lượng giảng dạy môn võ thuật CAND là quá trình thực hiện các mục tiêu giảng dạy trên thực tế trong trường ANND Tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động giảng dạy của giảng viên đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả của quá trình giảng dạy võ thuật tại các trường công an nhân dân.
Dựa trên các nghiên cứu và tiêu chí đánh giá giảng viên của nhiều trường đại học ở Mỹ, Úc và Canada, tác giả Nguyễn Thị Tuyết (2007) đã mô tả chi tiết các tiêu chí đánh giá giảng viên trong lĩnh vực giảng dạy, bao gồm 4 năng lực chính và 13 tiêu chí cụ thể.
Năng lực 1: Thành tích trong giảng dạy (3 tiêu chí);
Năng lực 2: Số lượng và chất lượng giảng dạy (3 tiêu chí);
Năng lực 3: Hiệu quả trong giảng dạy (4 tiêu chí);
Năng lực 4: Tham gia vào đánh giá và phát triển chương trình đào tạo, tài liệu học tập (3 tiêu chí)
Khi đánh giá môn học, ý kiến phản hồi của sinh viên là yếu tố quan trọng giúp giám sát và cải tiến chất lượng giảng dạy Đánh giá dựa trên ý kiến sinh viên là một trong những phương pháp hiệu quả để điều chỉnh hoạt động giảng dạy của giảng viên nhằm nâng cao chất lượng học tập Theo tác giả Phạm Xuân Thanh (2004), các tiêu chí đánh giá môn học phù hợp có thể được sử dụng để đảm bảo việc đánh giá chính xác và khách quan.
Mục đích, yêu cầu môn học/học phần rõ ràng đối với sinh viên;
Môn học/học phần được giảng dạy tốt;
Nội dung môn học/học phần bổ ích đối với sinh viên;
Tài liệu học tập cho môn học/học phần được cung cấp đầy đủ;
Khối lượng chương trình học tập phù hợp với sinh viên;
Sinh viên được động viên, khuyến khích học tốt;
Sinh viên nhận được những thông tin bổ ích về sự tiến bộ của mình trong suốt quá trình học tập;
Giảng viên luôn quan tâm đến nhu cầu nâng cao kiến thức và kỹ năng của sinh viên để đáp ứng yêu cầu phát triển cá nhân và nghề nghiệp Quá trình kiểm tra đánh giá hoạt động của giảng viên được thực hiện một cách công bằng, khách quan nhằm đảm bảo tính minh bạch và chính xác Các trường đại học và cao đẳng tại châu Âu và Hoa Kỳ thường đánh giá hoạt động của giảng viên dựa trên ba lĩnh vực chính: giảng dạy, nghiên cứu khoa học và dịch vụ cộng đồng Khi đánh giá hoạt động giảng dạy, người ta đã đề ra hai tiêu chí chính cùng các chỉ số liên quan để phản ánh chính xác chất lượng giảng dạy của giảng viên.
Giảng dạy gồm các hoạt động như giảng trên lớp, biên soạn bài giảng và giáo trình nhằm truyền đạt kiến thức hiệu quả cho sinh viên Bên cạnh đó, hướng dẫn sinh viên là phần quan trọng, bao gồm tư vấn về chương trình học, hỗ trợ ngoài giờ lên lớp và hướng dẫn luận văn, luận án thạc sĩ và tiến sĩ để giúp sinh viên hoàn thành tốt các nghiên cứu của mình.
Theo Braskamp và Ory (2000), việc đánh giá giảng viên cần dựa trên bốn lĩnh vực chính: giảng dạy, nghiên cứu khoa học và hoạt động sáng tạo, công việc dịch vụ và chuyên môn, cũng như trách nhiệm công dân Trong lĩnh vực giảng dạy, họ đề xuất bốn tiêu chuẩn cùng các chỉ số đánh giá phù hợp, nhằm đảm bảo việc đánh giá toàn diện và chính xác về năng lực và đóng góp của giảng viên.
