Theo ý nghĩa trìu tượng, có thể hiểu Ộkhông gian văn hoáỢ như một ỘtrườngỢ mượn khái niệm trường của vật lý, ựể chỉ một hiện tượng hay tổ hợp các hiện tượng một nền văn hóa của tộc ngư
Trang 1Trung tâm khoa học xã hội & nhân văn quốc gia Viện nghiên cứu văn hóa dân gian
Ngô ðức Thịnh
NXB TRẺ
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN THỨ NHẤT:
CÁC LÝ THUYẾT VÀ KHUYNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Chương 1:Nghiên cứu văn hoá vùng, khuynh hướng và các vấn ñề
Chương 2: Nghiên cứu các sắc thái văn hoá ñịa phương ở Việt
PHẦN THỨ HAI:
PHÁC THẢO PHÂN VÙNG VÀ MỘT SỐ VÙNG
VĂN HOÁ Ở VIỆT NAM
Chương 3: Phác thảo về phân vùng văn hoá ở nước ta 84
Chương 4: Vùng văn hoá ñồng bằng Bắc Bộ 114
Chương 6: Vùng văn hoá Tây Bắc và miền núi bắc Trung Bé 192
Chương 11: Tiểu vùng văn hoá cực nam Trung Bộ 306
Trang 4Chương 12: Vùng văn hoá Trường Sơn - Tây Nguyên 324
PHẦN THỨ BA:
ðẶC TRƯNG VÙNG TRONG MỘT SỐ HIỆN TƯỢNG VĂN
HOÁ
Chương 14: Về vùng "thể loại" văn hoá 382
Chương 15: Sù phân bố ñịa lý và mối quan hệ giữa các loại hình
Chương 19: Thuyền bè truyền thống Việt Nam 477
Chương 20: Sử thi, hiện tượng tiêu biểu của vùng văn hoá Tây
Kết Luận: Thống nhất - ña dạng văn hoá và sự phát triển xã hội
Trang 5CONTENTS
Part I
THEORY AND TENDS OF RESEARCH
Chapter 1: Studying cultural areas, trends of research and arising
matters Studying cultural areas, trends of research and arising matters 26
Chapter 2: Studying indentity of Vietnam local culture, From
ideas to concepts Studying indentity of Vietnam local culture,
Part II
DRAFT OF DELIMITATION AND SOME
CULTURAL AREAS IN VIETNAM
Chapter 3:Draft of delimitating cultural areas in VietnamDraft of delimitating
Chapter 4:Cultural area of Tonkin Delta Cultural area of Tonkin Delta 114 Chapter 5:Cultural area of Xu Lang Cultural area of Xu Lang 173
Chapter 6:Cultural area of Tay Bac Cultural area of Tay Bac 192
Chapter 7:Cultural area of Xu Thanh Cultural area of Xu Thanh 216
Chapter 8:Cultural area of Xu Nghe Cultural area of Xu Nghe 238
Trang 6Chapter 9:Cultural area of Xu Hue Cultural area of Xu Hue 261
Chapter 10:Cultural area of Xu Quang Cultural area of Xu Quang 282
Chapter 11:Cultural area of nam Trung BoCultural area of nam Trung Bo
306
Chapter 12:Cultural area of Truong Son - Tay NguyenCultural area of Truong
Chapter 13:Cultural area of Nam Bo (South Vietnam)Cultural area of Nam Bo
Part III
REGIONALLY SPECIFIC CHARACTERISTICS IN SOME
CULTURAL PHENOMENA
Chapter 14:On “typed” area culture On “typed” area culture 382
Chapter 15:The geographical distribution and interrelations of
housing styles among ethnic groupsThe geographical distribution and interrelations of housing styles among ethnic
Chapter 16:Types of traditional meals and their distribution
among ethnic groupsTypes of traditional meals and their distribution
Chapter 17:Local and ethnical aspects of costumeLocal and ethnical aspects
Trang 7Chapter 18:Type of tree - trunk coffin (coffin which is made by
Chapter 19:Types of traditional boats and raftsTypes of traditional boats
Chapter 20:Epic, the typical phenomenon Tay Nguyen’s culture Epic,
Conclusion: CULTURAL UNITY - DIVERSITY AND
Trang 9Dẫn luận
1 Hai phạm trù cơ bản của văn hoá
Cũng như bất cứ một hiện tượng tự nhiên hay xã hội nào, các hiện tượng văn hoá cũng chịu sự tác ñộng của hai nhân tố cơ bản, ñó là thời gian và không gian Thời gian cho ta thấy một hiện tượng hay một tổ hợp các hiện tượng văn hoá nảy sinh, tồn tại và biến ñổi như thế nào dưới sự tác ñộng của môi trường tự nhiên, lịch sử và xã hội, nó trả lời câu hỏi bao giê (When)? Còn không gian thì lại cho ta thấy một hiện tượng hay một tổ hợp hiện tượng văn hoá ra ñời và tồn tại trong một không gian ñịa
lý nhất ñịnh, nó trả lời câu hỏi ở ñâu (Where)? Nếu chúng ta ñưa một hiện tượng văn hoá nào ñó lên giữa hai trục ñồ thị, trong ñó trục tung biểu hiện nhân tố không gian, còn trục hoành biểu hiện nhân tố thời gian, thì chúng ta hoàn toàn xác ñịnh vị trí và thời gian của hiện tượng văn hoá
ñó
Chúng ta hãy lấy một thí dụ cụ thể, chẳng hạn như hiện tượng múa rối nước của người Việt Với những hiểu biết hiện nay, múa rối nước của người Việt ở Bắc Bộ ra ñời chậm nhất cũng vào khoảng thế kỷ XI, nhờ vào tấm bia Chùa ðọi Sơn (Hà Nam) ñã ghi nhận hiện tượng múa rối nước này Còn nơi múa rối nước xuất hiện ñầu tiên thì như mọi người ñều biết là tại các làng chiêm trũng ở Bắc Bộ, gần ñây mới phổ biến rộng
ra nhiều ñịa phương trong toàn quốc
Nhân tố không gian ñược biểu hiện thành phạm trù thống nhất và ña dạng của văn hoá, còn nhân tố thời gian ñược biểu hiện thành phạm trù truyền thống và biến ñổi của văn hoá Hai phạm trù này ñược M.J Herskowitz hiểu như là hai nghịch lý của văn hoá Theo ông, văn hoá
vừa là cái phổ quát, thống nhất của toàn nhân loại, vừa là cái riêng, cái ñặc thù, cái ña dạng của mỗi tộc người, ñịa phương Văn hoá vừa là cái bền vững, trường tồn, vừa là cái biến ñổi liên tục Cũng theo Ông, sự biến ñổi ñược coi như là một phần của sự bền vững Nói cách khác, chỉ
Trang 10có thể hiểu ñược tính bền vững khi xác ñịnh ñược tỷ lệ giữa cái biến ñổi
và cái bảo thủ (M.J Herskowitz, 1967)
ðối với văn hoá, nhân tố thời gian không chỉ là thời gian tuyến tính,
tức là thời gian biến ñổi từ quá khứ ñến hiện tại, mà nhiều khi quan trọng
hơn là thời gian chu kỳ, tức thời gian khép kín của một chu trình biến ñổi
của văn hoá Có nhiều loại thời gian chu kỳ, chúng tuỳ thuộc vào bản thân sự vật và hiện tượng văn hoá Thí dụ, chu kỳ của canh tác cây lúa nước gắn với ñiều kiện thời tiết nhiệt ñới gió mùa, mà bản thân chu trình này tạo nên sắc diện, nhịp ñộ và sự biến ñổi văn hoá của các dân tộc ở nước ta và các nước trong khu vực Chu kỳ của bản thân ñời sống con
người, từ cái nôi tới nấm mồ, tạo nên các nghi lễ vòng ñời người, một
trong những lĩnh vực văn hoá mang ñậm sắc thái ñịa phương và tộc người
2 "Không gian văn hoá”là gì?
Có thể hiểu “không gian văn hoá” theo hai ý nghĩa, cụ thể và trìu tượng Theo ý nghĩa cụ thể, chúng ta coi không gian văn hoá như là một không gian ñịa lý xác ñịnh, mà ở ñó một hiện tượng hay một tổ hợp hiện tượng văn hoá nảy sinh, tồn tại, biến ñổi và chúng liên kết với nhau như một hệ thống Trong ñời sống xã hội của con người, Ýt khi một hiện
tượng văn hoá nảy sinh, tồn tại và biến ñổi một cách ñộc lập, mà chúng thường liên kết với nhau thành những tổ hợp Có thể hiểu tổ hợp văn hoá như một hệ thống lớn nhỏ khác nhau, bao gồm nhiều hiện tưọng liên kết với nhau như một thực thể hữu cơ Văn hoá tộc người cũng là một dạng của tổ hợp văn hoá Với ý nghĩa như vậy, văn hoá tín ngưỡng tôn giáo, văn hoá vùng, văn hoá làng, văn hoá nghề nghiệp, văn hoá ñô thị, văn hoá nông thôn ñều là những dạng khác nhau của tổ hợp văn hoá Dưới ñây là một số ví dụ nhằm làm rõ khái niệm “không gian văn hoá”
Không gian văn hoá tộc người chính là không gian sinh tồn của tộc
người ñó, nó gắn với vùng lãnh thổ mà cộng ñồng dân cư của tộc người
ñó sinh sống Trong xã hội nguyên thuỷ hay một số trường hợp trong xã hội hiện nay, lãnh thổ tộc người vẫn còn tồn tại, thì chính lãnh thổ tộc
Trang 11người là không gian văn hoá của tộc người ựó Tuy nhiên, cùng với sự phát triển xã hội và sự di chuyển dân cư thì phần lớn các trường hợp lãnh thổ tộc người bị phá vỡ, tạo nên tình trạng cư trú xen cài giữa các tộc người trên cùng một lãnh thổ, do vậy, không gian văn hoá tộc người không còn nguyên vẹn, tạo nên tình trạng ựan xen đó cũng chắnh là một trong những xung lực tạo nên sự tiếp biến, hỗn dung văn hoá, một hiện tượng phổ biến trong bức tranh chung văn hoá nhân loại hiện nay
Văn hoá vùng còn là một dạng thức của không gian văn hoá, mà ở ựó,
do quá trình giao lưu văn hoá lâu dài giữa các tộc người, ựã tạo nên các sắc diện văn hoá chung
Chúng ta cũng có thể ựi vào xem xét một số hiện tượng văn hoá cụ thể Nhà mồ và văn hoá nhà mồ là một hiện tượng văn hoá ựộc ựáo của các tộc người ở Tây Nguyên Thực ra, văn hoá nhà mồ không còn là một hiện tượng văn hoá ựơn lẻ, mà ựúng ra là một tổ hợp các hiện tượng văn hoá, thể hiện qua các phương diện, như: Tắn ngưỡng, nghi lễ, lễ hội, tạo hình, diễn xướng, phong tục Nó phổ biến tương ựối ựều khắp ở các tộc người bản ựịa Tây Nguyên, tuy nhiên, sẽ là sai lầm, nếu coi ựó là hiện tượng văn hoá mang tắnh ựồng nhất, mà tuỳ theo mỗi tộc người, mỗi vùng ựều mang các sắc thái riêng
Trong khái niệm Ộkhông gian văn hoáỢ còn mang ý nghĩa là vị trắ ựịa
lý của một hiện tượng văn hoá hay một tổ hợp các hiện tượng văn hóa chiếm giữ trong mối quan hệ với các hiện tượng hay tổ hợp các hiện tượng văn hoá khác Thắ dụ, chúng ta có thể nói về hiện tượng thờ Mẫu
của người Việt, vai trò và vị trắ của nó trong hệ thống thờ Mẫu của nhiều dân tộc, như thờ Thánh Mẫu Pôn Inư Nưgar của người Chăm, thờ Mẹ Hoa của người Tày, Nùng, Chuang
đối với tổ hợp của một nền văn hoá, chúng ta có thể kể tới vị trắ và vị thế của văn hoá Việt Nam trong hệ thống văn hoá khu vực đã có những tranh luận ở trong nước và quốc tế về vị trắ văn hoá Việt Nam, nó thuộc
về văn hoá đông Nam Á hay đông Á? Tất nhiên, công trình này không phải chỗ ựể bàn bạc về sự khác biệt các quan ựiểm trên, tuy nhiên, theo
Trang 12tôi, không thể ựưa ra một lời bình giải dứt khoát văn hoá Việt Nam thuộc
khu vực này hay kia, mà có lẽ về cơ tầng, văn hoá Việt Nam thuộc văn hoá đông Nam Á, còn thượng tầng lại chịu nhiều ảnh hưởng văn hoá đông Á Do vậy, văn hoá Việt Nam là một nền văn hoá duy nhất ở đông
