1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn võ thuật công an nhân dân cho sinh viên (hệ đào tạo) tại học viện an ninh nhân dân

243 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn võ thuật công an nhân dân cho sinh viên (hệ đào tạo) tại Học viện an ninh nhân dân
Tác giả Ngô Hải Hà
Người hướng dẫn TS Nguyễn Đương Bắc, TS Nguyễn Thy Ngọc
Trường học Học Viện An Ninh Nhân Dân
Chuyên ngành Giáo dục học
Thể loại Luận án tiến sĩ giáo dục học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 243
Dung lượng 3,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (16)
    • 1.1. Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về giáo dục, đào tạo và võ thuật CAND trong thời kỳ đổi mới (16)
    • 1.2. Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu (24)
      • 1.2.1. Các khái niệm (24)
      • 1.2.2. Một số quan điểm về chất lượng giáo dục (27)
      • 1.2.3. Quan niệm chất lượng giáo dục của Việt Nam (31)
    • 1.3. Cơ sở lý luận về đánh giá chất lượng giảng dạy (33)
    • 1.4. Khái quát về võ thuật CAND (45)
      • 1.4.1. Giới thiệu sơ lược về Học viện ANND (45)
      • 1.4.2. Khái niệm, vị trí, vai trò và đặc điểm môn võ thuật CAND (45)
      • 1.4.3. Phân loại và một số đặc trưng của môn võ thuật CAND (51)
    • 1.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy võ thuật trong lực lượng CAND (52)
    • 1.6. Những công trình nghiên cứu có liên quan (56)
      • 1.6.1. Các công trình nghiên cứu trong nước (56)
      • 1.6.2. Các công trình nghiên cứu ngoài nước (60)
      • 1.6.3. Những nghiên cứu về đánh giá hoạt động giảng dạy trong các trường đại học ở Việt Nam và trên thế giới (63)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU (67)
    • 2.1. Phương pháp nghiên cứu (67)
      • 2.1.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu (67)
      • 2.1.2. Phương pháp phỏng vấn tọa đàm (67)
      • 2.1.3. Phương pháp quan sát sư phạm (69)
      • 2.1.4. Phương pháp phân tích SWOT (70)
      • 2.1.5. Phương pháp kiểm tra sư phạm (71)
      • 2.1.6. Phương pháp thực nghiệm sư phạm (74)
      • 2.1.7. Phương pháp toán học thống kê (75)
    • 2.2. Tổ chức nghiên cứu (76)
      • 2.2.1. Đối tượng nghiên cứu (76)
      • 2.2.2. Phạm vi nghiên cứu (76)
      • 2.2.3. Địa điểm nghiên cứu (76)
      • 2.2.4. Thời gian nghiên cứu (76)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN (78)
    • 3.1. Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy võ thuật CAND cho sinh viên tại Học viện ANND (78)
      • 3.1.1. Thực trạng về đội ngũ giảng viên võ thuật CAND tại Học viện ANND . 65 3.1.2. Thực trạng về phương pháp giảng dạy và hoạt động kiểm tra đánh giá học môn võ thuật CAND tại Học viện ANND (78)
      • 3.1.3. Thực trạng về những vấn đề liên quan đến công tác giảng dạy võ thuật (86)
      • 3.1.4. Thực trạng kết quả học tập môn võ thuật CAND của sinh viên tại Học viện (95)
      • 3.1.5. Bàn luận kết qua mục tiêu 1 (95)
    • 3.2. Những yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng giảng dạy môn võ thuật CAND (102)
      • 3.2.1. Xác định những yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng giảng dạy môn võ thuật (102)
      • 3.2.2. Thực trạng những yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng giảng dạy môn võ thuật (110)
      • 3.2.3. Kết quả phân tích SWOT về thực trạng chất lượng giảng dạy võ thuật (125)
      • 3.2.4. Bàn luận mục tiêu 2 (129)
      • 3.3.1. Lựa chọn và xây dựng nội dung giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn võ thuật CAND cho sinh viên tại Học viện ANND (138)
      • 3.3.2. Lựa chọn tiêu chí đánh giá chất lượng giảng dạy môn võ thuật CAND cho (157)
      • 3.3.3. Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn võ thuật CAND cho sinh viên tại Học viện ANND (171)
      • 3.3.4. Bàn luận mục tiêu 3 (197)
  • KẾT LUẬN (65)

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA,THỂ THAO VÀ DU LỊCH VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO NGÔ HẢI HÀ NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN VÕ THUẬT CÔNG AN NHÂN DÂN CHO S

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về giáo dục, đào tạo và võ thuật CAND trong thời kỳ đổi mới

Trong giai đoạn trước đổi mới, Đảng ta chưa ban hành nghị quyết Trung ương mang tính chuyên đề về giáo dục và đào tạo Đường lối và chính sách của Đảng đối với giáo dục và đào tạo được thể hiện chủ yếu qua các văn kiện của các đại hội Đảng và nội dung được đưa vào các nghị quyết về các lĩnh vực kinh tế - xã hội.

Đại hội IV đã nêu rõ mục tiêu cải cách giáo dục trên phạm vi cả nước, tập trung phát triển giáo dục phổ thông, sắp xếp và từng bước mở rộng, hoàn thiện mạng lưới trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, đồng thời phát triển rộng rãi các trường dạy nghề; để cụ thể hoá, ngày 11-1-1979 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TW về cải cách giáo dục, đây là nghị quyết đầu tiên về giáo dục sau khi đất nước thống nhất, chứa đựng nhiều vấn đề cần được cụ thể hoá bằng các chính sách và đề án thực hiện, từ xác định mục tiêu đến sắp xếp lại cơ cấu hệ thống và biên soạn sách giáo khoa thống nhất cho các cấp học.

Nghị quyết Đại hội VI xác định: Giáo dục nhằm mục tiêu hình thành và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có kỹ thuật đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với yêu cầu phân công lao động của xã hội Sự nghiệp giáo dục, nhất là giáo dục đại học và chuyên nghiệp, trực tiếp góp phần vào việc đổi mới công tác quản lý kinh tế và xã hội Mở rộng và củng cố các trường, các lớp dạy nghề để đào tạo, bồi dưỡng công nhân lành nghề, phát triển các trung tâm dạy nghề rộng rãi cho thanh niên và nhân dân lao động Đi đôi với việc nâng cao chất lượng đào tạo chuyên môn và năng lực thực hành, cần coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, pháp luật, giáo dục thể chất và giáo dục quốc phòng Đến Nghị quyết Đại hội VII nêu rõ: Mục tiêu giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội Nhà trường đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện và có năng lực chuyên môn sâu, có ý thức và khả năng tự tạo việc làm trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Ngày 14-1-

1993, Đảng ta ban hành Nghị quyết số 04-NQ/HNTW, “Về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo” Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Đảng ta, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã có kỳ họp riêng bàn về một số vấn đề xã hội, trong đó tập trung xem xét sâu rộng vấn đề giáo dục và đào tạo và ra Nghị quyết về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo Đây là Nghị quyết đáp ứng lòng mong đợi từ lâu của toàn Đảng, toàn dân ta, nhất là đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, học sinh, sinh viên trong cả nước, về việc xác định quan điểm, chủ trương, chính sách, biện pháp tiếp tục phát triển mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục

Những quan điểm trên cho thấy tư tưởng chỉ đạo rất quan trọng cho sự phát triển giáo dục nước ta trong những năm đầu thời kỳ đổi mới Nghị quyết nhấn mạnh đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, biến giáo dục từ một lĩnh vực phúc lợi xã hội thành động lực phát triển con người, sản xuất và xã hội; do đó, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương quyết định tăng tỷ trọng chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo, huy động nguồn vốn từ nhân dân, viện trợ của các tổ chức quốc tế và cả vốn vay nước ngoài để phát triển giáo dục Về giáo dục và đào tạo, Đại hội VIII nhấn mạnh cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đồng thời tập trung vào mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả Phương hướng chung 5 năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo điều kiện for nhân dân, đặc biệt là thanh niên, có việc làm; khắc phục những tiêu cực, yếu kém trong giáo dục và đào tạo Đến Đại hội IX, nghị quyết nhấn mạnh phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người — yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.

