điệu hò này cùng khớp theo nhịp ựể cộng hưởng sức mạnh của cả tập thể, lời hò có khi khá hóm hỉnh như ựể làm vơi ựi nỗi vất vả : "Thuyền anh ựà cạn lên ựây Mượn ựôi dải yếm làm dây kéo
Trang 1PHẦN THỨ BA ðặc trưng vùng trong một số hiện tượng văn hóa
Trang 2Chương 14
Về vùng "thể loại" văn hoá
Ở các chương trên, chúng tôi ñề cập tới các vùng văn hoá mang tính
chất tổng thể, tạm gọi là vùng văn hoá tổng thể, còn trong chương này,
chúng tôi ñi sâu hơn phân tích tính chất vùng của các hiện tượng văn hoá riêng lẻ, chẳng hạn như truyền thuyết, sử thi, diễn xướng, âm nhạc,
phong tục, nghi lễ, kiến trúc, Èm thực , gọi là vùng thể loại văn hoá
Còng cần nói thêm rằng, không phải tất cả các hiện tượng văn hoá ñều chứa ñựng nhân tố phân biệt không gian ñịa lý như nhau, mà tuỳ theo từng loại hình văn hoá, tính vùng thể hiện nhiều Ýt khác nhau
Trước khi ñi vào phân tích các hiện tượng văn hoá cụ thể, chúng tôi thấy cần thiết phải ñưa ra mét quan niệm lý thuyết của mình về vùng thể
loại văn hoá Vùng thể loại văn hoá là một không gian ñịa lý nhất ñịnh,
mà ở ñó từng thể loại văn hoá (truyền thuyết, sử thi, dân ca, sân khấu,
âm nhạc, Èm thực, kiến trúc ) biểu hiện tính tương ñồng, thống nhất của mình thông qua nội dung, kết cấu, các sắc thái biểu hiện, phương thức lưu truyền ðể tạo nên các hiện tượng và thể loại văn hoá mang
"tính vùng", chúng ta phải xem xét ñến các nhân tố môi trường, mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử của chủ nhân, ñến các nhân tố giao lưu văn hoá giữa các tộc người
Phần trên chúng tôi nói tới khái niệm "hiện tượng văn hoá" và "thể loại văn hoá" Với cái gọi là hiện tượng văn hoá thì chắc không cần bàn cãi gì thêm, có chăng chỉ là khái niệm "thể loại văn hoá", vậy thể loại văn hoá là gì? Trước nhất, chúng tôi mượn khái niệm thể loại từ thể loại
văn học dân gian, như truyện cổ, truyền thuyết, sử thi, ca dao, dân ca
Do vậy, khi bàn về tính vùng của các thể loại văn học dân gian này thì không có vấn ñề gì phải bàn cãi Tuy nhiên, khi sử dụng khái niệm thể loại cho các hiện tượng văn hoá khác ngoài văn học dân gian, như kiến trúc, nhà cửa, Èm thực, âm nhạc, sân khấu thì nên hiểu nó như là những hiện tượng văn hoá mà thôi
Trang 3Sau ñây, chúng tôi lùa chọn giới thiệu một số hiện tượng, thể loại văn hoá, coi như là những thí dụ ñể tìm hiểu về vấn ñề "vùng thể loại" văn hoá
Vùng truyền thuyết và nghi lễ
Nước ta, nhất là vùng Bắc Bộ, nơi ñược coi là cái nôi hình thành dân tộc, hình thành quốc gia cổ ñại và văn hoá truyền thống của người Việt, thì tâm thức lịch sử luôn thấm ñượn trong các sáng tác dân gian, nhất là trong truyền thuyết Các truyền thuyết này vừa mang tính lịch sử vừa mang tính huyền thoại, tuy nhiên với quần chúng nhân dân, ñó là lịch sử ñích thực, nên nó gắn liền với các nghi lễ, phong tục, hình thành nên một
hiện tượng văn hoá mang tính tổng thể: Truyền thuyết - nghi lễ
Ở ðồng bằng và trung du Bắc Bộ, có thể kể ra các vùng truyền thuyết
- nghi lễ tiêu biểu sau: Vùng truyền thuyết - nghi lễ Hùng Vương, vùng truyền thuyết - nghi lễ Thánh Gióng, vùng truyền thuyết - nghi lễ Sơn Tinh - Tản Viên, vùng truyền thuyết - nghi lễ Hai Bà Trưng, vùng truyền thuyết - nghi lễ ðức Thánh Trần, Vùng truyền thuyết - nghi lễ Hoa Lư
Ở miền Trung, chúng ta có thể kể ñến vùng truyền thuyết - nghi lễ Lam Sơn, vùng truyền thuyết - nghi lễ Quang Trung ở Bình ðịnh Sau ñây
chúng tôi xin giới thiệu một số vùng truyền thuyết và nghi lễ
Vùng truyền thuyết - nghi lễ Tản Viên
Vùng truyền thuyết - nghi lễ Tản Viên bao gồm một vùng khá rộng lớn, gồm Tam Thanh, Thanh Sơn, Sông Thao (Phú Thọ) thuộc tả ngạn sông Thao (Sông Hồng) và Sơn Tây (Hà Tây) thuộc hữu ngạn Tất nhiên, ngoài vùng kể trên, theo quy luật lan toả của các hiện tượng Folklore, những truyền thuyết và phong tục liên quan tới Tản Viên có thể tìm thấy trên phạm vi rộng hơn, tuy nhiên những ñịa phương kể trên ñược coi là nhân lõi, ñiển hình của vùng truyền thuyết và nghi lễ Tản Viên Nhiều nhà sưu tầm ñã công bố những truyền thuyết, huyền thoại về Sơn Tinh - Thuỷ Tinh ở Ba Vì và các vùng phụ cận, cũng như các phong tục liên
quan (ðoàn Công Hoạt, 1969)
Trên ñịa phận Sơn Tây quanh nói Ba Vì vẫn còn lưu giữ các diễn
Trang 4xướng nghi lễ liên quan ñến Tản Viên, như tục ñánh cá thờ trên khúc
sông Tích, từ cầu Vang (ðường Lâm) ñến cầu Ái Mỗ (Trung Hưng) Trên ñoạn sông Tích, mọi người ñều có thể tham gia ñánh cá, miễn là khi bắt ñược cá chép to thì góp vào cỗ gồm 99 ñuôi cá ñể thờ Thánh Tản, biểu tượng cho quân của Thuỷ Tinh trong cuộc chiến tranh giữa Sơn Tinh và Thuỷ Tinh Còn các ñịa phương khác, như ở làng Tông Lệnh thì lại ñánh cá lăng, cá quất và làm tiệc gỏi cúng Tản Viên Gắn với sự tích Tản Viên - Sơn Tinh còn có nhiều tục lệ, nghi lễ khác nữa, như làng Liệp Tuyết có tục Múa Rô tổ chức 36 năm một lần, làng Vân Ta có trò Tứ Dân (Trò Triếng), tái hiện việc công chóa Ngọc Hoa rước lụa tiến Vua cha, tục cướp kén mang tính phồn thực của nghi lễ nông nghiệp, làng Sơn ðồng có nghi lễ săn thịt thó ñể cúng Thánh Tản
Trên ñịa phận Phú Thọ, các nghi lễ liên quan tới thờ cúng Tản Viên khá phong phú, như tục chơi ñu ở xã Minh Phương vào mồng 6 tháng giêng hàng năm, tục chọi trâu ở Hoàng Cương (Thanh Hoà) vào 7 tháng giêng, hội phết ỏ Sơn Huy (Lâm Thao), tái hiện sự tích luyện quân của Tản Viên, tục ñua chải ở xã Thạch ðồng (Tam Thanh), tượng trưng cho việc ñưa tiễn Tản Viên về núi Tản, tục ñập trâu, mổ lợn ñể Tản Viên tế trận, tục tế cầu trận gắn với truyền thuyết quân Tản Viên có lần bị thua rót qua ñây ñược dân ra ñộng viên uý lạo; tục múa săn trong lễ thức cúng
lễ Tản Viên
Tiêu biểu hơn cả là các trò diễn Rước chóa gái tái hiện sự tích Sơn
Tinh ñưa Ngọc Hoa từ Phong Châu về nhà chồng, tổ chức khá quy mô từ
30 tháng chạp tới 8 tháng giêng, do làng Triệu Phú (tên nôm là Trẹo) và làng Hy Cương (tên nôm là Vi) ñứng ra tổ chức, do vậy trò này còn ñược
gọi là Vi Trẹo rước chóa gái Cuộc trình diễn này có thể tóm lược như
sau: Tối ngày 30 tháng chạp, ông Từ làng Vi cầm con gà ñến cây hương khấn ba lần, tượng trưng cho việc Sơn Tinh giả làm tiếng gà gáy sáng ñánh thức quân canh Hùng Vương mở cửa thành cho Sơn Tinh vào dâng
lễ cưới
Tiếp ñó, ông Từ vừa ñi vừa hú từ cây hương ở ñền Cả ñến ñền Thượng, dân làng theo sau ñều hú theo, xen lẫn cả tiếng trống, kèn Nghi
Trang 5thức này tượng trưng cho ñám cưới Mỵ Nương bị quân Thuỷ Tinh ñến ñánh phá, làm tán loạn, Ngọc Hoa công chóa phải hú lên ñể gọi chồng Ngày 5 và 7 tháng giêng diễn ra các cuộc rước, dâng lễ gồm hình nhân,
ñồ mã voi, ngựa Các làng tham gia rước ñều bày lễ ở ñình ñể ñón tiếp Sơn Tinh Ngày 8 tháng giêng, diễn ra trò rước Chóa gái, trong ñó nội
dung chính là trò bách nghệ khôi hài Người dân ở ñây giải thích rằng
diễn các trò vui này ñể Ngọc Hoa công chóa quên nỗi buồn phải xa nhà, khiến Nàng cùng tham gia múa hát, do vậy Sơn Tinh mới ñưa ñược nàng
về Núi Tản Cùng trò diễn xướng này còn có một số làng khác tổ chức trò rước chóa gái một cách ñộc lập, như làng Vân Luông diễn trò thả thuyền giấy tượng trưng cho thuyền ñón dâu qua sông, làng Khuê Thượng làm lễ cúng trên bờ sông, rồi cho chèo chiếc thuyền qua lại trên sông ba lần, từ bến làng Khê (Bất Bạt) sang bến làng Bợ (Tam Thanh), tượng trưng cho việc Tản Viên từ Ba Vì về Núi Hồng lễ bố vợ
Trò Tản Viên ñánh Thục cũng là hệ thống trò diễn tiêu biểu liên quan
tới Tản Viên - Sơn Tinh, Vua Hùng, do các làng Sơn Vi (làng Vân), làng
Á Nguyên và làng Trúc Khê phối hợp tổ chức Cuộc trình diễm gồm ba màn :
Màn 1 :Nhận lệnh của Hùng Vương ñi ñánh Thục, Tản Viên ñến làng
Vân cùng vị thần làng luyện quân, thông qua các nghi lễ ñánh cầu, ñánh
phết diễn ra trong 3 ngày, sau ñó ñốt pháo ra lệnh xuất quân
Màn 2 : Khi nghe Sơn Vi ñốt pháo lệnh, dân làng Á Nguyên khua trống chiêng reo hò ñể ñánh ñộng làng Trúc Phê nghe thấy
Màn 3 : Trước khi vào hội Trúc Phê ñã chuẩn bị sẵn sàng, khi nghe tiếng trống chiêng, reo hò của Á Nguyên, họ lập tức hối hả làm bánh dày, xôi nếp ñể ñem ra ñình dâng Tản Viên, với ý nghĩa là lương thực ñể
Tản Viên ñi ñánh giặc Từ trò diễn ñó dân gian mới có câu : "Sơn Vi ñốt ống lệnh, Á há miệng, Trúc Phê ñâm" hay "Trúc Phê có lệ bánh dầy, Bên
Á há miệng, bên này chày ñâm"(ðịa chí Vĩnh Phú , 1985)
Vùng truyền thuyết - nghi lễ Thánh Gióng
Vùng truyền thuyết - nghi lễ Thánh Gióng nằm ở trung châu ñồng
Trang 6bằng Bắc Bộ, giới hạn bằng ba mặt sông : Sông Hồng, Sông Cầu và sông đuống, tạo thành một tam giác mà ba ựỉnh là Phù đổng - Sóc Sơn - Nói Trân Những ựịa danh, sự tắch, truyền thuyết liên quan tới Thánh Gióng phân bố chủ yếu trong cái tam giác ựó ựã ựược Cao Huy đỉnh phân thành bốn loại : 1) Những di tắch ựánh dấu nơi sinh ra Gióng, như Vừon
Cà, nơi Mẹ Dóng ựầu thai Gióng, đổng Xuyên, nơi Mẹ Gióng ở sau khi
bị ựuổi khỏi làng, Trại Nòn, nơi ựẻ ra Gióng với di vật liềm ựá cắt rốn, thống ựá ựể tắm và châng ựá cho Gióng nằm, 2) Những nơi rèn vũ khắ của Gióng, như Mai Cương, Phù đổng, Y Na, 3) Những nơi có người theo Gióng ựi ựánh giặc, như Y Na, Hà Lỗ, Cầu Bài, Hà Nham, Lệ Chi, Ngườm, Cán, Hội Xá, Trung Mầu, Phù đổng 4) Những nơi có dấu tắch con ựường Gióng xuất quân ựi ựánh trận và quay trở về hoá, như Phù đổng, Phù Lưu, Phù Tảo, Làng Cháy, Núi Trâu, Phả Lại, đầm Thất
gian, Bãi Bùng, Làng Cáo, Làng Mã, Sóc Sơn (Cao Huy đỉnh, 1998)
Trong một không gian ựịa lý vừa kể trên, biết bao truyền thuyết, di tắch, nghi lễ, phong tục ựã và ựang ựược truyền tụng trong nhân dân về Thánh Gióng và chiến công của người anh hùng chống giặc đó là
những vết chân ngựa Gióng ựể lại ở quanh Làng Gióng, từ làng Gióng
ựến Sóc Sơn, mà Trần Quóc Vượng ựã "giải mã" là những ao hồ của một
hệ thống thuỷ lợi cổ, những bụi tre ngà là vũ khắ của Gióng ựánh giặc và
hoa tre trong ngày lễ hội, là chiếc liềm ựá, thống ựá, châng ựá gắn với sự