Tiêu chí: Truyền đạt kiến thức
Trong các khoá học, các buổi học trên truyền hình, các hội thảo/hội nghị;
Tổ chức một khoá học (lưu giữ những thông tin về sinh viên, kinh nghiệm học tập và lập kế hoạch);
Tiêu chí: Tư vấn và hướng dẫn cho sinh viên, học viên;
Giám sát sinh viên trong các phòng thí nghiệm, các buổi học ngoài trời;
Tư vấn cho sinh viên (về nghề nghiệp, học thuật, tư vấn riêng);
Giám sát sự hỗ trợ giảng dạy;
Giám sát sinh viên trong các trải nghiệm thực hành (ngành y);
Tư vấn giám sát sinh viên trong đề tài nghiên cứu/luận văn/luận án
Tiêu chí: Tiến hành các hoạt động học tập
Xem xét và thiết kế lại các khoá học;
Xét duyệt các chương trình học;
Thực hiện theo các tài liệu/sách giáo khoa, phầm mềm vi tính;
Hướng dẫn các chương trình học từ xa;
Tiêu chí: Giảng viên cần Đánh giá giảng dạy của đồng nghiệp;
Hướng dẫn các nghiên cứu về giảng dạy;
Các hoạt động phát triển chuyên môn
Một số nhà khoa học cho rằng các tiêu chí cần thiết để đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên bao gồm:
Sự truyền đạt kiến thức;
Kỹ năng giảng dạy và quản lý lớp;
Sự tư vấn, hướng dẫn cho sinh viên/học viên/nghiên cứu sinh;
Biên soạn bài giảng, tài liệu giảng dạy;
Hoạt động phát triển trình độ chuyên môn và học thuật đóng vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng giảng dạy Để đánh giá hiệu quả hoạt động giảng viên, cần không chỉ xem xét các tiêu chí và lĩnh vực đánh giá mà còn tập trung vào phương pháp thu thập thông tin phản hồi đáng tin cậy Theo nghiên cứu của Goe, Bell và Little (2008), họ đã tổng hợp nhiều nguồn đánh giá giảng viên và trình bày trong bảng 1.1, giúp xác định các phương thức đánh giá phù hợp và hiệu quả để nâng cao chất lượng giảng dạy trong các cơ sở giáo dục.
Hiện nay, các trường đại học và cao đẳng tại Việt Nam đã và đang áp dụng nhiều phương thức đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên để nâng cao chất lượng giáo dục Các phương pháp này giúp đảm bảo sự công bằng và chính xác trong việc đánh giá trình độ giảng viên, từ đó thúc đẩy phong cách giảng dạy sáng tạo và hiệu quả hơn Việc sử dụng các công cụ đánh giá đa dạng cũng góp phần phản ánh đúng thực trạng hoạt động giảng dạy, nâng cao uy tín và chất lượng các cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam.
Đánh giá giảng viên là quá trình tổng hợp các ý kiến từ nhiều nguồn khác nhau như tự đánh giá của giảng viên, đánh giá của đồng nghiệp, sinh viên và các nhà quản lý giáo dục, nhằm đảm bảo tính khách quan và toàn diện trong việc xác định chất lượng giảng dạy Việc tổ chức đánh giá qua hồ sơ giảng dạy cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phản ánh năng lực và thành tích của giảng viên, giúp nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển chuyên môn liên tục.
Quan sát của tổ trưởng chuyên môn; Đánh giá của các chuyên gia đánh giá ngoài
Khái quát về võ thuật CAND
1.4.1 Giới thiệu sơ lược về Học viện ANND
Học viện An ninh nhân dân (ANND) là cơ sở đào tạo hàng đầu của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam (CAND), được thành lập ngày 25 tháng 10 Trường đóng vai trò trọng yếu trong việc đào tạo cán bộ có trình độ chuyên môn cao, góp phần bảo vệ an ninh và trật tự xã hội Với bề dày truyền thống và đội ngũ giảng viên ưu tú, ANND luôn nỗ lực nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của lực lượng công an Học viện còn tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, đào tạo theo hướng hiện đại, góp phần xây dựng lực lượng công an ngày càng chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại.
Học viện An ninh Nhân dân (ANND), thành lập từ năm 1946 với tên gọi Trường Huấn luyện Công an, là cơ sở đào tạo đại học công lập thuộc Bộ Công an, đóng vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân Học viện có nhiệm vụ đào tạo cán bộ có trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ và nâng cao để đáp ứng nhu cầu công tác của ngành Công an Trong quá trình phát triển, Học viện đã mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo với 10 ngành, 12 chuyên ngành trình độ đại học; 4 ngành, chuyên ngành trình độ thạc sĩ; và 2 ngành, chuyên ngành ở trình độ tiến sĩ, hướng tới đào tạo đa ngành và chuyên sâu.
