Vùng văn hóa là một không gian văn hóa nhất định, được tạo thành bởi các đơn vị dân cư trên một phạm vi địa lý của một hay nhiều tộc người, sáng tạo ra một hệ thống các dạng thức văn hóa[r]
Trang 1Câu hỏi: Anh chị hãy trình bày quan điểm về phân vùng văn hoá ở Việt
Nam? Trình bày đặc điểm một vùng văn hoá mà anh chị hiểu rõ nhất? Điểm qua
sơ lược các vùng văn hoá mà ở đó còn bị chi phối nhiều ở luật tục hơn là pháp luật hiện nay?
Trả lời
I Quan điểm về phân vùng văn hoá ở Việt Nam
Loài người nói chung và những nhóm, những tộc người, những cộng đồng người trong một dân tộc, một quốc gia nói riêng, hiện diện trong lịch sử theo những điều kiện tự nhiên và xã hội nhất định, với một trình độ phát triển nhất định và trong hiện thực lịch sử đó, con người làm ra văn hoá và tồn tại với văn hoá của mình Bộ mặt văn hoá, do đó, ngoài những nét chung thống nhất còn có những nét khác biệt mà sự khác biệt này không chỉ diễn ra theo thời gian trong tiến trình phát triển mà còn diễn ra trong không gian của cùng một thời điểm lịch
sử giữa các nhóm, các cộng đồng, các quốc gia ở các vùng, các khu vực khác nhau Đó là cơ sở thực tế đẻ ra lý thuyết vùng văn hoá và phân vùng văn hoá Vùng văn hóa là một không gian văn hóa nhất định, được tạo thành bởi các đơn vị dân cư trên một phạm vi địa lý của một hay nhiều tộc người, sáng tạo ra một hệ thống các dạng thức văn hóa mang đậm sắc thái tâm lý cộng đồng, thể hiện trong môi trường xã hội nhân văn thông qua các hình thức ứng xử của con người với tự nhiên, xã hội và ứng xử với nhau trên một tiến trình lịch sử phát triển lâu dài
Đất nước Việt Nam có đại hình đa dạng vừa có núi (3/4 lãnh thổ) vừa có đồng bằng, vừa có biển, khi hậu đa dạng nên hình thành nhiều vùng văn hoá khác nhau Vùng văn hoá có gắn chặt với vùng lịch sử dân tộc học, nhưng không hoàn toàn đồng nhất Mỗi dân tộc, mỗi tộc người có văn hoá của mình nhưng ở Việt Nam, có thể một tộc người (như người Việt) qua quá trình lịch sử lâu dài có thể hình thành nhiều vùng văn hoá và các dân tộc thiểu số thường sống xen kẽ với nhau vừa có nét đặc thù văn hoá của mình vừa có sự hoà trộn văn hoá trong một vùng địa lý nhất định
Hiện nay, trong giới nghiên cứu còn chưa thống nhất trong cách phân vùng văn hoá Việt Nam
Theo Ngô Đức Thịnh
Giáo sư Ngô Đức Thịnh trong Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá ở Việt Nam đã tiến hành phân vùng văn hoá ở Việt Nam thành 7 vùng văn hoá lớn,
Họ và tên: Thạch Sốc Kha
Lớp: Liên thông Đại học Luật
Môn: Cơ sở Văn hoá Việt Nam
Trang 2trong mỗi vùng như vậy lại có thể phân chia thành các tiểu vùng văn hoá nhỏ hơn, khoản 23 tiểu vùng:
1 Vùng văn hoá đồng bằng Bắc Bộ, có thể phân thành 5 tiểu vùng:
- Tiểu vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang)
- Tiểu vùng Sơn Nam (Hà Đông [Hà Tây], Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên)
- Tiểu vùng Xứ Đoài (Phú Thọ, Sơn Tây, Vĩnh Phúc)
