1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tín ngưỡng quan công trong văn hóa vùng hoa nam trung hoa và nam bộ việt nam luận văn thạc sỹ 60 22 01 13

178 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tín ngưỡng quan công trong văn hóa vùng Hoa Nam Trung Hoa và Nam Bộ Việt Nam
Tác giả Wei Jin Yuan
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Ngọc Thơ
Trường học Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Việt Nam Học
Thể loại Luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 4,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do ch ọn đề tài (12)
  • 2. L ịch sử nghiên cứu vấn đề (15)
    • 2.1. Các nghiên c ứu về Quan Công ở trên thế giới (15)
    • 2.2. Các nghiên c ứu ở Trung Hoa và Việt Nam (17)
  • 3. Đối tượng nghiên cứu (21)
  • 4. Ph ạm vi nghiên cứu (21)
  • 6. B ố cục luận văn (24)
  • CHƯƠNG 1 (26)
    • 1.1. Các khái ni ệm cơ bản (26)
      • 1.1.1. Tín ngưỡng và tín ngưỡng dân gian (26)
      • 1.1.2. Văn hóa và các khái niệm liên quan (28)
    • 1.2. Hướng tiếp cận nghiên cứu (34)
      • 1.2.1. Ti ếp cận địa - văn hóa (34)
      • 1.2.2. Ti ếp cận khu vực lịch sử - văn hóa (35)
      • 1.2.3. Ti ếp cận dưới góc độ giao lưu tiếp biến văn hóa (36)
      • 1.2.4. Ti ếp cận chức năng (38)
    • 1.3. Tổng quan tín ngưỡng truyền thống ở Trung Hoa và Việt Nam (40)
      • 1.3.1. T ổng quan tín ngưỡng truyền thống ở Trung Hoa (40)
      • 1.3.2. T ổng quan tín ngưỡng truyền thống ở Việt Nam (44)
  • CHƯƠNG 2 (54)
    • 2.1. Qúa trình hình thành và phát tri ển tín ngưỡng Quan Công ở Trung (54)
      • 2.1.1. Ngu ồn gốc hình thành (54)
      • 2.1.2. Tín ngưỡng Quan Công qua các góc nhìn xã hội (58)
    • 2.2. Th ể hiện và đặc điểm tín ngưỡng Quan Công trong văn hóa Hoa (66)
      • 2.2.1. Điển cứu tín ngưỡng Quan Công ở vùng Hoa Nam (66)
      • 2.2.2. Nh ững đặc điểm cơ bản của tín ngưỡng Quan Công vùng Hoa Nam- 77 - (77)
    • 2.3. Vai trò c ủa tín ngưỡng Quan Công trong đời sống văn hóa Trung Hoa (84)
      • 2.3.1. Vai trò l ịch sử (84)
      • 2.3.2. Vai trò xã h ội (85)
  • CHƯƠNG 3 (89)
    • 3.1. Ngu ồn gốc, nguyên nhân và quá trình phát triển tín ngưỡng Quan Công ở Nam Bộ (89)
      • 3.1.1. Nguyên nhân và ngu ồn gốc hình thành (89)
      • 3.1.2. Quá trình phát tri ển (92)
    • 3.2. Th ể hiện và đặc điểm tín ngưỡng Quan Công trong văn hóa Việt (99)
      • 3.2.1. Th ể hiện và đặc điểm tín ngưỡng Quan Công ở Nam Bộ (99)
      • 3.2.2. Nh ững đặc điểm cơ bản (106)
    • 3.3. Vai trò c ủa tín ngưỡng Quan Công trong đời sống văn hóa Việt Nam - (116)
      • 3.3.2. Vai trò xã h ội (120)
  • CHƯƠNG 4 (125)
    • 4.1.1. Điểm tương đồng trong nhận thức và thực hành tín ngưỡng (125)
    • 4.1.2. Điểm tương đồng trong ý nghĩa biểu trưng và vai trò lịch sử - xã hội (129)
    • 4.2. Những điểm khác biệt trong tín ngưỡng Quan Công trong văn hóa (136)
      • 4.2.1. Khác bi ệt trong nhận thức, thực hành và ý nghĩa văn hóa (136)
      • 4.2.2. Khác bi ệt trong ý nghĩa biểu trưng gắn với bối cảnh lịch sử - xã hội (139)
    • 4.3. Nh ững giá trị mang tính bản sắc văn hóa Trung Hoa và Việt Nam (142)
      • 4.3.1. Khái ni ệm bản sắc (142)
      • 4.3.2. B ản sắc văn hóa Trung Hoa qua tín ngưỡng Quan Công (143)
      • 4.3.3. B ản sắc văn hóa Việt Nam qua tín ngưỡng Quan Công (146)
  • PHỤ LỤC (100)