Trong suốt 76 năm xây dựng và phát triển, Học viện ANND đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận đánh giá cao nhờ vào đội ngũ cán bộ được đào tạo tại Học viện, trong đó nhiều cựu học viên đã nỗ lực đạt thành tích xuất sắc trong công tác và chiến đấu, được bổ nhiệm giữ các trọng trách của Đảng, Nhà nước và ngành Công an Hàng trăm cựu học viên đã được Nhà nước phong quân hàm cấp Tướng và phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, thể hiện sự ghi nhận của xã hội đối với thành tích của các thế hệ học viên Từ một Trường Huấn luyện Công an ban đầu, đến nay Học viện ANND đã vươn lên trở thành cơ sở giáo dục đại học trọng điểm của ngành Công an, đồng thời là trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học uy tín của cả nước.
1.4.2 Khái niệm, vị trí, vai trò và đặc điểm môn võ thuật CAND
1.4.2.1 Khái niệm võ thuật và võ thuật CAND
Võ thuật là kỹ thuật hoặc phương thức sử dụng sức mạnh nội lực và ngoại lực để chiến thắng đối thủ, phù hợp với mục tiêu rèn luyện sức khỏe, tự vệ và thi đấu thể thao Là nghệ thuật vận động hình thành trong quá trình đấu tranh của con người với thiên nhiên, kẻ thù bên ngoài và nội tâm, võ thuật không chỉ hướng tới chiến thắng trong trận đấu mà còn giúp nâng cao thể chất và tinh thần Trong thời hiện đại, vai trò chiến đấu và chiến thắng bằng mọi giá đã chuyển thành chú trọng vào rèn luyện sức khỏe, tự vệ chính đáng và hình thức thi đấu thể thao quy định nghiêm ngặt về các đòn đánh hiểm, độc Một số môn phái võ thuật hiện nay được thi đấu như các bộ môn thể thao biểu diễn hoặc đối kháng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của thể thao võ thuật.
Mặc dù "Võ" và "Võ thuật" thường được coi là đồng nghĩa, nhưng chúng vẫn có những khác biệt rõ rệt "Võ" chủ yếu đề cập đến các hình thức đánh nhau bằng tay không hoặc sử dụng binh khí, thường mang tính đối lập với "văn", trong khi "Võ thuật" nhấn mạnh khía cạnh nghệ thuật vận động, phương pháp, kỹ thuật và sự khéo léo "Võ thuật" tập trung phát huy toàn diện sức mạnh của con người để chiến thắng mọi đối thủ, không chỉ giới hạn trong sân đấu Thuật ngữ "Võ nghệ" gần nghĩa với võ thuật, đồng thời thể hiện yếu tố nghề nghiệp của môn võ, khẳng định võ là một nghề trong xã hội Khái niệm "Võ đạo" được các võ đường và võ sư đề cao, nhấn mạnh tính nhân văn, văn hóa của võ học, cho rằng đỉnh cao của võ là văn hóa, lấy triết học, đạo đức và tôn giáo làm nền tảng, đồng thời xem sức mạnh võ thuật như một công cụ để kiểm soát bạo lực, giảm thiểu tính tàn sát.
Trong đời sống xã hội Việt Nam, khái niệm “Võ học” vẫn còn khá xa lạ, đối lập với khái niệm “Võ biền” Võ học là lĩnh vực nghiên cứu, phân tích và hệ thống hóa tất cả các mặt của võ thuật dựa trên các phương pháp khoa học tự nhiên và xã hội như vật lý học, giải phẫu học, sinh lý, sinh hóa, tâm lý học và y học thể thao Tuy nhiên, hiện nay, lĩnh vực võ học chưa được công nhận rộng rãi là ngành học chính thống trong hệ thống giáo dục và đào tạo, và các bài viết hay sách báo của các võ sư, huấn luyện viên danh tiếng ít đề cập đến các thành tựu nghiên cứu khoa học trong võ thuật Điều này khiến đời sống võ thuật Việt Nam còn khá xa lạ với các thuật ngữ, khái niệm cũng như các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về võ thuật, phần lớn do nhận thức, lý luận và khả năng nghiên cứu của giới võ thuật còn hạn chế.
Võ thuật là phương pháp sử dụng các bộ phận trên cơ thể như tay, chân, khớp khuỷu, gối, đầu, vai để thực hiện các kỹ năng chiến thuật tấn công và phòng thủ hiệu quả cao Ngoài ra, võ thuật còn bao gồm việc sử dụng các loại vũ khí, công cụ thô sơ để nâng cao khả năng chiến đấu và tự vệ.
Võ thuật CAND là một phái võ được kế thừa và tinh hoa từ các môn phái võ khác nhau trong và ngoài nước Được lực lượng Công an nghiên cứu, tập luyện và ứng dụng, võ thuật này phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm Mục tiêu chính của võ thuật CAND là bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự và an toàn xã hội.