- Tiểu vùng Xứ Đông (Hải Dương, Hải Phòng)
- Tiểu vùng Thăng Long – Hà Nội
2 Vùng văn hoá Việt Bắc, có thể phân thành 2 tiểu vùng:
- Tiểu vùng Cao – Bắc – Lạng (Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên)
- Tiểu vùng Đông Bắc (Quảng Ninh)
3 Vùng văn hoá Tây Bắc và miền núi Thanh Nghệ, có thể phân thành 3 tiểu
vùng:
- Tiểu vùng Tây Bắc (Lai Châu, Sơn La)
- Tiểu vùng miền núi Thanh Nghệ (miền núi Thanh Hoá, Nghệ An)
- Tiểu vùng Mường Hoà Bình
4 Vùng văn hoá Bắc Trung Bộ, có thể chia thành 3 tiểu vùng:
- Tiểu vùng Xứ Thanh (Thanh Hoá, không kể miền núi)
- Tiểu vùng Xứ Nghệ (Nghệ An, Hà Tĩnh, không kể miền núi)
- Tiểu vùng Xứ Huế (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên)
5 Vùng văn hoá Nam Trung Bộ, có thể phân thành 3 tiểu vùng:
- Tiểu vùng Xứ Quảng (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định)
- Tiểu vùng Phú Yên, Khánh Hoà
- Tiểu vùng Ninh Bình Thuận
6 Vùng văn hoá Trường Sơn – Tây Nguyên, có thể phân chia thành 4 tiểu vùng:
- Tiểu vùng nam Trường Sơn (vùng núi Thừa Thiên, Quảng Nam)
- Tiểu vùng bắc Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai)
- Tiểu vùng trung Tây Nguyên (Đắc Lắc)
- Tiểu vùng nam Tây Nguyên (Lâm Đồng, Bình Phước)
Trang 37 Vùng văn hoá Nam Bộ, có thể phân thành 3 tiểu vùng:
- Tiểu vùng đông Nam Bộ (Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Dương, Long An, Bà Rịa – Vũng Tàu, Biên Hoà)
- Tiểu vùng tây Nam Bộ (Đồng Tháp, Kiên Giang, An Giang, Mĩ Tho, Cà Mau, Trà Vinh, Bến Tre, Bạc Liêu)
- Tiểu vùng Sài Gòn – Gia Định
Theo Hoàng Tiến Tựu
Theo tiêu chí phân vùng văn hoá dân gian của Phó Giáo sư – Nhà giáo ưu
tú Hoàng Tiến Tựu đề xuất thì vùng văn hoá dân gian của người Việt được chia
ra theo 4 loại đơn vị từ nhỏ đến lớn là làng, vùng, khu vực và miền Cụ thể, miền Bắc gồm 3 khu vực (trung du Bắc Bộ, đồng bằng sông Hồng, khu vực sông Mã), miền Trung gồm hai khu vực (Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên) và miền Nam gồm 3 khu vực (khu vực Thu Bồn – Trà Khúc, Nam Trung Bộ, đồng bằng sông Cửu Long)
Theo Trần Ngọc Thêm
Giáo sư – Tiến sĩ khoa học Trần Ngọc Thêm thì chia văn hoá Việt Nam ra làm 6 vùng như sau: Tây Bắc, Việt Bắc, đồng bằng Bắc Bộ, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ
Theo Trần Quốc Vượng
Giáo sư Trần Quốc Vượng trong công trình Cơ sở văn hoá Việt Nam đã phân chia không gian văn hoá Việt Nam thành 6 vùng:
1 Vùng văn hoá Tây Bắc
2 Vùng văn hoá Việt Bắc
3 Vùng văn hoá Châu thổ Bắc Bộ
4 Vùng văn hoá Trung Bộ
5 Vùng văn hoá Tây Nguyên
6 Vùng văn hoá Nam Bộ
II Vùng văn hoá Tây Nguyên
1 Điều kiện tự nhiên
Tây Nguyên gồm 5 tỉnh, xếp theo thứ tự vị trí địa lý từ bắc xuống nam gồm Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng với diện tích tự nhiên là 54.474 km2 chiếm 16,8% diện tích tự nhiên cả nước
Những tỉnh vùng núi Tây Nguyên Việt Nam có rất đông dân tộc ít người đang sinh sống, họ ở trong các buôn làng và trong những khu rừng trọc đã được phát hoang, sống sinh hoạt theo từng cộng đồng dân tộc của mình không lẫn lộn