Nội dung

Lý do ch ọn đề tài

Việt Nam và Trung Hoa có mối quan hệ văn hóa sâu sắc nhờ vào sự giao lưu và tiếp xúc lâu dài, cùng trải qua nhiều biến động lịch sử Mối quan hệ này đã tạo ra nhiều điểm tương đồng trong các lĩnh vực văn hóa – xã hội, đặc biệt là phong tục tập quán và tín ngưỡng – tôn giáo Từ đầu công nguyên, Việt Nam đã tiếp nhận và du nhập tư tưởng Nho học, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa của mình.

Trung Hoa đã tiếp nhận và phát triển Phật giáo Bắc Tông cùng với Đạo giáo trong nhiều thế kỷ Nho giáo cũng được áp dụng bởi các nhà cầm quyền Trung Hoa trong thời kỳ này.

Từ đầu thời kỳ tự chủ đến giữa thế kỷ XX, Bắc thuộc và giai cấp phong kiến Việt Nam đã sử dụng Nho giáo như một công cụ thống trị, ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng và đời sống xã hội Tư tưởng Nho giáo cùng với các hiện tượng văn hóa xã hội liên quan đã được truyền bá rộng rãi, trong đó tín ngưỡng thờ Quan Công là một biểu hiện nổi bật.

Quan Công là một vị thần có vị trí cao nhất trong hệ thống chư thần Trung Hoa, được cả ba tôn giáo lớn là Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo tôn thờ Nho giáo coi ông là “Võ Thánh Đế Quân”, trong khi Phật giáo xem ông là Hộ pháp và gọi là “Già Lam Bồ tát” Đạo giáo thì gọi ông là “Phục ma Đại đế” hoặc “Quan Thánh Đế quân” Sự kết hợp này từ ba tôn giáo đã tạo nên hình tượng Quan Công mang đậm giá trị văn hóa dân gian, truyền thuyết và các ghi chép cổ, đặc biệt là từ tiểu thuyết nổi tiếng Tam Quốc Diễn Nghĩa, thể hiện sự trung nghĩa và nho nhã của ông.

Quan Công, được tôn sùng với các danh hiệu như “anh linh” và “thần uy”, thu hút sự kính ngưỡng từ nhiều tầng lớp xã hội, từ đế vương cho đến văn nhân, nghĩa sĩ và dân chúng Trong thời kỳ Minh, Thanh, miếu thờ Quan Công được xây dựng rộng rãi khắp Trung Hoa, với hương khói dâng cao, khẳng định vị thế của ông như một trong những vị thần quan trọng nhất trong lịch sử văn hóa Trung Quốc.

Tín ngưỡng Quan Công đã được truyền bá vào Việt Nam qua hai con đường chính: một là sự tiếp nhận tự nguyện của giai cấp thượng tầng trong xã hội Việt Nam, và hai là kết quả của các cuộc di dân người Hoa từ các thế kỷ XVI, XVII đến nay Nghiên cứu của các học giả từ Trung Hoa đại lục và Đài Loan cho thấy rằng tục thờ Quan Công đã được các nhà cầm quyền Việt Nam tiếp nhận từ thế kỷ.

Trong giai đoạn từ thế kỷ XVI đến XIX, Đại Việt đã chứng kiến sự mở rộng của XI ra khắp cả nước, với nhiều dấu tích được tìm thấy tại các địa phương như Hà Nội, Cao Bằng, Hưng Yên, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An và Huế Sự phát triển này tương ứng với thời kỳ Minh - Thanh, phản ánh sự giao thoa văn hóa và lịch sử phong phú của đất nước.

Trung Hoa đã có sự giao lưu văn hóa, kinh tế và tín ngưỡng mạnh mẽ với Việt Nam thông qua các đầu mối quan trọng như Vân Đồn, Phố Hiến, Huế và Hội An.