tắch ra ựời của Gióng, những vườn cà ở Làng Gióng ựã từng nuôi Gióng lơn lên như thổi ựể ựi ựánh giặc đặc biệt là hệ thống sự tắch mà nhân dân các ựịa phương trên còn kể lại về sự tham gia, ựón nhận, sự gắn bó làng mình với chiến công và cuộc ựời của Gióng, như sự tắch trẻ con làng Hội Xá ựang chăn trâu, thấy ựoàn quân Gióng ựi qua còng xin nhập
vào ựoàn quân của Gióng, sự tắch Ông cần vồ ở Trung Mầu ựang ựập ựất
ở ruộng cũng theo Góng ựi ựánh giặc, sau ựược dân lập ựền thờ, nay cứ tới Hội Gióng dân làng lại rước Ông lên dự hội, rồi sự tắch bà bán nước vối, sự tắch các thợ rào (rèn) rèn ngựa và khắ giới cho Gióng, sự tắch nước giếng làng Bưởi Nồi ựỏ là do Gióng ngồi nghỉ ăn trầu, sự tắch ựổi tên làng Khèn thành làng Mát
Trang 7Trung tâm của diễn xướng sự tắch Thánh Gióng là hệ thống lễ hội, trong ựó Hội Gióng ở làng Phù đổng là lớn nhất và tiêu biểu nhất Hội
Gióng mở vào ngày mồng chắn tháng tư hàng năm : "Mồng bảy hội Khám, mồng tám hội Dâu, mồng chắn ựâu ựâu trở về hội Gióng" Có lẽ
Ýt thấy một lễ hội nào ở nước ta lại diễn ra cuộc tổng diễn xướng mang
tắnh chất anh hùng ca ựến như vậy đó là lễ rước nước từ ựền thờ Mẹ Gióng về "rửa khắ giới của Gióng trước khi ra trận", lễ rước cỗ chay dâng Gióng và cuộc diễn của phường Ải Lao, lễ rước khám ựường trước
khi Gióng ra trận, tục trai gái ựuổi bắt, diễu cợt nhau trên bãi sông
đuống, một cổ tục mang tắnh phồn thực; lễ rước cờ từ ựền Mẫu tới ựền Thượng mở ựầu ngày hội chắnh, diễn xướng phường Ải Lao săn hổ, ựặc
biệt hơn cả là diễn xướng ba trận ựánh giặc Ân của Gióng với quy mô
thật hùng tráng Kết thúc hội Gióng là các nghi lễ rửa hội và rước cắm
cờ
Trong ngày hội Phù đổng diễn ra, các làng xung quanh ựều về dự hội hay tổ chức các nghi thức ở làng mình liên quan ựến sự tắch về Ông Gióng Như vậy là, cũng như hiện tượng Hùng Vương, Hai Bà Trưng, Trần Hưng đạo các hiện tượng lịch sử, huyền thoại, truyền thuyết, nghi lễ, phong tục ựan kết lại với nhau, phân bố tập trung trong một không gian ựịa lý nhất ựịnh, tạo nên cái gọi là vùng truyền thuyết - nghi
lễ Tất nhiên, trong việc hình thành nên các vùng truyền thuyết và nghi lễ này bao giê cũng có nơi ựóng vai trò là trung tâm, có nơi là ngoại vi do quá trình lan toả của truyền thuyết và nghi lễ
Vùng dân ca, âm nhạc
Có thể nói trong rất nhiều hiện tượng văn hoá thì dân ca là một thể loại mang tắnh vùng một cách rõ rệt và ựặc trưng hơn cả Nói cách khác, mỗi loại hình dân ca ựều có một vùng phát xuất và truyền bá nhất ựịnh,
như Vùng dân ca Quan họ, vùng Hát Xoan, vùng Hát Ghẹo, vùng Hát Dậm Quyển Sơn, vùng Hát đúm Hải Phòng, vùng Hát văn và nghi lễ lên ựồng, vùng hát Chèo Tầu, vùng Hát Then, vùng Hò Huế, vùng Hát Giặm Nghệ Tĩnh, vùng hát Trống quân, vùng hát Bài Chòi, vùng múa hát Sắc Bùa, vùng múa hát Bả Trạo Trong các hình thức dân ca kể trên, diễn
Trang 8xướng hát là chủ ựạo, tuy nhiên, cũng có trường hợp kết hợp với múa, như Hát văn, hát Dậm, Hát Chèo Tàu, hát Sắc Bùa, Bả Trạo Phần lớn các hình thức diễn xướng kể trên ựều gắn với nghi lễ tắn ngưỡng và lễ hội Sau ựây, chúng tôi xin giới thiệu một số vùng dân ca :
Vùng dân ca Quan Họ
Nói ựến dân ca Quan họ là người ta nghĩ ngay ựến vùng Kinh Bắc
xưa, tức là vùng Bắc Ninh ngày nay, nên dân gian thường gọi là Quan họ Bắc Ninh Tuy nhiên, cho ựến trước Cách mạng Tháng Tám 1945, Bắc
Ninh chỉ có 49 làng Quan họ, có lẽ ựó là các làng Quan họ gốc, phân bố
ở 4 huyện : Tiên sơn có 17 làng Quan Họ, thị xã Bắc Ninh có 10 làng, Yên Phong có 17 làng, Việt Yên có 5 làng Như vậy, nếu tắnh từ phắa bắc các làng Quan họ thì có Sen Hồ (Việt Yên), ựến các làng phắa nam là Ngang Nội (Tiên Sơn) theo ựường chim bay là 17 - 18 km Từ phắa ựông
là Tiên Ngoài (Tiên Sơn) ựến phắa tây là đồng Mơi (Yên Phong) rộng khoảng 14 - 15 km Tuy nhiên, không phải tất cả các làng nằm trong cái khung không gian lãnh thổ này cũng ựều là các làng Quan họ 49 làng Quan họ về cơ bản nằm gọn vào vùng này Trong các làng Quan họ như
vậy, thì vùng quanh thị xã Bắc Ninh là tập trung hơn cả (địa chắ Hà Bắc, 1982)
Có tục kết bạn giữa các làng Quan họ, có khi lâu dài từ ba bốn thế hệ
trở lên Các làng Quan họ kết bạn với nhau, ngoài việc qua lại tổ chức hát trong các dịp lễ hội, còn có quan hệ tình cảm, gắn bó, giúp ựỡ, thăm
hỏi nhau Các nghệ nhân của các làng kết nghĩa coi nhau là liền anh, liền chị, thân thiết như anh em
Tuy không có lễ hội nào là lễ hội Quan họ, nhưng hát Quan họ là một trong những sinh hoạt văn hoá chủ yếu của các lễ hội ựầu xuân của vùng Quan họ đó là các hội đình, hội Chùa, hội đền, bên cạnh các nghi lễ tắn ngưỡng là các sinh hoạt văn hoá mang tắnh phong tục, trong ựó hát Quan
họ là sinh hoạt lôi cuốn người dự hội Hát Quan họ là hát ựôi, hát ựối ựáp giữa nam và nữ, giữa bên nam và bên nữ Nội dung hát Quan họ tập trung vào chủ ựề tình nghĩa, tình yêu, quan hệ nam nữ trong môi trường
Trang 9của ngày hội xuân đó cũng là thể hiện ở góc ựộ nghệ thuật tắnh phồn thực, một chủ ựề chắnh của tất cả các lễ hội mùa xuân, mùa của gieo trồng và sinh sản
Dân ca Quan họ có nhiều làn ựiệu, nghe nói có tới 200 làn ựiệu khác nhau Lời hát là thể thơ 6/8, cũng có khi là thể thơ 4 chữ, lời thơ mượt
mà, chải chuốt, ựiêu luyện, do vậy, cùng với diễn xướng trong khung cảnh trữ tình ựã cuốn hót, làm say lòng người nghe
Những năm gần ựây, người ta ựã ựể công phục hồi cách hát Quan họ làng của các nghệ nhân dân gian, trước nhất ở các làng Quan họ gốc, bên cạnh ựó cũng phát triển các hình thức Quan họ sân khấu và quan họ ựài
(hát thông qua truyền thanh, truyền hình) của những người hát Quan họ chuyên nghiệp hay nghiệp dư, tạo nên những sắc thái ựa dạng của dân ca Quan họ Bắc Ninh
Vùng hát Xoan
Hát Xoan chỉ có ở vùng Phú Thọ, trong ựó, tập trung và thịnh hành nhất ở 17 xã, nằm trong ựịa giới của 6 huyện của tỉnh, như Phù Ninh, Tam Nông, Lâm Thao, đoan Hùng, Vĩnh Tường và Lập Thạch Tương truyền, Hát Xoan có từ thời Hùng Vương, gắn với sự tắch Vua Hùng ựi kinh lý qua thôn Phú đức, nghỉ lại, ựã dạy trẻ con hát các bài hát dân ca, sau thành lệ, cứ vào 30 tháng chạp, dân làng mở hội, dâng lễ thịt bò và
bánh nẳng, hát Xoan ựể ghi nhớ công ơn Vua Hùng Như vậy, ở ựây,
vùng Hát Xoan cũng trùng hợp với vùng truyền thuyết -nghi lễ Vua Hùng
Những làng có Hát Xoan thường tổ chức thành phường Xoan, họ Xoan, ựứng ựầu là mét Ông trùm, có 4 - 5 kép và 12 ựến 15 ựào Ông
trùm thường là người nhiều tuổi, có uy tắn, thuộc bài bản, nhất là các bài xoan chữ nôm Các kép có thể nhiều tuổi, ựã có vợ con, nhưng thường có một hai kép hát còn nhỏ tuổi (10 - 12 tuổi) ựể múa hát các ựiệu mở ựầu cho các cuộc hát Các cô ựào là các cô gái trẻ, xinh xắn, biết múa hát, chưa có chồng
Hát Xoan ựược tổ chức vào những nơi nhất ựịnh và vào thời gian nhất
Trang 10ñịnh Trước nhất, hát Xoan tổ chức ở ñình làng, nên còn có tên gọi là
Khúc môn ñình Mỗi phường hay họ Xoan chiếm giữ một cửa ñình nhất
ñịnh, tránh việc chồng chéo, dẫm ñạp giữa các phường họ
Hát Xoan tổ chức vào mùa xuân Tác giả sách "ðịa chí Vĩnh Phú, văn hoá dân gian vùng ñất tổ" ñã cung cấp một lịch trình hát Xoan của
các họ, phường ở Phú Thọ Mở ñầu cho mùa hát và ñể ñón chào năm mới, các phường, họ lần lượt khai xuân ở các ñình miếu làng mình Ngày mồng một tết, các họ hát ở ñình An Thái, Kim ðơi, Thét Từ ngày mồng
5 tết, các phường Xoan ñều khăn gói lên ñường thực hiện chuyến du xuân ñến hát ở các làng kết nghĩa Các phường hát từ 5/1 ñến 10/3 âm lịch, tức suốt mùa xuân cho ñến dịp mở hội ñền Hùng
Hát Xoan thường diễn ra theo các bước : a) Bợm gái (hát trao tình do các cô gái thực hiện), b) Bỏ bé (hát giao duyên, do các cô ñào thực hiện) c) Hát xin hoa ñố chữ (hát ñối ñáp giữa các cô ñào và trai làng sở tại), d) Hát ñúm (hát ñối ñáp nam nữ), e) Hát giã cá (hay mó cá) ñược coi là
bước kết thúc của một buổi Hát Xoan ðây là tiết mục hát khá vui nhén, trong lúc này "cá" là các cô ñào khiến mọi người xô nhau ñuổi bắt, cũng
có khi "cá" là các chàng trai Hát Xoan còn có sự kết hợp với múa, như
múa cài hoa, múa giác cá (ðịa chí Vĩnh Phú, 1985)
Vùng Hò Sông Mã
Hò Sông Mã là loại hình dân ca tiêu biểu của Thanh hoá, nó gắn với lao ñộng trên sông nước dọc dòng sông Mã, một dòng sông lớn, con ñường huyết mạch giao thông ngược xuôi giữa miền ñông và miềm tây của tỉnh Từ Cẩm Thuỷ xuôi về hạ lưu sông Mã có nhiều bến thuyền, gắn với từng bến như vậy là các sản phẩm hàng hoá ñịa phương, như bến Phong ý (Cẩm Phong) chuyên tập trung hàng lâm thổ sản, bến chợ Mầu Bãi (Cẩm Vân), nơi có nhiều ngô, sắn, ñậu; bến chợ Cẩm Sơn tại huyện
lỵ Cẩm Thuỷ có nhiều hàng nông, lâm, thuỷ sản Hàng hoá theo Sông
Mã về hạ lưu cùng với nhiều bến chợ nổi tiếng : Hoàng ðại, Nguyệt Viên, bến Chù Gia, Bến Bông, Bồng Báo, Bến Chiếu cách nhau trên dưới 2 km tiếp nhận hàng lâm thổ sản trên miền núi chuyển về và tập kết
Trang 11hàng thủ công, thuốc lào, cá mắm, cá khô ngược sông Mã lên miền thượng Những con thuyền chuyên chở hàng hoá khá lớn, có thể trọng tải
từ 5 - 20 tấn hàng, thuyền to có thể chở ựược gần trăm người điều khiển
ựò dọc là những trai ựò (còn gọi là hóp ựò), là những người khoẻ mạnh,
giầu kinh nghiệm sông nước Chắnh trong môi truờng lao ựộng sông nước và mối quan hệ giữa trai ựò và khách buôn, ựã nảy sinh một loại
hình nghệ thuật ựộc ựáo, ựó là Hò Sông Mã
đúng hơn, Hò Sông Mã là hệ thống các làn ựiệu hò, gồm :
- Hò rời bến, còn gọi là Hò mời khách Lúc này thuyền ựang neo ở
bến, trai ựò hò mời khách lên thuyền của mình :
"Thuyền tôi ván táu sập lim
đôi mạn săng lẻ lại có con chim phượng hoàng
Tiện ựây mời cả bạn hàng
Rửa chân cho sạch vào khoang ta ngồi"
- Hò ựò ngược(sắng ựò ngược, hò chống sào), ựó là lúc ựò phải
ngược dòng vượt lên, nhất là khi không thuận gió, các trai ựò vừa chống sào ựẩy thuyền lên vừa hò ựể lấy nhịp, thêm sức:
"Sóng to thì mặc sóng to
Ta ựẩy con ựò quyết vượt sóng lên"
- Hò ựò xuôi, lúc thuyền từ thượng nguồn theo dòng nước chảy xuôi