Trang 4với dân tộc khác Hiện nay, nhiều dân tộc thiểu số chung sống với dân tộc Việt (Kinh) ở Tây Nguyên như Ba Na, Gia Rai, Ê đê, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông với những truyền thống văn hóa đặc sắc riêng của dân tộc mình
Văn hoá vùng Tây Nguyên có nhiều mặt bằng rộng rãi nhưng có địa hình phức tạp: có nhiều núi cao, những cao nguyên khá bằng phẳng và các thung lũng dài rộng nằm giữa các vòng cung núi, có một mạng lưới sông suối khá dày, nhiều ghềnh thác, nước ngầm ở dưới độ sâu 80 – 90 m Khí hậu Tây Nguyên có hai mùa rõ rệt mùa khô và mùa mưa Mùa khô nóng hạn, thiếu nước trầm trọng, mùa mưa nóng ẩm, tập trung 85-90% lượng mưa của cả năm Hệ động vật hoang
dã cũng rất phong phú có ý nghĩa kinh tế và khoa học Có tới 32 loài động vật quí hiếm như voi, bò tót, trâu rừng, hổ, gấu, công, gà lôi
Trên vùng đất đỏ Tây Nguyên các dân tộc Tây Nguyên sinh sống bằng phương pháp canh tác nông nghiệp nương rẫy là chủ yếu ngoài ra còn dựa vào hái lượm săn bắt các sản phẩm của rừng Kinh tế mang nặng tính tự cấp tự túc, buôn bán trao đổi chưa phát triển Đời sống vật chất còn ở mức thô sơ
2 Đặc trưng văn hoá
Các tộc người tây nguyên cư trú thành từng buôn làng (bon plây) Buôn làng là một đơn vị cơ sở xã hội là một công đồng độc lập và hoàn chỉnh có ranh giới không gian và bộ máy tự quản gồm trưởng làng và hội đồng bô lão (gồm các già làng) có vai trò quyết định các hoạt động của làng (nhà Rông, nhà Gơi)
Trong quan hệ gia đình nhiều tộc người tây nguyên còn tồn tại chế độ gia đình theo huyết thống mẫu hệ, hôn nhân theo tục nối dây
- Chủ thế văn hoá: Đây là địa bàn sinh sống của hơn 20 dân tộc anh em,
thuộc hai nhóm ngôn ngữ được coi là ngôn ngữ cổ nhất Đông Nam Á, nhóm Môn - Khmer và Nam Đảo
Thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – khmer gồm có các tộcngười: Ba na, Xơ đăng, M`nô, H`ho, X-tiêng, Bru-Vân kiều, Cơ-tu, Mạ, Co, Giẻ - Triêng, Chơ-Ro, Rơ-Mâm Thuộc nhóm Nam Đảo (Mã lai –Đa Đảo) gồm các tộc người: Êđê, Gia Rai, Chu Ru
- Lịch sử: Vùng Văn hóa Tây Nguyên có lịch sử hình thành từ lâu đời gắn
liền với các dân tộc bản địa đã sinh sống lâu đời ở vùng đất này, có mối quan hệ nguồn gốc với người chăm và người Khmer của Vương quốc campuchia, người lào và người Việt Từ thế kỷ XVII-XVIII, các dân tộc người Tây Nguyên đã gắn
bó mật thiết với các triều đại phong kiến Đại Việt
- Nhà Ở: Nhà của vùng văn hoá Tây Nguyên là nhà sàn hoặc nhà nữa sàn
nữa đất (còn gọi là nhà sạp) đủ sinh sống cho cộng đồng gia đình lớn, nhà cửa kiến trúc thô sơ bằng các vật liệu tự nhiên như tre, nứa, gỗ
Trang 5Đặc biệt có ngôi nhà Rông có bộ mái cao ngất và hệ thống hoa văn ở bên trong và trên đường nóc Nhà Rông được xem như là một biểu tượng đầy đủ nhất của văn hóa vùng Tây Nguyên Theo tâm niệm của đồng bào các dân tộc thiểu