Nhiều nhân sĩ từ hai triều Minh, Thanh đã di dân đến Việt Nam, sinh sống cùng người Việt tại khu vực Nam Bộ Họ mang theo nhiều giá trị văn hóa Trung Hoa, tiếp tục được truyền bá và nhận được sự hưởng ứng từ cư dân địa phương.

Quan Công đã thẩm thấu vào các trường phái tôn giáo Trung Hoa và được truyền bá đến Việt Nam, nơi ông nhận được sự ủng hộ từ quần chúng Các tín ngưỡng và tôn giáo dân gian địa phương đã tiếp nhận và tái tạo hình ảnh của ông, tạo nên nhiều cách thể hiện tín ngưỡng độc đáo.

Quan Công và tín ngưỡng Quan Công đã được các nhà nghiên cứu lịch sử

Nhiều nghiên cứu văn hóa từ khắp nơi trên thế giới tập trung vào tinh thần và hình tượng của Quan Công trong tiểu thuyết lịch sử và văn hóa Tuy nhiên, chưa có công trình nào hệ thống hóa nguồn gốc, sự thể hiện và đặc điểm văn hóa của tục thờ Quan Công trong văn hóa Trung Hoa và Việt Nam từ góc nhìn so sánh.

Người viết luận văn đã học tiếng Việt gần 4 năm và hiện sinh sống tại TP Hồ Chí Minh, nơi tác giả nhận thấy tín ngưỡng Quan Công rất phổ biến trong đời sống người dân Điều này đặt ra câu hỏi về lý do tín ngưỡng sùng bái vị tướng Trung Hoa này lại lan rộng đến vậy, cũng như sự chấp nhận hình tượng Quan Công trên toàn cầu và tại Việt Nam, trở thành một phần quan trọng trong văn hóa Việt Những giá trị của tín ngưỡng này đã ảnh hưởng như thế nào đến đời sống xã hội của hai nước? Nhiều vấn đề thú vị được nêu ra từ góc nhìn so sánh tín ngưỡng Quan Công trong hai nền văn hóa Việt - Trung, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những giá trị văn hóa tín ngưỡng quan trọng của hai dân tộc Tác giả mong muốn tìm hiểu sâu hơn về văn hóa tư tưởng và cấu trúc xã hội liên quan đến tín ngưỡng này.

Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại, tác giả tin rằng đề tài nghiên cứu

Tín ngưỡng thờ Quan Công trong văn hóa vùng Hoa Nam Trung Hoa và Nam Bộ Việt Nam không chỉ giúp khám phá sâu sắc truyền thống văn hóa Việt Nam mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển phương pháp luận nhằm tăng cường giao lưu văn hóa giữa hai quốc gia.

L ịch sử nghiên cứu vấn đề

Các nghiên c ứu về Quan Công ở trên thế giới

Tín ngưỡng thờ Quan Công không chỉ phổ biến ở Trung Hoa mà còn lan rộng đến các quốc gia có nền văn hóa phương Đông như Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, và thậm chí ở nhiều nơi trên thế giới, bao gồm cả các nước phương Tây, đặc biệt trong cộng đồng người gốc Hoa Theo thống kê năm 2012, có hơn 30 quốc gia và vùng lãnh thổ xây dựng miếu thờ Quan Công, với tổng số miếu lên đến hơn 30.000, trong đó Nhật Bản và Malaysia có hơn 1000 miếu.

Nhà nhân chủng học, tác giả Tiêu Đại Vệ (焦大卫) của Đại học Chicago,

Hoa Kỳ bày tỏ sự tôn trọng đối với Quan Công, nhấn mạnh rằng ngài xứng đáng được kính trọng nhờ những đức tính Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, những giá trị vẫn còn ý nghĩa quan trọng đến ngày nay Nếu mọi người đều học hỏi từ Quan Công, thế giới sẽ trở nên tốt đẹp hơn.

Phòng triển lãm vũ khí tại Học viện Quân sự Hoa Kỳ (Học viện West Point) là một minh chứng thú vị, nổi tiếng với việc đào tạo những công dân hoàn hảo và lãnh đạo xuất chúng cho quốc gia, thể hiện tinh thần anh hùng và trượng nghĩa.