Nam Á mang tắnh chuyển tiếp giữa đông Nam Á và đông Á
Theo ý nghĩa trìu tượng, có thể hiểu Ộkhông gian văn hoáỢ như một
ỘtrườngỢ (mượn khái niệm trường của vật lý), ựể chỉ một hiện tượng hay
tổ hợp các hiện tượng (một nền văn hóa của tộc người, quốc gia hay khu vực) có khả năng tiếp nhận và lan toả (ảnh hưởng), tạo cho nền văn hoá
ựó một không gian (trường) văn hoá rộng hay hẹp khác nhau
để hiểu khái niệm trên, chúng tôi ựưa ra ba thắ dụ về ba nền văn hoá
của ba tộc người ựể so sánh, ựó là văn hoá Việt, văn hoá Thái và văn hoá Mnông Do tác ựộng của hoàn cảnh môi trường, vị trắ ựịa lý, môi trường
xã hội, từ sớm nền văn hoá Việt có mối quan hệ giao lưu khá sống ựộng, nên nền văn hoá ựó có ựược khả năng tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng lớn và ựã diễn ra quá trình tiếp biến và ựổi mới văn hoá suốt hàng nghìn năm Văn hoá Việt ựã tiếp nhận những ảnh hưởng của các nền văn minh lớn trong khu vực, ựó là văn hoá Trung Quốc và Ấn độ và sau ựó
cả văn minh Phương Tây nữa, như Pháp, Mỹ, Nga điều này ựã tạo cho văn hoá Việt khả năng cởi mở, sẵn sàng tiếp thu mọi ảnh hưởng hay khả năng bản ựịa hoá các nền văn hoá khác, tạo cho con người Việt Nam khả
năng thắch ứng, cải biến và ham học hỏi
Một nền văn hoá có khả năng tiếp nhận thì ựồng thời nó cũng có khả năng lan toả và ảnh hưởng ựối với nền văn hoá khác đó là trường hợp văn hoá Ấn độ, văn hoá Trung Hoa và cả văn hoá Việt Văn hoá Ấn độ sau thời kỳ Aryan hoá, ựã trở thành nền văn minh lớn và có ựộ lan toả cao, tạo nên các Ộtiểu Ấn độỢ bên ngoài lãnh thổ Ấn độ, mà đông Nam
Á là một ựiển hình Cũng tương tự như vậy, văn minh Trung Hoa từ nhân lõi văn hoá của các bộ lạc Hoa Hạ ở trung lưu Hoàng Hà, ựã diễn ra quá trình tắch hợp, thâu hoá các nền văn hoá Bắc địch ở phương bắc, Khương Nhung ở phắa tây, Bách Việt ở phương nam và đông Di ở phắa ựông, ựể tạo nên nền văn minh hùng mạnh, có ựộ lan toả lớn, tạo nên cả
Trang 13một loạt nền văn hoá ngoại vi của trung tâm văn minh Trung Hoa (Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên )
Với văn hoá Việt, do khả năng thâu nhận cao, nên nó cũng có ựộ lan toả và ảnh hưởng ựối với các văn hoá tộc người khác trong phạm vi quốc gia Việt Nam Như vậy, chúng ta có thể nói văn hoá Ấn độ, văn hoá Trung Hoa (ở tầm khu vực) và văn hoá Việt (ở tầm quốc gia) là các nền
văn hoá có không gian (hay trường) rộng, chủ yếu thể hiện ở khả năng
thâu nhận và lan toả của nền văn hoá ựó
Thái là một tộc người có dân số ựông trong số các tộc thiểu số ở Việt Nam Trình ựộ phát triển kinh tế xã hội khá cao, ựạt tới trình ựộ phát
triền tiền giai cấp và tiền nhà nước (Ngô đức Thịnh, Cầm Trọng, 1999)
Tuy nhiên, do sống trong vùng Tây Bắc và vùng núi bắc Trung Bộ khá biệt lập, nên môi trường tiếp nhận và giao lưu văn hoá với các nền văn hoá khác bị hạn chế, cấu trúc văn hoá cổ truyền cho tới ựầu thế kỷ XX vẫn còn tương ựối nguyên vẹn, khác với văn hoá của người Tày cùng nguồn gốc, nhưng giao lưu văn hoá sống ựộng hơn, cơ cấu văn hoá cổ truyền bị pha vì Tuy nhiên, do ựiều kiện dân số ựông và trình ựộ phát triển xã hội cao hơn các tộc thiểu số khác trong vùng, nên ựã và ựang
diễn ra quá trình Thái hoá các tộc nhỏ láng giềng độ lan toả và ảnh
hưởng văn hoá Thái ựối với các tộc người chủ yếu chỉ hạn hẹp trong phạm vi Tây Bắc và miền núi bắc Trung Bộ mà thôi Gần với người Thái, ta có thể kể tới tộc người Mường, Tày, Chăm, Khơ me đó là các
nền văn hoá có không gian (trường) văn hoá trung bình
Trường hợp tộc người Mnông và hầu hết các tộc thiểu số sinh sống ở
vùng núi và cao nguyên ựều thuộc loại các nền văn hoá có không gian (trường) hẹp, khả năng thâu nhận và lan toả (ảnh hưởng) của các nền văn
hoá ựó ựều bị hạn chế Với tộc người Mnông, một tộc người thiểu số cư trú ở miền trung Tây Nguyên, có dân số thuộc loại trung bình, trình ựộ phát triển xã hội còn tương ựối thấp, văn hoá còn lưu giữ nhiều các yếu
tố cổ truyền Trong nền văn hoá ựộc ựáo của họ ta Ýt thấy sự tiếp nhận những ảnh hưởng từ các nền văn hoá khác, khả năng lan toả của nền văn hoá này do vậy cũng bị hạn chế
Trang 14Như trên chúng tôi ựã nói, khả năng thâu nhận và lan toả của một nền văn hoá có mối quan hệ hữu cơ Trong ựa phần các trường hợp, một dân tộc trên cái nền truyền thống vững chắc, có khả năng thâu nhận những giao lưu ảnh hưởng, thì thường ựó là các nền văn hoá có ựộ lan toả, ảnh hưởng lớn Tuy nhiên, ựiều này hoàn toàn khác với các tộc người bị ựồng hoá, tức không có cái nền tảng nội sinh ựể bản ựịa hoá những ảnh hưởng mạnh của nền văn hoá láng giềng, do vậy, nền văn hoá ựó không những không có khả năng lan toả, mà còn bị ựồng hoá về văn hoá đó là trường hợp các tộc Môn - Khơ me ở Tây Bắc nước ta, trong ựó tộc người
Xinh Mun là ựiển hình (Trần Bình, 2001)
Khi ựưa ra khái niệm không gian văn hoá mang ý nghĩa trừu tượng,
tôi có tham khảo khái niệm Ộkhông gian xã hộiỢ của G Condominas trong công trình Không gian xã hội vùng đông Nam Á Và trên phương
diện nào ựó, tôi nhận thấy có mối quan hệ nào ựó giữa hai khái niệm này, nhất là sự phân chia không gian xã hội và không gian (trường) văn hoá thành các loại rộng hẹp khác nhau, mặc dù chúng không hề trùng lặp
nhau (G Condominas, 2000)
3 Các dạng thức không gian văn hoá
Không gian văn hoá biểu hiện không thuần nhất, cái ựó tuỳ thuộc vào chắnh các loại hình văn hoá Chúng tôi ựã có lần phân chia văn hoá thành
bốn dạng thức (loại), ựó là: 1) Văn hoá cá nhân, 2) Văn hoá cộng ựồng, 3) Văn hoá lãnh thổ và 4) Văn hoá sinh thái
Gần ựây người ta nói nhiều tới văn hoá cá nhân, vậy văn hoá cá nhân
là gì? Về bản chất văn hoá là của cộng ựồng, vậy thì sao lại có thể gọi là
Ộvăn hoá cá nhânỢ? Theo tôi, có thể nói tới cái gọi là văn hoá cá nhân với ý nghĩa rằng cá nhân, trên cơ sở năng lực thể chất và môi trường xã
hội thì mỗi cá nhân có ựược khả năng thâu nhận và thể hiện văn hoá của cộng ựồng mà họ là thành viên Thắ dụ, là thành viên của cộng ựồng
người Việt, mỗi cá nhân chúng ta tiếp thu văn hoá của thế hệ trước và biểu hiện nó ra theo khả năng và cách thức riêng Cụ Hồ, như nhiều người nói là người Việt Nam nhất trong số những người Việt Nam, bởi
Trang 15vì ở Cụ ñã thấm nhuần truyền thống văn hoá dân tộc và biểu hiện nó ra một cách tinh tế và ñặc trưng ðiều ñó có nghĩa là khả năng thâu nhận và biểu hiện văn hoá tộc người của mỗi cá nhân không hoàn toàn như nhau,
mà nó rất ña dạng trong tính thống nhất của văn hoá tộc người Nếu hiểu như vậy thì văn hoá cá nhân là một thực thể mà chúng ta cần quan tâm nghiên cứu
Văn hoá cộng ñồng là một khái niệm chung, mang tính trừu tượng,
còn thực tế thì nó lại phụ thuộc vào từng loại cộng ñồng người khác nhau Có thể kể ra ñây các cộng ñồng người khác nhau và tương ứng với
- Cộng ñồng làng, dòng họ, gia tộc - Văn hoá làng, dòng họ
- Cộng ñồng tôn giáo - Văn hoá tôn giáo tín ngưỡng
- Cộng ñồng nghề nghiệp - Văn hoá nghề nghiệp (văn hoá nông nghiệp, văn hoá ngư nghiệp, văn hoá thương nghiệp ) (Ngô ðức Thịnh, 1998)
Văn hoá lãnh thổ hay văn hoá vùng là mét dạng thức văn hoá, mà ở
ñó trong một không gian ñịa lý xác ñịnh, các cộng ñồng người do cùng sống trong một môi trường tự nhiên nhất ñịnh, trong những ñiều kiện phát triển xã hội tương ñồng, và nhất là các mối quan hệ giao lưu văn hoá sống ñộng, nên trong quá trình lịch sử lâu dài ñã hình thành những ñặc trưng văn hoá chung Nói cách khác văn hoá vùng là một dạng thức liên văn hoá Nếu như văn hoá cộng ñồng, văn hoá sinh thái không nhất
thiết ñòi hỏi chúng tồn tại trong một không gian ñịa lý liên tục, thì văn hoá lãnh thổ hay văn hoá vùng ñòi hỏi phải phân bố trên một không gian ñịa lý lãnh thổ nhất ñịnh Về vấn ñề này, chúng tôi ñã trình bày trong một chuyên khảo riêng
Trang 16Văn hoá sinh thái là một dạng thức văn hoá tương ứng với một vùng
sinh thái nhất ựịnh, như văn hoá biển, văn hoá thảo nguyên, văn hoá cao nguyên, văn hoá thung lũng Thường các dạng sinh thái không chỉ và chủ yếu chỉ phân bố theo lãnh thổ, mà chúng còn phân bố theo ựộ cao của các dạng ựịa hình Cách ựây nhiều năm, chúng tôi ựã nêu ra các dạng
văn hoá sinh thái của miền núi phắa bắc, ựó là văn hoá thung lũng, văn hoá rẻo cao và văn hoá rẻo giữa đặc biệt, các dạng sinh thái này lại
tương ứng với sự phân bố các tộc người nhất ựịnh, hình thành nên một
dạng sinh thái tộc người đó là sinh thái thung lũng ựặc trưng cho các tộc người Thái, Tày, Mường; sinh thái rẻo cao tương ứng với tộc người Hmông, một số nhóm thuộc dân tộc Dao (Dao đỏ) và Tạng - Miến; còn sinh thái rẻo giữa ựặc trưng cho các tộc nói ngôn ngữ Môn - Khơ me (Ngô đức Thịnh, 1995)
4 Không gian văn hoá, các vấn ựề lý thuyết và phương pháp
Nhận thức về không gian văn hoá, mà thực chất ựó là sự tương ựồng
và khác biệt, ựã ựược con người quan tâm tới từ lâu, ngay trong xã hội
nguyên thuỷ, tuy nhiên ựó mới là những quan niệm ý niệm, còn lý giải
nó một cách khoa học, trên cơ sở các khái niệm khoa học thì cũng mới bắt ựầu từ thế kỷ XIX, ựặc biệt từ giữa và cuối thế kỷ XIX mà thôi
Trong phạm vi mà chúng tôi biết ựược, có thể kể tới các lý thuyết liên quan tới việc nhận thức không gian văn hoá, ựó là:
- Tiến hoá luận, mà ựại diện tiêu biểu là L Morgan và E Taylor ựề cập tới sự tương ựồng và khác biệt văn hoá (L Morgan, 1934; E Taylor, 1939)
- Thuyết khuyếch tán (truyền bá) văn hoá của trường phái Tây Âu (A.L Perxisk, 1972.)