về bến, lúc này các trai ựò nhàn nhã cùng khách hàng ngắm cảnh ựôi bờ
và cùng cất lên ựiệu hò ựò xuôi đây cũng là giai ựiệu chắnh của hò Sông
Mã, mang nặng tắnh trữ tình :
"Anh ựây tài tử giai nhân"
"Vì tình nên phải xuất thân giang hồ
Nói ựây có chị nằm ựò
Mận xanh ăn vậy, ựừng chờ ựào non"
Trang 12- Hò mắc cạn là lóc con thuyền mắc vào ựá ngầm, bãi cát, lúc ựó các
trai ựò phải ngâm mình xuống nước dùng vai vác thuyền ựẩy ựi ựể thoát khỏi nơi mắc cạn điệu hò này cùng khớp theo nhịp ựể cộng hưởng sức mạnh của cả tập thể, lời hò có khi khá hóm hỉnh như ựể làm vơi ựi nỗi vất vả :
"Thuyền anh ựà cạn lên ựây
Mượn ựôi dải yếm làm dây kéo thuyền"
- Hò cập bến, với nhịp ựiệu chậm rãi khoan thai, âm hưởng vui vẻ của
những người ựi ựến nơi, về tới chốn, có pha chút buồn man mác của
những trai ựò sắp xa các cô bạn hàng:
"Bây giò thuyền lặng nước trong
Thuyền ựà cập bến, mặc lòng nước trôi"
(Hoàng Tiến, 2000)
Vùng âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên
Cồng chiêng là nhạc cụ dùng trong nghi lễ phổ biến ở nhiều tộc người
ở nước ta và vùng đông Nam Á, tuy nhiên, sử ựụng chiêng một cách phổ biến và nhất là theo dàn thì ở nước ta hiện nay chỉ còn thấy ở Tây Nguyên là tiêu biểu và nổi bật Có thể nói, trong các tộc người bản ựịa ở vùng này, hầu như tộc người nào cũng sử dụng chiêng trong sinh hoạt nghi lễ mang tắnh cộng ựồng làng buôn hay gia ựình Trong từng buôn làng số gia ựình có chiêng chiếm số ựông, gia ựình khá giả có tới 2 - 3
bộ, vì ựó không chỉ là nhạc cụ, mà còn là biểu tượng của sự giầu có, của
uy tắn và quyền lực nữa Những thập kỷ qua, do có những quan niệm ngộ nhận về các di sản văn hoá cổ truyền, nên nhiều làng buôn, gia ựình mang bán cồng chiêng cho con buôn hay những người khác tộc, có khi với giá như là thức kim loại phế thải, gây ra những mất mát lớn về hiện vật văn hoá quý báu này Tuy nhiên, hiện tại, theo thống kê của các tỉnh Tây Nguyên, mỗi tỉnh vẫn còn có hàng ngàn bộ cồng chiêng
Các tộc người Tây Nguyên là chủ sở hữu chắnh của cồng chiêng, tuy
Trang 13nhiên, họ lại không phải người chế tạo loại nhạc cụ này Từ trước tới nay, các tộc người Tây Nguyên phải mua cồng chiêng của người Kinh, người Lào và người Khơ me Tuy nhiên, trong mỗi buôn làng như vậy ñều có người có khả năng "lên dây" các bộ chiêng bán thành phẩm ñó
(Pô ching) thành các bộ chiêng mang âm sắc riêng của mỗi tộc người
Ngoài ra, trong cách ghép các chiêng thành từng bộ, cũng như cách thức ñánh (ngồi, ñứng, vừa ñi vừa ñánh ), phong tục sử dụng trong nghi lễ thì mỗi tộc người cũng có những sắc thái khác nhau
Trước kia, cồng chiêng Tây Nguyên ñược sử dụng chủ yếu trong môi trường nghi lễ, như cúng thần linh, lễ bỏ mả, các dip lễ hội của cộng ñồng, hầu như không có tiếng chiêng nào cất lên mà không gắn với một dịp nghi lễ nào ñó Trong quan niệm dân gian các tộc người ở ñây, chiêng là thứ âm nhạc nghi lễ, dành cho thần linh Tuy nhiên, ngày nay, cồng chiêng ñang trong quá trình "thế tục" hoá, nhiều khi dùng trong các dịp ñón khách và sinh hoạt cộng ñồng không trong môi trường lễ hội
Vùng tín ngưỡng, nghi lễ và lễ hội
Nhà mồ và nghi lễ bỏ mả Tây Nguyên
Nhà mồ và nghi lễ bỏ mả là hai hiện tượng gắn bó với nhau liên quan tới thế giới người chết và quan hệ giữa người chết và người sống, một hiện tượng văn hoá mang ñặc trưng tiêu biểu của văn hoá các tộc người
Tây Nguyên ðây cũng là mét "hiện tượng văn hoá dân gian tổng thể",
trên cái nền tín ngưỡng và thờ cúng người chết, ñã tích hợp nhiều hiện tượng văn hóa, như âm nhạc, hát, múa, lễ hội, phong tục, nghệ thuật kiến trúc, tạo hình, trang trí
Tín ngưỡng và nghi lễ này xuất phát từ một quan niệm khá nguyên thuỷ về linh hồn và mối quan hệ giữa thế giới người sống và người ñã chết Theo quan niệm dân gian của các tộc người Tây Nguyên, con người sau khi chết thì linh hồn vẫn tồn tại Tuy nhiên ở giai ñoạn ñầu, khi chưa làm lễ bỏ mả thì linh hồn vẫn lẩn khuất bên cạnh người sống,
do vậy, hàng ngày người thân vẫn phải mang thức ăn ra mé cho người chết "ăn" và trò truyện, an ủi linh hồn người ñã chết Trong thời gian ñó,
Trang 14người sống phải chuẩn bị một nghi lễ ựể tiễn biệt linh hồn người chết về với tổ tiên Sau khi ựã chuẩn bị xong cho nghi lễ tiễn biệt này, người ta tién hành dựng nhà mồ cho người ựã chết Nghi lễ bỏ mả không phải làm thời gian nào cũng ựược, mà phải tiến hành vào tháng nông nhàn, từ sau khi thu hoạch ựến khi sắp bước vào vụ gieo cấy năm sau(khoảng tháng
12 ựến tháng 3 năm sau) đó cũng là mùa cưới xin, mùa lễ hội Sau khi làm lễ bỏ mả, thì linh hồn người chết mới rời khỏi thế giới người sống về với tổ tiên và qua nhiều lần biến hoá, linh hồn người chết trở về nhân gian ựầu thai vào thế hệ con cháu dứơi dạng một giọt sương ựậu trên lá
Do vậy, trong lễ thổi tai và ựặt tên cho ựứa trẻ mới sinh, có tục ựưa chiếc
lá có giọt nước trước mắt ựứa bé và ựọc tên từng người từ tổ tiên, ông bà
ựã mất, khi nào ựứa bé có cử ựộng nào ựó, chứng tỏ hồn tổ tiên ựã nhập vào ựứa trẻ và nó nhận cái tên của chắnh tổ tiên mình
Nhà mồ của Tây nguyên khá ựa dạng, mỗi tộc người có những sắc thái riêng, tuy nhiên, nhà mồ của các tộc người bắc Tây Nguyên, như Gia rai, Ba na là ựiển hình hơn cả Có thể nói người Tây Nguyên ựã dồn hết tâm sức, trình ựộ nghệ thuật vào việc xây dựng và trang trắ nhà mồ,
ựặc biệt là hệ thống tượng nhà mồ (Nguyễn Văn Kự, Lưu Hùng, 2002) Sau khi dùng xong nhà mồ, người ta tổ chức lễ bỏ mả, mét nghi lễ lớn và
ựặc trưng nhất của các tộc người Tây Nguyên Thực chất của lễ bỏ mả là nghi lễ tiễn biệt hồn người chết về với tổ tiên, ựể từ ựó theo vòng luân hồi ựầu thai trở lại trong thế hệ con cháu, ựảm bảo tắnh thống nhất của cộng ựồng gia tộc Do vậy, có thể nói cộng ựồng trong tâm thức người Tây Nguyên không chỉ bao gồm những người ựang sống mà cả những người ựã chết
Trong lễ bỏ mả, ngoài những nghi lễ giành cho người chết, ta thấy một không khắ sinh hoạt văn hoá nghệ thuật của cộng ựồng rất sôi ựộng, thể hiện qua ca hát, âm nhạc cồng chiêng, nhảy múa, ăn uống, giao tiếp giữa nam nữ , tạo nên không khắ vui nhén, không có chút gì buồn bã của nghi lễ tang ma Vợ hay chồng người quá cố từ sau nghi lễ này có thể cởi bỏ mọi tang chế, ràng buộc với người chết ựể có thể ựi bước nữa Ngôi nhà mồ vốn ựược trang trắ ựẹp ựẽ cho lễ bỏ mả, từ nay sẽ không ai
Trang 15lai vãng, chăm non và vĩnh viễn thành phế tích mặc cho thời gian tàn phá
Vùng Then Việt Bắc
Then là một hình thức tín ngưỡng dân gian của người Tày, Nùng ở các tỉnh Việt Bắc nước ta, như Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Thái Nguyên Về bản chất và nguồn gốc, Then là sự kết hợp giữa tín ngưỡng nguyên thuỷ thờ nữ thần, thờ Mẫu với các hình thức ma thuật của ñạo giáo dân gian, tạo nên một hình thức shaman giáo mang nhiều sắc thái tộc người và ñịa phương Trên nền lõi tín ngưỡng như vậy, Then tích hợp nhiều hình thức văn hoá - nghệ thuật, như hát, múa, nhạc, nghi lễ, lễ hội, tạo thành một hiện tượng văn hoá dân gian tổng thể khá ñộc ñáo
Có nhiều loại Then, như :
- Then bói (bói chữa bệnh, bói tình yêu )
- Then giải hạn, cầu yên (cầu mẹ Biooc phù hộ cho trẻ nhỏ, giải hạn, nối số cho ngời già, Then chúc phóc, mừng thọ, gọi vía lạc, cầu tù - cầu con, Then chữa bệnh ) Loại Then này thường diễn ra vào dịp mùa xuân
- Then chúc tụng (mừng nhà mới, làm ăn phát ñạt, thăng quan tiến chức, mừng thọ ) loại Then này Ýt tính nghi thức, nặng về ca hát, vui chơi, ứng tác
Lẩu Then (Hội Then) tổ chức ở chính nhà của ông Then ñể dâng cúng
tổ nghề Then vào dịp thường kỳ hàng năm và ñặc biệt là cấp sắc, nâng sắc cho các ông Then, bà Then Trong các loại Then kể trên thì Then cấp sắc có quy mô và tiêu biểu hơn cả (Ngô ðức Thịnh, 2001)
Làm Then chủ yếu là những phụ nữ, tuy nhiên ở một số nơi của
người Tày cũng có cả Then là nam, gọi là Then giàng hay Then tậc (tức
Then ñực) Cũng có nơi như ở Hà Giang, người ta lại chia Then thành
hai loại, Then tính (dùng ñàn tính khi làm Then) và Then quạt (không
dùng ñàn tính, mà dùng quạt và nhạc xóc) Cũng có những người ñề cập
Trang 16tới các dòng Then, như dòng Then Lạng Sơn, dòng Then Cao Bằng, dòng Then Hà Giang , tuy nhiên chưa có tác giả nào ñi sâu khai thác các khía cạnh khác nhau mang tính ñịa phương này của Then Việt Bắc (Mấy vấn
ñề về Then Việt Bắc, 1975)
Tín ngưỡng Then vừa là tín ngưỡng thờ thần tổ của các Ông Then, Bà Then, vừa là tín ngưỡng chữa bệnh, cầu may, trừ tà của quần chúng nhân dân, do vậy nó giữ vai trò quan trọng trong ñời sống tâm linh của nhân dân không chỉ trong xã hội truyền thống mà còn cả trong xã hội hiện nay nữa Ngoài ra, ñể có thể chữa bệnh trừ tà, Then ñã dùng các hình thức nghệ thuật dân gian, như âm nhạc Then, hát Then, múa Then mang ñặc trưng dân tộc rõ nét Âm nhạc Then, nhất là cây ñàn Tính (ñàn Then) là một cây ñàn thiêng, một nhạc cụ tiêu biểu nhất của người Tày, Nùng Hát Then có nhiều làn ñiệu, do Bà Then hay Ông Then vừa tiến hành nghi lễ vừa hát Còn các ñộng tác nhảy múa trong nghi lễ ñược coi như
là sự hiện thân của thần linh hay là trạng thái giúp Bà Then có thể thoát hồn ñến với thần linh
Ngày nay, một số làn ñiệu Then cũng như cây ñàn Then ñã thoát ra ngoài môi trường tín ngưỡng, ñược các nghệ nhân dân gian ñặt lời và trình diễn mang nội dùng ñời thường, kể cả nội dung chính trị, xã hội mới, cạnh ñó Then nghi lễ vẫn tiếp tục ñời sống tín ngưỡng của nó và chiếm vị trí quan trọng trong ñời sống nhân dân
Như vậy, chúng tôi ñã trình bày một số vùng "thể loại" văn hoá, coi
ñó như là những thể nghiệm Cũng cần phải có sự phân biệt giữa vùng văn hoá và vùng "thể loại" văn hóa, ñó là hai lĩnh vực, hai phạm trù khác nhau, nhưng lại có mối quan hệ mật thiết Trước nhất, phải nói rằng không phải lúc nào ranh giới của vùng văn hoá và vùng "thể loại" văn hoá cũng trùng khớp nhau, mà trong nhiều trường hợp chúng lệch pha với nhau Tuy nhiên, nếu ranh giới hai loại vùng này cơ bản trùng hợp thì chứng tỏ vùng văn hoá ñó có sự thống nhất cao Vùng văn hoá Tây nguyên là một trường hợp thể hiện sự trùng hợp cao ñó