số, đã có làng là phải có nhà Rông Làng nào không có nhà Rông thì làng đó thiếu sức sống cội nguồn Nhà Rông hùng vĩ vươn lên bầu trời với hình dáng như một lưỡi búa khổng lồ biểu hiện sức mạnh của một cộng đồng làng, thể hiện tinh thần thượng võ, đầy uy quyền, như là chế ngự không gian và thời gian để khẳng định chủ quyền, lãnh địa của làng
- Trang phục: Trang phục của phụ nữ Tây Nguyền có nhiều hoa văn là nổi
bật lên đường nét cơ thể Đặc sắc nhất là trang phục nam giới: họ đóng khố và mặc loại áo chuôi đầu, quấn khăn có cài lông chim quý nhiều màu sắc Đấy là cả công trình dệt và thêu và còn là cả một nghệ thuật trang trí phục sức
- Đi lại vận chuyển: Khi đi lại vận chuyển thì dùng gùi đeo qua vai, dùng
voi để chuyên chở Nơi sông hồ lớn dùng thuyền độc mộc
- Ẩm thực: Tây Nguyên là vùng cao nguyên hùng vĩ, núi non bạt ngàn Nơi
đây nổi tiếng với những món ngon mang hương vị rất riêng của núi rừng Tây Nguyên có nhiều món đặc sản như: cơm lam, gỏi lá, măng le, thịt thú rừng Đặc biệt uống rượu cần là một nét văn hóa ẩm thực đặc sắc của tây nguyên
- Văn hoá tâm linh: Các dân tộc Tây nguyên văn hóa dân gian rất phong phú và độc đáo Họ thờ đa thần coi trọng các vị thần tự nhiên không thờ cúng tổ tiênthần nhà (Yàng Seng), thần làng (Yàng Alabôn), thần nước (Yàng Pênla) Đồng bào quan niệm đó là những vị thần gần gũi với người dân có nhà ở, giúp người dân có nhà ở, bảo vệ mùa màng, làng mạc Ngoài ra, người Jrai còn thờ cúng các vị thần khác vào những ngày lễ như thần đất, thần sét
Trong thế giới tinh thần của cư dân bản địa Kon Tum, Yàng là một vị thần
có mọi quyền lực chi phối đến con người, là nơi trừng phạt cũng như làm phúc cho bất kỳ một người nào Mỗi dân tộc tuy cùng chung một khái niệm Yàng nhưng mỗi nơi có một cách nói, thờ cúng khác nhau
Trong toàn vùng văn hoá Tây Nguyên hiện có 4 tôn giáo chính đang hoạt động bình thường là: Công giáo, Phật giáo, Tin lành, Cao đài, với tổng số 1.753.761 tín đồ (chiếm 34,7% dân số), gần 3.500 chức sắc-nhà tu hành, khoảng
840 cơ sở thờ tự các loại
- Lễ hội: Vùng văn hoá Tây Nguyên vốn nổi tiếng với các lễ nghi, phong
tục tập quán của các dân tộc thiểu số như Ê đê, Gia Rai, Ba Na, Mơ Nông Một trong những nét văn hóa đặc trưng của họ là các lễ hội: Lễ đâm trâu, lễ bỏ mã, lễ hội đua voi, Lễ hội mừng Nhà rông mới, Lễ cúng Đất làng tục mừng lúa mới của người ba na lễ cúng bến nước của đồng bào Ê đê
- Sử thi Tây Nguyên: Kho tàng sử thi vô cùng phong phú cùng với nghệ
thuật kể khan là một một di sản văn hóa tinh thần quý giá và độc đáo của văn
Trang 6hóa tinh thần Các tác phẩm sử thi như: Đam sam, Cướp chiêng cổ bon Tiăng
(Sử thi Mơ Nông);Lêng nghịch đá thần của Yang (Sử thi Mơ Nông) Udai – Ujà (Sử thi RagLai) Bắt con lươn ở suối Dak Huck (Sử thi Mơ Nông); Binh con Mănh xin làm vợ Yang (Sử thi Mơ Nông); Con đỉa nuốt bon Tiăng ( Sử thi Mơ Nông); Cướp chăn lêng của Jrêng, Lêng con Ôt (Sử thi Mơ Nông).