- Thuyết loại hình và so sánh loại hình văn hoá
- Thuyết loại hình kinh tế - văn hoá của các học giả Xô Viết (M Lêvin, N.N Trêbốxarốp, 1955)
- Lý thuyết vùng văn hoá của trường phái Mỹ và Xô Viết (C.L
Trang 17lý thuyết về loại hình văn hoá và vùng văn hoá của trường phái nhân học
Mỹ, ñặc biệt là với lý thuyết vùng văn hoá - lịch sử của trường phái Xô Viết nửa ñầu thế kỷ XX thì lý thuyết vùng văn hoá mới thật ñịnh hình và hoàn chỉnh Ngoài ra, các lý thuyết khuyếch tán của trường phái truyền
bá luận lại ñi sâu vào khía cạnh giao lưu, ảnh hưởng văn hoá, nhất là từ trung tâm khuyếch tán ñi các nơi, tạo nẤn ðộng lực của phát triển văn hoá Cũng như vậy, lý thuyết loại hình kinh tế - văn hoá lại ñi vào lý giải
các hiện tượng ñồng quy văn hoá (Ngô ðức Thịnh, 1982)
Cùng với các vấn ñề lý thuyết thì các phương pháp nghiên cứu, cách thức tiếp cận cũng như các thao tác cụ thể trong nghiên cứu không gian
văn hoá luôn ñược ñặt ra Các phương pháp so sánh ñồng ñại các hiện
tượng hay tổ hợp các hiện tượng văn hoá luôn ñược sử dụng như một
trong những phương tiện chủ yếu Phương pháp loại hình và so sánh loại hình văn hoá còng ñã ñược nhiều nhà nghiên cứu ứng dụng, nhất là với các hiện tượng văn hoá hữu thể (14) Phương pháp lập bản ñồ và chồng xếp các bản ñồ văn hoá ñược coi như một thao tác nghiên cứu rất
có hiệu quả, ñặc biệt với việc xây dựng các tập Atlát văn hoá ở các nước
Châu Âu nửa cuối thế kỷ qua (Ngô ðức Thịnh, 1991) Việc thành lập các bộ sưu tập các hiện tượng văn hoá vật chất kết hợp với công tác bảo
tàng cũng ñược các nhà nghiên cứu ứng dụng
5 Nghiên cứu văn hoá vùng, một lĩnh vực trọng yếu của không gian văn hóa
Trong nghiên cứu không gian văn hoá Việt Nam, chúng tôi chọn vấn
ñề văn hoá vùng như là bước ñột phá bởi hai lẽ, 1) Cả về phương diện lý
thuyết và thực tiễn, vấn ñề này ñược giới học giả quốc tế và trong nước
Trang 18quan tâm và 2) Trong tắnh ựa dạng của văn hoá Việt Nam thì sự ựa dạng
về văn hoá tộc người và văn hoá vùng tiêu biểu hơn cả Thông qua nghiên cứu văn hoá vùng, chúng ta càng thấy ựược các sắc thái văn hoá
ựa dạng của các vùng, các tộc người; thấy ựược quy luật hình thành và biến ựổi của văn hoá trong các môi trường không gian ựịa lý nhất ựịnh, thấy ựược con ựường, các phương thức giao lưu ảnh hưởng văn hoá qua lại giữa các vùng trong nước, giữa nước ta với văn hoá khu vực đông Nam Á và thế giới, ựặc biệt là với hai nền văn minh lớn Trung Hoa và
Ấn độ Nắm ựược các ựặc trưng văn hoá vùng và phân vùng văn hoá hợp lý sẽ giúp người nghiên cứu ựịnh hướng ựược quá trình nghiên cứu văn hoá của mình, vạch ra ựược một chương trình nghiên cứu hợp lý và
có hiệu quả đối với ựời sống thực tiễn, việc nghiên cứu này sẽ góp phần vào việc nhận thức, kế thừa và phát huy truyền thống văn hoá ựịa phương trong sự phát triển xã hội hiện nay
Nghiên cứu văn hoá vùng và phân vùng văn hoá là ựề tài lớn, ựòi hỏi phải thực hiện lâu dài Bởi vậy, trong cuốn sách này, chúng tôi tự hạn chế trong một số mục tiêu tối thiểu:
Hệ thống lại quá trình và các khuynh hướng nghiên cứu chắnh về vùng văn hoá trên thế giới và ở nước ta
Lần ựầu tiên ựưa ra phương án phân vùng văn hoá ở Việt Nam, coi ựó như một giả thuyết ựịnh hướng cho quá trình nghiên cứu
Bước ựầu ựi sâu nghiên cứu một số vùng văn hoá tiêu biểu cho gương mặt văn hoá Việt Nam
Cuốn sách ngoài dẫn luận, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chia thành ba phần chắnh
Phần thứ nhất, nêu lên những nét lớn của khuynh hướng nghiên cứu
không gian văn hoá, trong ựó văn hoá vùng là trung tâm Chương mét tập
trung trình bày các trường phái và lý thuyết lớn trên thế giới nghiên cứu
vùng văn hoá Chương hai trình bày việc nghiên cứu này ở Việt Nam, ựi
từ các quan niệm dân gian tới các ý niệm của các trắ thức dân tộc về sắc thái văn hoá ựịa phương và cuối cùng là việc nghiên cứu của các nhà
Trang 19khoa học về văn hoá vùng
Phần thứ hai, sau khi xác ựịnh quan niệm vùng văn hoá và các tiêu
chắ ựể phân vùng văn hoá, chúng tôi ựưa ra phác thảo về phân vùng văn hoá ở Việt Nam, coi ựây như là giả thuyết công tác lâu dài đó là việc phân chia Việt Nam thành 7 vùng văn hoá lớn, trong ựó bao chứa nhiều
tiểu vùng văn hoá ở cấp ựộ nhỏ hơn
Phần này cũng giành một số chương ựáng kể cho việc trình bày một
số vùng văn hoá tiêu biểu ở nước ta, như: đồng bằng và trung du Bắc
Bộ, tiểu vùng văn hoá Xứ Lạng, vùng văn hoá Tây Bắc và miền núi Thanh Nghệ, tiểu vùng văn hóa Xứ Thanh, Xứ Nghệ, Xứ Huế, Xứ Quảng, vùng cực nam Trung Bộ, vùng văn hoá Tây Nguyên - Trường Sơn và vùng văn hoá Nam Bé Trong các vùng văn hoá kể trên, chúng thuộc các
cấp ựộ khác nhau, như vùng văn hoá đồng bằng và trung du Bắc Bộ, Tây Bắc và miền núi Thanh Nghệ, Nam Bộ và Tây Nguyên - Trường Sơn là các vùng văn hoá ở cấp ựộ lớn (trong 7 vùng lớn), văn hoá Xứ Lạng, Xứ Thanh, Xứ Nghệ, Xứ Huế, Xứ Quảng, văn hóa cực nam Trung
Bộ là các tiểu vùng văn hoá, chúng là bộ phận của các vùng văn hoá lớn hơn Thắ dụ, các tiểu vùng Xứ Thanh, Xứ Nghệ, Xứ Huế thuộc vùng văn hoá Bắc Trung Bộ, còn tiểu vùng Xứ Lạng thuộc vùng văn hoá Việt Bắc
và đông Bắc
Phần thứ ba, sau khi bàn tới quan niệm Ộvùng thể loại văn hóaỢ
(chương 13), chúng tôi muốn thông qua một số hiện tượng văn hóa riêng
lẻ (như nhà cửa, trang phục, ăn uống, thuyền bè, sử thi ) mà ở ựó chứa ựựng những yếu tố khác biệt về vùng, coi ựó như là sự bổ sung, cụ thể
hoá tắnh vùng, tắnh ựịa phương trong văn hoá Việt Nam
Như vậy, toàn bộ cuốn sách, từ các vấn ựề lý thuyết ựến việc phác thảo phương án phân vùng, nghiên cứu một số vùng văn hoá, một số hiện tượng văn hoá mang tắnh vùng ựều còn dừng lại ở bước ựầu khai phá và thể nghiệm Cánh cửa của việc nghiên cứu vấn ựề lý thó, hấp dẫn
và hữu Ých này vẫn còn ựể ngỏ ựể các nhà nghiên cứu tiếp tục khám phá
Trang 20So với lần xuất bản ñầu tiên, cuốn sách tái bản lần này có nhiều thay ñổi, ngoài việc bổ sung một số vấn ñề lý thuyết, nhất là lý thuyết về không gian văn hoá, chúng tôi viết thêm các chương mới về các vùng văn hoá Tây Bắc và miền núi Thanh Nghệ, tiểu vùng văn hoá Xứ Thanh,
Xứ Nghệ, Xứ Quảng, Cực nam Trung Bộ (Ninh-Bình-Thuận) Ngoài ra, như ñã nói ở phần trên, chúng tôi còn bổ sung vào sách một số bài nghiên cứu về nhiều hiện tượng văn hoá ñơn lẻ mang tính vùng tương ñối rõ rệt, coi ñó như là các minh chứng làm rõ hơn các chương viết về các vùng văn hoá ở Việt Nam
Cuốn sách xuất bản lần ñầu cũng như tái bản lần này, chúng tôi nhận ñược sự hợp tác và cổ vũ của nhiều nhà nghiên cứu: Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Xuân Kính, Ngô Văn Doanh, Phan Yến Tuyết, Tăng Kim Ngân,
Lê Sỹ Giáo ðể tái bản sách lần này, chúng tôi cũng nhận ñược sự hỗ trợ của Quỹ Ford tại Việt Nam và ñặc biệt là sự khích lệ của TS Maichel DiGrigoria Tôi xin chân thành cảm ơn các vị ñồng nghiệp và bạn bè Những năm qua, cuốn sách ñược dùng như là giáo trình giảng dạy ñại học và sau ñại học về không gian văn hóa Việt Nam
Chắc chắn cuốn sách còn có những sai sót, xin bạn ñọc chỉ bảo và lượng thứ
Trang 21PHẦN THỨ NHẤT Các lý thuyết và khuynh hướng nghiên cứu
Trang 22Chương 1 Nghiên cứu văn hoá vùng, khuynh hướng và các vấn ựề ựặt ra
Ngay từ thời cổ ựại, con người ựã chú ý quan sát và tìm cách giải thắch những tương ựồng và khác biệt về văn hoá giữa dân tộc mình và các dân tộc láng giềng Ở Châu Âu, sự so sánh Êy có thể tìm thấy trong các công trình của người cha ựẻ ngành sử học Hêrôựốt, của nhà triết học Arixtốt Trong tác phẩm "lịch sử", Hêrôựốt ựã nói về mối quan hệ thân thuộc về văn hoá giữa người Ai cập và Kolkhắt, ựặc biệt ông cũng nêu những tương ựồng về ngôn ngữ, lối sống, một số phong tục, lễ nghi giữa các tộc Ai Cập, Kolkhắt và Ephiốp Ông giải thắch hiện tượng tương ựồng này là do các dân tộc có quan hệ thân thuộc và do giao lưu, ảnh hưởng qua lại