Trang 17xứ lạnh, ngôi nhà của các dân tộc nước ta là "hệ thống mở", tạo nên sự
thông thoáng tối ña giữa trong và ngoài Kết cấu kỹ thuật là loại khung cột, (dùa trên hai yếu tố: cột +xà), phên vách có tác dụng ngăn không
gian trong và ngoài nhà, mái thường cao, dốc, có tác dụng hạn chế nhiệt
và bức xạ mặt trời Kỹ thuật liên kết từ trình ñộ thấp như chạc, buộc, ngoãm ñến kỹ thuật cao ghép mộng Không gian trong nhà ñược sử dụng thích hợp với cơ cấu gia ñình lớn hay nhỏ, cũng như các sinh hoạt văn hoá khác Ngôi nhà là một môi trường tổng thể, trong ñó gắn bó mật thiết giữa môi trường tự nhiên, kỹ thuật, ñiều kiện sản xuất, ñặc ñiểm xã hội
và văn hoá
Tuy nhiên, do tác ñộng của nhiều nhân tố, ñặc biết là yếu tố môi trường và sự giao lưu lâu ñời giữa các tộc người, thường mỗi vùng có kiểu nhà mang một số yếu tố riêng, phân biệt với kiểu nhà của các dân tộc ở vùng khác
I Những ñặc trưng ñịa phương - tộc người của ngôi nhà cổ truyền
1 Nhà cửa ở Trường Sơn - Tây Nguyên
Nhà ở của các dân tộc ở ñây phần lớn là nhà sàn, chỉ có một vài
nhóm ñịa phương ở nhà trệt (nhà nền ñất) hay mới chuyển từ nhà sàn xuống nhà ñất
Tuy các nhà dân tộc học ở Việt Nam không phải là người ñầu tiên nghiên cứu nhà cửa ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, nhưng khi tiếp cận với vùng này, họ lại là người nhận ra ñặc trưng quan trọng bậc nhất
của ngôi nhà ở ñây - nhà kết cấu khung cột không có vì kèo, lóc ñầu có
Trang 18người gọi là nhà "vì cột" (gồm cột, xà), phân biệt với vì kèo (gồm cột, xà ngang và kèo) Thực ra, nếu hiểu vì là ñơn vị cơ bản cấu thành bộ khung
cột, gồm cột, xà ngang (nếu là vì kèo thì có thêm kèo nữa), chúng liên
kết với nhau thành vì tương ñối ñộc lập, thì nhà ở Trường Sơn - Tây Nguyên là nhà khung cột, không có vì, nghĩa là bộ khung ñứng vững qua
liên kết cột - xà Trong kết cấu kỹ thuật ở ñây, cột thường không liên kết trực tiếp với xà ngang, mà ñầu tiên, nó liên kết với xà dọc bằng ngoãm, sau ñó các xà ngang ñược gá lên thân xà dọc ở gần vị trí liên kết giữa cột
và xà dọc Do vậy, bộ khung nhà ở Trường Sơn - Tây Nguyên liên kết dọc là chính, là trung tâm liên kết cột với xà ngang, hợp thành liên kết ba
chiều Chính ñặc trưng này ñã quy ñịnh nhiều ñặc trưng khác, làm cho ngôi nhà mang sắc thái riêng ñộc ñáo
Do kết cấu bộ khung nhà không có kèo, nên giữa mái với khung nhà
là 2 bộ phận riêng Mái ñược làm riêng dưới ñất, rồi mang úp lên khung
nhà Khi cần di chuyển, người ta khiêng mái xuống trước, rồi mới tháo
dỡ bộ khung rời ra ðiều này hoàn toàn khác với loại nhà có vì kèo, trong ñó kèo vừa là bộ phận hợp thành vì của khung nhà, liên kết chặt với cột, xà, vừa là xương của khung mái Do vậy, khung mái gắn với khung nhà thành một bộ phận không thể tách rời ðây cũng có thể là một thích ứng môi trường, nơi bão gió thường xuyên ở ñồng bằng và ven biển Còn ở Trường Sơn - Tây Nguyên thì hầu như không phải chống ñỡ với những trận bão như vậy, nên mái có thể liên kết với khung nhà bằng hình thức giáp lại với nhau Chúng ta cũng có thể truy tìm căn nguyên của kết cấu này từ nguồn gốc lịch sử xa xưa của những cư dân trên sống
trên thuyền
Bé khung nhà với hai hàng cột còng là ñặc trưng kết cấu kỹ thuật của
nhà ở các dân tộc ở Trường Sơn - Tây Nguyên Chính kết cấu này làm
cho ngôi nhà ở ñây phát triển theo chiều dài Khi tăng số hàng cột dọc sẽ
làm cho ngôi nhà ñược dài thêm, có khi tới mấy trăm mét, thích hợp với
cư trú theo kiểu công xã gia tộc, gia ñình lớn, công xã láng giềng trong một căn nhà Ở một số tộc người và ñịa phương nhất là ở phía nam như người Chăm, Xtiêng, Khơ-me, người ta thấy có hình thức mở rộng chiều
Trang 19ngang nhà bằng hai hàng cột con ở hai bên, nhưng liên kết với hàng cột chắnh còn lỏng lẻo (không có quá giang giữa hai xà nách), vai trò chịu lực không ựáng kể 1
Cũng như mọi làng của các tộc người nói ngôn ngữ Môn -Khơ me tại nam và trung Tây Nguyên, buôn của cư dân Nam đảo ựều không có nhà
rông (nhà công cộng)2 mà mỗi nhà có một không gian nội thất kề cận với
cửa chắnh, gọi là gah, (ựối với người Ê- ựê) hay mang mang (ựối với nhà
dài Giarai Ayum Pa), ựó là nơi sinh hoạt cộng ựồng của các gia ựình trong nhà Nhà chia thành nhiều buồng dành cho từng cặp vợ chồng và con cái họ, có bếp riêng Mỗi nhà dài thường là nơi ở của một gia tộc mẫu hệ, do một người phụ nữ cao tuổi nhất ựứng ựầu
Nhà sàn của người Nam đảo chỉ có hai mái Mỗi mái hình thang cân, ựáy lớn ở phắa trên Hai ựầu mái nhô ra ở hai phắa hồi, che một khoảng rộng của hai sân sàn đó cũng là phắa cửa lên xuống của ngôi nhà Xung quanh nhà thưng bằng phên vách, còn giữ lại dấu vết rõ rệt của kiểu vách
thượng thách hạ thu 3, mét kiều thưng vách tiêu biểu của cư dân Nam
đảo, mà ngày nay còn thấy phổ biến ở cư dân hải ựảo (Các loại hình nhà truyền thống của các dân tộc đông Nam Á, đông Á và Trung tâm Châu
Á, 1979)
Nhà cửa ở vùng núi phắa tây Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam và bắc Tây Nguyên vẫn mang ựặc trưng cơ bản của Trường Sơn - Tây Nguyên, tuy không thật ựiển hình như ở khu vực trung tâm Tại ựây cũng phổ biến loại nhà dài, bên cạnh ựó ựã xuất hiện nhiều ngôi nhà ngắn, bởi
cơ cấu xã hội ựang hay ựã chuyển hẳn sang gia ựình phụ hệ Nét nổi bật
của nhà ở khu vực này là có trang trắ "sừng nhà" trên hai ựầu nóc Cửa
Trang 20chắnh của mỗi nhà ựều ựều mở vào giữa vách dưới mái tiền, tuy hai ựầu hồi vẫn mở lối ựi phụ Nhà ở bắc Tây Nguyên phổ biến là nhà có hai mái hình chữ nhật; trong khi nhà của các tộc người ở bắc Trường Sơn lại phổ biến là nhà 4 mái và rìa mái hai hồi thường ựược kiến trúc theo hình khum mai rùa
Vùng nam Tây Nguyên, nơi sinh sống của các dân tộc Môn - Khơ-me nam đông Dương (Mnông, Mạ, Xtiêng, Chơ-ro) và một vài nhóm tộc người Nam đảo (Ra-glai, Chu-ru) Nhà cửa của ựồng bào ở ựây cơ bản vẫn dùa trên kết cấu của bộ khung cột, không có vì kèo, nhưng ựã có những biến dạng, do nhu cầu của việc mở rộng lòng nhà như xuất hiện hai hàng cột bên (cột phụ) ở vị trắ hai hàng vách dọc1
đặc ựiểm này ựã làm phân tán lực của mái ựè trên 2 hàng xà dọc Bởi vậy nó không ựòi hỏi sự vững chắc lắm của 2 cây xà ựầu cột của những ngôi nhà ở miền trung Tây Nguyên Hai hàng xà ựầu cột duy nhất này trong bé khung nhà ở ựây ựã phát triển lên bằng cách thu hẹp khoảng
cách giữa chúng ựể ựứng vào vị trắ cây xà thượng 2
trong các ngôi nhà có
vì kèo ở ựồng bằng đương nhiên là hàng xà ựầu cột ở ựây cũng ựồng thời làm chức năng làm cây ựòn tay ựỡ dưới mái, ựiển hình cho loại nhà này là những ngôi nhà của người Mnông (trừ nhóm Mnông Rlâm) ở nam đắc Lắc và người Mạ, Cơ-ho ở Lâm đồng; người Xtiêng, Chơ-ro ở miền ựông Nam Bộ Ngoài biến dạng nói trên, bộ khung nhà ở vùng này, ựôi nơi cũng ựã xuất hiện hàng cột chống nóc (cột giữa), hay cột trèn, tạo
thành kiểu nhà ba hàng cột Những cây "cột con"ở ựây hầu như không
liên kết với hai hàng cột chắnh bằng quá giang hay xà nách Kết cấu này thường thấy kết cấu ở hai hàng cột ựầu hồi trong một số nhà của người
1 Thùc ra ẻ miÒn Nam Tẹy Nguyến, nhọng hộng "cét con" nộy trong cịc bé khung nhộ dẹn gian mắi chử ệang trến ệ−êng xịc lẺp chục nẽng , vừ rÊt phữ biạn nhọng cẹy cét nộy võa cỉng loỰi vắi nhọng cẹy ệì hộng vịch cảc, còng chÝnh lộ nhọng cẹy ệì hộng vịch Êy ậã lộ hiỷn t−ĩng cẹy ệì vịch ệang trẻ thộnh "cét con" Trịi lỰi, trong khung nhộ gianh tre ẻ ệăng bỪng ng−êi Viỷt, nhọng cẹy cét con th−êng kiếm nhiỷm chục nẽng lộ cẹy ệì chÝnh trong hộng cẹy cét vịch
2 Xộ th−ĩng: Xộ dảc trến ệẵu cét cịi trong cịc bé khung nhộ cã vừ kÌo phữ biạn ẻ
ệăng bỪng vộ trung du ng−êi Viỷt
Trang 21Mạ, Xtiêng, Chơ-ro Từ cực nam Tây Nguyên, qua miền ựông Nam Bộ, tiếp cận với ựồng bằng sông Cửu Long, yếu tố vừa nêu ngày càng rõ nét
Và cuối cùng, kết cấu vì kèo ựược xác lập ở ngôi nhà của người Khơ-Me Nam Bé Song ngược lên ựồng bằng ven biển miền Trung, ở các ngôi
nhà thang lam, thang kan trong khuôn viên nhà Chăm (Thuận Hải), mà
về nhiều mặt là kết quả giao tiếp với nhà rường của người Việt, ựã xuất hiện nhà vì kèo 5- 6 hàng cột (Thành Phần, 1976)
Một ựặc trưng của ngôi nhà vùng này là hình thức xây cất kho thóc
(lám ba của người Mnông Gar hay kút còi của người Mạ) ở trung tâm
mỗi căn hộ của ngôi nhà, phắa dưới là bếp lửa gia ựình Riêng những ngôi nhà ựất của người Mnông Gar, Mạ, Xtiêng thì chỉ có kho lúa là trên sàn, còn người thì sinh hoạt trên nền ựất Hình thức kho thóc này khác với kiểu kho thóc trên quá giang nhà sàn hay nhà ựất của nhiều dân tộc, mà ở ựây, bộ khung của kho thóc là một phần kết cấu chắnh của khung nhà Loại nhà này cũng là nhà có 2 mái hơi khum và kéo dài gần sát ựất, cửa ra vào ựược kiến trúc hình vòm, rất giống với cư dân Hải đảo đông Nam Á và châu đại Dương
Những ngôi nhà của người Mnông Gar, Mạ, Xtiêng, Cơ-ho , thực
chất xà ngang ở vị trắ câu dầu hơn là vị trắ quá giang - nếu so sánh với nhà của người Việt, nói một cách khác bộ khung nhà ở ựây chỉ có câu ựầu mà không có quá giang điều ựó chứng tỏ vai trò Ýt quan trọng của
xà ngang trong kết cấu truyền thống của khung nhà Tây Nguyên
2 Nhà cửa ở vùng thung lũng miền núi phắa bắc Bắc Bộ
Tiêu biểu cho kiểu nhà ở vùng naỳ là những ngôi nhà của các dân tộc nói ngôn ngữ Tày - Thái và một số nhóm cư dân láng giềng gần gũi với
họ Kiểu nhà sàn tại ựây, tuy hình thức cũng như một số chi tiết biểu hiện
ở mái, vách, cửa có sự khác nhau nhưng cơ bản vẫn là một loại nhà mang ựặc trung chung, mà ngôi nhà sàn của Thái đen ở Tây Bắc là một ựiển hình
Ở vùng Thái đen ngày nay có 2 kiều nhà: khứ tháng và khay ựiêng
Trong ựó loại khứ tháng là nhà cũ, giữ lại nhiều yếu tố cổ xưa; còn khay
Trang 22ñiêng (nhà mở rộng lòng) là loại tiến triển về sau (ðặng Thái Hoàng, Cầm Trọng, 1980) Nhà khứ tháng chỉ có hai hàng cột Khung nhà ñược tạo thành bởi ba yếu tố cơ bản là xau (cột), pé (xà dọc) và khứ (quá