Chú trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng cho học sinh trung học nhằm chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở cả nước và từng địa phương, đồng thời xây dựng quy hoạch đào tạo nguồn nhân lực theo phương thức kết hợp giữa học tập trung, học từ xa và học qua máy tính để tăng cường hiệu quả giáo dục nghề nghiệp và mở rộng cơ hội tiếp cận học tập cho người trẻ.

Ở giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cần tổng kết cải cách giáo dục và xây dựng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển đổi và hội nhập; đồng thời xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách của Nhà nước về giáo dục, đào tạo và tăng cường quản lý nhà nước đối với các loại hình trường lớp để nâng cao hiệu quả giáo dục Nâng dần tỷ trọng chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo, đồng thời động viên đúng mức sự đóng góp của mỗi người và thu hút nguồn vốn đầu tư từ các cộng đồng, các giới, trong nước và nước ngoài cho giáo dục, đào tạo; đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo nhằm nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của nguồn nhân lực.

Trong các văn kiện quan trọng của Đảng và Cương lĩnh năm 2011, phát triển giáo dục và đào tạo được xem là quốc sách hàng đầu, đi đôi với sự phát triển của khoa học và công nghệ, và đầu tư cho giáo dục được xem như đầu tư cho phát triển; đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội là mục tiêu then chốt Theo Hội đồng Lý luận Trung ương, các quan điểm này không chỉ thể hiện sự kế thừa và nhất quán của Đảng qua các giai đoạn lịch sử mà còn là vấn đề mang tính chiến lược xuyên suốt, bám sát xu thế phát triển của nhân loại và thực tiễn Việt Nam, đồng thời đòi hỏi tiếp tục đẩy mạnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo.

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 xác định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, đồng thời đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, với đổi mới cơ chế quản lý giáo dục và phát triển đội ngũ giáo viên cùng cán bộ quản lý là khâu then chốt Các văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước trong nhiệm kỳ Đại hội XI, XII tiếp tục làm rõ và cụ thể hóa chủ trương này Hội nghị Trung ương 6 khóa XI khẳng định đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là một yêu cầu khách quan và cấp bách, đòi hỏi đổi mới tư duy và mục tiêu đào tạo; hệ thống tổ chức, loại hình giáo dục và đào tạo; đổi mới nội dung và phương pháp dạy và học; cơ chế quản lý và xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý; nâng cấp cơ sở vật chất, nguồn lực và điều kiện bảo đảm cho toàn hệ thống giáo dục quốc dân, toàn diện được cụ thể hóa ở từng giai đoạn.

Sau 35 năm đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, đặc biệt là 10 năm thực hiện Cương lĩnh năm 2011, 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, giáo dục và đào tạo nước ta đã có những chuyển biến tích cực Chất lượng từng bước được nâng lên, hệ thống giáo dục quốc dân tiếp tục được hoàn thiện, mạng lưới cơ sở giáo dục, đào tạo tiếp tục được mở rộng ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học Vai trò, vị trí các cơ sở giáo dục, nhất là giáo dục đại học trong hệ thống dần được khẳng định, tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm được đề cao; chất lượng đào tạo từng bước được cải thiện, hệ thống chương trình đã được đổi mới, chú trọng phát triển các phẩm chất, năng lực cho học sinh; phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực cũng được chú trọng Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên được đẩy mạnh Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế các khuyết tật của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong giáo dục và đào tạo Hợp tác quốc tế được tăng cường theo hướng chủ động, tích cực đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành giáo dục, cũng như yêu cầu phát triển bền vững, hội nhập quốc tế của đất nước Đồng thời với những thành tựu, giáo dục và đào tạo vẫn còn không ít những hạn chế về nhận thức và tổ chức thực hiện cần sớm được khắc phục Nhận thức về triết lý giáo dục Việt Nam trong thời kỳ mới, vai trò và sứ mệnh của giáo dục chưa đủ sâu sắc, chưa làm rõ được tính ưu việt của nền giáo dục cách mạng, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Việc đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng các phương tiện, công cụ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin chưa thực sự hiệu quả; vấn đề rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng học tập, kỹ năng giải quyết vấn đề ở một số nhà trường vẫn chưa thật sự được chú trọng Nội dung chương trình, giáo trình, phương pháp giảng dạy ở nhiều cơ sở giáo dục đại học chưa được hiện đại hóa tương xứng, còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, chưa thực sự chú ý kỹ năng mềm cho người học Đầu tư cho giáo dục chưa theo kịp yêu cầu phát triển Công tác quản lý cơ sở giáo dục nước ngoài, cơ sở liên kết giáo dục còn gặp nhiều khó khăn Chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao tuy đã được cải thiện, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước

Những kết quả và hạn chế trong giáo dục và đào tạo của nhiệm kỳ Đại hội XII đặt nền tảng cho việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, đồng thời nhấn mạnh sự xuất hiện của nhiều điểm mới được đề cập tại [14], [15], nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới phương pháp dạy và học và tăng hiệu quả toàn diện của hệ thống giáo dục.

Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn quan tâm chăm lo, coi giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Phát triển giáo dục và đào tạo là cách góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Lực lượng vũ trang cách mạng là thanh kiếm và lá chắn bảo vệ Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và nhân dân; dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng Công an nhân dân (CAND) luôn xác định giáo dục và đào tạo là nhân tố quyết định cho nhiệm vụ xây dựng một lực lượng CAND cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại.

Với quan điểm ấy, kế thừa thành tựu giáo dục, đào tạo CAND trong suốt chiều dài lịch sử và quán triệt nghiêm túc Nghị quyết số 29 của Ban Chấp hành Trung ương, những năm gần đây Đảng ủy Công an Trung ương và lãnh đạo Bộ Công an đã tăng cường sự lãnh đạo và chỉ đạo, ban hành Nghị quyết số 17-NQ/ĐUCA và Chỉ thị số 13/CT-BCA ngày 28-10-2014 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong CAND; đồng thời, hằng năm ban hành chỉ thị về nhiệm vụ công tác trọng tâm năm học trong CAND Theo đó, công tác giáo dục, đào tạo CAND đã đạt được những kết quả tích cực: nội dung chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy không ngừng được đổi mới, bảo đảm tính khoa học và hiện đại, góp phần nâng cao tính chủ động và khả năng tự học, tự nghiên cứu của học viên, từ đó chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng lên từng bước.

Hệ thống ngành nghề đào tạo được tiếp tục hoàn thiện và mở rộng theo hướng đa dạng hóa, đáp ứng nhu cầu thị trường và tăng cơ hội nghề nghiệp cho người học Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục được tăng về số lượng và từng bước nâng cao chất lượng, bảo đảm chất lượng giảng dạy và quản trị hiệu quả Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học được cải thiện theo hướng hiện đại và đồng bộ, tạo môi trường học tập tiên tiến và thuận lợi cho người học Quan hệ hợp tác trong nước và quốc tế về giáo dục, đào tạo được mở rộng, mang lại hiệu quả thiết thực cho hoạt động đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn.

Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Các quan điểm tiếp cận về giải pháp

Trong hệ thống văn bản của Đảng và Nhà nước về TDTT, khái niệm giải pháp được nhắc tới, nhưng nội dung này chưa được hệ thống hóa đầy đủ và vẫn tập trung nhiều vào các giải pháp cấp bách, quan trọng Để TDTT phát triển bền vững, cần tổng hợp các giải pháp thành một khung chiến lược, đưa chúng vào kế hoạch dài hạn, nhằm đảm bảo sự đồng bộ giữa chính sách, nguồn lực và tổ chức thực thi.

Trong các tài liệu chính thống về quản lý TDTT ở nước ta, khái niệm giải pháp vẫn chưa được trình bày đầy đủ và rõ ràng Nhiều tác giả quản lý TDTT chỉ đề cập đến việc ứng dụng các phương pháp quản lý vào quá trình điều hành, nhưng các phương pháp này vẫn chưa nói rõ cách thức thực hiện cụ thể—làm thế nào và bằng cách nào để áp dụng chúng vào thực tế Khoảng cách giữa phương pháp và thực tiễn quản lý hiện vẫn tồn tại Phương pháp đóng vai trò hỗ trợ chọn lựa các giải pháp đúng hướng, tuân thủ các quy luật và nguyên tắc quản lý Vì vậy mỗi phương pháp đi kèm với một nhóm giải pháp riêng, và việc lựa chọn giải pháp phù hợp phụ thuộc vào các yếu tố sau đây [6].