Ở Phương ựông cổ ựại, ựặc biệt là Trung Quốc, người Hoa Hạ ở Trung Nguyên ựã có ý thức phân biệt văn hoá của họ và các dân tộc xung quanh, như với người Bắc địch ở phắa bắc, Tây Khương ở phắa tây, người đông Di ở ven biển phắa ựông và Bách Việt ở phương nam Dưới con mắt của người Hoa phương Bắc, thì Man Di Bách Việt là một cộng ựồng văn hoá với các ựặc trương, như ở nhà sàn, trồng lúa nước, xăm
mình, nhuộm răng, ăn trầu, tị Èm (uống nước bằng mòi), ngồi xổm (Trần Quốc Vượng, 1961)
Thời Trung Cổ, Châu Âu chịu sự thống trị tinh thần của Giatô giáo, người ta tin rằng mọi dân tộc trên thế giới ựều sinh ra từ thuỷ tổ là Aựam
và Eva, nên ở các dân tộc khác nhau ựều có những hiện tượng văn hoá giống nhau
Từ thế kỷ XV trở ựi, châu Âu rung ựộng bởi những phát kiến ựịa lý vĩ ựại tìm ra châu Mỹ, tìm ựường sang châu Á, Ấn độ, thời kỳ cáo chung của chế ựộ phong kiến và ra ựời của chủ nghĩa tư bản, sự xuất hiện của nhiều ngành khoa học làm cho tầm quan sát của con người vượt ra ngoài Châu Âu chật hẹp ựến với các ựại lục rộng lớn khác nhau, với những môi
Trang 23trường ựịa lý, dân cư và văn hoá khác lạ với châu Âu Những nhân tố
ựó càng kắch thắch nhu cầu hiểu biết của con người về sự tương ựồng và khác biệt văn hoá nhân loại
Càng ngày, người ta càng thu lượm ựược khối tư liệu khảo cổ học, nhân chủng học và dân tộc học - ựịa lý to lớn, ựòi hỏi cần ựược tổng hợp hơn và phân tắch về các hiện tượng tương ựồng văn hoá và nó ựã trở thành ựối tượng nghiên cứu của một số ngành khoa học khác nhau Vào nửa cuối thế kỷ XIX ựầu thế kỷ XX, bắt ựầu hình thành những ý tưởng, những lý thuyết và khuynh hướng nghiên cứu khác nhau nhằm nhận thức
và lý giải hiện tượng tương ựồng văn hoá kể trên Trong các thập kỷ cuối
thế kỷ XIX, những người tiên phong của trường phái tiến hoá luận mà
ựại biểu lớn nhất là L Morgan và E Taylor, khi xây dựng những lý thuyết của mình về tắnh thống nhất văn hoá nhân loại và quá trình tiến hoá của lịch sử các dân tộc, các ông cũng ựã trực tiếp ựề cập tới vấn ựề tương ựồng văn hoá Thông qua các tư liệu về thần thoại, hệ thống thân tộc và một số hiện tượng văn hoá khác, các ông cũng ựã ựề cập tới nguồn gốc chung cũng như mối quan hệ ảnh hưởng, vay mượn lẫn nhau giữa các dân tộc là nguyên nhân dẫn tới hiện tượng tương ựồng văn hoá giữa
các dân tộc (L Morgan, 1934; E Taylor, 1939)
Tuy nhiên, ựể lý giải hiện tượng tương ựồng văn hoá và nhận thức không gian phân bố các hiện tượng văn hoá ở các vùng, các dân tộc khác nhau trên thế giới, chúng ta thấy nổi bật lên một số khuynh hướng
nghiên cứu và lý thuyết chắnh đó là lý thuyết "khuyếch tán" văn hoá ở Tây Âu, lý thuyết "Vùng văn hoá" ở Mỹ và lý thuyết "loại hình kinh tế - văn hoá"và "khu vực văn hoá - lịch sử" của dân tộc học Xô - Viết
I Thuyết "khuyếch tán văn hoá" ở tây âu
Trước khi hình thành các trường phái chắnh của thuyết "khuyếch tán văn hoá" trong nhiều công trình nghiên cứu, các nhà bác học Âu - Mỹ ựã
ựề cập tới cái gọi là "thiên di", "lan toả" (A Bradford) "mô phỏng" (G
Tarde) ựể giải thắch hiện tượng tương ựồng văn hoá Có thể coi ựó là những ý tưởng phôi thai tạo tiền ựề cho thuyết "khuyếc tán văn hoá"
Trang 24Phải tới những năm 90 của thế kỷ XIX, ñặc biệt là những thập kỷ ñầu
XX thì thuyết này mới phát triển tột ñỉnh và hình thành những trường phái chính
Ngày nay, trong quan niệm của các nhà nghiên cứu Mácxít, người ta quan niệm truyền bá luận như là một khuynh hướng của nhân học tư sản, giải thích các ñặc ñiểm văn hoá giống nhau ở các dân tộc khác nhau
bằng "truyền bá" văn hoá từ một trung tâm Truyền bá luận giải thích sự phát triển của các nền văn minh, văn hoá không phải là sự tiến hoá ñộc lập, mà cơ bản hoặc thậm chí chỉ bằng những sự vay mượn các thành tựu văn hoá hay bằng các cuộc thiên di của các dân tộc (A.L.Perxisk, 1972) Tuy nhiên trong thuyết "khuyếch tán văn hoá", các trường phái
khác nhau giải thích hiện tượng tương ñồng văn hoá không phải hoàn toàn ñồng nhất, mà giữa chúng có sự khác nhau về quan niệm lý thuyết cũng như xem xét các hiện tượng văn hoá cụ thể Dưới ñây, chúng tôi xin giới thiệu một số trường phái của lý thuyết này ở ðức, Áo, Mỹ, Anh
1 Trường phái văn hoá - lịch sử ở ðức và Áo
Những học giả tiêu biểu cho trường phải văn hoá - lịch sử là F Ratsel, L Frobenius, F Grabner và W Schmidt, trong ñó F Ratsel là
người xây dựng những cơ sở tư tưởng ñầu tiên cho lý thuyết này Trong một số công trình xuất bản chính của ông từ năm 1882 ñến 1900, như
"Nhân chủng học ñịa lý", "Nghiên cứu dân tộc" (F Ratsel, 1882), tác giả
ñã trình bày những tư tưởng cơ bản của mình, ñưa ra các khái niệm về
"khu vực văn hoá", "vòng văn hoá" Theo ông, cần phải xem xét tất cả
những vấn ñề của con người trong mối quan hệ của nó với môi trường tự nhiên Trong môi trường tự nhiên như vậy, sự di chuyển của các cộng ñồng người và văn hoá của họ là không có ranh giới, và theo ông, không
thể có cái gọi là tộc người "bản ñịa" Thông qua việc xem xét sự phân bố
của các loại hình vũ khí, công cụ, ñồ trang sức của các dân tộc, ông cho rằng, về cơ bản có sự trùng hợp về phạm vi phân bố các yếu tố ñặc trưng dân tộc (tức các hiện tượng văn hoá kể trên) với phạm vi phân bố tộc người, tức là những người sáng tạo hay sử dụng các yếu tố văn hoá ñó Ông coi sự tiếp xúc và truyền bá (lan truyền) các thành tựu văn hoá là
Trang 25thuộc tính cơ bản của văn hoá Ông cũng nêu ra phương thức lan truyền,
ñó là: a) Lan truyền toàn bộ văn hoá từ cộng ñồng này sang cộng ñồng khác hay còn gọi là hỗn dung văn hoá (acculturation) và, b) Lan truyền hay dịch chuyển từng yếu tố văn hoá riêng lẻ theo những hình thức khác nhau từ ñiểm cư dân này sang ñiểm cư dân khác
Theo F Ratsel, khái niệm "vòng văn hoá" còng như "khu vực văn hoá", là một không gian ñịa lý phân bố các yếu tố văn hoá thuộc về một
dân tộc hay một số dân tộc có mối quan hệ nguồn gốc từ thời xa xưa Từ những quan niệm lý thuyết như vậy, tác giả cũng ñã áp dụng ñể xem xét một số hiện tượng văn hoá cụ thể Từ việc nghiên cứu các loại cung tên ở Châu Phi, ông ñã phân các tộc người ở ñây thành các nhóm tuỳ thuộc vào việc họ sử dụng các loại cung tên như thế nào Ông cũng ñã so sánh cung tên Châu Phi với Châu Á, Mêlanêdi, từ ñó nêu ra mối quan hệ văn hoá giữa các khu vực này Ông cũng ñã so sánh văn hoá Châu Mỹ với
Châu ðại Dương và xếp chúng cùng vào mét vòng văn hoá (hay khu vực văn hoá) Thái Bình Dương
Sau F Ratsel, người học trò của ông là L Frobenius ñã tiếp tục hướng tìm tòi này L Frobenus ñánh giá cao sù giao lưu và pha trộn văn hoá trong sự phát triển và chuyển giao văn hoá giữa các dân tộc và các vùng khác nhau trên thế giới, coi ñó như là quy luật cơ bản của phát triển văn hoá Tuy nhiên, nếu với F Ratsel văn hoá là bộ phận hữu cơ gắn với con người và dân tộc, thì L Frobenius lại có quan ñiểm trái ngược, coi quá trình phát triển văn hoá ñộc lập với con người và dân tộc với tư cách
là chủ nhân của văn hoá Rằng văn hoá phát triển tự thân thiếu bóng con người và dân tộc Ông ñã ñưa ra hai hình thức truyền bá văn hoá, ñó là a)
Ubertragung - tức là truyền bá không có sự vận ñộng ñáng kể của tộc người (không có di dân) và b) Verpflanzung - lan truyền cùng với sự di
cư của tộc người
Trong công trình nghiên cứu "Nguồn gốc các nền văn hoá Châu Phi",
L.Frobenius không chỉ ñưa ra các quan ñiểm mang tính lý thuyết trên,
mà còn áp dụng vào phân tích các nền văn hoá Châu Phi Trên cơ sở phân tích hình thái các hiện vật văn hoá như cung ná, dao, nhà ở, nhạc
Trang 26cụ, mặt nạ , tác giả ựã chia Châu Phi thành các vùng hay các vòng văn hoá với những ựặc trưng khác nhau: đó là vòng văn hoá Nam Phi, Tây Phi và Bắc Phi Theo ông, vòng văn hoá Tây Phi có các ựặc trưng, như nhà có mặt bằng hình chữ nhật, hai mái, cư dân dùng cung tên, méc bằng tre, âm mhạc dùng các nhạc cụ như sáo, tiêu và trống Trong các nền văn hoá kể trên thì văn hoá Nam Phi là cổ sơ hơn cả, và chắnh ở ựây ông