Nước Mỹ không chỉ sở hữu xe tăng hiện đại, máy bay chiến đấu và vũ khí tiên tiến, mà còn tôn vinh thanh gươm Trung Hoa kiểu Thanh Long đao của Quan Công Điều này cho thấy các nhà quân sự xuất sắc của Hoa Kỳ rất coi trọng phẩm chất phi thường của vị anh hùng trận mạc Quan Công.

Nhiều quốc gia trên thế giới đang chú trọng nghiên cứu và viết về Quan Công, điều này được thể hiện qua các công trình đã được xuất bản, chẳng hạn như cuốn sách "Guan Yu: Blood" của Dan Jolley (2009).

"Anh em đến cùng: Một huyền thoại Trung Quốc (Huyền thoại và truyền thuyết đồ họa) đã truyền cảm hứng cho nhiều tác phẩm nghệ thuật, bao gồm phim ảnh, tiểu thuyết và kịch, như tác phẩm của Wang Yingquan (2004) với 'Huyền thoại của Quan Công'."

Hầu hết các nghiên cứu hiện nay chỉ tập trung vào một khía cạnh cụ thể của vấn đề mà thiếu đi sự so sánh sâu sắc Nhiều nghiên cứu chỉ ca ngợi tinh thần và mô tả đặc điểm ngoại hình, tính cách của Quan Công, cũng như tục thờ Quan Công tại các Quan đế miếu Tuy nhiên, vẫn còn thiếu các nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ văn hóa giữa người Trung Hoa và các nước láng giềng như Việt Nam, đặc biệt là trong việc thể hiện tín ngưỡng thờ cúng.

Các nghiên c ứu ở Trung Hoa và Việt Nam

Cả Trung Hoa và Việt Nam đều có nhiều nghiên cứu sâu sắc về Quan Công, từ nguồn gốc đến hình tượng và tính cách của ông Ở Trung Hoa, số lượng công trình nghiên cứu về Quan Công rất phong phú, với nhiều tổ chức cộng đồng được tài trợ để thực hiện các nghiên cứu trên quy mô lớn Trong khi đó, tại Việt Nam, Quan Công không chỉ là một nhân vật lịch sử mà còn là biểu tượng của những giá trị đạo đức tốt đẹp như Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, được người dân địa phương tôn kính và noi theo.

Thần tài, thần bảo hộ cho cuộc sống của nhân dân được ấm no, hạnh phúc

Tín ngưỡng Quan Công giữ vai trò quan trọng trong văn hóa dân gian Trung Hoa và đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả Nghiên cứu về tín ngưỡng này bắt đầu phát triển từ những năm 1920 và ngày càng được chú trọng sau khi Trung Hoa giải phóng, đặc biệt là trong thập niên 1980 Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu trong giai đoạn này chủ yếu chỉ dừng lại ở việc tổng hợp các ghi chép từ văn tịch và tài liệu cổ, mà chưa đi sâu vào mô tả cụ thể các vấn đề liên quan đến tín ngưỡng, đặc biệt là sinh hoạt tín ngưỡng của người dân.

Mạnh Hải Sinh (孟海生) được xem là người tiên phong trong nghiên cứu văn hóa Quan Công, được mệnh danh là “người sáng lập” Văn hóa Quan Công Ông đã cống hiến cả cuộc đời cho việc nghiên cứu và viết về Quan Công, với hơn 500 vạn chữ Hán được ghi chép về nhân vật này.

Nhiều tác phẩm nổi tiếng về Quan Công có giá trị lớn và được đông đảo người Trung Hoa cùng các học giả đón nhận, tạo nền tảng cho nghiên cứu về tín ngưỡng Quan Công Một số tác phẩm, như “Suy nghĩ về văn hóa Quan Công”, đã được dịch ra nhiều thứ tiếng.

Nghiên cứu về văn hóa Quan Công đã có những bước tiến mới, đặc biệt qua cuốn “Phu nhân Quan Công”, góp phần làm phong phú thêm hiểu biết về nhân vật lịch sử này Tác phẩm “Quan Công Bình Truyện” và “Quan Công xuất thế” cũng đóng vai trò quan trọng trong việc khám phá và phát huy giá trị văn hóa của Quan Công Cuốn “Suy nghĩ về văn hóa Quan Công” nhấn mạnh tầm quan trọng của việc gìn giữ và phát triển di sản văn hóa đáng tự hào của dân tộc Trung Hoa.