Yếu tố tình thế là tình trạng hiện tại của quá trình quản lý, phản ánh các yếu tố nội lực và ngoại lực đang tác động, đồng thời thể hiện sự tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan lên quản trị Yếu tố này giúp nhận diện bối cảnh thực tế, đánh giá mức độ biến động và sự linh hoạt cần thiết để thích nghi với môi trường nội bộ và bên ngoài, từ đó hình thành chiến lược, điều chỉnh nguồn lực và lựa chọn phương án quản trị phù hợp.

Yếu tố mục tiêu quản lý cần đạt ở mức độ, phạm vi nhất định

Thông minh và sáng tạo của người quản lý là yếu tố cốt lõi trong lĩnh vực quản lý, và để tiếp cận cơ sở lý luận về các giải pháp quản lý, trước tiên cần xác định và làm rõ phạm trù của giải pháp quản lý Theo Từ điển quản lý xã hội do Nguyễn Tuấn Dũng và Đỗ Minh Hợp trình bày, giải pháp quản lý xã hội được hiểu là phương tiện và hành vi thực hiện sự tác động bằng quản lý, đồng thời là phương thức biểu thị các mối quan hệ quản lý Xét về bản chất, giải pháp quản lý xã hội là một dự án được xây dựng, thông qua và ghi nhận ở hình thức dự án, nhằm mục tiêu cải tạo xã hội và điều tiết các quá trình xã hội trong điều kiện lịch sử cụ thể [11].

Dựa trên các quan điểm tiếp cận đã nêu, giải pháp bản chất là tập hợp các phương pháp, phương tiện, hành vi và công cụ được tác động và triển khai thông qua quản lý theo một lộ trình đã được quy định Những yếu tố này thể hiện ở dạng các chương trình và dự án được thực hiện trong phạm vi lộ trình xác định nhằm mục tiêu quản lý Nói ngắn gọn, các giải pháp chính là các chương trình, dự án được dùng như một phương pháp quản lý để đạt được các mục tiêu quản lý đã đề ra.

Dựa trên các cơ sở và quan điểm đã trình bày, khái niệm giải pháp được định nghĩa như những phương pháp cụ thể và cách thức triển khai các phương pháp ấy; giải pháp còn được hiểu là sự cụ thể hóa các phương pháp hoặc sự ứng dụng chúng vào thực tiễn quản lý.

Trong một phương pháp có nhiều giải pháp cụ thể, một giải pháp cụ thể có thể đại diện cho nhiều phương pháp khác nhau; vì thế, giữa phương pháp và giải pháp có sự tương đồng nhưng không phải đồng nghĩa với nhau Một nhóm giải pháp cụ thể tập hợp lại để hình thành phương pháp quản lý.

Theo quan điểm phân tích hệ thống, các giải pháp quản lý được xem là một hệ thống các giải pháp được hợp thành với nhau Trong một giải pháp lớn, có cả hệ thống giải pháp con và các giải pháp thành phần Cả hệ thống giải pháp con tác động và phối hợp với nhau để hình thành và phát triển thành một giải pháp lớn.

Theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm nâng cao được hiểu là làm tăng thêm

Trong đề tài luận án này, khái niệm 'giải pháp' được hiểu là các phương thức và biện pháp cụ thể nhằm giải quyết một vấn đề nhất định để nâng cao chất lượng giảng dạy môn Giáo dục thể chất (GDTC) cho sinh viên Việc đề xuất và triển khai các giải pháp phù hợp sẽ gia tăng giá trị của các tiêu chí đánh giá chất lượng công tác giảng dạy GDTC, từ đó nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập, đáp ứng chuẩn đầu ra của chương trình GDTC và tăng sự tham gia tích cực của sinh viên.

Hiện nay thế giới đang bước vào thời đại của các cuộc cách mạng về chất lượng, vì chất lượng được coi là vũ khí cạnh tranh quan trọng nhất Vậy chất lượng là gì? Chất lượng là một khái niệm phức tạp và đa chiều, với mỗi người có thể có những quan điểm hay định nghĩa khác nhau về chất lượng Khái niệm chất lượng có thể hiểu được ở một mức độ nhất định, nhưng khó có thể giải thích và diễn đạt một cách đầy đủ và rõ ràng.

Dưới đây là một số cách hiểu về khái niệm “chất lượng”:

Chất lượng là sự xuất sắc và tuyệt hảo, thể hiện qua giá trị vật chất và sự biến đổi về chất của sản phẩm hoặc dịch vụ Nó phải phù hợp với mục tiêu đề ra và đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng, đồng thời phản ánh mức độ hoàn thiện và tối ưu hóa hiệu suất sử dụng Chất lượng còn được đo bằng các tiêu chuẩn và tiêu chí kiểm tra, mang lại trải nghiệm tích cực, tăng giá trị thương hiệu và sự tin tưởng từ người tiêu dùng.

Chất lượng là tổng thể các tính chất và thuộc tính cơ bản của một sự vật hay sự việc, cấu thành nên đặc trưng riêng của nó và giúp nó phân biệt với các sự vật, sự việc khác [40] Những đặc trưng này không chỉ xác định bản chất mà còn là cơ sở để nhận diện và đánh giá mức độ hoàn thiện của đối tượng trong các ngữ cảnh khác nhau Vì vậy, chất lượng là khái niệm tổng quát dùng để so sánh, phân loại và đánh giá sự đáng tin cậy và phù hợp của sự vật hoặc sự việc ấy.

Chất lượng là yếu tố quyết định phẩm chất và giá trị của mọi sự vật, đồng thời là cái làm nên bản chất của mỗi đối tượng và sự khác biệt giữa chúng Nó không chỉ thể hiện sự tinh xảo hay hoàn thiện mà còn phản ánh mức độ phù hợp với mục đích sử dụng và nhu cầu của người tiêu dùng Chất lượng được đánh giá dựa trên các đặc tính kỹ thuật, độ tin cậy, hiệu suất và khả năng đáp ứng kỳ vọng, từ đó hình thành niềm tin và quyết định mua hàng Vì vậy, chất lượng là nền tảng để xác định sự khác biệt cạnh tranh và sự bền vững của sản phẩm hoặc dịch vụ trên thị trường.

Chất lượng là mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản [42]

Chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu nằm trong một tập hợp các đặc tính của sản phẩm hoặc dịch vụ, trong đó yêu cầu được hiểu là những nhu cầu hoặc mong đợi đã được công bố, có thể ngầm hiểu hoặc bắt buộc theo định nghĩa ISO 9000:2000.

Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể hoặc đối tượng, tạo cho nó khả năng thỏa mãn đầy đủ các nhu cầu đã được nêu ra và những nhu cầu tiềm ẩn của người dùng Theo chuẩn TCVN – ISO 8402, chất lượng được đo bằng mức độ đáp ứng yêu cầu và kỳ vọng của khách hàng, đồng thời phản ánh mức độ phù hợp của sản phẩm hoặc dịch vụ với mục đích sử dụng và mong đợi của thị trường.

Cơ sở lý luận về đánh giá chất lượng giảng dạy

Đánh giá chất lượng giáo dục:

Chất lượng giáo dục đại học là một khái niệm động, đa chiều và gắn với các yếu tố chủ quan thông qua quan hệ giữa người với người Vì thế, không thể đánh giá hay đo lường chất lượng giáo dục đại học bằng một phép đo đơn giản mà thiếu sự cân nhắc về bối cảnh, yếu tố con người và sự biến thiên theo thời gian Đòi hỏi một cách tiếp cận toàn diện và liên tục, xem xét cả kết quả học tập, quá trình giảng dạy, sự tham gia của người học và tác động của hệ thống giáo dục lên cộng đồng, nhằm phản ánh đúng bản chất phức hợp của chất lượng giáo dục đại học.

Trong giáo dục đại học, một bộ thước đo gồm các tiêu chí và chỉ số ứng với các lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học và dịch vụ cộng đồng được dùng để đánh giá và đo lường các điều kiện đảm bảo chất lượng, đồng thời có thể đánh giá chất lượng đào tạo của một trường Các chỉ số này có thể là định lượng, được đánh giá bằng điểm số, hoặc định tính, dựa trên yếu tố chủ quan của người được đánh giá.