1.4.2.2 Vị trí, vai trò và đặc điểm môn võ thuật CAND
Vị trí, vai trò võ thuật CAND:
CAND Việt Nam là lực lượng vũ trang trọng yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đóng vai trò nòng cốt trong công tác bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội Lực lượng này có chức năng tham mưu cho Đảng và Nhà nước về các lĩnh vực an ninh, đồng thời thực hiện quản lý thống nhất trong việc phòng, chống các hoạt động của các thế lực thù địch, tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến an ninh và trật tự xã hội CAND Việt Nam luôn đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, quản lý của Chính phủ và chỉ huy trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Công an Khẩu hiệu "Bảo vệ An ninh Tổ quốc" đã là kim chỉ nam cho lực lượng từ những ngày đầu thành lập.
Võ thuật Công an nhân dân (CAND) đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng lực lượng và hỗ trợ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm Đặc điểm nổi bật của võ thuật CAND là linh hoạt, hiện đại và phù hợp với yêu cầu thực tiễn công tác an ninh, trật tự Với vị trí quan trọng trong nhiều lĩnh vực, võ thuật CAND góp phần nâng cao hiệu quả xử lý các tình huống thực tế, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho cán bộ chiến sĩ.
- Võ thuật CAND là một trong các môn phái võ:
Các môn phái võ thuật thường tập trung nghiên cứu các thế đứng, đòn tấn công bằng tay và chân, cùng các kỹ thuật phòng thủ trước các đòn tấn công của đối phương Mỗi môn phái có mục đích và yêu cầu sử dụng kỹ thuật khác nhau, phù hợp với phong cách và chiến lược chiến đấu riêng biệt.
Nói chung, các môn phái võ thuật đã hướng tới sự phát triển thể thao hóa nhằm nâng cao khả năng vận động cường độ cao, giúp con người trở nên nhanh nhẹn, bền bỉ và dẻo dai Hằng năm, các tổ chức trong và ngoài nước đều tổ chức các cuộc thi đấu võ thuật, góp phần đưa môn võ vào các kỳ đại hội thể thao khu vực và quốc tế Rèn luyện võ thuật giúp phát triển sức mạnh, tốc độ, khéo léo, lòng quả cảm và khả năng chịu đựng cao mà người bình thường khó đạt được Ngoài ra, việc luyện tập và thi đấu võ thuật còn góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa cổ truyền của các môn phái, duy trì nét đặc trưng văn hóa của từng dân tộc.
Võ thuật CAND có điểm giống với các môn võ khác như nghiên cứu hệ thống các động tác kỹ thuật tấn công và phòng ngự để nâng cao sức khỏe người tập Tuy nhiên, võ thuật CAND đặc biệt có mối liên hệ chặt chẽ và kế thừa tinh hoa từ nhiều môn phái võ khác, trở thành một phần của hệ thống các môn võ trong và ngoài nước Điểm khác biệt nổi bật của võ thuật CAND là được phát triển nhằm phục vụ yêu cầu nghiệp vụ của ngành Công an, để phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm cũng như các hành vi vi phạm pháp luật.
Võ thuật CAND được xây dựng dựa trên các thế đánh bằng chân tay không hoặc các vũ khí thô sơ phù hợp với đặc điểm công tác Các kỹ thuật này giúp cán bộ chiến sĩ Công an nâng cao khả năng tấn công, trấn áp tội phạm, bắt giữ đối tượng, cũng như phòng ngự khi bị tấn công Mục tiêu của võ thuật CAND là bảo vệ an toàn cho bản thân, đồng đội và nhân dân trong các tình huống cụ thể, đảm bảo hiệu quả và an toàn trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Võ thuật CAND có vị trí quan trọng trong công tác xây dựng lực lượng CAND:
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lực lượng Công an phải không ngừng củng cố, xây dựng vững mạnh toàn diện để bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội Để đạt được mục tiêu chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, cán bộ chiến sĩ cần nâng cao trình độ pháp luật, nghiệp vụ, võ thuật, kỹ chiến thuật quân sự và luôn rèn luyện phẩm chất đạo đức theo 6 lời dạy của Bác Chỉ khi đó, lực lượng Công an mới xứng đáng nhận được lòng tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy võ thuật trong lực lượng CAND
Mỗi quốc gia đều có chiến lược phát triển riêng, nhưng không nước nào phát triển mà bỏ qua đầu tư vào giáo dục Chất lượng giảng dạy của giảng viên là yếu tố then chốt quyết định chất lượng giáo dục, ảnh hưởng trực tiếp đến thành công của trường đại học Giảng viên giảng dạy hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và xây dựng nguồn nhân lực có trình độ phục vụ đất nước Nhiều nghiên cứu cho thấy chất lượng giảng dạy quyết định kết quả học tập của sinh viên và là yếu tố quan trọng nhất để nâng cao thành tích học tập của sinh viên [43], [44].