Số lượng bài viết, công trình và sách chuyên khảo về Quan Công ở Trung Hoa rất phong phú, với nhiều trang web nghiên cứu như 关公网 và “世界关公后商网” Các tác phẩm nghiên cứu nổi bật bao gồm “Bàn về hành vi của chính phủ trong sự phát triển của văn hóa Quan Công và ý nghĩa thực tiễn” của Ngô Hiểu Phong và “Nghĩa sĩ - Nghĩa thần” của Phụ Công Chấn.

- Nghĩa đạo - Giá trị hạt nhân của văn hóa Quan Công và ý nghĩa thực tiễn”

Cốt lõi của văn hóa Quan Công bao gồm ba giá trị chính: nghĩa sĩ, nghĩa thần và nghĩa đạo Những giá trị này không chỉ thể hiện tinh thần trung thành và công bằng mà còn mang lại ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong xã hội hiện đại Các nghiên cứu về văn hóa Quan Công là nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho chúng tôi trong quá trình viết khóa luận.

Tục thờ Quan Công là một hình thức tín ngưỡng ngoại sinh, du nhập vào cộng đồng người Việt ở Bắc Bộ từ phong trào di dân của người Hoa vào thế kỷ XI, và mở rộng vào Nam Bộ vào thế kỷ XVII Đến nay, tín ngưỡng này đã có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của cộng đồng hai dân tộc Việt và Trung.

Nam Bộ Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam cũng tìm hiểu về Quan Công, trong đó có Lê Anh Dũng (1995) đã viết quyển Quan Thánh xưa và nay

Bài viết chủ yếu giới thiệu về thân thế và các sự tích liên quan đến Quan Thánh, đồng thời khám phá tục thờ cúng của ngài Nội dung cũng đi sâu vào việc miêu tả các tranh tượng, câu đối, và các đền thờ thờ Quan Thánh.

Việt Nam có mối quan hệ sâu sắc với Quan Thánh, thể hiện tình yêu nước của người Việt và sự gắn kết trong hội những người cùng họ Quan Tác giả Lê Văn Sao trong luận văn thạc sỹ về tín ngưỡng Quan Thánh Đế Quân tại cộng đồng người Hoa tỉnh Trà Vinh đã phác họa một bức tranh phong phú về tục thờ này ở Nam Bộ Tác phẩm này được coi là tương đối toàn diện, cung cấp tài liệu nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra hình ảnh Quan Công trong văn hóa Việt Nam, như bài viết “Tín ngưỡng thờ Quan Công ở Nam Bộ” của Dương Hoàng Lộc, “Lược khảo về nguồn gốc tín ngưỡng thờ Quan Công” của Nguyễn Thái Hòa, và “Nghiên cứu về Quan Công trong văn hóa Việt Nam” của Nguyễn Ngọc Thơ Những tác phẩm này khẳng định Quan Công không chỉ là một nhân vật lịch sử mà còn là biểu tượng văn hóa, được dân gian thần thánh hóa, nơi mà người dân gửi gắm niềm tin và cầu nguyện.

Các nghiên cứu về Quan Công và tín ngưỡng thờ Quan Công chưa đi sâu vào việc so sánh giữa văn hóa Trung Hoa và Việt Nam, chủ yếu tập trung vào phân tích hình tượng và tinh thần của Quan Công một cách đơn lẻ Do đó, chúng tôi chọn đề tài này như một hướng nghiên cứu mới, nhằm làm rõ mối tương quan giữa tín ngưỡng Quan Công trong hai nền văn hóa hiện nay.

Ph ạm vi nghiên cứu

• Ph ạm vi không gian

Luận văn nghiên cứu tín ngưỡng Quan Công tại khu vực Đông Nam Trung Hoa, đặc biệt là ở Hoa Nam, nơi có truyền thống văn hóa gần gũi với Việt Nam Hai tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến là nơi có số lượng di dân và định cư đông đảo nhất tại Nam Bộ Việt Nam.

Việt Nam, đặc biệt là khu vực Nam Bộ, là nơi diễn ra giao lưu văn hóa phong phú nhất và có đông đảo cộng đồng người Việt gốc Hoa sinh sống và làm việc.