Đánh giá và đo lường chất lượng có thể do chính giáo viên và sinh viên của trường tiến hành nhằm tự đánh giá các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo cũng như chất lượng đào tạo của trường Đánh giá và đo lường này cũng có thể được thực hiện từ bên ngoài bởi các cơ quan hữu quan với các mục đích như khen, chê, xếp hạng, khuyến khích tài chính hoặc kiểm định công nhận Dù đối tượng và chủ thể đo lường là ai, bước đầu và quan trọng nhất là xác định mục đích của việc đánh giá để từ đó lựa chọn phương pháp và công cụ đo lường phù hợp.

Ngày 04 tháng 3 năm 2014, Bộ GD&ĐT ra quyết định số: 06/VBHN- BGDĐT Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học đã nêu rõ: Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học là mức độ yêu cầu và điều kiện mà trường đại học phải đáp ứng để được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục [5] Đánh giá chất lượng GDTC: Đánh giá chất lượng GDTC cho sinh viên về cơ bản là quá trình xác định thực hiện các mục tiêu trên thực tế của việc dạy học môn GDTC trong nhà trường; là quá trình dựa vào mục tiêu để đánh giá sự phát triển, sự tiến bộ của SV, thành quả và giá trị của việc thực hiện kế hoạch giáo dục

Theo tác giả Vũ Đức Văn, mục tiêu cuối cùng của đánh giá chất lượng GDTC là trả lời các câu hỏi về xu hướng chất lượng dạy học: nó tăng lên, đứng yên hay tụt xuống; nó phù hợp hay chưa phù hợp với mục tiêu và chuẩn đầu ra; và xác định nguyên nhân cũng như mức độ của những biến động đó Qua đó, đánh giá không chỉ đo lường kết quả mà còn chỉ ra cơ hội cải thiện, giúp nâng cao chất lượng dạy học GDTC và điều chỉnh chương trình cho phù hợp với nhu cầu người học và yêu cầu của giáo dục hiện đại.

Trong thực tiễn, người ta có thể đánh giá chất lượng GDTC một cách trực tiếp chất lượng sản phẩm giáo dục (người học) hoặc đánh giá gián tiếp, thông qua việc đánh giá chất lượng các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục và có thể kết hợp cả hai cách đánh giá nêu trên Đánh giá trực tiếp chất lượng sản phẩm GDTC ở trường đại học: là đánh giá sự đáp ứng các yêu cầu (mục tiêu) của sản phẩm giáo dục về các mặt kiến thức, kĩ năng (đặc biệt là các kỹ năng vận động và các năng lực thể chất) và thái độ của sinh viên với các hoạt động GDTC, trước hết là trong giờ học GDTC chính khoá Đánh giá gián tiếp chất lượng GDTC ở trường đại học: Do đánh giá trực tiếp sản phẩm giáo dục nói chung và chất lượng GDTC là việc khó, nên trong thực tế, người ta thường đánh giá chúng một cách gián tiếp thông qua đánh giá các yếu tố đảm bảo chất lượng giáo dục, đánh giá quá trình dạy học hoặc kết hợp đánh giá một số mặt trong chất lượng sản phẩm giáo dục

Tóm lại từ các cách tiếp cận được nêu, luận án xác định khái niệm: đánh giá chất lượng giảng dạy môn võ thuật CAND là quá trình xác định mức độ thực hiện các mục tiêu dạy và học võ thuật CAND trong trường ANND Quá trình này dựa trên các tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động giảng dạy của giảng viên, nhằm đo lường hiệu quả truyền đạt kiến thức và kỹ năng võ thuật, sự phù hợp của phương pháp giảng dạy với nhu cầu học viên và kết quả đạt được trong từng tiết học Việc xác định và áp dụng các tiêu chí này giúp liên kết chặt chẽ giữa mục tiêu giáo dục và kết quả học tập, đồng thời cung cấp căn cứ cho cải tiến chất lượng giảng dạy võ thuật CAND.

Dựa trên tổng hợp các nghiên cứu và tham khảo các tiêu chí đánh giá giảng viên từ một số trường đại học ở Mỹ, Úc và Canada, tác giả Nguyễn Thị Tuyết (2007) đã mô tả chi tiết hệ tiêu chí dùng để đánh giá giảng viên trong lĩnh vực giảng dạy, gồm 4 năng lực và 13 tiêu chí đi kèm, được trình bày cụ thể trong tài liệu tham khảo [39].

Năng lực 1: Thành tích trong giảng dạy (3 tiêu chí);

Năng lực 2: Số lượng và chất lượng giảng dạy (3 tiêu chí);

Năng lực 3: Hiệu quả trong giảng dạy (4 tiêu chí);

Năng lực 4: Tham gia vào đánh giá và phát triển chương trình đào tạo, tài liệu học tập (3 tiêu chí)

Đánh giá môn học thường dựa trên ý kiến phản hồi của sinh viên về công tác giảng dạy của giáo viên, đây là một biện pháp hữu hiệu để giám sát và điều chỉnh hoạt động giáo dục nhằm cải tiến và nâng cao chất lượng giảng dạy Theo tác giả Phạm Xuân Thanh (2004) [32], một số tiêu chí đánh giá môn học/học phần có thể được sử dụng như cơ sở để hệ thống hóa quá trình đánh giá và từ đó hỗ trợ việc nâng cấp chương trình đào tạo.

Mục đích, yêu cầu môn học/học phần rõ ràng đối với sinh viên;

Môn học/học phần được giảng dạy tốt;

Nội dung môn học/học phần bổ ích đối với sinh viên;

Tài liệu học tập cho môn học/học phần được cung cấp đầy đủ;

Khối lượng chương trình học tập phù hợp với sinh viên;

Sinh viên được động viên, khuyến khích học tốt;

Sinh viên nhận được những thông tin bổ ích về sự tiến bộ của mình trong suốt quá trình học tập;

Giảng viên quan tâm đến nhu cầu nâng cao kiến thức và kỹ năng của sinh viên, và quá trình kiểm tra đánh giá được thực hiện công bằng và khách quan Các trường đại học và cao đẳng ở châu Âu và Hoa Kỳ thường đánh giá hoạt động của giảng viên theo ba lĩnh vực chính là giảng dạy, nghiên cứu khoa học và dịch vụ Khi đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên, người ta đã đưa ra hai tiêu chí và các chỉ báo cụ thể kèm theo để đo lường hiệu quả giảng dạy và chất lượng giảng viên.

Hoạt động giảng dạy đại học gồm giảng dạy trên lớp, biên soạn bài giảng và biên soạn giáo trình nhằm truyền đạt kiến thức và nuôi dưỡng kỹ năng cho sinh viên Bên cạnh đó, công tác hướng dẫn sinh viên tập trung vào tư vấn chương trình học, hỗ trợ ngoài giờ lên lớp và hướng dẫn luận văn, luận án thạc sĩ và tiến sĩ, giúp sinh viên xây dựng lộ trình học tập, thực hiện nghiên cứu và hoàn tất các công trình học thuật ở các cấp độ khác nhau.

Theo Braskamp và Ory (2000), việc đánh giá giảng viên được xem xét trên bốn lĩnh vực chủ chốt: giảng dạy; nghiên cứu khoa học và hoạt động sáng tạo; công việc dịch vụ và chuyên môn; và trách nhiệm công dân Đối với lĩnh vực giảng dạy, hai tác giả trình bày bốn tiêu chí cùng với các chỉ số để đánh giá nhằm đo lường chất lượng giảng dạy và tác động đến kết quả học tập của sinh viên.