- Cồng chiêng tây nguyên là một nét văn hoá đặc sắc Cồng chiêng Tây
Nguyên có nguồn gốc từ truyền thống văn hóa và lịch sử rất lâu đời Từ xa xưa, cộng đồng cư dân Tây Nguyên đã biết thổi hồn và tiếp thêm sức sống cho cồng chiêng Tây Nguyên để những âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng người Tây Nguyên, sống mãi cùng với đất trời và con người Tây Nguyên
Cồng chiêng Tây Nguyên giữ vai trò là phương tiện để khẳng định cộng đồng và bản sắc văn hóa chung các dân tộc Tây Nguyên cũng như của từng tộc người trên mảnh đất muôn mầu, muôn sắc Tây Nguyên Mỗi dân tộc Tây Nguyên có một cách chơi chiêng khác nhau Người dân bình thường ở Tây Nguyên tuy không phải là những chuyên gia âm nhạc, nhưng chỉ cần nghe tiếng chiêng là họ phân biệt được đó là dân tộc nào
Âm nhạc của cồng chiêng Tây Nguyên thể hiện trình độ điêu luyện của người chơi trong việc áp dụng những kỹ năng đánh chiêng và kỹ năng chế tác
Từ việc chỉnh chiêng đến biên chế thành dàn nhạc, cách chơi, cách trình diễn, những người dân trong các p’lei, p’lơi, buôn, bon, dẫu không qua trường lớp đào tạo vẫn thể hiện được những cách chơi điêu luyện tuyệt vời
Cồng chiêng Tây Nguyên là bằng chứng độc đáo, là nét đặc trưng của truyền thống văn hóa các dân tộc Tây Nguyên Nó là một loại hình sinh hoạt gắn liền với đời sống văn hóa, tinh thần và tín ngưỡng của con người từ lúc được sinh ra cho đến khi trở về với đất trời, với vũ trụ Trong khi đa số các dân tộc ở Tây Nguyên, chơi chiêng phải là nam giới, thì cũng có một số dân tộc phụ nữ là nghệ nhân trình diễn chiêng; đồng thời phụ nữ tham gia múa cùng với nghệ nhân trình diễn chiêng Ðiều ấy không chỉ minh chứng cho truyền thống lâu đời của cồng chiêng Tây Nguyên mà còn cho thấy tính độc đáo văn hóa của nó
Ngày 25-11-2005 cồng chiêng tây nguyên được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới
- Nhà mồ: Dân tộc ít người như Gia Rai, Ba Na, sau mỗi lần có người thân
trong gia đình qua đời, đều làm mồ mả cho đẹp, sau đó tổ chức ăn mừng nhà mồ
Vì vậy ngày lễ không có thời gian mà tùy thuộc vào hoàn cảnh Nhà mồ Tây Nguyên có một vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của họ, những gì có ở nhà mồ không chỉ dành cho người đã chết mà còn là niềm tin cho người đang sống Người Ba-Na, Gia-Rai tin rằng linh hồn người chết sẽ biến hóa những thứ
để trong nhà mồ sẽ có thêm nhiều hơn nữa, như tượng các con vật nuôi, những
Trang 7dao rựa, cung nỏ săn bắn,… tức phù hộ cho người sống gặp may mắn khi nuôi súc vật, đi rừng hay săn bắn
III Điểm qua sơ lược các vùng văn hoá mà ở đó còn bị chi phối nhiều ở luật tục hơn là pháp luật hiện nay:
Luật tục (tập quán pháp, lệ tục ) là một hình thức của tri thức bản địa, tri thức địa phương còn tồn tại ở hầu khắp các dân tộc ở nước ta, không kể đó là dân tộc thiểu số hay đa số
Luật tục là một hình thức của tri thức bản địa, tri thức địa phương, được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, qua kinh nghiệm ứng xử với môi trường và ứng xử xã hội, đã được định hình dưới nhiều dạng thức khác nhau, được truyền từ đời này sang đời khác qua trí nhớ, qua thực hành sản xuất và thực hành xã hội Nó hướng đến việc hướng dẫn, điều chỉnh và điều hoà các quan hệ