ựã tìm thấy những tương ựồng của nó với văn hoá ở Châu Á và Châu đại Dương Theo ông, sự giao lưu, pha trộn các nền văn hoá này làm nảy
sinh các nền văn hoá mới (L Frobenius, 1898)
Kế tục các nhà nghiên cứu thuộc trường phái văn hoá - lịch sử và trở thành người ựại biểu xuất sắc cho trường phái này là học giả người đức
F Grabner (1877 - 1934) Chắnh W Schimidt là người kế tục trường phái này sau một phần tư thế kỷ ựã ựánh giá F Grabner là người ựã có công ựưa ra các vấn ựề lý thuyết và xác lập các phương pháp ựể nghiên cứu các mối giao tiếp văn hoá giữa các dân tộc, làm rõ những mối quan
hệ không chỉ về mặt không gian mà cả thời gian cũng như hệ quả của những giao tiếp văn hoá ựó
Lần ựầu tiên trong số các nhà nghiên cứu không chỉ thuộc trường phái tiến hoá luận mà cả trường phái văn hoá - lịch sử, F Grabner ựã nhìn nhận tách bạch hiện tượng ựồng quy văn hoá và giao tiếp văn hoá Ông ựưa ra vấn ựề là trong thực tế, có hai hiện tượng văn hoá cùng xuất hiện
ở những tộc người khác nhau, hoàn toàn không có mối quan hệ nguồn gốc và giao lưu, là do họ cùng sinh sống trong những ựiều kiện tự nhiên
như nhau hay là "cùng những tư tưởng cơ bản", tức là tắnh ựồng quy nhân loại
F Grabner nhìn nhận vấn ựề tương ựồng văn hoá không chỉ về phương diện không gian phân bố ựồng ựại mà còn quan tâm tới cả sự phát triển lịch ựại giữa chúng thông qua việc xem xét trật tự phát triển trước sau của các vòng văn hoá Theo ông, tầng văn hoá cổ xưa nhất của nhân loại là tầng văn hoá ngoại vi ở Nam Á, gồm các vòng văn hoá Bumêrăng, Taxmani, vòng văn hoá săn bắn ở Bắc Cực Sau ựó văn hoá nhân loại phát triển theo hai hướng: a) Hướng văn hoá phụ quyền của cư
Trang 27dân săn bắn và b) Hướng văn hoá mẫu quyền của cư dân nông nghiệp Trong các hướng văn hoá kể trên lại bao gồm nhiều vòng văn hoá khác nhau
ðể nghiên cứu các mối quan hệ văn hoá về phương diện ñồng ñại và lịch ñại, F Grabner ñã ñể công tìm tòi các tiêu chí ñể phân ñịnh Theo ông, ñó là các tiêu chí về hình thái, tức hình thức bên ngoài của sự vật, hiện tượng và tiêu chí về sự trùng lặp số lượng Chẳng hạn, ông lấy các tiêu chí về hình thái và số lượng trong ngôn ngữ, thể hiện qua kết cấu ngữ pháp, vỏ ngữ âm và các từ vựng Nếu số lượng trùng hợp cao thì chứng tỏ giữa hai nền văn hoá của hai dân tộc có mối quan hệ nguồn gốc, ngược lại số lượng trùng hợp thấp thì chứng tỏ giữa chúng Ýt có mối quan hệ
F Grabner cho rằng các thành tựu văn hoá thường lan truyền theo tổ hợp và việc lan truyền của một hiện tượng văn hoá riêng lẻ nào ñó là phi
văn hoá - lịch sử (F Grabner, 1911) Có thể hiểu luận ñiểm trên của tác
giả từ hai phương diện
Thứ nhất, mét hiện tượng văn hoá nào ñó lan truyền từ nhóm cư dân
này sang nhóm cư dân khác Ýt khi là hiện tượng ñơn lẻ mà thường kèm
theo một tổ hợp hiện tượng ñi liền và gắn bó với nhau Thứ hai, là khi
một hiện tượng văn hoá nào ñó thâm nhập vào môi trường xã hội mới lạ thì dần dần nó tạo nên sự liên kết mới, tạo thành một tổ hợp văn hoá
Ở Áo, người ủng hộ và ñại diện xuất sắc cho trường phái văn hoá - lịch sử là W Schmidt Ông ñặc biệt chú ý tới lý thuyết "vòng văn hoá",
mà trong cuốn sách xuất bản năm 1937 nhan ñề "Hướng dẫn phương pháp văn hoá - lịch sử trong dân tộc học" (W Schmidt, 1937), ông ñã
dành hẳn một chương ñề cập tới vấn ñề này Theo ông, dù lý thuyết
"vòng văn hoá" giữ vai trò quan trọng trong trường phái văn hoá - lịch
sử, nhưng cũng không ñủ ñể mệnh danh trường phái này là "trường phái vòng văn hoá" như một số người ñã gọi Ông cho rằng, một trong những
yếu tố quan trọng ñể tạo nên lịch sử văn hoá nhân loại không phải là sự thiên di, truyền bá của một yếu tố văn hoá này hay khác mà phải là một
Trang 28tổ hợp nguyên vẹn Theo ông, tổ hợp văn hoá này bao gồm toàn bộ các phương diện khác nhau của sự tồn tại thiết yếu nhất của một nền văn hoá, như văn hoá vật chất, kinh tế, ựời sống xã hội, các tập tục và tôn giáo, thì có thể gọi nó là "vòng văn hoá" Chủ nhân của các vòng văn hoá
ựó thường là nhóm cư dân của các bộ lạc hay dân tộc, bởi thế, vòng văn hoá tồn tại như một thực thể sống ựộng Thường trong một vòng văn hoá, các nhân tố văn hoá và ngôn ngữ có sự trùng hợp và kết hợp với nhau một cách hữu cơ
W Schmidt cũng chú ý nhiều với mối quan hệ giữa các vòng văn hoá Ông chia tác ựộng qua lại giữa các vòng văn hoá thành các tác ựộng tắch cực và tiêu cực Ảnh hưởng tắch cực của một dân tộc, một nền văn hoá tới một dân tộc và một nền văn hoá khác là thúc ựẩy sự phát triển của bản thân mỗi nền văn hoá Còn tác ựộng tiêu cực khi mà một nền văn hoá tiếp nhận một cách tiêu cực ảnh hưởng của nền văn hoá khác Tuy nhiên, ông cũng nói thêm rằng, xét ựến cùng, không có ảnh hưởng nào hoàn toàn chỉ là tiêu cực cả, bởi vì người tiếp nhận văn hoá luôn sẵn
có cơ chế tự lùa chọn những cái gì phù hợp với mình, hơn nữa những ảnh hưởng văn hoá qua lại không thuần tuý chỉ là cho hoặc tiếp nhận hiện tượng văn hoá này hay khác, mà những ảnh hưởng ựó còn có tác dụng kắch thắch sự xuất hiện cái mới ngay trong bản thân các nền văn hoá chịu ảnh hưởng
Những quan ựiểm của W Schmidt về vòng văn hoá ựã có ảnh hưởng tới các nhà nghiên cứu văn hoá ở nhiều nước Âu Mỹ vào những thập kỷ
20, 30, như W Koppers, R Heine - Geldern, O Menghin ở Áo, Van Bulck ở Bỉ, K Birket ở đan Mạch, Pinard de la buollaye ở Pháp, G Montandon ở Thụy Sĩ J Imbelloni ở Achentina đặc biệt, trong số những người chịu ảnh hưởng tư tưởng của trường phái này phải kể tới R Heine - Geldern, một nhà khảo cổ học người Áo ựã nghiên cứu tiền sử vùng đông Dương và đông Nam Á Từ việc tìm thấy những tương ựồng
về hiện vật ựồ ựá ở khu vực này, ông ựã ựưa ra quan ựiểm về sự tồn tại các nền văn hoá khác nhau liên quan tới rìu có vai, rìu từ giác và rìu hình trụ, và từ ựó ông còn liên hệ ựến cả sự tương ựồng các nền văn hoá Êy
Trang 29với các tộc người nói các ngôn ngữ và mang những ựặc trương nhân chủng tương ứng Theo ông, văn hoá rìu bầu dục tồn tại chủ yếu ở miền đông Nam Á hải ựảo Nền văn hoá rìu có vai thì phân bố trên phạm vi rộng từ đông Bắc Ấn độ, qua Nam Trung Quốc, đông Dương cho tới bán ựảo Malắcca Cư dân dùng loại rìu này, theo ông, ựó là các dân tộc Nam Á, nói các ngôn ngữ khác nhau của ngữ hệ cùng tên Còn nền văn hoá rìu tứ giác có niên ựại muộn hơn hai nền văn hoá trên và phân bố ở Nam Trung Quốc, đài Loan, Inựônexia, Polinêdi, trung và bắc Việt Nam, Lào và Campuchia , theo ông, chủ nhân của loại rìu này là cư dân các dân tộc nói ngôn ngữ Malayo - Polinêdiêng, quê hương từ nam Trung Quốc mà bành trướng xuống đông Nam Á Chắnh G Heine - Geldern cũng ựã căn cứ trên một số hiện tượng văn hoá, ựặc biệt là chiếc thuyền có cầu thăng bằng ựể vẽ ra cuộc thiên di của cư dân nói ngôn ngữ Malayo - Polinedieng từ Nam Trung Quốc theo các dòng sông lớn xuống
vịnh Băngan rồi toả khắp đông Nam Á hải ựảo (R Heine -Geldern, 1932)
Trường phái văn hoá - lịch sử, một hình thức của thuyết "khuyếch tán văn hoá" ựã có những cố gắng lớn trong việc sưu tầm và tập hợp các dữ kiện văn hoá từ nhiều dân tộc và khu vực trên thế giới, ựã có những cố gắng tìm tòi về mặt lý luận và phương pháp nhằm xác ựịnh các vùng văn hoá, các vòng văn hoá, nhận rõ vai trò của giao tiếp văn hoá trong phát triển văn hoá nhân loại, tìm kiếm các tiêu chắ hình thức và số lượng ựể xác ựịnh các mối quan hệ văn hoá ựó Tuy nhiên là những người còn chịu nhiều ảnh hưởng của thuyết quyết ựịnh luận ựịa lý, hơn nữa trong việc xử lý các tài liệu lại chỉ nặng về tài liệu dân tộc học mà thực tế các tài liệu này lại không có niên ựại, nên từ ựó việc tổng hợp các hiện tượng
ựã phát hiện ựược, cũng như liên kết chúng lại, tìm ra các mối quan hệ dịch chuyển giữa chúng là không hoàn toàn tin cậy, nhiều khi mang tắnh ngẫu nhiên và khiên cưỡng Hơn nữa, các tiêu chắ nặng tắnh hình thức và