• Ph ạm vi thời gian

Chúng tôi chọn phương pháp so sánh lịch đại, tập trung vào thời kỳ các triều đại Minh - Thanh và sự phát triển của tục thờ Quan Công, bắt nguồn từ thời kỳ Nam Bắc triều (cuối thế kỷ IV đến cuối thế kỷ VI), khi tục thờ này trở nên phổ biến và lan rộng đến Việt Nam.

Tín ngưỡng thờ Quan Công đã tồn tại hàng ngàn năm ở Trung Hoa và Việt Nam Trong bài viết này, chúng tôi không đi sâu vào từng triều đại hay giai đoạn cụ thể, mà sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về quá trình hình thành và phát triển của tín ngưỡng này Chúng tôi sẽ tập trung vào hai mốc thời gian chính: xã hội truyền thống (thời tiền hiện đại) và xã hội hiện đại (ngày nay) Mục tiêu là giúp người đọc hiểu rõ đặc trưng văn hóa tín ngưỡng thời Quan Công và nhận thấy sự thay đổi của tín ngưỡng này qua các thời kỳ.

• Ph ạm vi tư liệu nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi sẽ sử dụng ba nguồn tư liệu chính để cung cấp dẫn chứng thực tế, bao gồm kết quả khảo sát và phỏng vấn trực tiếp tại các đình, đền, miếu, chùa thờ Quan Công, cùng với đại diện từ một số gia đình ở Nam Bộ Việt Nam, cụ thể là tại Cần Thơ, Thành phố Hồ Chí Minh và Biên Hòa.

– Đồng Nai v.v.) và từ nguồn các trang mạng quan phương với phạm vi không gian như đã giới hạn ở trên

5 Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài, chúng tôi lựa chọn các phương pháp nghiên cứu sau:

• Phương pháp khảo sát điền dã

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực tế và phỏng vấn một số đền, miếu

Quan Công ở vùng Hoa Nam Trung Hoa (chủ yếu ở hai tỉnh Quảng Đông,

Bài phỏng vấn tập trung vào tín ngưỡng Quan Công tại Phúc Kiến và một số tỉnh Nam Bộ Việt Nam như Tp Hồ Chí Minh, Bình Dương, Biên Hòa, Cần Thơ Nội dung bao gồm các câu hỏi về đức tin, phương thức thờ cúng, cơ sở thờ tự, hoạt động nghi lễ và ý nghĩa xã hội của tục thờ Quan Công.

• Phương pháp tổng hợp, thu thập và phân tích tài liệu (định tính)

Chúng tôi đã tổng hợp và biên tập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau như khảo sát, phỏng vấn thực tế, sách chuyên khảo tại thư viện và nhà sách, cũng như các trang mạng quan phương, cả tiếng Trung và tiếng nước ngoài, để chọn lọc những tài liệu có giá trị và định hướng cho quá trình hoàn thành luận văn.

• Phương pháp so sánh, đối chiếu

Chúng tôi áp dụng phương pháp so sánh và đối chiếu từ góc độ văn hóa để phân tích tín ngưỡng Quan Công tại Việt Nam và Trung Quốc Mục tiêu là tìm ra sự tương đồng và khác biệt trong tín ngưỡng thờ Quan Công của hai quốc gia, từ đó làm nổi bật bản sắc văn hóa dân tộc Bên cạnh đó, chúng tôi kế thừa tư liệu từ các ngành như Dân tộc học, Địa lý, Lịch sử và Văn học để làm phong phú thêm kiến thức và mở rộng nghiên cứu về đối tượng này.

B ố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và Tổng quan tín ngưỡng truyền thống Trung

Chương này giới thiệu các khái niệm và lý thuyết cơ bản về tín ngưỡng thờ Quan Công, cùng với lịch sử hình thành và phát triển của nó, nhằm làm nền tảng cho việc nghiên cứu hiện trạng tục thờ này.

Trung Hoa, Việt Nam và tiến tới phân tích so sánh ở chương 4

Chương 2: Tín ngưỡng Quan Công trong văn hóa vùng Hoa Nam Trung

Bài viết tập trung vào việc miêu tả và phân tích tín ngưỡng thờ Quan Công ở Hoa Nam, đồng thời so sánh với nền văn hóa Trung Hoa tại vùng Hoa Bắc.