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng thành tích của học sinh phụ thuộc vào hiệu quả giảng dạy của giáo viên, ảnh hưởng lâu dài đến sự thành công của người học [46], [47] Vai trò của giáo viên không chỉ dừng lại ở giảng dạy mà còn bao gồm việc kết nối và hỗ trợ người học, giúp họ học tập tốt hơn trong môi trường học tập tích hợp Một giảng viên giảng dạy hiệu quả cần kết hợp nhiều nhiệm vụ trong một tiết học để đảm bảo tất cả người học đều nhận được nền giáo dục chất lượng Để hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy, nghiên cứu đã xem xét các tài liệu liên quan đến giảng dạy đại học và nhận thấy có nhiều cách tiếp cận khác nhau, đặc biệt trong lĩnh vực giảng dạy võ thuật CAND.
Trong nghiên cứu của mình Dương Quang Minh đã thực hiện khảo sát bằng bảng hỏi đối với 124 giảng viên của 12 Khoa/Bộ môn trường Đại học Khoa học
Nghiên cứu của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh về Xã hội và Nhân văn xác định hiệu quả giảng dạy là khả năng của giảng viên trong việc thiết kế môn học, xây dựng chiến lược giảng dạy, sử dụng công nghệ, quản lý lớp học, thúc đẩy tương tác cá nhân và đánh giá kết quả học tập của sinh viên Kết quả cho thấy các yếu tố cá nhân như giới tính, tình trạng hôn nhân, nhóm tuổi, học hàm và trình độ chuyên môn có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả giảng dạy, trong khi không có sự khác biệt đáng kể theo thâm niên giảng dạy Ngoài ra, các yếu tố như nguồn học liệu, văn hóa tổ chức, chính sách hỗ trợ và sự hỗ trợ từ nhà quản lý đều tác động tích cực đến hiệu quả giảng dạy của giảng viên [23].
Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hương, chất lượng giảng dạy được xác định phụ thuộc vào ba nhóm nhân tố chính: người dạy, người học và môi trường, điều kiện dạy học Các nhân tố này tương tác mật thiết, liên kết chặt chẽ trong mỗi giờ giảng, góp phần quyết định kết quả cuối cùng của quá trình giảng dạy Chất lượng giảng dạy phụ thuộc vào sự phối hợp hiệu quả giữa các yếu tố này để tạo ra sản phẩm giáo dục có chất lượng cao.
Nguyễn Thị Phương Thảo (2017) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả giảng dạy của giảng viên thông qua phương pháp hồi quy, xác định trọng số của từng thành phần tác động Trong mô hình nghiên cứu lý thuyết, có bảy yếu tố ảnh hưởng, gồm: bản chất công việc, lương thưởng và phụ cấp, quan hệ đồng nghiệp, quản lý lãnh đạo, cơ hội đào tạo và thăng tiến, cơ sở vật chất, cũng như sự phản hồi và kết quả của sinh viên Kết quả kiểm định cho thấy chỉ có bốn yếu tố có ảnh hưởng thực sự đến hiệu quả giảng dạy, trong đó thành phần quan trọng nhất là sự phản hồi và kết quả của sinh viên, tiếp theo là quan hệ đồng nghiệp, cơ sở vật chất, và lương thưởng, phụ cấp.
Ba tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo, Nguyễn Thị Thanh Hương và Dương Quang Minh đều đồng ý rằng yếu tố cơ sở vật chất ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giảng dạy của giảng viên Nguyễn Thị Phương Thảo nhấn mạnh rằng phản hồi và kết quả của sinh viên là yếu tố tác động mạnh nhất đến chất lượng giảng dạy, trong khi Nguyễn Thị Thanh Hương cũng xem người học là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp Cả Nguyễn Thị Phương Thảo và Dương Quang Minh cùng nhất trí rằng kết quả học tập của sinh viên ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy Ngoài ra, Nguyễn Thị Thanh Hương và Dương Quang Minh đồng tình rằng vai trò của người thầy đóng vai trò quyết định đến chất lượng giảng dạy Tổng thể, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy được phân thành năm nhóm chính.