giang)
Khi dựng nhà, người ta ñào hố ñặt các cây cột, khoảng cách giữa hai
cột là gian Sè gian tuỳ thuộc vào số lượng người trong gia ñình và khả
năng kinh tế của chủ nhà Sau khi dựng cột, người ta lắp xà dọc và xà
ngang, gọi là khụn khứ pé Ở ñây có hai cách liên kết: liên kết cột, xà dọc, xà ngang (gọi là xau- pé- khứ) và liên kết cột, xa ngang, xà dọc (xau-khứ- pé) Phương thức liên kết là ngoãm hay luốt, tức ñầu cột ñược
vạt nhọn ñể xuyên qua thân xà, một cách liên kết ñặc trưng của người
Thái Với cách liên kết xau- pé - khứ thì luốt xuyên qua thân xà dọc, còn
xà ngang nằm trên thân xà dọc ở vị trí cây cột xuyên qua, hoặc cạnh ñó Với kiểu khung cột và liên kết này nhà Thái ðen có kết cấu giống như nhà Tây Nguyên Do cách liên kết ñó, bộ khung chưa hình thành những
vì rõ rệt, nhất là với kiểu liên kết xau- pé- khứ; còn với kiểu liên kết xau- khứ- pé thì bước ñầu ñã hình thành sự liên kết chặt chẽ hơn giữa cột và
xà ngang, tạo thành bộ phận mà ta quen gọi là vì Còng phải thêm rằng, cặp liên kết cột - xà ngang và sau ñó có xinh dua nữa (tương tự như kèo)
ở vùng Thái vẫn không có khái niệm "vì", biểu hiện ở chỗ chưa có thuật
ngữ gọi riêng chúng
Khi ñã lên khung nhà tạo thành liên kết ba chiều giữa cột, xà dọc, và
xà ngang, người ta ñiều chỉnh thế cân ñối của nhà, gọi là lạ chai xuôi,
sau ñó mới làm sàn ñể chuẩn bị lắp mái Mái nhà Thái ðen gồm ba bộ
phận chính là xinh dua, khéo và khang tong Thực ra, khéo và pe pân
(tương tự như ñòn tay, rui) ñã tạo lên xương mái, giống như mái nhà
người Việt hay nhà Tây Nguyên, nhưng ở ñây có thêm xinh dua và khang tong, có vai trò như cái kèo trong bộ vì kèo của người Việt Xinh dua, về mặt nào ñó như là biểu hiện của sự chuyển tiếp giữa loại nhà
khung cột không có kèo, sang loại nhà khung cột có vì kèo, một ñặc trưng khá ñộc ñáo của nhà sàn Thái
Cũng cần nêu một số ñặc trưng của nhà khứ tháng như xau họ (cây
Trang 23cột chủ ma), xau phạ lao (cây chồng lên xà ngang ở vị trí lệch về một bên), xau tốn lẳng (như cây cột trèn từ nóc tới lưng xà ngang) ðây là
những cây cột mang ý nghĩa tôn giáo, tác dụng chịu lực không ñáng kể
Trong nhiều trường hợp, vách nhà khứ tháng thưng nghiêng kiểu thượng thách hạ thu, giống như vách nhà sàn của cư dân Nam ðảo ở Tây
Nguyên Một số trường hợp hãn hữu hơn còn thấy dựng cột cái hơi nghiêng, chân cột thu vào khoảng 20 cm so với ñầu cột, tương tự như ñộ nghiêng của vách Có thể nghĩ rằng, lúc ñầu cách dựng cột nghiêng là nét ñặc sắc của loại nhà này, về sau, cột ñược dựng thẳng, và di vết của kiểu kiến trúc này còn ñể lại ở dạng vách nghiêng ðiều ñó cũng liên quan
phần nào ñến tên gọi nhà khứ tháng (trong ñó tháng có nghĩa là ñẩy dạng
ra), tạo hệ chịu lực từ trên xuống hai cây cột cái hơi nghiêng Kiểu nhà cột nghiêng thượng thách hạ thu này còn thấy ở kho lúa người Thái và ở
nhiều tộc người khác cũng thấy bốn cây cột ñỡ nhà minh khí hình thuyền (droông ê sei) trên các nấm mồ của người Êñê tại ðắc Lắc
Nhà sàn Thái ðen cũng là loại phát triển theo chiều dài, giống như nhà Tây Nguyên, hai mái ñầu hồi tròn che một phần sân sàn, có cửa lên xuống Kiểu mái này giống với mái nhà của một số tộc người Môn - Khơ-me tại bắc Trường Sơn, phần nào cũng giống mái nhà rông ở bắc Tây Nguyên
Ở vùng Thái ðen còn có loại nhà khay ñiêng ñược xây cất khang trang, to rộng, vững chãi Nhà khay ñiêng là một bước tiến triển của nhà khứ tháng do nhu cầu mở rộng lòng nhà bằng cách tăng thêm hàng cột
con ở hai bên, tạo sự liên kết giữ cột con với cột cái bằng xà nách Cùng với tăng thêm hàng cột, một số yếu tố khác cũng biến ñổi theo như
chuyển hẳn thứ tự liên kết xau-pé-khứ thành xau-khứ-pé, phát triển xinh dua thanh kèo (mặc dù vẫn gọi là xinh dua), hình thành kết cấu vì và dựng nhà theo từng vì một.Với nhà khay ñiêng, bên cạnh kĩ thuật ngoãm
và luốt ñặc trưng, người Thái ñã sử dụng phổ biến kĩ thuật lắp mộng như người Việt.Thậm chí một số nhà khay ñiêng mới dựng cũng áp dụng hệ kết cấu chống rường, giống như nhà người Việt, Tày, Nùng, nam Trung Quốc
Trang 24Việc sử dụng không gian nội thất nhà Thái đen cơ bản vẫn theo
chiều cắt ngang thành bên láng quản và láng chán tương ứng với bên
riêng và bên chung, nam và nữ, mang nhiều nét tương ựồng với cách sử dụng không gian nội thất của nhà Tây Nguyên
Trong các tộc Tày-Thái, nhà của người Lào, về cơ bản giống nhà
Thái đen, tức là loại nhà dài, kết cấu khung theo kiểu khứ tháng hay khay ựiêng, nhiều nơi vẫn chiếc xinh dua, song cũng có nơi thay bằng
cây kèo Ở vùng người Cao Lan - Sán Chỉ kết cấu khung nhà cơ bản cũng giống nhà Thái đen, tuy có cây cột giữa, tạo thành vì ba hàng cột
Người Cao Lan còn có loại nhà trâu cái bèn hàng cột, không có quá giang và loại nhà trâu ựực, quá giang chỉ có một nửa nối cột bên với cột giữa (Nguyễn Khắc Tụng, 1984) đáng lưu ý là hai loại nhà này ựều cho
thấy vị trắ kém quan trọng của quá giang, có phần nào giống như những ngôi nhà ở nam Tây Nguyên Phải chăng ựó là di vết của một giai ựoạn phát triển về kết cấu khung nhà của nhiều dân tộc nước ta?
Có thể coi nhà của các tộc Tày- Thái như là kiểu nhà ựặc trưng cho các dân tộc ở vùng núi thấp và thung lũng phắa Bắc Sắc thái riêng của loại nhà này, thể hiện qua ngôi nhà của người Thái đen và các tộc gần gũi với họ, cũng như nhà của người Tày, Nùng, Thái Trắng, Choang Tuy có sắc thái ựịa phương nhưng chúng ựều thể hiện những ựặc trưng chung về kết cấu, về thãi quen ứng xử không gian trong và ngoài nhà
3 Nhà cửa của các dân tộc vùng cao biên giới phắa Bắc
đại diện tương ựối ựiển hình cho loạt nhà này là ngôi nhà của người
Hmông và các dân tộc nói ngôn ngữ Tạng - Miến sinh sống chủ yếu ở
vùng núi cao từ trên 1.000 mét nằm giữa ựường biên giới Việt - Trung,
có khắ hậu ôn ựới
Nhà cửa nơi ựây thường nhỏ hẹp, kết cấu ựơn giản, mang tắnh chất tạm bợ, thắch hợp với cuộc sống du canh, du cư trước kia đặc trưng của
loại nhà này là vì kèo ba hàng cột, trong ựó có hành cột giữa rất phổ biến
và ựặc trưng của ngôi nhà người Hmông Ở một vài tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến như SiLa, Phù Lá, phổ biến là nhà có hai
Trang 25hàng cột hoặc cú một cột trốn dưới hỡnh thức là trụ chống núc, một biến dạng vỡ kốo ba hàng cột Ở Mộc Chõu, nhà cửa của người Hmụng cú loại
vỡ kốo 5 hàng cột, vỡ kộo kộp 1
trong ủú cú 3 hàng cột giữa là giỏ ủỡ cho quỏ giang và hai "kốo chớnh" ăn từ núc xuống Hai hàng cột con ở hai bờn chống hai cột khỏc nối từ núc Giữa hai kốo mỗi bờn ủều cú hai mỏi nằm dọc giữa lưng, kốo trong dưới bụng kốo ngoài, cú tỏc dụng kờ cho
cõy kốo ngoài doóng ra, giống như cõy khang tang của bộ xinh dua Thỏi
Khụng nghi ngờ gỡ, ủõy chớnh là sản phẩm của sự giao lưu văn hoỏ giữa người Hmụng và người Thỏi ủược thể hiện một phần qua kết cấu ngụi
nhà Ở vựng người La Hủ chỳng ta quan sỏt thấy phổ biến bộ vỡ kốo khay ủiờng
Nhà cửa trờn cỏc rẻo cao biờn giới chủ yếu là nhà ủất, thưng bằng tre
gỗ, hay trỡnh tường Với nhà trỡnh tường dày vừa chống rột, vừa cú tỏc dụng chịu lực, thường thấy tại một số nhúm Hmụng ở Việt Bắc Ở vựng người Lụ Lụ, Phự Lỏ lỏng riềng thỡ vỡ kốo chỉ cần cú cột giữa, cũn tường
trỡnh thỡ thay cho hàng cột bờn ủỡ quỏ giang và chõn kốo (Nguyễn Văn Huy, 1985) Tuỳ theo tộc người, theo mỗi ủịa phương mà nhà sẽ mở cửa
ở ủầu hồi hay trước mỏi tiền Việc sử dụng khụng gian trong nhà ủược
bố trớ theo phớa trờn (phớa bàn thờ) và dưới nhà (gần cửa chớnh), bờn trỏi
và bờn phải Nhà cú hai bếp, một bếp làm bằng ba hũn ủỏ chụm như nhiều dõn tộc phương nam dựng ủể ủun nước hay nấu thức ăn; một bếp
lũ kiểu phương bắc dựng ủể nấu thức ăn cho gia sỳc và sử dụng trong cỏc dịp cú tiệc tựng Nhà thường cú hai mỏi ủầu hồi ủể trống hay vẩy thờm mỏi phụ Một vài nhúm Hmụng sống gần người Thỏi thỡ làm mỏi ủầu hồi trũn như mỏi nhà Thỏi
4 Nhà của người Việt ở ủồng bằng và ven biển
Trong lịch sử cú thể người Việt ủó từng sinh sống trờn nhà sàn nhưng
cỏch ngày nay khụng xa, họ ủó chuyển xuống ở nhà ủất và ủú là loại nhà
ở hiện nay phổ biến từ bắc tới nam Ngụi nhà của người Việt phổ biến
1 Vì kèo kép : Thuật ngữ chúng tôi tạm dừng ở đây để chỉ một loại vì kèo độc đáo trong dạng nhà có 5 hàng cột ( chế chỉ chề) của người Hmông Đen ở Mộc Châu
Trang 26trên phạm vi rộng, với nhiều hình vẻ kết cấu khác nhau Qua các dạng nhà này, chúng ta có thể quan sát diễn tiến về mặt kỹ thuật từ ựơn sơ ựến phức tạp, trong ựó có sắc thái ựịa phương
- Nhà ở của người Việt tại trung du và ựồng bằng duyên hải bắc Trung Bé (vùng Thanh Nghệ) tạo thành một dạng ựịa phương Ngôi nhà
truyền thống ở ựây là nhà ựất, làm bằng tre, gỗ, lá Trước kia một số nhà ựược xây cất bằng gạch ngãi nhưng hình dạng và cách sử dụng không khác nhau mấy Nhà thường có mái hồi bịt kắn, nhất là ở ven biển Vùng nội ựịa như ở Sơn Tây, Hà Bắc cũng thấy loại nhà hai mái nhưng có
thêm mái phụ ựầu hồi Nhà thường có hiên chạy suốt cả mặt tiền hay cả
mặt hồi, là không gian giao tiếp giữa trong và ngoài nhà Hiên còn là nơi hóng mát và ựể một số dụng cụ gia ựình hay dụng cụ sản xuất Quan trọng hơn ựó là một cách thắch ứng nhằm ựiều hoà nhiệt ựộ cho không gian nội thất hạn chế bức xạ nhiệt nhất là lúc nắng xiên khoai Ở một vài nơi nhất là vùng trung du tiếp giáp với Việt Bắc (như Hà Bắc) nhà nhiều khi không có hiên hay hiên chỉ ựể ở gian giữa Nhà có tường ựất hay tường gạch Bao quanh nhà là vườn sau, sân trước trong ựó gồm nhà ở, nhà bếp, giếng nước, cây rơm, chuồng lợn, chuồng trâu Ôm lấy khuôn viên này ở ngoài cùng là một hàng rào hay bờ rậu ngăn cách giừa khuôn viên của một gia ựình với láng giềng hoặc ựường làng, xóm ngõ
đáng lưu ý hơn cả là kết cấu của bộ khung nhà dùa trên ựơn vị là các
vì kèo Nguyễn Khắc Tụng ựã thống kê 10 dạng vì kèo qua các ngôi nhà
của người Việt ở Bắc Bộ Vì kèo là ựơn vị kết cấu kỹ thuật cơ bản ựể tạo nên bộ khung của ngôi nhà gồm cột quá giang và kèo liên kết với nhau bằng con xà mộng, ngoãi hay dây chằng Vì kèo ựơn giản nhất còn dễ