Tiêu chí: Truyền đạt kiến thức

Trong các khoá học, các buổi học trên truyền hình, các hội thảo/hội nghị;

Tổ chức một khoá học (lưu giữ những thông tin về sinh viên, kinh nghiệm học tập và lập kế hoạch);

Tiêu chí: Tư vấn và hướng dẫn cho sinh viên, học viên;

Giám sát sinh viên trong các phòng thí nghiệm, các buổi học ngoài trời;

Tư vấn cho sinh viên (về nghề nghiệp, học thuật, tư vấn riêng);

Giám sát sự hỗ trợ giảng dạy;

Giám sát sinh viên trong các trải nghiệm thực hành (ngành y);

Tư vấn giám sát sinh viên trong đề tài nghiên cứu/luận văn/luận án

Tiêu chí: Tiến hành các hoạt động học tập

Xem xét và thiết kế lại các khoá học;

Xét duyệt các chương trình học;

Thực hiện theo các tài liệu/sách giáo khoa, phầm mềm vi tính;

Hướng dẫn các chương trình học từ xa;

Tiêu chí: Giảng viên cần Đánh giá giảng dạy của đồng nghiệp;

Hướng dẫn các nghiên cứu về giảng dạy;

Các hoạt động phát triển chuyên môn

Một số nhà khoa học cho rằng các tiêu chí cần thiết để đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên bao gồm:

Sự truyền đạt kiến thức;

Kỹ năng giảng dạy và quản lý lớp;

Sự tư vấn, hướng dẫn cho sinh viên/học viên/nghiên cứu sinh;

Biên soạn bài giảng, tài liệu giảng dạy;

Hoạt động phát triển trình độ chuyên môn và học thuật đóng vai trò nền tảng cho chất lượng giảng dạy Để đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên, cần chú ý không chỉ đến lĩnh vực và tiêu chí đánh giá mà còn đến cách thức thu thập thông tin đánh giá Dựa trên tổng hợp nhiều nghiên cứu trước đây, Goe, Bell và Little (2008) đã tóm tắt các nguồn dữ liệu được sử dụng trong đánh giá giảng viên và trình bày bảng 1.1, làm cơ sở tham chiếu cho các phương pháp đánh giá trong giáo dục.

Hiện nay, giống như nhiều nước trên thế giới, các trường đại học và cao đẳng ở Việt Nam đang áp dụng một số phương thức đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và đảm bảo tiêu chuẩn giáo dục Những phương pháp này được triển khai đồng bộ để đo lường hiệu quả giảng dạy, khuyến khích đổi mới phương pháp sư phạm và tăng tính minh bạch trong quản lý chất lượng giảng dạy.

Đánh giá giảng viên được thực hiện qua nhiều kênh nhằm tạo cái nhìn toàn diện về chất lượng giảng dạy và sự phát triển nghề nghiệp Các kênh đánh giá gồm Giảng viên tự đánh giá; Đánh giá của đồng nghiệp; Đánh giá của sinh viên; Đánh giá của các nhà quản lý giáo dục; Đánh giá qua hồ sơ giảng dạy, nhằm nhận diện điểm mạnh, điểm yếu và cơ hội cải tiến phương pháp giảng dạy Việc kết hợp các nguồn đánh giá này mang lại sự công bằng, khách quan và hỗ trợ quá trình nâng cao chất lượng giáo dục.

Quan sát của tổ trưởng chuyên môn; Đánh giá của các chuyên gia đánh giá ngoài

Khái quát về võ thuật CAND

1.4.1 Giới thiệu sơ lược về Học viện ANND

Học viện An ninh nhân dân (ANND) ngày nay là cơ sở đào tạo đầu tiên của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam (CAND), được thành lập từ ngày 25 tháng và không ngừng lớn mạnh để khẳng định vai trò then chốt trong giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực an ninh, trật tự cho đất nước Với chương trình đào tạo chuyên sâu, đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm và cơ sở vật chất hiện đại, ANND đáp ứng mọi yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, đảm bảo an toàn xã hội và phát triển lực lượng CAND có trình độ cao.

Kể từ năm 1946 với tên gọi Trường Huấn luyện Công an, Học viện ANND trực thuộc Bộ Công an là cơ sở giáo dục đại học công lập trong hệ thống giáo dục quốc dân, đào tạo đa ngành và có nhiệm vụ đào tạo cán bộ ở trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ và nâng cao trình độ Học viện ngày càng mở rộng, hoàn thiện và tập trung đào tạo theo hướng đa ngành và chuyên sâu, với 10 ngành và 12 chuyên ngành ở trình độ đại học; 04 ngành, chuyên ngành ở trình độ thạc sĩ và 02 ngành, chuyên ngành ở trình độ tiến sĩ.

Trải qua 76 năm xây dựng và phát triển, Học viện ANND đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận và đánh giá cao nhờ đội ngũ cán bộ được đào tạo tại Học viện; nhiều cựu học viên đã nỗ lực phấn đấu, đạt nhiều thành tích trong công tác, chiến đấu và được bổ nhiệm giữ các trọng trách của Đảng, Nhà nước và ngành Công an Hàng trăm cựu học viên đã được Nhà nước phong quân hàm cấp Tướng và phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Từ Trường Huấn luyện Công an, Học viện ANND nay đã vươn lên trở thành cơ sở giáo dục đại học trọng điểm của ngành Công an, đồng thời là trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học uy tín của cả nước.

1.4.2 Khái niệm, vị trí, vai trò và đặc điểm môn võ thuật CAND

1.4.2.1 Khái niệm võ thuật và võ thuật CAND

Võ thuật là kĩ thuật hoặc phương thức dùng nội lực và ngoại lực để chiến thắng đối phương Là một nghệ thuật vận động sinh ra từ cuộc đấu tranh giữa con người với thiên nhiên, các loài thú dữ và các kẻ thù bên ngoài, cũng như với những thách thức bên trong bản thân như bệnh tật, võ thuật hướng tới mục tiêu đem lại chiến thắng, rèn luyện sức khỏe và phục vụ các nhu cầu tuỳ thuộc vào từng bộ môn Theo thời gian, võ thuật hiện đại không còn nhấn mạnh vai trò chiến đấu và chiến thắng bằng mọi giá như trước, mà chú trọng nhiều hơn đến rèn luyện sức khỏe và thực thi quyền tự vệ chính đáng khi hữu dụng Một số môn phái được thi đấu như những môn thể thao biểu diễn hoặc đối kháng với các quy tắc nghiêm ngặt, cấm sử dụng các đòn đánh nguy hiểm hoặc độc hại.

Võ và Võ thuật tuy có thể được đồng nhất về ngữ nghĩa, nhưng hai khái niệm vẫn có ranh giới rõ nét: Võ nói chung là lối đánh bằng tay không hoặc binh khí và đôi khi mang tính đối lập với văn; còn Võ thuật thiên về nghệ thuật vận động, sự khéo léo và kỹ thuật, nhấn mạnh cách thức phát huy toàn diện sức mạnh của con người để chiến thắng mọi địch thủ, không chỉ những đối thủ trên sàn đấu Bên cạnh đó, Võ nghệ là khái niệm vừa gần với Võ thuật vừa mang ý nghĩa nghề nghiệp, khẳng định võ là một nghề trong xã hội Không thể bỏ qua Võ đạo, nhấn mạnh tính nhân văn và văn hóa trong võ thuật, khẳng định tột đỉnh của võ là văn, vì sau võ học là cội nguồn triết học, hạt nhân đạo đức và chiều sâu tôn giáo, đồng thời cho thấy sự khốc liệt vốn có của võ như một công cụ để tàn sát thì được đặt ở vị trí thứ yếu.

Ở Việt Nam, khái niệm Võ học vẫn đối lập với Võ biền và được dùng rất hiếm trong đời sống võ thuật hiện nay; Võ học không phải là một ngành giáo dục – đào tạo chuẩn mà là quá trình nghiên cứu, phân tích và hệ thống hóa mọi mặt của võ thuật dưới ánh sáng của các khoa học tự nhiên và xã hội như vật lý, giải phẫu, sinh lý, sinh hóa, sinh cơ, tâm lý học và y học TDTT Hầu hết các tác phẩm của các võ sư hay HLV danh tiếng hiện nay ít đề cập tới các thành tựu nghiên cứu của lĩnh vực này, khiến đời sống võ thuật Việt Nam còn khá xa lạ với các thuật ngữ, khái niệm hay công trình nghiên cứu của giới khoa học về võ thuật Có thể nguyên nhân sâu xa nằm ở trình độ nhận thức, lý luận và nghiên cứu của giới võ thuật hiện nay.

Võ thuật là nghệ thuật sử dụng các bộ phận trên cơ thể con người như tay, chân, khớp khuỷu, khớp gối, đầu và vai, cùng với các loại vũ khí và công cụ thô sơ để thực hiện các kỹ thuật và chiến thuật tấn công và phòng thủ một cách hiệu quả.

Võ thuật CAND là phái võ được kế thừa và chắt lọc tinh hoa của các môn phái võ trong nước và thế giới Lực lượng Công an nghiên cứu, tập luyện và vận dụng võ thuật CAND nhằm phục vụ cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội.