xã hội, quan hệ con người với môi trường thiên nhiên Những chuẩn mực ấy của luật tục được cả cộng đồng thừa nhận và thực hiện, tạo nên sự thống nhất và cân bằng xã hội của mỗi cộng đồng
Ở mỗi dân tộc có tên gọi luật tục riêng, ví như Hương ước (Việt), Hịt khỏng (Thái), Phat kđi (Êđê), Phat Ktuôi (M’nông), N’ri (Mạ)
Một điều dễ nhận biết là Luật tục vừa mang một số yếu tố của Luật pháp, như quy định các hành vi phạm tội, các tội phạm, bằng chứng, việc xét xử và hình phạt , lại vừa mang tính chất của lệ tục, phong tục, như các quy ước, lời răn dạy, khuyên răn mang tính đạo đức, hướng dẫn hành vi cá nhân, tạo dư luận
xã hội để điều chỉnh các hành vi ấy Như vậy, Luật tục như là hình thức phát triển cao của phong tục, tục lệ và là hình thức phát triển sơ khai, hình thức tiền luật pháp
1 Vùng văn hoá Tây Bắc
Luật tục của người Xinh Mun
Tục ở rể: Khi cái bụng của chàng trai và cô gái đã ưng nhau bố mẹ chàng trai sẽ mang một chai rượu đến nhà gái hỏi vợ cho con Nếu được nhà gái đồng
ý, nhà trai sẽ rót rượu chung vui và bàn ngày cưới hỏi Sau lễ cưới chàng rể đảm đương những việc nặng nhọc nhất, từ phát nương trồng ngô đến chăn trâu cắt cỏ, đan lát các vật dụng trong gia đình… từ 8 đến 12 năm Trong suốt thời gian ở rể, chàng trai phải ngủ cách ly trong một căn phòng bé xíu ở đầu hồi, tuyệt đối không được nằm cùng giường với vợ vì chưa trả đủ công ơn của bố mẹ nàng dâu Có cặp vợ chồng không kiêng được chuyện giường chiếu, xé rào luật tục bị dân bản tẩy chay, gia đình từ mặt, phải bỏ bản đi nơi khác sinh sống Ngày nay, tục lệ hôn nhân hà khắc này dần dần được giảm bớt
Cúng hồn lúa: Khi những bông lúa chín nhuộm vàng nương ruộng cũng là lúc các gia đình người Xinh Mun cúng hồn lúa Nếu chưa làm nghi lễ này thì lúa
Trang 8chín rụng cũng không được thu hoạch, đói đến mấy cũng không được phép cầm liềm gặt, phải ăn củ nâu, củ mài sống qua ngày đoạn tháng Lễ cúng phải có ít nhất 7 con vật sống trên rừng (như chuột dúi, gà rừng, chim, sâu măng - cây măng nhú cao đến đầu gối có sâu đục bên trong, lợn rừng, rắn, thằn lằn); ít nhất
7 con vật sống dưới nước (tôm, cua, cá, ốc, lươn, hến, trai); tất cả các loại dưa trồng trên nương; 4-5 ống cơm lam và một quả dừa
3 Vùng văn hoá Tây nguyên
Luật tục của người Ê đê
Luật tục Ê Đê đã đề cập đến hầu hết các lĩnh vực khác nhau của đời sống,
từ sản xuất, tổ chức xã hội và quan hệ cộng đồng, gia đình và quan hệ gia đình,
quan hệ nam nữ đến lễ nghi, tín ngưỡng… Luật tục đã phản ánh tư duy duy lý
dân gian của người Ê Đê trong quá trình tồn tại và phát triển Những khuôn khổ, cách thức sống được đặt ra không đơn thuần là sự nhận thức cảm tính mà đã được định hình bằng những lý lẽ được coi như chân lý mà ai cũng phải nghe theo, không còn sự lựa chọn nào khác Ví dụ như: Trong gia đình con cái phải nghe theo lời cha mẹ, ngoài cộng đồng mỗi thành viên phải nghe theo lời của trưởng buôn, ai làm trái với điều ấy phải đưa ra xét xử, đó là quy tắc Những lý
lẽ đưa ra để thuyết phục người ta cần phải xử sự theo quy tắc đó là: “Có cây đa
thì phải hỏi cây đa, có cây sung thì phải hỏi cây sung, có mẹ cha thì phải hỏi mẹ cha” hoặc “Có cây đa đầu suối, có cây sung đầu làng, người trông nom dân làng
mà không hỏi”