Nhóm thứ nhất: Các yếu tố thuộc về giảng viên gồm các nhân tố:
Phương pháp giảng dạy của giảng viên;
Năng lực, trình độ chuyên môn của giảng viên;
Tình cảm, tinh thần trách nhiệm với nghề nghiệp
Nhóm thứ hai: Các yếu tố thuộc về sinh viên (người học) gồm các nhân tố:
Thái độ, ý thức học tập của sinh viên;
Trình độ tiếp thu của sinh viên;
Phương pháp học tập của sinh viên
Nhóm thứ ba: Các yếu tố về cơ sở vật chất và phương tiện dạy học gồm các nhân tố:
Cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy;
Nguồn học liệu (Giáo trình, tài liệu tham khảo)
Nhóm thứ tư: Các yếu tố về nội dung giảng dạy gồm các nhân tố:
Vị trí, vai trò của môn học trong chương trình đào tạo;
Tính thiết thực, cập nhật nội dung;
Tính vừa sức của nội dung học tập
Nhóm thứ năm: Nhóm yếu tố khách quan gồm các nhân tố:
Sự quản lý, lãnh đạo của cấp trên;
Lương, thưởng và phụ cấp
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy các môn lý thuyết đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả dạy học Đặc biệt, môn GDTC và võ thuật CAND có những đặc thù riêng cần xem xét, nhưng vẫn tuân theo các quy luật chung của quá trình dạy và học Những cơ sở lý thuyết này là nền tảng quan trọng để luận án thực hiện các mục tiêu nghiên cứu một cách hệ thống và rõ ràng.
Những công trình nghiên cứu có liên quan
1.6.1 Các công trình nghiên cứu trong nước
Hiện nay, lĩnh vực huấn luyện, giảng dạy và nghiên cứu khoa học về võ thuật ở Việt Nam đã thu hút nhiều tác giả và nhóm tác giả thực hiện các nghiên cứu phong phú, chủ yếu tập trung vào phát triển các tố chất thể lực, xác định các sai lầm phổ biến, xây dựng hệ thống kiểm tra đánh giá và phân loại tố chất thể lực, cũng như tuyển chọn vận động viên võ thuật Một số nghiên cứu còn đề cập đến tâm lý thi đấu, khả năng phối hợp vận động của vận động viên võ thuật và các giải pháp thúc đẩy phong trào võ thuật tại địa phương Tuy nhiên, về nâng cao chất lượng giảng dạy võ thuật, đặc biệt là giờ học võ trong lực lượng Công an nhân dân tại Việt Nam, gần như chưa có ai đề cập đến Tổng thể, qua các tài liệu nghiên cứu đã tổng hợp, lĩnh vực này vẫn còn nhiều khoảng trống cần được khám phá và phát triển thêm để nâng cao hiệu quả đào tạo và phong trào võ thuật trong nước.
Nguyễn Đương Bắc (2005) thực hiện nghiên cứu về các bài tập phát triển sức bền cho vận động viên nam tuổi từ 15 đến 17 trong môn Karatedo-do, nhấn mạnh vai trò quan trọng của khả năng sức bền trong thành tích thi đấu võ thuật Theo tác giả, việc nâng cao năng lực sức bền giúp VĐV duy trì phong độ ổn định, chịu đựng tốt hơn trong suốt trận đấu, từ đó nâng cao hiệu quả tập luyện và thành tích thi đấu Nghiên cứu này góp phần làm rõ các phương pháp phát triển sức bền phù hợp với đặc thù của môn võ Karatedo-do, hướng tới tối ưu hóa chuẩn bị thể lực của VĐV trẻ.
Karatedo đòi hỏi sức bền vững là yếu tố quan trọng hàng đầu, giúp VĐV hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ chiến thuật đề ra Nghiên cứu trong luận án đã xác định các bài kiểm tra đánh giá sức bền hiệu quả cũng như hệ thống bài tập phát triển sức bền phù hợp cho VĐV Karatedo trẻ Đây là công trình nghiên cứu có tính hệ thống, có giá trị thực tiễn cao trong công tác huấn luyện và phát triển kỹ năng cho các VĐV Karatedo.