1.4.2.2 Vị trí, vai trò và đặc điểm môn võ thuật CAND

Vị trí, vai trò võ thuật CAND:

CAND Việt Nam là lực lượng vũ trang nòng cốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đảm nhiệm vai trò xung kích trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội Lực lượng tham mưu cho Đảng và Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, thực hiện quản lý thống nhất về an ninh và trật tự, đồng thời tích cực đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, tội phạm và các vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự và an toàn xã hội CAND Việt Nam dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự thống nhất quản lý của Chính phủ và sự chỉ huy, quản lý trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Công an Khẩu hiệu của lực lượng từ ngày đầu thành lập là “Bảo vệ An ninh Tổ quốc”.

Võ thuật CAND có vị trí quan trọng trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong công tác xây dựng lực lượng và phục vụ đắc lực công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm của lực lượng Công an Nhân dân (CAND) Đặc điểm võ thuật CAND tập trung vào tính thực tiễn cao, sự phối kết hợp giữa kỹ thuật chiến đấu, rèn luyện thể lực và quản lý rủi ro, giúp cán bộ chiến sĩ đảm bảo an toàn cho bản thân và đồng đội khi làm nhiệm vụ Chương trình đào tạo chú trọng sự linh hoạt, chuẩn hóa kỹ thuật và tăng cường ý thức kỷ luật, nhằm đáp ứng yêu cầu đối phó với nhiều loại tội phạm và tình huống phức tạp trong thực tế Nhờ vậy, võ thuật CAND trở thành nền tảng quan trọng hỗ trợ hiệu quả công tác đảm bảo an ninh trật tự và sự bình yên cho xã hội.

- Võ thuật CAND là một trong các môn phái võ:

Thông thường các môn phái võ thuật đi sâu nghiên cứu thế đứng, các đòn tấn công bằng tay và bằng chân, cùng với động tác phòng ngự khi bị tấn công và các kỹ thuật quật ngã hay bắt khóa trói Tuy nhiên mỗi môn phái có mục đích và yêu cầu sử dụng riêng, dẫn tới sự đa dạng trong phương pháp huấn luyện và triển khai kỹ thuật Sự khác biệt này đòi hỏi người tập hiểu rõ đặc trưng của từng phái để chọn chiến lược võ thuật phù hợp với mục tiêu thi đấu, tự vệ hoặc phát triển kỹ năng cá nhân Vì vậy, việc nắm bắt mục tiêu và đặc điểm của môn phái là chìa khóa để tối ưu hóa quá trình luyện tập và đạt hiệu quả cao trong các tình huống thực chiến.

Nhìn chung, các môn phái võ thuật ngày nay phần lớn được phát triển theo hướng thể thao hóa nhằm rèn luyện cơ thể ở cường độ cao, giúp người tập trở nên nhanh nhẹn, khỏe mạnh và bền bỉ Hàng năm, các cơ quan nhà nước và các tổ chức đoàn thể trong nước cũng như trên thế giới tổ chức các cuộc thi võ thuật và đưa các môn phái vào hệ thống thi đấu của các kỳ đại hội thể thao khu vực và toàn cầu Quá trình rèn luyện và thi đấu võ thuật mang lại sức mạnh, tốc độ, sự khéo léo, lòng quả cảm và khả năng chịu đựng ở mức độ cao mà người bình thường khó có được Đồng thời, việc tập luyện và thi đấu võ thuật còn góp phần giữ gìn những nét đặc trưng của các môn phái cổ truyền, từ đó bảo tồn nền văn hóa của mỗi dân tộc.

Võ thuật CAND chia sẻ nhiều điểm tương đồng với các môn phái võ khác khi đều nghiên cứu hệ thống động tác kỹ thuật tấn công và phòng ngự, và luyện tập nhằm nâng cao sức khỏe cho người học Nó có mối quan hệ mật thiết và kế thừa tinh hoa từ nhiều môn phái võ khác nhau, nên được xem là một hệ thống võ thuật trong nước và trên phạm vi quốc tế Tuy vậy, võ thuật CAND còn có nhiều khác biệt so với các môn phái hiện nay ở trong nước và trên thế giới, được xây dựng và phát triển nhằm phục vụ cho yêu cầu nghiệp vụ của ngành Công an, để phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật.

Võ thuật CAND được nghiên cứu và xây dựng nhằm phù hợp với đặc thù công tác của lực lượng Công an, với hệ thống thế đánh và bài tấn công bằng chân tay không hoặc vũ khí thô sơ phù hợp từng tình huống cụ thể Nội dung huấn luyện nhằm trang bị cho cán bộ chiến sĩ võ thuật cần thiết để tấn công trấn áp tội phạm, bắt giữ tội phạm và phòng vệ khi bị tấn công, từ đó bảo vệ an toàn cho bản thân, đồng đội và nhân dân.

Võ thuật CAND có vị trí quan trọng trong công tác xây dựng lực lượng CAND:

Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lực lượng Công an nhân dân (CAND) phải kiên định củng cố và xây dựng vững mạnh toàn diện, tiến tới mục tiêu quy chuẩn, tinh nhuệ và hiện đại để giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội Để thực hiện nhiệm vụ quan trọng đó, cán bộ chiến sĩ Công an không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt: giỏi pháp luật và nghiệp vụ, tinh thông võ thuật, kỹ chiến thuật quân sự, đồng thời rèn luyện phẩm chất đạo đức theo 6 lời dạy của Bác, nhằm xứng đáng với lòng tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy võ thuật trong lực lượng CAND

Trên con đường phát triển, mỗi quốc gia có chiến lược riêng nhưng không quốc gia nào bỏ qua đầu tư cho giáo dục; chất lượng giảng dạy của giảng viên được xem là yếu tố then chốt quyết định chất lượng giáo dục tại các trường đại học Do đó, việc tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy tại nơi làm việc là rất quan trọng cho sự thành công của một cơ sở giáo dục và trường đại học Giảng viên giảng dạy hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và xây dựng nguồn nhân lực có trình độ phục vụ đất nước Nhiều nghiên cứu cho thấy chất lượng giảng dạy quyết định kết quả học tập của sinh viên và được coi là yếu tố quan trọng nhất để nâng cao thành tích học tập của sinh viên [43], [44].

Các nhà nghiên cứu đã theo dõi chặt chẽ thành tích của người học và xác định hiệu quả của giáo viên là kết quả lâu dài đối với sự thành công của người học Vai trò của giáo viên không chỉ đứng trước lớp và giảng dạy mà còn hỗ trợ kết nối người học, từ đó người học học tập tốt hơn thông qua môi trường học tập tích hợp Nói cách khác, giáo viên giảng dạy hiệu quả không chỉ đơn thuần là dạy học mà còn kết hợp nhiều nhiệm vụ trong một tiết dạy để đảm bảo tất cả người học đều nhận được nền giáo dục có chất lượng Để tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy nói chung, giảng dạy võ thuật CAND nói riêng, luận án tiến hành nghiên cứu các tài liệu liên quan đến chất lượng giảng dạy đại học và nhận thấy có một số nghiên cứu có những cách tiếp cận không hoàn toàn giống nhau.

Trong nghiên cứu của mình Dương Quang Minh đã thực hiện khảo sát bằng bảng hỏi đối với 124 giảng viên của 12 Khoa/Bộ môn trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành nghiên cứu về hiệu quả giảng dạy, định nghĩa nó là sự đánh giá của giảng viên về năng lực thiết kế môn học, xây dựng chiến lược giảng dạy, sử dụng công nghệ, quản lý lớp học, sự tương tác giữa các cá nhân và đánh giá kết quả học tập của sinh viên Kết quả cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa ở các yếu tố cá nhân như giới tính, tình trạng hôn nhân, nhóm tuổi, học hàm và trình độ chuyên môn, trong khi không có khác biệt giữa thâm niên giảng dạy và hiệu quả giảng dạy của giảng viên Bên cạnh đó, các yếu tố cá nhân, nguồn học liệu cho giảng dạy, văn hóa tổ chức, chế độ chính sách và sự hỗ trợ của nhà quản lý đều có ảnh hưởng đến hiệu quả giảng dạy của giảng viên.

Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hương, chất lượng giảng dạy được xem là kết quả của nhiều yếu tố, trong đó ba nhóm yếu tố trực tiếp nhất là người dạy, người học và môi trường, điều kiện dạy học Ba nhóm này tham gia, tương tác và gắn kết chặt chẽ với nhau trong mỗi giờ giảng, góp phần quan trọng tạo nên sản phẩm cuối cùng là chất lượng giảng dạy [21].