thấy ựược ở vùng người Việt là vì kèo lều vịt Nã gồm ba hàng cột mà
không có quá giang Có thể kể ựến một số loại vì kèo trong kiến trúc nhà
cửa dân gian của người Việt như: Vì kèo ba cột, trong ựó có cột giữa; vì kèo cầu quá giang (ba hàng cột, cột giữa trèn); vì kèo câu - cánh ác; (cột giữa là trụ hình chữ T - trô kiêm giá ựỡ kèo); vì kéo suốt - quá giang; vì keo suốt - giá chiếng (bốn hoặc ba hàng cột, trong ựó trèn một cột bên, trên quá giang là giá chiêng, chồng rường); vì kèo kẻ hay trên kèo dưới
Trang 27kẻ (có 6 hàng cột); vì kèo trước kẻ sau bẩy (thay kèo bằng kẻ và bẩy); vì
kẻ truyền giá chiêng; vì chồng rường - giá chiêng Trong các loại vì kèo
từ hình thức ñơn giản nhất ñến hình thức phức tạp nhất, ta thấy có mấy hình thức biến ñổi như sau: a/ tăng số cột ñể mở rộng lòng nhà (từ 2 tới 6 cột) b/ Trèn một cột giữa bằng trụ nóc và giá chiêng c/ áp dụng kỹ thuật chống rường và gía chiêng ñể chịu lực khi mở rộng lòng nhà d/ thay kẻ bẩy cho loại kèo tre kém chịu lực và kèo suốt quá dài (ñể mở rộng lòng nhà và mở rộng hiên tiền)
- Về cơ bản kể cả hình dáng cũng như kết cấu kỹ thuật của nhà người
Việt từ Bình Trị Thiên tới Nam Bé ñều cùng một kiểu loại mà cơ sở ban
ñầu là ngôi nhà của người Việt ở nam Trung Bộ Tất nhiên trong quá trình khai thác ñồng bằng Nam Bộ, người Việt có gốc từ Trung Bộ, một mặt giữ lại những truyền thống xây cất nhà ở nơi ra ñi, nhưng mặt khác
ñể thích ứng với ñiều kiện môi trường ñồng bằng châu thổ lầy trũng ngôi nhà truyền thống của những người di thực cũng có biến ñổi chút Ýt cho hợp với ñiêù kiện mới Những thích ứng này ñã ñược một số nhà nghiên cứu ñề cập trong công trình của mình khi khảo tả về nhà cửa ở Nam Bé
(Phan Thị Yến Tuyết, 1981)
P.Gourou trong công trình khảo cứu về nhà ở của người Việt ñã nêu
ra hai loại nhà chính kể từ Bình Trị Thiên tới nam Trung Bộ, ñó là nhà rường, nhà rội và nhà hỗn hợp theo kiểu thượng rường hạ rội hay trước rường sau rội
Sắc thái ñịa phương nổi bật hơn cả vẫn là ở kết cấu khung nhà với kiểu vì kèo nhà rường, vì kèo nhà rội và loại hỗn hợp giữa chúng Chính
cư dân vùng này ñã ñặt tên gọi các kiểu vì kèo nói trên làm tên gọi các loại nhà tương ứng
Nhà rội là loại kết cấu vì kèo ba hàng cột, trong ñó có cột giữa như
loại nhà có vì kèo tương ứng của người Việt hay người Hmông ở Bắc
Bộ Biến thể loại này ở Quảng Bình và Quảng Trị là nhà chữ thập và nhà chữ ñinh, vì kèo chữ thập thực chất là vì kèo ba hàng cột cổ ñiển của nhà
rội nhưng có thêm hai hàng cột ñể mở rộng lòng nhà Còn nhà chữ ñinh
Trang 28cũng như nhà rội, với ba hàng cột nhưng ủầu giữa khụng chống thẳng lờn
núc mà cú thờm cõy xà ngang ở ủầu cột tạo thành chữ "ủinh"(Tương tự
như chữ T), hai bờn lại cú thờm cột con ủể mở rộng lũng nhà
So với nhà rội, nhà rường cú phạm vi phõn bố rộng hơn, suốt từ
Quảng Bỡnh tới Nam Bộ, với nhiều biến dạng ủịa phương phong phỳ Vỡ
kốo nhà rường cú hai hàng cột chớnh và cõy rường ủúng vai trũ của quỏ
giang nhưng vị trớ liờn kết của nú khụng phải là ủầu hai cột mà dưới ủầu cột khoảng 1 một Sau khi dựng cỏc vỡ, dầm ủược bắc trờn thõn rường làm kho gỏc ủể ủồ ủạc, lương thực Hai bờn hàng cột chớnh ủể mở rộng lũng nhà, người ta cũn thờm 2 hay 3 hàng cột con, tạo thành cỏc vỡ kốo
cú 4 hoặc 6 hàng cột Cần lưu ý rằng cỏc hàng cột hai bờn khụng cú liờn kết gỡ với hàng cột chớnh cả mà ủầu cột liờn kết trực tiếp với kốo hay kẻ
gọi là cu hỡnh Ở Quảng Bỡnh, tuỳ theo ủịa phương mà cú sự khỏc nhau
về cỏch gọi cõy rường Nhà ở ven biển và ủồng bằng Quảng Bỡnh, rường gọi là trếng 1
mặc dự loại nhà ủú vẫn gọi là loại nhà rường; cũn ở miền nỳi Quảng Bỡnh nhúm người Nguồn (thuộc dõn tộc Việt) lại gọi trếng là rường và gọi ngụi nhà ủú là nhà cặp (Nguyễn Khắc Tụng, 1975) Rừ ràng
là nhúm cư dõn Việt này ủó giữ lại thuật ngữ cổ xưa, gọi cõy thượng lương (quỏ giang) là rường, mà dấu vết của nú cũn ủược lưu truyền ở cõu thành ngữ "rường cột nước nhà"
Kết cấu khung nhà của người Việt từ Bỡnh Trị Thiờn trở vào khỏ ủơn giản dự ủú là nhà rường hay nhà rội ðặc biệt trờn cỏc vỡ kốo khụng thấy giỏ chiờng hay chồng rường vốn thường gặp ở những ngụi nhà Bắc Bộ
Trong liờn kết vỡ kốo, rường (trếng, thượng lương) khụng giữ vai trũ liờn
kết quan trọng như quỏ giang trong ngụi nhà miền Bắc Ở ủõy vai trũ liờn kết cỏc cột lại là cõy kốo
1 ở đồng bằng Bắc Bộ gọi bộ phận này trong ngôi nhà có xà V−ợt là Chếnh.
Trang 29II truyền thống và giao lưu văn hoá qua ngôi nhà dân gian của các tộc người
1.Từ ngôi nhà sàn của người Thái đen trên miền Tây Bắc
Nếu phác thảo bản ựồ phân bố nhà cửa của các dân tộc trên phạm vi nước ta thì ngôi nhà sàn của người Thái đen hẳn có một vị trắ ựặc biệt quan trọng Nhà của người Thái đen, vừa giữ lại những ựặc trưng kết cấu cổ xưa, vừa bao chứa nhiều yếu tố giao lưu, ảnh hưởng với các tộc người ở cả phắa Nam và phắa Bắc Kết cấu khung cột qua những ngôi nhà sàn của các tộc người Tày - Thái Ýt nhiều giữ lại dấu vết của dạng kết cấu vì hai hàng cột ban ựầu Ở các tộc nói ngôn ngữ Thái phắa Tây
như Thái đen, Lào ựều có kết cấu khung cột kiểu khứ tháng hay khay ựiêng Ở các tộc phắa đông Bắc như Thái Trắng, Tày, Nùng, Choang, thì
từ dạng ban ựầu ngôi nhà ựã có sự tiến triển rõ rệt thể hiện ở số hàng cột tăng lên từ 2 hay 4 tới 6 hoặc7 do nhu cầu mở rộng lòng nhà, ở việc sử dụng vì kép; ở bộ chống rường chịu lực Ai cũng biết rằng việc tăng số hàng, cột ựể mở rộng lòng nhà và các biện pháp kết cấu vì, là những thắch ứng kỹ thuật khá phổ biến ở người Hán, ở nhiều dân tộc Nam
Trung Quốc (Lưu Chắ Bình, 1957) và ựồng bằng trung du Bắc Bộ Do
vậy, có thể nói rằng ngôi nhà của người Thái Trắng (cũng như của các dân tộc Tày, Nùng, Choang) là kết quả qua những bước tiến triển về kỹ thuật của nhà sàn Thái cổ xưa mà ngày nay người Thái đen vẫn còn giữ ựược Những bước phát triển ựó thể hiện rõ mối giao lưu, ảnh hưởng với nhà cửa của các dân tộc nam Trung Quốc và người Việt ở Bắc Bé
Từ kết cấu khung của nhà sàn Thái đen ựộc ựáo chúng ta còn thấy mối quan hệ văn hoá với các dân tộc ở Trường Sơn -Tây Nguyên Chúng
ta không kể tới mối quan hệ này còn thấy ở những ngôi nhà của người Sách, người Khùa, Mày Những tộc người này có lẽ chịu ảnh hưởng qua người Lào láng giềng
Kết cấu khung cột ở ngôi nhà khứ tháng của người Thái đen về cơ
bản giống như kết cấu khung cột ở những ngôi nhà của các dân tộc Tây Nguyên đó là kết cấu không có kèo, không thành vì; là loại nhà hai
Trang 30hàng cột, phát triển theo chiều dài; là kỹ thuật lấy xà dọc làm ñầu mối ñể
liên kết ba chiều (theo thứ tù ; cột, xà dọc, quá giang, xau, pé, khứ) Chúng ta còn nhận thấy sự tương ñồng ở thãi quen dựng phên vách nghiêng - kiểu thượng thách - hạ thu; ở dạng mái vòm tại ñầu hồi
Trong những mối quan hệ trên, sự tương ñồng về kết cấu cột, tập quán dựng phên vách nghiêng thể hiện dấu vết giao lưu văn hoá với cư dân nói ngôn ngữ Nam ðảo (Êñê, Giarai ); còn kỹ thuật cấu trúc mái tròn ở hai ñầu hồi lại thể hiện mối quan hệ lịch sử với cư dân Môn - Khơ - me
Ở khu vực Trường Sơn - Tây Nguyên, mái nhà có hình như cái mai rùa
là một nét ñiển hình trong kiến trúc ở các tộc người thuộc nhóm Môn - Khơ - me bắc như Bru - Vân Kiều, Cơ tu; cũng như còn thấy yếu tố này qua các mái nhà rông của người Ba na, Xơ ñăng Với các tộc Môn -
Khơme nam thì ñặc trưng nói trên tồn tại dưới dạng tàn dư trên các mái cửa vòm (cửa chính của từng căn hộ) ở mặt tiền những ngôi nhà dài của
người Mạ, Cơho, Xtiêng và nhiều nhóm ñịa phương của người Mnông, ñặc biệt là nhà Mnông Gar ở nam ðắc Lắc Ở khu vực Hải ðảo và Châu ðại Dương, kiểu mái tròn này cũng hiện diện ở cư dân nói ngôn ngữ Nam ðảo và các ngôn ngữ Pôlinêdiêng, Mikrônêdiêng, nên khó có thể coi ñó là sản phẩm văn hoá của tộc người nào.Tuy ngày nay chưa có những cơ sở thật chắc chắn, nhưng chúng tôi vẫn nghĩ rằng kiểu mái tròn của nhà sàn Thái ðen là kết quả giao lưu văn hoá lâu ñời giữa họ với các tộc người Môn - Khơme phía nam; còn kiểu khung cột của ngôi nhà Thái ðen và các tộc người Nam ðảo, có lẽ thể hiện mối quan hệ nguồn gốc xa xưa trong lịch sử, khi mà họ còn là một cộng ñồng thống nhất ở vùng ñông nam Trung Quốc ngày nay Cùng với một số cứ liệu khác, ở ñây lại thêm một dữ kiện nữa, chứng tỏ mối quan hệ Thái -Inñônêdiêng không chỉ thể hiện ở lĩnh vực ngôn ngữ như Bênêñíc ñã nêu cách ñây nửa thế
kỷ, mà cả lĩnh vực văn hoá nữa
ðể tạo nên những nét văn hoá ñặc trưng của dân tộc Trường Sơn - Tây Nguyên, ở ñây, trong quá trình lịch sử lâu dài ñã diễn ra những giao lưu ảnh hưởng văn hoá giữa nhiều dân tộc, trong ñó, không thể không nói ñến vai trò nổi bật của các tộc người nói ngôn ngữ Nam ðảo Nhiều
Trang 31giả thuyết khoa học ựã nói tới một cuộc thiên di nào ựó của các tộc người này từ bờ biển Trung Bộ vượt lên, chia cắt khối Môn - Khơme cổ ựại ỏ ựây thành hai bộ phận, Ba na, Xơ ựăng, Gié - Triêng ở phắa bắc và Mnông, Mạ, Cơho, Xtiêng ở phắa nam Về phương diện nhà cửa, tuy cả Trường Sơn - Tây Nguyên có một số ựặc trưng chung, nhưng cũng có thể dễ ràng nhận ra những biến thể qua sắc thái ựịa phương ở ba vùng bắc, nam và cao nguyên trung tâm, trong ựó nhà cửa của cư dân Nam đảo ở vùng trung tâm là ựiển hình, phát triển tương ựối ổn ựịnh trong loại hình của nó, tiêu biểu nhất cho kiểu nhà dài; kết cấu khung cột không thanh vì đã có nhiều người nghiên cứu những dấu vết của việc
cư trú trên thuyền còn lại di ảnh trên ngôi nhà của cư dân Nam đảo này
(Chu Thái Sơn, 1983)
Như vậy, một vấn ựề lịch sử không còn là giả thuyết nữa, là trên miền nội ựịa, từ vùng núi Tây Bắc ựến Tây Nguyên từ người Thái đen ựến các tộc nói ngôn ngữ Nam đảo, xa xưa ựã hình thành một mối quan hệ văn hoá Vậy ở ựây, ựặt trong mét khung cảnh rộng lớn hơn với các nam Trung Quốc nữa, chúng ta có thể tìm thêm những mắt xắch nào của mối quan hệ văn hoá, thông qua ựặc trưng về nhà cửa?