Nguyễn Hồng Đăng (2016) trong luận án tiến sĩ “Nghiên cứu đặc trưng kỹ chiến thuật của nam vận động viên Karatedo Việt Nam và giải pháp huấn luyện” đã hệ thống hóa toàn diện kỹ thuật và chiến thuật trong thi đấu của Karatedo hiện đại, đồng thời phân tích đặc điểm kỹ chiến thuật của các vận động viên Nghiên cứu cho thấy vận động viên Việt Nam trong tấn công sử dụng kỹ thuật đơn giản, chủ yếu dùng tay trước để ghi điểm, kỹ thuật chân biến hóa ít và không đa dạng, khả năng tấn công liên hoàn hạn chế và năng lực tấn công lần hai yếu; trong phòng thủ, kỹ thuật phản công phản xạ chủ yếu là kỹ thuật đơn, vận dụng ít tổ hợp đòn, sử dụng kỹ thuật tay sau (gyaku zuki) là chính Trong chiến thuật tấn công, vận dụng tấn công trực diện là chủ yếu, còn trong phòng thủ, chiến thuật phản sau và phản chặn trực tiếp chiếm đa số Sau khi phân tích ưu nhược điểm, tác giả đề xuất giải pháp cải thiện, nhằm nâng cao thành tích của đội tuyển Karatedo Việt Nam trong bối cảnh Karate được chọn là môn thi đấu tại Olympic 2020 tại Nhật Bản, góp phần thúc đẩy thể thao Việt Nam hướng tới thành tích quốc tế.
Ngoài ra, một số tác giả như Hoàng Văn Sơn đã có nghiên cứu chuyên sâu về các môn võ, đưa ra những điểm mới trong lý luận và ứng dụng hiệu quả trong thực tiễn huấn luyện võ thuật.
Vũ Xuân Thành [34], Nguyễn Thế Truyền [37]
Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học về võ thuật CAND tại Việt Nam, một số tác giả đã đề cập đến lĩnh vực này trong khối lực lượng An ninh Nhân dân (ANND) Đặc biệt, Nguyễn Thanh Hải (2010) đã thực hiện đề tài thạc sĩ “Nghiên cứu ứng dụng hệ thống bài tập phát triển sức mạnh môn võ thuật cho sinh viên Học viện ANND”, trong đó tác giả xác định được hệ thống bài tập hiệu quả nhằm nâng cao sức mạnh cho sinh viên, góp phần bổ sung và hoàn thiện chương trình huấn luyện, giảng dạy võ thuật tại Học viện ANND.
Hoàng Văn Sơn (2014) đã nghiên cứu về các giải pháp nâng cao chất lượng huấn luyện võ thuật, quân sự tại các trường CAND nhằm góp phần đấu tranh, phòng chống tội phạm và bảo vệ lực lượng Ông đánh giá thực trạng chất lượng huấn luyện võ thuật tại các trường CAND, xác định những tồn tại cần khắc phục Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất 07 giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả huấn luyện võ thuật và bảo vệ lực lượng Kết quả nghiên cứu của ông góp phần bổ sung và hoàn thiện lý luận về huấn luyện võ thuật trong các trường CAND, thúc đẩy công tác đào tạo võ thuật đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Nguyễn Văn Trọng (2015) đã nghiên cứu về việc lựa chọn bài tập phát triển sức nhanh chuyên môn trong học tập võ thuật cho sinh viên Học viên ANND Kết quả của đề tài giúp xác định các bài kiểm tra đánh giá sức nhanh chuyên môn, xây dựng tiêu chuẩn phân loại mức độ sức nhanh và đề xuất các bài tập phù hợp nhằm nâng cao khả năng phản xạ nhanh của sinh viên Các nội dung này góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo võ thuật, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của các môn học chuyên ngành tại Học viên ANND.
Trong nghiên cứu của Ngô Hải Hà (2018), tác giả đã xác định hệ thống bài tập phát triển sức mạnh tốc độ sử dụng lốp cao su cho sinh viên Học viện ANND, góp phần nâng cao thể lực và sức mạnh tốc độ của sinh viên Những kết quả này đã đóng góp vào việc phát triển tổ chất thể lực, đặc biệt là khả năng sức mạnh tốc độ trong giảng dạy môn võ thuật của CAND tại Học viện ANND.
Bùi Trọng Phương (2019) đã hoàn thành xuất sắc luận án Tiến sĩ với đề tài "Nghiên cứu nội dung trong phương pháp tập luyện theo trạm nhằm phát triển sức mạnh cho sinh viên nam Học viện ANND trong môn võ thuật CAND." Nghiên cứu tập trung vào việc khám phá các phương pháp tập luyện hiệu quả giúp nâng cao sức mạnh cho sinh viên trong lĩnh vực võ thuật của lực lượng CAND Kết quả của đề tài đóng góp quan trọng vào việc nâng cao chất lượng huấn luyện và rèn luyện thể lực cho lực lượng công an nhân dân Đồng thời, công trình cũng cung cấp các giải pháp thực tiễn để phát triển nội dung tập luyện phù hợp với đặc thù của sinh viên Học viện ANND.