Nguyễn Thị Phương Thảo (2017) đã đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả giảng dạy của giảng viên bằng phân tích hồi quy nhằm xác định trọng số của từng thành phần Theo mô hình nghiên cứu lý thuyết, có 7 yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả giảng dạy của giảng viên bao gồm: Bản chất công việc; Lương, thưởng và phụ cấp; Quan hệ đồng nghiệp; Quản lý, lãnh đạo; Cơ hội đào tạo và thăng tiến; Cơ sở vật chất; Sự phản hồi và kết quả của sinh viên và thang đo hiệu quả giảng dạy của giảng viên Kết quả kiểm định cho thấy chỉ có 4 thành phần tác động đến hiệu quả giảng dạy của giảng viên, trong đó thành phần tác động mạnh nhất là Sự phản hồi và kết quả của sinh viên; thứ hai là Quan hệ đồng nghiệp; thứ ba là Cơ sở vật chất; và cuối cùng là Lương, thưởng và phụ cấp [35].

Ba tác giả được nêu trên đều cho rằng yếu tố cơ sở vật chất là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng giảng dạy của giảng viên Theo Nguyễn Thị Phương Thảo, sự phản hồi và kết quả của người học là yếu tố tác động mạnh nhất đến chất lượng giảng dạy; Nguyễn Thị Thanh Hương đồng quan điểm cho rằng người học là nhân tố tác động trực tiếp Đồng quan điểm về tác động của kết quả học tập đến chất lượng giảng dạy, Nguyễn Thị Phương Thảo và Dương Quang Minh cho rằng kết quả học tập cũng ảnh hưởng tới chất lượng giảng dạy Bên cạnh đó, Nguyễn Thị Thanh Hương và Dương Quang Minh cùng nhất trí với vai trò của người thầy ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy Tóm lại, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy có thể phân thành năm nhóm yếu tố.

Nhóm thứ nhất: Các yếu tố thuộc về giảng viên gồm các nhân tố:

Phương pháp giảng dạy của giảng viên;

Năng lực, trình độ chuyên môn của giảng viên;

Tình cảm, tinh thần trách nhiệm với nghề nghiệp

Nhóm thứ hai: Các yếu tố thuộc về sinh viên (người học) gồm các nhân tố:

Thái độ, ý thức học tập của sinh viên;

Trình độ tiếp thu của sinh viên;

Phương pháp học tập của sinh viên

Nhóm thứ ba: Các yếu tố về cơ sở vật chất và phương tiện dạy học gồm các nhân tố:

Cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy;

Nguồn học liệu (Giáo trình, tài liệu tham khảo)

Nhóm thứ tư: Các yếu tố về nội dung giảng dạy gồm các nhân tố:

Vị trí, vai trò của môn học trong chương trình đào tạo;

Tính thiết thực, cập nhật nội dung;

Tính vừa sức của nội dung học tập

Nhóm thứ năm: Nhóm yếu tố khách quan gồm các nhân tố:

Sự quản lý, lãnh đạo của cấp trên;

Lương, thưởng và phụ cấp

Những yếu tố tác động đến chất lượng giảng dạy các môn lý thuyết gồm các yếu tố chung áp dụng rộng rãi và các điều kiện tổ chức cần được tối ưu, nhằm nâng cao hiệu quả học tập Đối với giờ giảng GDTC, đặc biệt môn võ thuật thuộc lực lượng CAND, còn có những nhân tố đặc thù liên quan đến đặc thù nghề nghiệp và môi trường luyện tập, nhưng vẫn tuân thủ các quy luật dạy và học Những yếu tố này hình thành nền tảng lý thuyết quan trọng để luận án triển khai các giải pháp nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu ở phần sau Việc nhận diện và phân tích các yếu tố trên sẽ giúp nâng cao chất lượng giảng dạy môn lý thuyết và võ thuật trong GDTC một cách hệ thống và hiệu quả.

Những công trình nghiên cứu có liên quan

1.6.1 Các công trình nghiên cứu trong nước

Hiện nay, có rất nhiều tác giả và nhóm tác giả nghiên cứu về huấn luyện, giảng dạy và khoa học võ thuật tại Việt Nam Đa số các nghiên cứu tập trung phát triển tố chất thể lực, khắc phục sai lầm hay gặp và xây dựng hệ thống kiểm tra đánh giá, phân loại tố chất thể lực nhằm tuyển chọn vận động viên võ thuật Một số nghiên cứu đi sâu vào tâm lý thi đấu, khả năng phối hợp vận động của VĐV võ thuật hoặc đề xuất các giải pháp phát triển phong trào võ thuật ở địa phương Tuy vậy, nghiên cứu về nâng cao chất lượng giảng dạy võ thuật, đặc biệt là giờ học võ thuật trong lực lượng Công an Nhân dân Việt Nam, vẫn còn rất ít người đề cập Qua tham khảo và tổng hợp các tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy có những khoảng trống và cơ hội cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển võ thuật nước ta.

Tác giả Nguyễn Đương Bắc (2005) thực hiện đề tài “Nghiên cứu các bài tập phát triển sức bền đối với VĐV nam lứa tuổi 15 - 17 (dẫn chứng ở môn Karatedo-do)” [7] cho rằng, năng lực sức bền của VĐV trong thi đấu môn võ

Karatedo là hết sức quan trong, sức bền là tiền đề đảm bảo cho VĐV giải quyết hoàn hảo những nhiệm vụ kx chiến thuật đề ra Kết quả nghiên cứu của luận án đã chỉ ra những test đánh giá sức bền và hệ thống bài tập phát triển sức bền cho VĐV Karatedo trẻ Đây là công trình nghiên cứu tương đối công phu, bài bản có giá trị ứng dụng vào thực tiễn huấn luyện Karatedo

Nguyễn Hồng Đăng (2016) trong luận án tiến sĩ "Nghiên cứu đặc trưng kỹ chiến thuật của nam VĐV Karatedo Việt Nam và giải pháp huấn luyện" hệ thống hóa kỹ thuật và đặc trưng chiến thuật trong thi đấu Karatedo hiện đại, đồng thời phân tích và đánh giá đặc điểm kỹ chiến thuật của các vận động viên karate Việt Nam Kết quả cho thấy nam VĐV Việt Nam chủ yếu tấn công bằng tay trước làm công cụ ghi điểm, tay sau được sử dụng nhiều hơn và các kỹ thuật chân biến hóa còn đơn giản; đòn quét quật ít được sử dụng và chưa thuần thục, tổ hợp kỹ thuật còn hạn chế, khả năng tấn công liên hoàn yếu và lực tấn công ở lượt thứ hai còn yếu Trong phòng thủ, phần lớn kỹ thuật là đơn lẻ, ít vận dụng tổ hợp, chủ yếu dùng tay sau (gyaku zuki); các kỹ thuật đơn khác có vận dụng nhưng không đáng kể và phản công bằng kỹ thuật chân chưa mạnh Ở tấn công, chiến thuật tấn công trực diện vẫn chiếm ưu thế, còn ở phòng thủ chủ yếu vận dụng phản sau và phản chặn trực tiếp Từ những ưu, nhược điểm được chỉ ra, tác giả đề xuất các đối sách nhằm cải thiện những tồn tại Mặc dù lĩnh vực nghiên cứu vẫn có tính cấp thiết, nhưng có ý nghĩa thực tiễn lớn khi Karate được xác định là môn thi đấu tại Olympic 2020 ở Nhật Bản, và thể thao Việt Nam kỳ vọng đội tuyển Karatedo quốc gia sẽ gặt hái thành tích cao.

Ngoài ra, nhiều tác giả có nghiên cứu chuyên sâu về các môn võ đã đưa ra những điểm mới trong lý luận và áp dụng có hiệu quả trong thực tiễn huấn luyện võ thuật Những kết quả này không chỉ làm sáng tỏ cơ sở lý thuyết mà còn nâng cao hiệu quả đào tạo và thi đấu, góp phần cải thiện chiến thuật, kỹ thuật và phương pháp rèn luyện Điển hình cho hướng nghiên cứu này là Hoàng Văn Sơn [31], với đóng góp được ghi nhận trong hệ thống tài liệu tham khảo.