Lần theo xu hướng phát triển từ ngôi nhà của người Thái đen ựến nhà của người Thái Trắng, Tày, Nùng, Choang và các tộc ở nam Trung Quốc, ta không chỉ thấy chuỗi quan hệ của sự tiến triển, mà chúng còn giữ lại cả những tương ựồng rất xa xưa
Mét trong những ựặc trưng của kết cấu nhà cửa nam Trung Quốc là
nhà vì chồng rường, không có kèo Dạng ựơn giản của bộ vì nhà ở ựây có
hai hàng cột; còn các dạng tiến triển hơn là 4 và 6 hàng cột Cũng cần nhấn mạnh rằng số hàng cột nhiều chưa chắc ựã thể hiện trình ựộ cao của kết cấu bộ vì, mà nhiều khi giảm bớt số hàng cột cũng thể hiện xu hướng hoàn thiện trong kết cấu vì nhà Tuy nhiên, gắn với xu hướng hoàn thiện này bao giê cũng kéo theo sù thay ựổi của phần trên vì, mà ựối với nhà
nam Trung Quốc, ựó là kỹ thuật chồng rường Về phương diện nào ựó
chồng rường là sự lặp lại dạng vì hai hàng cột với kắch thước thu nhỏ dần
ở trên quá giang, tạo lên hệ chịu lực của mái Phải chăng, từ hình thức
Trang 32nguyên thuỷ của nhà hai hàng cột - ựể mở rộng lòng nhà, mà ựây là ựặc trưng kỹ thuật của nhà cửa các dân tộc phắa bắc, người ta ựẩy khoảng cách giữa hai cột chắnh rộng ra, còn phắa trên thì chồng nhiều lần rường lên nhau ựể tạo hệ chịu lực cho mái Tất nhiên muốn mở rộng lòng hơn, người ta có thể tăng thêm 1 - 2 hàng cột con, hay sử dụng vì cột kép ở
phắa dưới và hệ chồng rường ở phắa trên (Lưu Chắ Bình, 1957) Về
phương diện nào ựó chắnh hệ chồng rường có chức năng chịu lực giống như cái kèo trong bộ vì của người Việt
Kiểu kết cấu nhà hai hàng cột ựã xuất hiện khá sớm ở cư dân cổ ựại nam Trung Quốc Trong các di khảo cổ thuộc văn hoá Hà Sáo thời hậu
kỳ ựá mới, sơ kỳ kim khắ, người ta ựã tìm thấy di tắch của nhà cửa, mà khi dựng lại, những ngôi nhà này có kết cấu hai hàng cột ựơn giản, không thành vì, không khác mấy so với kết cấu nhà ở Tây Nguyên
(Những loại hình nhà truyền thống của các dân tộc đông Nam á, đông á
và Trung tâm Châu á, 1979) Phải chăng truyền thống khung cột này ựã
ựược nhiều dân tộc ở đông Nam Á và nam Trung Quốc, vốn xưa thuộc một khu vực lịch sử - văn hoá bảo lưu ựến ngày nay?
Sự tương ựồng của cấu trúc nhà cửa của các tộc người Tây Nguyên với nhà cửa ở các tộc người nam Trung Quốc, nhất là vùng ven biển ựông nam còn thể hiện qua nhiều bộ phận khác nhau của ngôi nhà dân gian, như kiểu mái mu rùa, kiểu cửa vòm, vị trắ và hình thức các loại cửa, trang trắ trong và ngoài nhà
Những nét tương ựồng về nhà cửa giữa các dân tộc Nam đảo với cư dân Thái, và xa hơn, với một số tộc người nam Trung Quốc là ựiều có thể giải thắch qua mối quan hệ nguồn gốc giữa các tộc người trong khu vực Từ nhiều năm nay, các nhà nghiên cứu ựã ựưa ra nhiều giả thuyết về khu vực hình thành những nhân lõi ựầu của các tộc người nói ngôn ngữ Nam đảo ở vùng ven biển ựông nam Trung Quốc và những ựợt thiên di
của họ qua đông Dương, Hải đảo xuống phắa nam (Heine - Geldern, 1932) ; về mối quan hệ thân thuộc giữa các ngôn ngữ Thái - Kaựai - Inựonêdiêng (P.K Benedict, 1941) ; của những cuộc viễn du trên biển
của người Nusantao (Nam đảo) ở biển đông và biển nam Trung Quốc,
Trang 33ñã ñể lại những dấu vết của giao lưu văn hoá ñậm nét mà ngày nay
không mấy ai là không biết ñến (W.G Solheim, 1975)
Qua những ngôi nhà tranh tre của người Việt
Nếu không kể tới những dạng nhà của người Việt ở Nam Bộ, mà những dạng nhà Êy là biến thể của nhà cửa ở Trung Bộ, thì nhà của
người Viêt có thể phân thành hai vùng với sắc thái khá rõ nét: Từ ñồng bằng Bắc Bộ ñến Nghệ Tĩnh, phần còn lại từ ñèo Ngang ñến Nam Bé
Ở Bắc Bộ và bắc Trung Bé, qua 10 dạng vì kèo, người ta có thể hình dung ra tiến trình phát triển của ngôi nhà tranh Ở những kết cấu vì kèo ñơn giản như kiểu lều vịt ba hàng cột, kèo suốt - quá giang, quá giang - kèo cầu, kèo cầu cánh ác có một nền chung với kết cấu nhà ở các tộc Hmông, Tạng - Miến có lẽ từ xa xưa, tổ tiên người Việt với các tộc người này ñã có những nét kiền trúc chung, không chỉ thể hiện ở vì kèo ñặc trưng, mà còn ở hình thức hai mái, không có mái chái hồi ở vị trí cửa
ra vào, ở kỹ thuật dựng phên vách và trình tường
Từ những kiểu kết cấu khung cột ñơn giản nói trên, ngôi nhà của người Việt ñã không ngừng tiến triển, với quy mô rộng cả về chiều ngang lẫn chiều dài, ở vật liệu xây dựng bền chắc hơn, và phức tạp hơn Với các dạng khung cột này, ngoài việc tăng thêm số hàng cột còn thấy xuất hiện kỹ thuật chồng rường và giá chiêng kết hợp với các dạng kèo suốt, trên kèo dưới kẻ, kẻ hay kèo Có thể nghĩ rằng với kỹ thuật chồng rường ñặc trưng của nhà cửa nam Trung Quốc, người Việt Bắc Bộ ñã thông qua người Tày, Nùng, Choang và người Hán mà tiếp thu kỹ thuật này Còn giá chiêng thì ngày nay không chỉ thấy ở khung nhà người Việt tại Bắc Bộ, mà còn thấy ở một số dân tộc nam Trung Quốc Do vậy cũng khó mà coi giá chiêng là ñặc trưng riêng của ngôi nhà người Việt
Nhà rội, kiểu nhà ñộc ñáo của người Việt ở Bình Trị Thiên với những biến thể và tên gọi khác nhau như nhà chữ ðinh, nhà chữ Thập Không nghi ngờ gì nữa, ñó là những dạng nhà ñã giữ lại những nét ñặc trưng cổ xưa của các ngôi nhà ở Bắc Bộ Về phía bắc, nhà rội giống với nhà ba hàng cột của người Việt, người Hmông, mà ñặc trưng của nó là duy trì
Trang 34lâu bền cây cột giữa Về phía nam, kết cấu nhà rội với cây cột giữa cũng giống như các ngôi nhà cổ của người Chăm ở Thuận Hải, tuy nhiên kết cấu khung của hai nhà này hoàn toàn khác nhau Có thể nói rằng ñịa bàn Bình Trị Thiên là nơi ñã lưu giữ lâu bền loại nhà cổ xưa của người Việt,
mà nhà rội là tiêu biểu; trong khi nhà của người Việt ở Bắc Bộ lại tiến triển nhanh bởi những nhân tố nội sinh và ngoại sinh do tiếp xúc với những người vùng núi phía bắc và nam Trung Quốc
Tuy là cùng một loại kết cấu vì kèo như nhà rội và nhà ở ðồng bằng Bắc Bộ, nhưng nhà rường mang ñặc trưng riêng, ñây là loại nhà kết hợp giữa kho và chỗ ở: vì kèo có hai hàng cột chính, và những dạng tiến triển thì thêm những hàng cột con, rường (quá giang) liên kết với hai cột chính ở khoảng thân cột, tạo thành khu chính của sàn kho, các cột con không liên kết với cột cái, mà trực tiếp liên kết với thân kèo Những ñặc trưng kể trên của nhà rường làm cho nó gần gũi với kiểu nhà của người Xtiêng, Mnông, Mạ ở nam Tây Nguyên Từ ñấy có thể giả thuyết rằng người Việt ở nam Trung Bộ và Nam Bộ ngoài một bộ phận nhỏ trong ñiều kiện nào ñó vẫn giữ lại ngôi nhà rội cổ xưa, thì ñại ña số cư dân Việt ở ñây ñã tiếp thu những ảnh hưởng nào ñó của truyền thống kiến trúc trong các tộc người Tây Nguyên
Ýt nét về những khuynh hướng biến ñổi hiện nay
Cùng với sự phát triển của thông tin - liên lạc, những tiến bộ về khoa học - kỹ thuật, những biến ñộng về phân bố dân cư, về kinh tế, xã hội, nhà cửa của các tộc người ở nước ta hiện ñang biến ñổi khá nhanh chóng theo những khuynh hướng khác nhau Những giao lưu ảnh hưởng của các dân tộc trong nước với các nước khác nhất là những nước trong cùng khu vực ñịa lý, cùng một xu hướng kinh tế - chính trị ñã giữ một vai trò quan trọng trong vai trò biến ñổi nhà cửa
- Việc chuyển từ cư trú nhà sàn xuống nhà ñất là khuynh hướng diễn
ra từ khá xa xưa, trước nhất là ở người Việt (khoảng trước sau thế kỷ X)
và sau này là ở nhiều tộc người miền núi Sự biến ñổi này cơ bản là do tác ñộng của môi trường nhất là sự thu hẹp dần diện tích rừng, chinh
Trang 35phục các ñồng bằng rộng lớn, sự biến ñổi ñiều kiện sản xuất và xã hội Ngày nay, quá trình biến ñổi này cũng ñang diễn ra rất phổ biến trên một quy lớn ở nhiều dân tộc nhất là ở miền núi và cao nguyên
- Do sự phát triển không ngừng về kinh tế, xã hội, nhất là do ảnh hưởng của giao lưu với bên ngoài, ngôi nhà tranh cổ truyền của người Việt và những cư dân sống gần gũi ñang diễn ra quá trình cải biến nhanh chóng Nguyên liệu ñể xây cất ngôi nhà ngày nay không chỉ có gỗ, lạt, tre nứa, gianh lá và bùn ñất, mà còn có vôi, cát, ñá, sỏi, gạch ngãi, xi măng, sắt thép Bên cạnh nhà khung cột, vì kèo, ñã xuất hiện ngày càng
nhiều loại nhà xây tường chịu lực Từ ñó dẫn ñến những thay ñổi trong
kết cấu khung nhà, vì, mái Nhà 4 vì kèo gỗ - tường xây; nhà 2 vì kèo giữa - tường xây ; nhà xây - mái ngãi - không có vì kèo; nhà mái ngãi (hoặc mái tôn) -vách tooc xi; nhà mái (ngãi hoặc mái tôn) - vách ván; nhà xây - mái tôn; nhà bê tông - mái bằng; nhà xây có lầu ñều là những dạng khác nhau của nhà hiện ñại Cũng cần lưu ý rằng ở nông thôn ñồng bằng và trung du Bắc Bộ, trong nhiều năm gần dây lại có khuynh hướng
phát triển vì kèo cổ truyền bằng gỗ với hình thức phổ biến là kẻ truyền - giá chiêng hoặc tiền kẻ - hậu bẩy, kết hợp với kỹ thuật tường xây - mái
ngãi Nhưng cho ñến ngày nay khuynh hướng này cũng nhường chỗ cho khuynh hướng chiếm lĩnh không gian trên cao bằng những ngôi nhà gạch
có lầu Cùng với sự thay ñổi kết cấu kỹ thuật tạo lập không gian mới của ngôi nhà và sử dụng không gian ñó cũng có nhiều ñổi thay so với truyền thống, trong ñó khuynh hướng ngăn nhà thành từng phòng ñể phân công chức năng ngày càng phổ biến, mặc dù vẫn giữ lại gian giữa nơi ñặt bàn thờ và tiếp khách, nhưng diện tích có hẹp hơn