số lượng, lại bị tách rời những ựiều kiện cụ thể của thực trạng kinh tế -
xã hội và lịch sử, từ ựó vạch ựịnh các vùng, các vòng văn hoá cũng thiếu tắnh thuyết phục
Trang 302 Trường phái "age and area" Bắc Mỹ
Trong nửa cuối thế kỷ XIX ựầu thế kỷ XX, ở Bắc Mỹ có một số nhà nghiên cứu chịu ảnh hưởng của thuyết "khuyếch tán văn hoá" và tự
mệnh danh là trường phái "age and area" (thời gian và không gian)
Những người ựứng ựầu của trường phái này, như F Boas và U Wisler, sau này ựã ựưa ra lý thuyết "khu vực văn hoá" mà chúng tôi sẽ giới thiệu sau, thì họ cũng ựã từng ựề xuất các quan ựiểm về khuyếch tán văn hoá Các học giả thuộc trường phái này ựều thừa nhận ý nghĩa của sự truyền bá trong sự phát triển văn hoá nhân loại, thậm chắ ựó còn là nguyên nhân chắnh tạo nên những nét tương ựồng văn hoá giữa các dân tộc, các vùng Theo họ, sự truyền bá những yếu tố văn hoá không nhất thiết gắn liền với di cư Thậm chắ di cư không ựóng vai trò chắnh trong
sự truyền bá văn hoá Theo R Dixon, còn có sự phân biệt cụ thể hơn các
hình thức truyền bá, ựó là: a) Truyền bá tiên phát là sự phổ biến hiện
tượng văn hoá mới từ nơi phát sinh trong cộng ựồng người ựã phát minh
ra hiện tượng ựó và b) Truyền bá thứ phát là sự truyền bá ra ngoài khuôn khổ cộng ựồng hay vùng mà ở ựó hiện tượng văn hoá ựã phát sinh (R Dixon, 1928) Chắnh R Dixon cũng ựã lên tiếng phê phán quan ựiểm
trung tâm văn hoá của C Wisler và chứng minh rằng trung tâm phát minh không nhất thiết là trung tâm về mặt ựịa lý vùng mà hiện tượng văn hoá ựó phổ biến, cũng như phạm vi phổ biến càng rộng thì hiện tượng văn hoá càng cổ
A L Kroeber còn góp phần làm phong phú hơn các quan niệm
truyền bá văn hoá bằng việc ựưa ra khái niệm "Stimulus diffusion" (sự truyền bá tác nhân kắch thắch) đó là, trong một hoàn cảnh nhất ựịnh, sự
truyền bá văn hoá, nhất là sự truyền bá về tư tưởng một khi nó thâm nhập vào ựược môi trường mới thì nó có tác dụng tập hợp và làm nảy
sinh những nội dung và yếu tố mới khác kèm theo (A.Kroeber, 1940)
Cũng như các học giả Châu Âu thuộc trường phái văn hoá - lịch sử, ở Bắc Mỹ lúc này người ta cũng băn khoăn trong việc tìm ra các tiêu chắ phân biệt thế nào là sự tương ựồng văn hoá do phát minh ựộc lập và thế
Trang 31nào là do truyền bá Vấn ñề này phải chờ tới các nhà dân tộc học Xô Viết với lý thuyết loại hình kinh tế - văn hoá và khu vực văn hoá - lịch sử mới
có thể giải quyết một cách tương ñối thoả ñáng
3 Trường phái truyền bá văn hoá ở Anh
Những người theo thuyết truyền bá văn hoá ở Anh còn ñược gọi với
tên khác là "Trường phái Manchester", vì những ñại diện chính của nó
tập trung ở trường ñại học tổng hợp Manchester Các học giả tiêu biểu cho trường phái này ở Anh là W Rivers, G.Elliot Smith W Pery, J Jacson, W Dawson
W Rivers và những người thuộc trường phái này ñều ñánh giá cao vai trò của truyền bá văn hoá trong lịch sử văn hoá nhân loại Ông nhấn mạnh rằng sự tiếp xúc và tác ñộng qua lại giữa các dân tộc là ñiểm mở ñầu cho mọi cuộc vận ñộng vĩ ñại trong lịch sử loài người, rằng sự truyền bá là tác nhân kích thích cho sự phát triển Chính nhờ thông qua việc truyền bá và tác ñộng qua lại Êy ñã làm nảy sinh những hiện tượng văn hoá mới mà trước ñó chúng ta chưa từng quan sát thấy ở bất cứ nền văn hoá nào Tuy nhiên, trong truyền bá văn hoá, ông cho rằng không nên ñồng nhất, mà phải có sự phân biệt Thông qua thực tế tiếp xúc văn hoá ở Mêlanêdi thì các yếu tố văn hoá vật chất thường phổ biến bằng sự tiếp xúc ñơn giản và không ảnh hưởng gì tới những ñặc trưng văn hoá khác Các hiện tượng tôn giáo, tín ngưỡng thì ảnh hưởng qua lại khó hơn
và khó hơn cả là cơ cấu xã hội Cấu trúc xã hội chỉ thay ñổi khi có sự dung hợp chặt chẽ giữa các dân tộc và ñó cũng là mức ñánh dấu ở trình
ñộ cao của truyền bá văn hoá (W Rivers, 1914) ðiều này hoàn toàn trái
ngược với F Grabner ở chỗ ông lại cho rằng ñẳng cấp xã hội, tôn giáo truyền bá từ dân tộc này sang dân tộc khác, vùng này sang vùng khác cũng giống như vũ khí và công cụ sản xuất vậy
ðại biểu lớn nhất của "Truyền bá luận" Anh là G Elliot Smith (1871
- 1937) Trên cơ sở nghiên cứu vấn ñề ảnh hưởng văn hoá Ai Cập cổ ñại với các nền văn minh khác ở Châu Âu cũng như vấn ñề nguồn gốc văn
hoá Cự Thạch (G Elliot Smith, 1911), ông ñã trình bày các quan ñiểm
Trang 32của mình về truyền bá văn hoá Lúc ựầu, cũng như nhiều nhà truyền bá luận khác thường ựồng nhất vấn ựề truyền bá văn hoá với thiên di của cư dân, tuy nhiên sau ựó ông thấy cần phải tách bạch hai vấn ựề này Theo ông, trong một số trường hợp, một nhóm nhỏ nhập cư có thể áp ựặt nên văn hoá của họ lên số ựông cư dân ựịa phương, nếu như họ có khả năng chinh phục ựược người bản ựịa Trong nhiều trường hợp khác chỉ là sự giao lưu, vay mượn bình thường dưới nhiều dạng và hình thức khác nhau Ông cũng tỏ ra nghi ngờ cái gọi là tắnh chất nguyên bản văn hoá của một tộc người hay nhóm dân cư nào ựó
G E Smith cũng như nhiều nhà truyền bá luận Anh khác Ýt ựi vào các vấn ựề lý thuyết, mà thường hướng sự chú ý của mình vào các mối quan hệ văn hoá cụ thể Tiếp thu quan ựiểm của nhiều nhà nghiên cứu ựi trước S E Smith ựã nêu ra các nền văn minh Châu Âu và xa hơn nữa ựối với cả phương đông, châu đại Dương và Châu Mỹ Những ảnh hưởng ựó xuất phát từ Cận đông ven theo bờ biển Nam Á ựể vào Polynêdi và sang Châu Mỹ Ông cũng nêu rõ những ảnh hưởng của phương Tây trong việc hình thành văn hoá Châu Mỹ, mà ngày nay người
ta có thể quan sát sự tương ựồng của các Kim Tự Tháp ở Châu Mỹ, Cămpuchia, Java, cũng như các hệ thống tắn ngưỡng, tập tục, các nghề thủ công của Cựu thế giới và Tân thế giới
Trong số những người theo lý thuyết truyền bá thì các nhà truyền bá luận Anh bị phê phán nhiều nhất Có thể nhận thấy những yếu ựiểm của
họ cả phương diện lý thuyết và giải quyết các hiện tượng văn hoá cụ thể Trước nhất, những nhà truyền bá luận Anh không ựi vào xây dựng các quan ựiểm và phương pháp cụ thể ựể từ ựó làm cơ sở cho việc xác ựịnh các mối quan hệ tương ựồng văn hoá giữa các tộc người và các vùng khác nhau Hơn thế nữa, khác với các nhà truyền bá luận đức, Áo và
Mỹ, người Anh ựi sâu tìm kiếm các mối quan hệ văn hoá của các yếu tố khác nhau trên phạm vi không gian rất rộng, từ Ai Cập qua Châu Âu, Cận đông, Châu Á, Châu đại Dương và Châu Mỹ Việc cắt nghĩa cho các xu hướng truyền bá ựó cũng tỏ ra thiếu cơ sở Thắ dụ, ựể giải thắch hiện tượng phổ biến tục ướp xác và thờ phụng người chết là từ nhu cầu
Trang 33ñi tìm kiếm khoáng vật và ñá quý của cư dân cổ ñại Các nhà truyền bá
luận Anh thường thường ñược mệnh danh là "những nhà truyền bá luận khoa trương", "những nhà truyền bá luận cực ñoan" (E.G Alêcxandrêkov, 1976)
Trong ba thập kỷ ñầu thế kỷ XX, như ñã nêu trên là thời kỳ tìm kiếm
và xây dựng các quan ñiểm lý luận sôi nổi nhất của các nhà truyền bá luận Trong những năm 40 và 50 ngoài việc biến mất của trường phái truyền bá Anh và Mỹ (age and area), thì các trường phái còn lại chỉ có thể làm ñược việc bổ sung vào những sơ ñồ cũ ñã vạch ra trước ñó Từ những năm 60 ñến 70, truyền bá luận lại chủ yếu ñược chuyển vào các nhà khảo cổ học, bởi vì các cuộc khai quật ñược tiến hành ở nhiều nơi, với sự trợ giúp của các phương pháp nghiên cứu mới, ñặc biệt là xác ñịnh niên ñại bằng C.14, nên tài liệu so sánh chuyển từ tài liệu dân tộc học xưa kia thành tài liệu khảo cổ học Các nhà khảo cổ học không chỉ chú ý tới vấn ñề truyền bá văn hoá mà còn thử tiến hành phân loại các hình thức tiếp xúc văn hoá
Thời kỳ này, dưới ánh sáng của các tư liệu mới phát hiện, các nhà khảo cổ học tiếp tục bàn tới vấn ñề vai trò của truyền bá và phát triển tự thân trong quá trình hình thành các nền văn hoá, các văn minh ở Tân và Cựu thế giới ðặc biệt lôi cuốn các nhà truyền bá luận lúc này là mối quan hệ văn hoá giữa Châu Mỹ, Châu ðại Dương và Châu Á, trong ñó