Những lý lẽ ấy đã được bắt nguồn từ chính cuộc sống hiện thực mà con người không thể phủ nhận, tạo cho họ niềm tin và dẫn dắt họ trong cuộc sống Xuyên suốt 236 điều trong luật tục là tính cộng đồng với tinh thần bình đẳng, dân chủ, bác ái Dù là việc xảy ra trong một gia đình, một dòng họ như: kết hôn, sinh tử… mọi người vẫn ghé vai gánh vác xem như đó là công việc chung
Luật tục của người Mạ
Chế độ hôn nhân ở người Mạ cấm ngặt việc lấy nhau trong dòng họ gần như con chú, con bác ruột và con dì Nếu vi phạm sẽ phải chịu trừng phạt rất nghiêm
Người Mạ quan niệm vợ chồng lấy nhau được xem như chuôi dao với lưỡi dao, như lửa với tro, nên ít có tình trạng chồng hoặc vợ ngoại tình, để dẫn đến li
dị nhau Ở người Mạ, vợ chồng li dị nhau là một vấn đề rất hệ trọng đối với đôi
vợ chồng và cả hai họ thông gia Khi vợ chồng ly hôn phải được chủ làng chấp thuận mới hợp thức theo phong tục Mạ Những lý do thường dẫn đến li dị như vợ hoặc chồng ngoại tình, bỏ bê nhiệm vụ trong gia đình, hay một trong hai người tuyệt đường sinh sản, có những bất hòa dẫn đến chửi mắng đánh đập nhau… Người gây ra việc li dị bị xử phạt rất nghiêm, nhất là trong trường hợp đã có con Ngoại tình bị coi là trọng tội Kẻ gian dâm vừa phải phạt vạ để tạ tội với thần
Trang 9linh, vừa phải bồi thường cho người bị phụ tình một số tài sản theo sự xét xử của tòa án phong tục Nếu người chồng bỏ vợ thì theo luật lệ của buôn làng người chồng phải để lại tất cả của cải, nhà cửa, ruộng vườn cho người vợ và ra đi tay không, về với gia đình cha mẹ của mình Trường hợp hai vợ chồng đã có con với nhau, đứa con sẽ quyết định, nó thích sống với ai và người cha hoặc mẹ phải có trách nhiệm nuôi nấng Đứa bé còn nhỏ thì nhất định phải sống với mẹ Nếu vợ quyết định bỏ chồng, người vợ cũng phải để lại tất cả tài sản cho chồng và ra về nhà cha mẹ tay không như trường hợp chồng bỏ vợ Sau khi chia tay nhau, hai người đều có thể tự do tiếp tục cuộc hôn nhân mới
3 Vùng văn hoá Trung Bộ
- Luật tục của người Raglai
Dân tộc Raglai sinh sống lâu đời tại vùng ven biển cực Nam Trung Bộ, nơi
triền đông, từ phía bắc Khánh Hòa đến Bình Thuận, người Raglai theo chế độ mẫu hệ, cho đến nay họ vẫn duy trì tuy đã có sự thay đổi theo môi trường xã hội
mới Con gái cưới chồng về nhà mình với quan niệm “Chặt cây rừng về làm nhà, bắt người ta về làm người nhà mình” Chàng rể, người chồng trở thành trụ
cột trong gia đình nhà vợ nhưng quyền quyết định những công việc lớn lao vẫn thuộc về người vợ và ông cậu bên vợ Con gái sinh ra mang họ mẹ và luôn giữ mối quan hệ huyết thống theo dòng họ mẹ suốt 7 đời Quyền thừa kế tài sản chỉ thuộc về con gái, đặc biệt là người con gái út
Người Raglai rất chú trọng tới các mối quan hệ trong gia đình Gia đình là hạt nhân của xã hội, quan hệ giữa cha mẹ - con cái, ông bà – cháu chắt luôn luôn phải hòa thuận là chuẩn mực đạo đức hàng đầu Ông bà, bố mẹ phải nói điều lành, dạy điều tốt cho con cái Luật tục quy định:
Hãy nói điều lành, dạy chuyện tốt cho nhau Thì mới cùng nhau thấu hiểu mọi điều
Ngoài ra, Luật tục Raglai còn quy định trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái, quy định trách nhiệm của con cái đối với ông bà, cha mẹ, luật tục về hôn nhân đôi lứa, luật tục trong quan hệ vợ chồng
- Cồng chiêng liên quan đến hoạt động săn bắt thú của người Cơtu và Tà Ôi:
Ở hoạt động săn bắt thú của người Cơtu có quy định rằng: “Nếu săn bắt được thú rừng to thì đưa lên nhà Gươl thì sẽ sử dụng cồng chiêng và trống đánh lên báo hiệu để ăn mừng” trong khi đó, đối với người Tà ôi chuyện này thì ngược lại, luật tục Tà ôi có quy định khắt khe về cồng chiêng liên quan đến hoạt động săn bắt thú rằng: “Khi được thú rừng to hay nhỏ tuyệt đối không dùng cồng chiêng và trống trong nhà Moòng làng hoặc nhà Rông như hiện nay Mà cồng
Trang 10chiêng, trống chỉ dùng khi trong làng có lễ lớn hoặc đám ma Nếu ai vi phạm sẽ
bị phạt nặng bằng nhiều cách khác nhau”
4 Vùng văn hoá Nam Bộ
Luật tục Atach của người Chăm ở An Giang
Trong sinh hoạt cộng đồng, hôn nhân gia đình, tang chế, tranh chấp tài sản, thừa kế người Chăm không đưa ra chính quyền giải quyết, mà xử lý bằng luật tục (Atach) do hệ thống chức sắc tôn giáo xét xử Đó là: “giáo cả” (Ha-kêm) - do tín đồ liên ấp bầu ra, nhiệm kỳ suốt đời, trừ khi sai phạm nặng: “phó giáo cả” (Na-ef Ha-kêm), ủy viên thư ký (Ka-ren), thủ quỹ (Pan Pageh), cố vấn Đối với vấn đề chính trị, theo ai, chống ai, họ đều tuân theo sự lãnh đạo của Ha-kêm Người Chăm An Giang theo đạo Hồi Islam, nghiêm chỉnh chấp hành năm tín điều: Tin tưởng tuyệt đối vào Thánh Allah, hành lễ mỗi ngày năm lần, chay tịnh trong tháng lễ Ramadan, bố thí cho người nghèo, hành hương về thánh địa Meca Họ kiêng ăn thịt heo, chó, khỉ và những loài chim chân quắp mồi Phải đọc kinh trước khi giết những gia súc, gia cầm được phép ăn Nếu con vật đó chết trước khi đọc kinh, phải bỏ đi Khi lễ Ramadan kết thúc, người giàu trong
ấp muốn đãi bà con thì mua một con bò đưa đến Thánh đường Con bò được trói lại cẩn thận, trên mình phủ kín tấm vải trắng Mọi người đứng chung quanh con vật, im lặng nghe ông thầy Cả đọc kinh Chấm dứt hồi kinh, thầy Cả một tay cầm dao, một tay kéo tai con vật xuống, đo cần cổ, tới đâu là cắt đến đấy Luật tục cho phép người Chăm có quyền lấy vợ, lấy chồng người dân tộc khác nhưng phải chịu gia nhập Hồi giáo Nam giới đội mũ trắng, vận sà-rông, từ 13 tuổi đến
15 tuổi phải làm lễ cắt da quy đầu (Kho-tanh) Ông Chèn Kho-tanh đọc kinh, lấy kẹp tre cặp da quy đầu, dùng dao bén cắt, rồi thoa thuốc cầm máu và sát trùng Phụ nữ Chăm ở An Giang không che mặt khi ra đường, nhưng choàng khăn the
đủ mầu
Theo luật tục, con trai Chăm đi cưới vợ, khác với ở Ninh Thuận, Bình Thuận con gái Chăm đi cưới chồng Người con gái đến tuổi 15 phải làm lễ hãm mình (Karok) đến đủ 16 tuổi tròn mới được lấy chồng Nếu chưa qua lễ Karok,
bị coi là gái “Ta-bung” (gái cấm) không có quyền lấy chồng Việc hôn nhân do cha mẹ sắp đặt và nhờ người mai mối Khi có thai, sản phụ kiêng nằm võng, sợ võng đứt hư thai; không ngồi ngay cửa chính sợ sinh con chậm; choàng khăn không buộc chặt lấy cổ, sợ sinh con bị nhau cuốn cổ; căng chiếc lưới đánh cá trên giường hai mẹ con để ngăn ma quỷ Sinh xong, nhau thai rửa sạch chôn ngay dưới cầu thang Sản phụ nằm trên hoặc cạnh bếp lửa một tuần lễ, ăn cá lóc kho tiêu, uống nước muối nhạt và uống thuốc điều hòa khí huyết
Đàn ông Chăm giữ vai trò chủ gia đình và xã hội Người chồng có quyền ly hôn vợ, nhưng phải có hai người làm chứng rằng hành vi của chồng là đúng và sáng suốt Phụ nữ Chăm có quyền ly hôn chồng, nếu chồng bị bệnh bất lực hoàn