Luận án đã xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn đánh giá sức mạnh dựa trên thang điểm 10, được kiểm nghiệm thực tiễn và thể hiện tính hiệu quả rõ rệt Các đóng góp mới của luận án bao gồm lựa chọn 15 bài kiểm tra đặc trưng thuộc 4 nhóm yếu tố sức mạnh thành phần nhằm đảm bảo độ tin cậy và phù hợp cho sinh viên nam Học viện ANND trong môn võ thuật CAND, như nhóm sức mạnh tối đa, tĩnh lực, tốc độ và bền bỉ Đồng thời, luận án đánh giá thực trạng công tác giảng dạy môn võ thuật CAND, nhận thấy thời gian huấn luyện sức mạnh còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào kỹ thuật cơ bản và thiếu các bài tập chuyên môn phát triển sức mạnh phù hợp, dẫn đến trình độ sức mạnh của sinh viên vẫn còn thấp hơn tiêu chuẩn đề ra, phần lớn ở mức trung bình và yếu Kết quả học tập môn võ thuật của sinh viên nam còn thấp, luận án đã lựa chọn 60 bài tập phát triển sức mạnh tổng hợp bao gồm các bài tập chung để nâng cao năng lực thể lực cho sinh viên trong Học viện ANND.
20 bài; Bài tập sức mạnh chuyên môn: 37 bài; Bài tập thi đấu: 3 bài…
Hà Mười Anh (2019) đã hoàn thành luận án Tiến sĩ về “Nghiên cứu ứng dụng bài tập nâng cao hiệu quả kỹ thuật tấn công trong môn võ thuật công an cho sinh viên Học viện CSND”, nhấn mạnh việc tập luyện kỹ thuật tấn công bằng tay và bằng chân là nội dung quan trọng trong chương trình đào tạo Tuy nhiên, thực tế cho thấy số lượng bài tập trong quá trình giảng dạy còn hạn chế, thiếu các bài tập bổ trợ phát triển thể lực phù hợp, ảnh hưởng đến hiệu quả của kỹ thuật tấn công đòn tay và chân của sinh viên Qua nghiên cứu tài liệu chuyên môn, phỏng vấn và phân tích thống kê sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha, đề tài đã chọn ra 04 nhóm với 30 bài tập nâng cao hiệu quả kỹ thuật tấn công phù hợp cho sinh viên Học viện CSND.
Nhóm 1: Nhóm bài tập kỹ thuật tấn công đòn tay (10 bài tập);
Nhóm 2: Nhóm bài tập kỹ thuật tấn công đòn chân (8 bài tập);
Nhóm 3: Nhóm bài tập phối hợp tay chân (3 bài tập);
Nhóm 4: Nhóm bài tập phát triển thể lực chuyên môn (9 bài tập)
Gần đây, tác giả Lê Mạnh Cường (2020) đã nghiên cứu về tác động của tập luyện võ thuật CAND đối với thể lực của nam sinh viên Học viện ANND Nghiên cứu đã chọn lọc 2 chỉ tiêu về hình thể, 13 chỉ tiêu chức năng sinh lý hệ vận chuyển oxy, 4 chỉ tiêu chức năng sinh lý hệ trao đổi chất và chuyển hóa năng lượng, 2 chỉ tiêu chức năng sinh lý thần kinh, cùng 4 bài kiểm tra thể lực để đánh giá hiệu quả của việc tập luyện võ thuật CAND đối với sức khỏe và thể lực của sinh viên.
Hiện nay, tại Việt Nam, một số học giả đã nghiên cứu về võ thuật trong lực lượng CAND, tập trung chủ yếu vào các bài tập võ thuật nhằm phát triển thể chất cho sinh viên Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu đầy đủ về chất lượng giảng dạy võ thuật trong các trường thuộc lực lượng CAND, điều này còn đang là thách thức để nâng cao chất lượng đào tạo võ thuật trong hệ thống này.
1.6.2.Các công trình nghiên cứu ngoài nước
Luận án tận dụng nguồn tài nguyên trên không gian mạng để khảo sát các tài liệu nghiên cứu khoa học quốc tế, đặc biệt của Trung Quốc, liên quan đến giảng dạy võ thuật Các nghiên cứu này đều dựa trên đặc thù của từng trường và khu vực, mang lại những kết quả nghiên cứu đáng giá để tham khảo trong việc phát triển phương pháp giảng dạy võ thuật trong các trường Công an nhân dân.