có vai trò chuyển tải của người Polynêdi Chính từ nội dung nghiên cứu này mà sau này người ta ñã ñưa ra giả thuyết về sự tồn tại của vùng văn hoá Thái Bình Dương Nếu như trước kia, người ta cho rằng những người Polynêdi ñã vượt biển sang Châu Mỹ trước Côlômbô, thì với những tư liệu mới, người ta lại chứng minh ngược lại là chính người Châu Mỹ ñã phát hiện ra Polynêdi Chính vì vậy, người ta lại ñi tìm kiếm mối quan hệ văn hoá mới giữa Cựu thế giới và Tân thế giới qua con
ñường ðại Tây Dương (E.G Alêcxandrêcôv, 1976)
Tư tưởng truyền bá luận tập trung chó ý trước hết vào việc ñánh giá những hiện tượng tương ñồng trong văn hoá các dân tộc khác nhau, coi
ñó như là một bằng chứng của mối quan hệ nguồn gốc hay quan hệ lịch
Trang 34sử giữa các dân tộc ñó Mục tiêu Êy ñã ñược các nhà truyền bá luận xem xét cả về phương diện lý luận, phương pháp xác ñịnh và các mối quan hệ văn hoá cụ thể So với các nhà tiến hoá luận trước ñó thì họ không chỉ thừa nhận sự vay mượn trong phát triển văn hoá mà còn xác ñịnh các hình thức vay mượn, nguyên nhân sự vay mượn và vai trò vay mượn trong phát triển văn hoá, cũng như các nguyên tắc xác ñịnh các mối quan
hệ vay mượn ñó
Tuy nhiên, các nhà truyền bá luận không phải không bộc lé các hạn chế, ở tính xác thực, ở các nguồn tư liệu, ở tính cực ñoan thổi phồng các mối liên hệ văn hoá và vai trò của chúng trong sự hình thành và phát triển các nền văn hoá riêng lẻ, ở việc xa rời các quan hệ kinh tế - xã hội
cụ thể khi lý giải các thành tựu văn hoá, ở việc tìm kiếm các nguyên nhân thúc ñẩy sự giao lưu và phát triển văn hoá không phải chủ yếu ở hoạt ñộng con người, mà quá nhấn mạnh tới khía cạnh tinh thần và tôn giáo, mà thực tế ñó là cách giải thích mang nặng tính duy tâm
II Lý thuyết "vùng văn hoá" trong nhân chủng học Mỹ
Lý thuyết "vùng văn hoá" của nhân chủng học Mỹ ra ñời vào cuối thế
kỷ XIX ñầu thế kỷ XX, một mặt, nó chống lại quan ñiểm tiến hoá của L Morgan và E Taylor; mặt khác, nó cũng phê phán những quan ñiểm
"vòng văn hoá", "khuyếch tán văn hoá" cực ñoan của các nhà nghiên cứu Tây Âu Trên cơ sở nghiên cứu khá tường tận người Da ðỏ Châu Mỹ,
các nhà nhân chủng học Mỹ ñưa ra lý thuyết "vùng văn hoá", "Loại hình văn hoá", mà ñại diện chính là C.L Wisler và A.L Kroeber Trước C.L
Wisler, tư tưởng về không gian phân bố các ñặc trưng văn hoá ñã ñược một số học giả Mỹ quan tâm tới Trước nhất, phải kể tới F Boas, một nhà nhân chủng học có ảnh hưởng lớn ñến các khuynh hướng nghiên cứu văn hoá Mỹ thế kỷ XX Theo F Boas, một mặt ông thừa nhận tính thống nhất và quy luật chung của phát triển văn hoá nhân loại; nhưng mặt khác, cũng khẳng ñịnh một cách hoàn toàn có lý rằng, văn hoá của mỗi dân tộc ñược hình thành trong quá trình lịch sử gắn liền với môi trường xã hội nhất ñịnh và trong ñiều kiện ñịa lý cụ thể Bởi thế, ông cũng tỏ ra hoài nghi và phê phán những tư tưởng cực ñoan của các học giả Châu Âu về
Trang 35khuyếch tán văn hoá, ñặc biệt là lý thuyết "vòng văn hoá", mà ñại diện là
F Graebner và W Schmidt (S.J Sterm, 1943)
Cùng với F Boas, O T Mason cũng ñặc biệt chú ý tới những ảnh hưởng của môi trường ñịa lý ñối với văn hoá của các dân tộc ở Bắc Mỹ,
từ ñó ông ñã chia Bắc Mỹ thành 12 "môi trường tộc người" (O.T Mason, 1896), mà sau này CL Wisler khi nghiên cứu vùng văn hoá ñã tiếp thu
phần nào cách phân chia trên của ông
Như vậy, ở Mỹ, từ L Morgan ñến F.Boas, O T Mason, thì một ý niệm về một lãnh thổ có nhiều dân tộc sinh sống, mà văn hoá của họ có những ñặc trưng chung ñã hình thành Tuy nhiên, ñòi hỏi ñặt ra là, từ những ý niệm như vậy, cần xây dựng thành những quan ñiểm và phương pháp khoa học, dùng nó ñể nhận thức các vùng văn hoá, xác ñịnh ranh giới giữa chúng và những ảnh hưởng văn hoá tác ñộng qua lại, tìm ra các nguyên nhân giải thích sự hình thành và phát triển các vùng văn hoá Chính CL Wisler từ thực tế nghiên cứu của mình ñã từng bước ñặt nền móng cho việc giải quyết những ñòi hỏi thiết thực cho nghiên cứu trên
Cuốn sách "Người Mỹ Da ðỏ" của CL Wisler, xuất bản lần ñầu vào
năm 1917 và tái bản lần thứ hai năm 1922, ñã thể hiện một cách tương ñối ñầy ñủ các quan ñiểm học thuật của tác giả về vấn ñề ñang ñược ñặt
ra xem xét, và cũng là tác phẩm có ñược những ảnh hưởng rộng lớn thời
ñó Thể nghiệm ñầu tiên của CL Wisler là từ khía cạnh tiếp cận các dạng thực phẩm chính mà những người Mỹ Da ðỏ dùng hàng ngày, ñể chia toàn bộ lãnh thổ cư trú của họ thành 8 vùng Ngay trong việc phân chia này, tác giả cũng ñã gặp những lúng túng bởi vì tính bất hợp lý của
nó Người Da ðỏ sống giáp ranh với những cánh rừng cũng săn bắt thó
và ăn thịt thó giống như những người Eskimô, và như vậy là họ ở cùng trong một vùng là ñiều không thể chấp nhận ñược Còn ñối với các vùng nghề nông phát triển, thì ranh giới giữa vùng trồng ngô và lúa mạch cũng không phải bao giê cũng rõ ràng Từ ñây, chính tác giả cũng ñã tự thấy tính không có hiệu quả của cách tiếp cận với vùng văn hoá lại từ một khía cạnh quá hẹp như vậy
Trang 36Từ thực tế trên, Cl Wisler ựã ựi ựến kết luận mang tắnh nguyên tắc là nghiên cứu các vùng văn hoá nhất thiết phải bắt ựầu từ việc phân tắch
một tổ hợp các yếu tố văn hoá, rằng không thể nhìn nhận riêng rẽ từng
yếu tố một, chúng hợp thành một thể thống nhất không thể chia cắt, và
ựó chắnh là kết quả của quá trình lâu dài nhóm cư dân Êy thắch ứng với
những ựiều kiện của môi trường sinh thái (CL Wisler, 1922)
Với những khái quát từ các tư liệu so sánh của nhiều bộ môn khoa học, như khảo cổ, dân tộc học, ngữ văn học , tác giả ựã ựi ựến sự phân chia mới về các vùng văn hoá Theo ông toàn bộ lãnh thổ người Mỹ Da
đỏ có thể chia thành 15 vùng văn hoá Chẳng hạn, vùng ựồng bằng rộng lớn phắa tây nước Mỹ thời ựó có 31 bộ lạc sinh sống, giữa họ có những ựặc trưng văn hoá chung nhất, ựó là: Săn bắn bò rừng, không ựánh cá và trồng trọt, du cư, ựi lại vận chuyển bằng chã kéo và sau này có thêm ngựa, nghề ựan và nghề gốm phát triển, bên cạnh nghề thuộc da cũng khá phát ựạt Tắn ngưỡng thờ mặt trời và các ựiệu múa liên quan tới tắn ngưỡng này; hoa văn trang trắ theo phong cách hình học hoá Xã hội phụ
hệ có khuynh hướng chuyển sang quan hệ công xã láng giềng CL
Wisler gọi các ựặc trưng trên là "tắp ựặc trưng cho vùng" (CL Wisler, 1922)
CL Wisler quy các tắp văn hoá ựặc trưng trên thuộc về 11 bộ lạc ựặc trưng trong sè 31 bộ lạc sinh sống trong vùng Êy đó là những bộ lạc giữ vai trò chắnh trong quá trình tạo nên các ựặc trưng văn hoá của vùng Ông cũng ựã tiến xa hơn nữa từ các tắp ựặc trưng của các bộ lạc ựặc
trưng ựến cái mà ông gọi là "Trung tâm văn hoá" Theo CL Wisler,
trung tâm văn hoá ựã có những ảnh hưởng mang tắnh quyết ựịnh ựối với mỗi vùng văn hoá
"Vùng văn hoá", "loại hình văn hoá" và "trung tâm văn hoá" là
những khái niệm cơ bản thuộc phần lý luận trong cuốn sách kể trên của Wisler Chắnh từ thực tế nghiên cứu, CL Wisler ựã từ bỏ cách tiếp cận vùng văn hoá từ một ựặc trưng hạn hẹp là những thực phẩm chắnh, ựi ựến chỗ xem xét nó trên cơ sở một tập hợp nhiều yếu tố văn hoá Tuy nhiên, ựiều ựó không có nghĩa là một tập hợp vô hạn mang tắnh chất
Trang 37ñồng ñều, mà trong vô số các yếu tố ñó, người nghiên cứu biết lùa chọn
một tập hợp các yếu tố ñặc trưng, ñó chính là "típ ñặc trưng cho vùng" hay là "loại hình văn hoá" của vùng Quả thực, ñây là bước tiến mang
tính lý luận và phương pháp nghiên cứu mà CL Wisler ñã ñạt ñược
ðể làm rõ cái gọi là "loại hình văn hoá", "típ văn hoá ñặc trưng", CL
Wisler cũng ñã ñề cập tới quan niệm về sự lùa chọn chuyên môn hoá của
các vùng văn hoá khác nhau và coi ñó như là một trong những nhân tố góp phần tạo nên sắc thái riêng của các vùng văn hoá Việc lùa chọn chuyên môn hoá ở ñây là lùa chọn những khả năng mang tính ñịnh hướng khai thác môi trường của mỗi cộng ñồng người, như ñánh cá, săn bắn thó rừng trồng trọt các loại sản phẩm khác nhau Tác giả cho rằng