Vũ Xuân Thành [34], Nguyễn Thế Truyền [37]

Ở Việt Nam, nghiên cứu khoa học về võ thuật CAND trong khối lực lượng ANND đã được đề cập bởi nhiều tác giả, điển hình là Nguyễn Thanh Hải (2010) với đề tài thạc sĩ “Nghiên cứu ứng dụng hệ thống bài tập phát triển sức mạnh môn võ thuật cho sinh viên Học viện ANND” Trong luận văn này, tác giả xác định được hệ thống các bài tập phát triển sức mạnh cho sinh viên Học viện ANND, cho thấy hiệu quả tích cực trong việc nâng cao sức mạnh và đóng góp vào việc bổ sung hoàn thiện chương trình huấn luyện và giảng dạy võ thuật tại Học viện ANND.

Hoàng Văn Sơn (2014) với bài nghiên cứu “Giải pháp nâng cao chất lượng huấn luyện võ thuật, quân sự tại các trường CAND góp phần đấu tranh, phòng chống tội phạm bảo toàn lực lượng” đã đánh giá thực trạng chất lượng huấn luyện võ thuật tại các trường CAND và từ đó đề xuất 07 giải pháp cụ thể dựa trên các tồn tại được xác định Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung và hoàn thiện lý luận về huấn luyện võ thuật trong các trường CAND, đồng thời hướng tới nâng cao hiệu quả nâng cao chất lượng huấn luyện võ thuật và năng lực bảo vệ lực lượng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

Nguyễn Văn Trọng (2015) trong đề tài "Lựa chọn bài tập phát triển sức nhanh chuyên môn trong học tập võ thuật cho sinh viên Học viên ANND" đã xác định test đánh giá sức nhanh chuyên môn, xây dựng tiêu chuẩn phân loại sức nhanh chuyên môn và đề xuất các bài tập phát triển sức nhanh chuyên môn cho sinh viên Học viên ANND.

Năm 2018, Ngô Hải Hà công bố nghiên cứu Xây dựng bài tập phát triển sức mạnh tốc độ trong giảng dạy môn võ thuật CAND tại Học viện ANND, trong đó tác giả xác định hệ thống bài tập phát triển sức mạnh tốc độ bằng lốp cao su dành cho sinh viên Học viện ANND Kết quả cho thấy hệ thống bài tập này có hiệu quả trong việc phát triển sức mạnh tốc độ và góp phần nâng cao thể lực cho sinh viên, đặc biệt là sức mạnh tốc độ của lực lượng CAND.

Bùi Trọng Phương đã bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ năm 2019 với đề tài “Nghiên cứu nội dung trong phương pháp tập luyện theo trạm nhằm phát triển sức mạnh cho sinh viên nam Học viện ANND trong môn võ thuật CAND” Luận án tập trung phân tích nội dung và cơ sở lý thuyết của phương pháp tập luyện theo trạm, từ đó đề xuất các ứng dụng nhằm nâng cao sức mạnh cho sinh viên nam Học viện ANND và đóng góp cho giảng dạy võ thuật của CAND.

Luận án đã xây dựng được một bảng phân loại và một bảng điểm theo thang 10 ở từng chỉ tiêu, đồng thời kiểm nghiệm hệ thống các tiêu chuẩn này trong thực tiễn kiểm tra đánh giá sức mạnh cho đối tượng nghiên cứu và cho thấy tính hiệu quả rõ rệt Những đóng góp mới của luận án gồm: lựa chọn được 15 test đặc trưng thuộc 4 nhóm yếu tố sức mạnh, đảm bảo đủ độ tin cậy và tính thông báo cho sinh viên nam Học viện ANND trong môn võ thuật CAND, cụ thể: nhóm sức mạnh tối đa 3 test; nhóm sức mạnh tĩnh lực 2 test; nhóm sức mạnh tốc độ 6 test; nhóm sức mạnh bền 4 test Luận án cũng đánh giá thực trạng công tác giảng dạy môn võ thuật CAND của sinh viên nam Học viện ANND, cho thấy trong công tác huấn luyện sức mạnh tuy có quan tâm tới phát triển sức mạnh nhưng thời gian dành cho nó còn chưa nhiều, chủ yếu tập trung vào huấn luyện kỹ thuật cơ bản; thiếu các bài tập chuyên môn, đặc thù để phát triển sức mạnh và số lượng bài tập phân bố không đều Trình độ sức mạnh của sinh viên Học viện ANND vẫn còn ở mức thấp so với chuẩn đánh giá, phần lớn ở mức trung bình và yếu, và kết quả học tập môn võ thuật CAND của sinh viên nam Học viện ANND còn thấp Luận án đã lựa chọn được nội dung gồm 60 bài tập phát triển sức mạnh cho sinh viên nam Học viện ANND, bao gồm: Bài tập sức mạnh chung.

20 bài; Bài tập sức mạnh chuyên môn: 37 bài; Bài tập thi đấu: 3 bài…

Hà Mười Anh (2019) đã hoàn thành luận án Tiến sĩ với đề tài “Nghiên cứu ứng dụng bài tập nâng cao hiệu quả kỹ thuật tấn công trong môn võ thuật công an cho sinh viên Học viện CSND” Luận án cho thấy hai nội dung then chốt trong chương trình huấn luyện của sinh viên CSND là luyện tập kỹ thuật tấn công bằng tay và bằng chân Tuy nhiên thực tế giảng dạy còn hạn chế về số lượng bài tập và thiếu các bài tập bổ trợ phát triển thể lực chuyên môn, từ đó ảnh hưởng tới hiệu quả thực hiện kỹ thuật tấn công đòn tay và đòn chân Trên cơ sở tham khảo tài liệu chuyên môn, thông qua phỏng vấn và phương pháp thống kê, đề tài đã xác định độ tin cậy của kết quả phỏng vấn bằng Cronbach’s Alpha và lựa chọn được 04 nhóm với 30 bài tập nâng cao hiệu quả kỹ thuật tấn công cho sinh viên Học viện CSND.

Nhóm 1: Nhóm bài tập kỹ thuật tấn công đòn tay (10 bài tập);

Nhóm 2: Nhóm bài tập kỹ thuật tấn công đòn chân (8 bài tập);

Nhóm 3: Nhóm bài tập phối hợp tay chân (3 bài tập);

Nhóm 4: Nhóm bài tập phát triển thể lực chuyên môn (9 bài tập)

Gần đây, tác giả Lê Mạnh Cường (2020) đã nghiên cứu ảnh hưởng của tập luyện võ thuật CAND đến thể lực của nam sinh viên Học viện ANND Nghiên cứu đã xác định được một bộ công cụ đánh giá gồm: 02 chỉ tiêu thể hình; 13 chỉ tiêu chức năng sinh lý của hệ vận chuyển oxy; 04 chỉ tiêu chức năng sinh lý hệ trao đổi chất và 133 chỉ tiêu chuyển hoá năng lượng; 02 chỉ tiêu chức năng sinh lý thần kinh; và 04 test đánh giá thể lực, nhằm làm rõ tác động của tập luyện võ thuật CAND tới thể lực của sinh viên Học viện ANND.

Ở Việt Nam hiện nay, số học giả nghiên cứu võ thuật còn chưa nhiều Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các bài tập võ thuật nhằm phát triển thể lực cho sinh viên trong các trường thuộc lực lượng CAND Chưa có nghiên cứu nào đánh giá đầy đủ chất lượng giảng dạy võ thuật trong lực lượng CAND và những tác động của nó đến chất lượng đào tạo võ thuật Việc mở rộng nghiên cứu về chất lượng giảng dạy võ thuật và các yếu tố ảnh hưởng sẽ đóng góp vào nâng cao chất lượng đào tạo võ thuật trong các trường thuộc lực lượng CAND và phát triển thể lực toàn diện cho sinh viên, phục vụ công tác an ninh – quốc phòng.

1.6.2.Các công trình nghiên cứu ngoài nước

Thông qua khai thác nguồn tài nguyên trên không gian mạng, luận án đã khảo sát một số tài liệu nghiên cứu khoa học nước ngoài, đặc biệt là của Trung Quốc, liên quan đến vấn đề giảng dạy võ thuật nói chung và giảng dạy võ thuật trong các trường CAND nói riêng Mỗi nghiên cứu dựa trên đặc thù của từng trường, từng khu vực, từ đó có những kết quả nghiên cứu rất đáng tham khảo cho công tác giảng dạy võ thuật và đào tạo trong lực lượng CAND.

ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Ngày đăng: 31/12/2022, 08:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w