- Trong các vùng dân tộc thiểu số ở nước ta, do người Kinh lên khai hoang, phát triển kinh tế mới ngày càng nhiều; có vùng người Kinh ñã vượt quá con số người sở tại, quan hệ giao lưu, ảnh hưởng qua lại giữa các dân tộc tăng cường với mức ñộ ñáng kể, những kiểu nhà cổ truyền cũng như kiểu nhà mới của người Kinh ñang có ảnh hưởng nhiều tới việc xây cất nhà cửa của các dân tộc Ýt người ở ñồng bằng (như vùng người Chăm, Khơ - me) cũng như miền núi và cao nguyên Những ảnh hưởng
Trang 36này ñang là một khuynh hướng ñáng lưu ý trong nghiên cứu về nhà cửa các dân tộc Ýt người ở nước ta
Trang 37Chương 16 Các Loại hình bữa ăn truyền thống
Nghiên cứu truyền thống ăn uống của các dân tộc dưới giác ựộ văn hoá còn là lĩnh vực Ýt ựược quan tâm ở nước ta Thế mà, ai cũng biết, hơn tất cả các lĩnh vực khác của ựời sống vật chất và tinh thần của một dân tộc, ăn uống lại lưu giữ bền chắc và lâu dài nhất những cái gì thuộc
về bản sắc riêng của dân tộc chất ựọng suốt trường kì lịch sử Con người, tuỳ lúc, tuỳ nơi, có thể bỏ bộ quần áo này, mặc một loại y phục khác, nhiều khi rất khác lạ, từ giã căn nhà này, dựng cất một kiểu nhà khác thoáng, ựẹp hơn, tiện nghi hơn, thậm chắ có người, có dân tộc từ bỏ cả
tiếng mẹ ựẻ, nói một thứ ngôn ngữ khác, nhưng Ýt người quên ựược thãi quen khẩu vị trong ăn uống của dân tộc mình đã có biết bao thế hệ
những người Việt Nam sống xa Tổ quốc, thậm chắ sinh ựẻ ở nước ngoài, chưa một lần trong ựời tận mắt thấy quê hương, xứ sở thế mà vẫn yêu thắch, tìm thấy hương vị ngon lành trong bữa ăn thường ngày, với bát cơm thơm, chén nước mắm ngon, ựĩa cá kho, tàu rau dưa, củ hành muối đây là chưa kể biết bao món ăn ngon, sang trọng, cầu kì trong ngày giỗ tết, giỗ: Giò, chả, ninh, mọc, bánh trái, xôi chè các loại Cái gì ựã tạo nên tắnh bền chắc Êy trong thãi quen, khẩu vị ăn uống
của một dân tộc đó là cái bền chắc của mét truyền thống ăn uống ựã hình thành và ựịnh hình trải qua quá trình hàng ngàn, vạn năm Truyền
thống ựó hình thành trong mét khung cảnh thiên nhiên Việt Nam nhiệt ựới gió mùa nóng Èm, rất thuận lợi cho cây cỏ, thực vật sinh trưởng và phát triển Theo tắnh toán và ựiều tra chưa ựầy ựủ, thì ở đông Nam Á ựã
có tới 35 nghìn loài, vượt xa thiên nhiên nhiệt ựới Phi Châu (13 nghìn
loài) (Các nước và các dân tộc, 1980) Thiên nhiên nước ta nóng Èm,
mưa nhiều, lượng nước mưa tạo nên hệ thống dòng chảy dày ựặc, mùa mưa 80% diện tắch châu thổ Bắc Bộ và Nam Bộ bị ngập nước, là môi trường thuận lợi cho thuỷ sinh phát triển Hơn thế nữa, nước ta ba mặt giáp biển, với chiều dài ựất nước khoảng 3000 km, thềm lục ựịa giầu có, cũng là nguồn tài nguyên quan trọng mà con người từ xưa chú ý khai
Trang 38thác phục vụ cho bữa ăn hàng ngày của mình Với ñiều kiện tự nhiên như
vậy, nguồn thức ăn thực vật và ñạm thuỷ sản ñã chi phối lớn và tạo nên
ñặc trưng cơ bản của ăn uống các dân tộc nước ta
Tuy nhiên, với mỗi thời kì lịch sử và trình ñộ phát triển kinh tế - xã hội nhất ñịnh, con người khai thác nguồn lương thực, thực phẩm Êy phục
vụ cho bữa ăn của mình Do vậy có thể nói, mâm cơm mỗi gia ñình, mỗi
dân tộc là tấm gương trung thực nhất phản chiếu môi trường tự nhiên, trình ñộ và cách thức chinh phục môi trường Êy, cũng như trình ñộ và cách thức, thãi quen chế biến các nguồn thực phẩm Êy cho bữa ăn hàng ngày Hơn thế nữa, ăn uống không chỉ là nhu cầu cơ bản nuôi sống cơ
thể con người như bất cứ sinh vật nào khác, mà nó còn là môi trường
giao tiếp xã hội của con người, theo kiểu "tiếng chào cao hơn mâm cỗ"
1 Vài nét về hình thành và biến ñổi các ñặc trưng ăn uống dân tộc
ðể ñi tìm cái ñầu mót của cội rễ truyền thống trong ăn uống Việt Nam, chúng tôi ñã trở về với văn hoá Hoà Bình, cách ngày nay trên dưới vạn năm Ngày nay, trong các hang ñộng có di vết con người thời Hoà Bình sinh sống, còn thấy chất ñống dày hàng mét vỏ ốc suối hay ốc núi,
là ñồ thải trong ăn uống của người nguyên thuỷ Thậm chí, Conali ñã gọi
người Hoà Bình là "người ăn ốc" Trong líp líp dầy vỏ ốc Êy còn tìm
thấy công cụ, xương cá, xương thó nhỏ, và các di vết hạt cây, thậm chí
có thể có cả hạt lúa nữa Việc xác ñịnh lúa ñã tham gia vào thực ñơn của người Hoà Bình hay chưa, còn là ñiều bàn cãi, nhưng chắn chắn các loại cây hoang dại có bột, các loại củ, hoa quả ñã là thức ăn thường ngày của
họ Xương thó trong các di chỉ Hoà Bình rất Ýt so với các di chỉ cùng thời ở các khu vực thảo nguyên phía bắc Như vậy, trong ñiều kiện thiên nhiên rừng nhiệt ñới, với phương thức hái lượm và săn bắt, người Hòa Bình ăn các loại cây, củ hạt cây hoang, quả dại với các loại nhuyễn thể dưới nước, trên cạn, cá, cua là chính Cơ cấu dinh dưỡng trong bữa ăn
từ nguồn thức ăn thực vật và thuỷ sản là cơ bản Thực ñơn và cơ cấu
dinh dưỡng trên ñã ñịnh hình vững chắc ñối với người thời ñại Hoà Bình Bước sang thời ñại ñồ ñá mới, nhất là ñá mới sơ kì như Bắc Sơn,
Trang 39Quynh Văn thực ựơn của con người không mấy khác với người Hoà Bình Với trình ựộ sản xuất ựược nâng lên biểu hiện ở kĩ thuật mài, cưa, ựục, khoan ựá ngày một hoàn thiện, việc chế tạo ựồ gốm con người ựã sinh sống không chỉ ở hang ựộng rừng núi, mà còn ở cả vùng trung du, ven biển do vậy việc khai thác nguồn lợi thiên nhiên phong phú hơn Với việc tìm thấy các loại chì lười, lưỡi câu, và chắn chắn con người ựã ựóng ựược bè mảng, thuyền, ựã tạo khả năng cho họ không chỉ lượm bắt nhuyễn thể dưới sông suối, trên cạn mà còn ựánh cá sông, biển, làm tăng thêm nguồn dinh dưỡng ựạm thuỷ sản trong bữa ăn hàng ngày Trong các di tắch văn hoá ven biển như Bầu Trã, Thạch Lạc, Hạ Long ựã tìm thấy nhiều xương cá lớn, có con tới 3 - 4 tạ
Nếu như ở giai ựoạn Hoà Bình chúng ta còn nghi ngờ sự hiện diện của nghề nông nguyên thuỷ, thì thời ựá mới, với sự xuất hiện rìu mài,
lưỡi cuốc, mai ựá, ựồ gốm nghề nông ựã là hoạt ựộng sản xuất quan trọng của con người Nghề nông ra ựời, trước nhất là trồng các loại rau,
củ, sau trồng lúa ựã làm phong phú và tăng thêm nguồn thức ăn thực vật cho cư dân Những dấu tắch thực vật, ựặc biệt là lúa do các nhà khảo cổ học tìm thấy ở các di chỉ khảo cổ ựã chứng minh cho sự hiện diện của nghề nông nguyên thuỷ, một nghề làm nền tảng cho các giai ựoạn văn minh sau này của Việt Nam Cũng như ở giai ựoạn Hoà Bình, và cả các giai ựoạn lịch sử sau này, việc săn bắt thó vật và sau ựó là nghề chăn nuôi chỉ là hoạt ựộng phụ, không tách khỏi nghề nông, do vậy, nguồn thức ăn từ thịt tham gia vào thực ựơn con người rất hạn chế Thực ựơn của con người ựá mới tuy có dồi dào, phong phú hơn thời Hoà Bình, nhưng cơ bản vẫn là nguồn thức ăn thực vật và ựạm thuỷ sản
Thời kì ựồ ựồng và sơ kì sắt với nền văn minh đông Sơn rực rỡ là cái
ựánh dấu sự hình thành của tộc người và quốc gia cổ ựại ở Việt Nam Với các hiện vật khảo cổ phong phú bằng ựồng, sắt, nhất là các nông cụ như lưỡi cày, mai, cuốc, dao rìu bằng vào các hình khắc mô tả hoạt ựộng của con người trên trống ựồng đông Sơn, nhất là cảnh hội hè, giã
gạo chày tay chứng tỏ nông nghiệp trồng lúa của cư dân thời ựó ựã rất phát triển Lúa ựã thành nguồn lương thực chắnh yếu của cư dân trên mọi
Trang 40miền ựất nước Con người thời Hùng Vương ựã tràn xuống khai thác ựồng bằng, theo nước triều lên xuống ựể làm ruộng, trồng lúa hai vụ, cư dân ựã ựịnh cư trong những khu cư trú lớn tới hàng vạn m2
Lúa ựã xuất hiện, lúa ựã ựược khẳng ựịnh và trở thành lương thực chắnh yếu nhất, củ, cây có bột, rau quả cùng với lúa làm thành nền, thành nhân tố cơ bản của bữa ăn hàng ngày Cư dân Hùng Vương ăn lúa
gì, tẻ hay nếp? Ngày nay, dùa trên nhiều cư liệu nghiên cứu từ khảo cổ, dân tộc học, sử học, sinh học cho thấy rằng con người thời này ăn lúa nếp là chắnh Chiếc chõ ựể ựồ xôi thời Hùng Vương ựã ựược các nhà
khảo cổ học tìm thấy ngày càng nhiều Trong "Lĩnh Nam chắch quái" có ghi: "Thời Hùng Vương ựất sản nhiều gạo nếp, lấy ống bương ựể nấu Khi nam nữ lấy nhau, giết trâu ựể làm lễ, lấy cơm nếp khi nhập phòng cùng ăn" Rồi các sự tắch bánh chưng, bánh dầy, thực chất kể về các loại
lúa nếp thơm ngon
Nhiều chứng tắch khảo cổ học như chài lưới, lưỡi câu, ựặc biệt là các loại thuyền mòi cong với mái chèo và bánh lái khắc trên trống ựồng đông Sơn, ựã khẳng ựịnh hoạt ựộng sông nước khá nhén nhịp thời Hùng Vương Làng mạc thời này ựã trải ra ven các sông hồ vừa ựể tiện trồng cấy lúa, vừa ựể ựánh bắt, nuôi thả cá Cá và các loại thuỷ sản khác không chỉ ựem nướng, luộc, mà còn dùng làm các mắm, một món ăn cho tới
nay vẫn ựược mọi người Việt Nam yêu thắch Chả thế mà thời ựó, "Lĩnh Nam Chắnh quái" ựã ghi "người Việt lấy chim, cá, ba ba làm mắm", hay
sử sách Tàu ghi, "Người Giao Chỉ hàng năm cống hàng ngàn hũ nắm cho nhà Hán"
Từ Hoà Bình ựến đông Sơn cùng với những bước tiến lớn về kinh tế,
xã hội, bữa ăn truyền thống trên cơ sở ưu tiên dùng thức ăn thực vật và ựạm thuỷ sản, nhưng chất lượng ựã thay ựổi lớn: Từ dùng các loại chất bột của cá, cây rừng, các loại rau cá, hoa quả hoang, ựạm của các loài nguyên thể nước các loại cá nhỏ chế biến thô sơ theo kiểu nướng, ăn sống, luộc ựến chỗ dùng gạo là lương thực chắnh cùng với rau, quả trồng cấy, ựạm thuỷ sản cá, tôm, cua chế biến theo nhiều cách khác nhau, nhất là khi có ựồ ựựng phong phú, có thể dùng cách lên men cá,