"Con người trong vùng văn hoá ñã chọn một số Ýt những khả năng và tập trung ñặc biệt lên các khả năng ñó mà không hề ñộng ñến các tài nguyên khác" Từ những lùa chọn chuyên môn hoá như vậy, dẫn tới các
ñặc trưng xã hội và sinh hoạt văn hoá của các nhóm cư dân cũng khác
nhau (CL Wisler, 1922) ðể giải thích hiện tượng chuyên môn hoá này,
CL Wisler lại một lần nữa quay về sự quy ñịnh của môi trường sinh thái
và các tập tục truyền thống, nói cách khác, ñó là sự dẫn dắt của tự nhiên ñối với con người thụ ñộng Thực ra, ñi vào các trường hợp cụ thể của sự lùa chọn chuyên môn hoá này, chúng ta phải tính ñến không chỉ là sự quy ñịnh của môi trường mà còn có cả các nhân tố kinh tế - xã hội và sự phân công lao ñộng giữa các nhóm cư dân sinh sống kề cạnh nhau nữa
"Trung tâm văn hoá" còng là một trong những luận ñiểm quan trọng
nhất của lý thuyết vùng văn hoá của CL Wisler Ông cho rằng "trung
tâm văn hoá" chính là nơi sinh sống của "các bộ lạc ñặc trưng" Giữa hai
trung tâm văn hoá là nơi phân bố của các bộ lạc mang tính chuyển tiếp
văn hoá (CL Wisler, 1922) Do vậy, theo tác giả, chính vùng văn hoá
hình thành như là vùng ảnh hưởng của trung tâm văn hoá, nên văn hoá ở trung tâm bao giê cũng mang tính ñặc trưng và ñiển hình hơn văn hoá ở ngoài trung tâm Mặt khác, nhìn văn hoá từ khía cạnh ñộng thái, thì văn hoá trung tâm bao giê cũng biến ñổi mạnh hơn các vùng xa trung tâm,
tạo nên một hiện tượng mà trong văn hoá học gọi là "hoá thạch ngoại
Trang 38vi", ñể chỉ hiện tượng bảo lưu các dạng cổ của văn hoá ngoại vi so với
những biến ñổi nhanh của vùng trung tâm
Trong các công trình xuất bản sau ñó, như "Con người và văn hoá"
và "Mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người ở Châu Mỹ bản xứ" (CL Wisler,1923, 1926) CL Wisler ñã nhắc lại và tiếp tục phát triển thêm
một số vấn ñề lý thuyết ñã từng ñặt ra ở công trình trước ñó ðặc biệt,
tác giả nhấn mạnh ñến khái niệm "tổ hợp văn hoá" là tập hợp những yếu
tố văn hoá ñặc trưng, gắn với trung tâm của vùng văn hoá Do vậy, nghiên cứu ñộng thái của vùng văn hoá ñi liền với việc xem xét quá trình lan truyền các yếu tố văn hoá từ trung tâm Chính vùng văn hoá không phải cái gì khác là tổng hợp các yếu tố văn hoá của tổ hợp Êy trong một phạm vi lãnh thổ xác ñịnh
Với Cl Wisler, việc nghiên cứu vùng văn hoá cả về phương diện lý thuyết cũng như thực tế ñã có bước tiến rõ rệt và khá cơ bản Ở Ông, những ý tưởng khoa học, cùng với việc xây dựng khái niệm ñể nhận thức không gian phân bố các hiện tượng văn hoá, việc áp dụng lý thuyết và phương pháp vào giải quyết các hiện tượng văn hoá cụ thể của người Indian, nói chung ñã ñi theo khuynh hướng ñúng ñắn Tuy nhiên, ñặt trong khung cảnh phát triển khoa học thời ñó, chúng ta không thể không thấy ở CL Wisler bộc lé những hạn chế
Phê phán trường phái tiến hoá về một sơ ñồ ñơn tuyến phát triển văn hoá nhân loại, cũng như chống lại những quan ñiểm cực ñoan của thuyết khuyếch tán văn hoá của học giả Châu Âu, nhưng về mặt nào ñó, CL Wisler vẫn chưa phải ñã ñoạn tuyệt hẳn với thuyết quyết ñịnh luận ñịa lý Trong khá nhiều trường hợp ñể giải thích các hiện tượng tương ñồng văn hoá, ông thường nhìn nó một cách tĩnh tại và tìm về với sơ ñồ sơ lược về
sự quy ñịnh của môi trường sinh thái và sự thích ứng có phần thụ ñộng của con người ñối với môi trường Tác giả cũng như nhiều học giả Âu
Mỹ thời ñó, chưa xem xét một cách cụ thể và biện chứng mối quan hệ văn hoá với cơ sở kinh tế - xã hội nhất ñịnh, nhìn nhận các hiện tượng văn hoá trong những ñiều kiện lịch sử cụ thể của tộc người
Trang 39Tiếp cận vùng văn hoá từ tổ hợp các yếu tè văn hoá ựặc trưng, nhất là quy nó về các bộ lạc và nhóm bộ lạc ựặc trưng nào ựó, nhiều khi tác giả
ựã cường ựiệu ý nghĩa của các yếu tố ựặc trưng Êy, xem xét nó trong sự tách rời biệt lập với những ựiều kiện cụ thể của môi trường và hoàn cảnh kinh tế - xã hội của tộc người
Khẳng ựịnh vai trò của trung tâm ựối với sự hình thành các vùng văn hoá, nhưng ựiều ựó không có nghĩa là cường ựiệu quá mức vai trò của
nó, không thấy ựược sự lan truyền văn hoá không chỉ một chiều từ trung tâm ựến ngoại vi, mà còn có chiều ngược lại Quá nhấn mạnh và tuyệt ựối hoá vai trò của trung tâm sẽ rơi vào thuyết phát tán và thiên di văn hoá từ một trung tâm nào ựó
Sau CL Wisler, A L Kroeber ựã tiếp thu có phê phán và phát triển
lý thuyết vùng văn hoá và ựã tạo nên những ảnh hưởng ựáng kể ở Mỹ thời ựó Theo ông, việc phân loại theo vùng văn hoá của CL Wisler là hệ thống phân loại tĩnh, nó có Ýt giá trị trong việc nghiên cứu sự phát triển văn hoá của cư dân bản ựịa Châu Mỹ Trước nhất, A L Kroeber nhận thấy cần phát triển sâu sắc hơn lý luận vùng văn hoá của CL Wisler trên các phương diện trung tâm văn hoá, các ựặc trưng vùng và ranh giới giữa các vùng văn hoá
Trong công trình "Tra cứu về người Da ựỏ ở Kaliphocnia" xuất bản năm 1925 (A.L Kroeber, 1925), AL Kroeber ựã phát triển các quan
ựiểm của mình về trung tâm văn hoá Theo ông, hoàn toàn không thể cho rằng tất cả các nhân tố văn hoá ựều ựược sáng tạo và phổ biến từ một nhóm nhỏ trung tâm, mà mỗi một bộ lạc ựều có thể tham gia vào việc sáng tạo những giá trị và ựặc trưng văn hoá của vùng Chỉ có khác là, ở trung tâm văn hoá phát triển mạnh mẽ hơn và chuyên môn hoá sâu hơn
mà thôi Ông cũng ựã có phát hiện về mối quan hệ ựa chiều giữa trung tâm và ngoại vi, chứ không ựơn giản và một chiều như quan ựiểm của
CL Wisler để hình thành các vùng văn hoá khác nhau, AL Kroeber cũng ựã tắnh tới các nhân tố lịch sử đó là mối quan hệ nguồn gốc hay gần gũi về lịch sử giữa các bộ lạc và các nhóm cư dân trong vùng văn hoá đó là quan ựiểm hoàn toàn ựúng ựắn, nhất là với các thời kỳ phát
Trang 40triển sớm của các dân tộc bản ựịa ở Mỹ Khác với CL Wisler, AL Kroeber cũng ựã lưu ý tới tắnh chất phát triển không ựồng ựều giữa các
bộ lạc và cư dân trong vùng, nhất là giữa trung tâm và vùng ngoại vi Ngoài các vấn ựề lý thuyết, AL Kroeber cũng ựã hiệu ựắnh lại một số vùng văn hoá trong nước Mỹ mà CL Wisler ựã vạch ra, ựặc biệt, ông ựã
ựi vào nghiên cứu khá cụ thể và kỹ lưỡng một số vùng, như vùng người
Da đỏ ở Kaliphocnia Trên cơ sở vùng Kaliphocnia mà CL Wisler ựã phác hoạ, AL Kroeber ựã phân chia thành 4 tiểu vùng và nghiên cứu tương ựối cụ thể trong công trình công bố của mình Hơn thế nữa, AL Kroeber cũng ựã áp dụng lý thuyết trên, mở rộng phạm vị nghiên cứu ra các nền văn minh phát triển cao ở Cựu thế giới, như La Mã cổ ựại, Cận đông, Ấn độ, Trung Quốc và kể cả Châu Âu thời tư bản chủ nghĩa Trong các công trình xuất bản sau này của mình, AL Kroeber có tham vọng mở rộng khái niệm vùng văn hoá và phân loại chúng không chỉ ở trên tư liệu văn hoá tộc người, mà ông còn coi các hệ tư tưởng và các hệ thống chắnh trị phức tạp thời La Mã cổ ựại cũng như Châu Âu thời tư bản chủ nghĩa ựều nằm trong phạm trù vùng văn hoá và nghiên
cứu, phân chia chúng như ựối với người Da đỏ bản ựịa Châu Mỹ (A.L Kroeber, 1962) Tất nhiên ựối với các xã hội có giai cấp phát triển cao,
lý thuyết "vùng văn hoá" trên hoàn toàn không ựầy ựủ ựể nghiên cứu nó một cách có hiệu quả Ông cũng ựã nhìn nhận vấn ựề tiến hoá văn hoá của các nền văn mình lớn dưới quan ựiểm vùng văn hoá tỏ ra thiếu cơ sở khoa học
Khi nghiên cứu nền văn hoá Cận đông AL Kroeber ựã cố gắng có những nhìn nhận và giải thắch hiện tượng truyền bá của ựạo Hồi, một tôn giáo ựã góp phần ựáng kể tạo nên các sắc thái văn hoá phức tạp và ựộc ựáo vùng này Theo ông, hiện tượng nảy sinh và phổ biến của ựạo Hồi không liên quan gì tới nền kinh tế và xã hội vốn trì trệ ở ựây Ông cho rằng, ựạo Hồi là hiện tượng văn hoá ựịa phương có từ khá sớm, nhưng trong quá trình tồn tại, cũng giống như chữ Ả Rập, nó ựơn giản hoá ựi và chắnh vì vậy, ựạo này ựã vượt ra khỏi cái lò sản sinh ra nó và phát triển rộng rãi trên một vùng lãnh thổ rộng lớn, ựặc biệt là vùng Cận đông