Chương 3: Tín ngưỡng Quan Công trong văn hóa Nam Bộ Việt Nam nghiên cứu quá trình lan tỏa và tiếp nhận tục thờ Quan Công của người Việt, cùng với sự di cư của người Hoa Bài viết cũng phân tích hiện trạng tồn tại của tục thờ này trong văn hóa Nam Bộ Việt Nam, phản ánh những thăng trầm của lịch sử.

Chương 4: Sự tương đồng và khác biệt của tín ngưỡng Quan Công trong văn hóa Hoa Nam Trung Hoa và Nam Bộ Việt Nam

Dựa trên nội dung các chương trước, bài viết sẽ sử dụng các dữ liệu hiện có và áp dụng lý thuyết cấu trúc, chức năng để phân tích và so sánh đặc điểm văn hóa tín ngưỡng thờ Quan Công giữa hai nền văn hóa khác nhau Qua đó, chúng tôi sẽ rút ra các đặc trưng tiêu biểu của tục thờ này trong từng nền văn hóa.

Các khái ni ệm cơ bản

1.1.1 Tín ngưỡng và tín ngưỡng dân gian

• Tín ngưỡng và tôn giáo

Tín ngưỡng là một vấn đề quan trọng trong văn hóa học, đã thu hút sự chú ý của nhiều học giả Các tác giả như Phan Kế Bính trong "Việt Nam phong tục" (2005) và Toan Ánh đều đưa ra những quan điểm khác nhau về tín ngưỡng, coi đây là hình thức thờ cúng dân gian Tín ngưỡng được thể hiện qua các nghi lễ, lễ hội, và phong tục truyền thống của dân tộc Việt Nam.

Tín ngưỡng, theo từ điển Hán-Việt của Đào Duy Anh, được định nghĩa là lòng ngưỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hay chủ nghĩa nào đó Theo Pháp lệnh về tín ngưỡng tôn giáo của Nhà nước Việt Nam, tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, thờ cúng thần thánh và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác, phản ánh những giá trị lịch sử, văn hóa và đạo đức xã hội Tuy nhiên, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về sự phân biệt giữa "tôn giáo" và "tín ngưỡng" Một số quan niệm đồng nhất hai khái niệm này, trong khi những quan điểm khác chỉ ra sự khác biệt mà chưa làm rõ Chủ nghĩa Mác-Lênin coi tín ngưỡng và tôn giáo là hình thái ý thức xã hội phản ánh một cách hoang đường hiện thực khách quan, trong khi một số nhà thần học xem chúng là niềm tin vào cái thiêng, chứa đựng yếu tố siêu nhiên có sức mạnh cứu giúp con người khỏi khổ đau và mang lại hạnh phúc.

Trong luận văn này chúng tôi nhận thức rằng việc “thờ Quan Công” là một dạng thức tín ngưỡng cộng đồng, cũng tương tự như tín ngưỡng thờ Mẫu,

Thành Hoàng làng, thờ Bà Chúa Kho, thờ Bà Chúa Xứ v.v vậy

Tín ngưỡng thường được nhấn mạnh với tính “dân gian” và “cộng đồng làng xã”, đây là đặc trưng quan trọng của tín ngưỡng Trong khi đó, tôn giáo thường không mang tính dân gian, mà chỉ có thể là sự biến dạng của “dân gian hóa”.

Tác giả Nguyễn Tri Nguyên (2008) trong bài viết “Bản chất và đặc trưng tín ngưỡng dân gian trong lễ hội cổ truyền Việt Nam” cho rằng tín ngưỡng dân gian là bản chất của tín ngưỡng trước khi trở thành tôn giáo sơ khai hay tôn giáo dân gian Ông cũng đồng tình với nhiều học giả khác khi chia tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam thành bốn nhóm khác nhau.

Nhóm 1: Thờ cúng tổ tiên (Gia tộc, dòng họ, quốc gia), Tô tem giáo…

Nhóm 2: Tín ngưỡng cá nhân (vòng đời người): Thờ cúng bà Mụ (sinh đẻ); Thờ ông Tơ, bà Nguyệt (cưới xin); Thờ thần bản mệnh; Tang ma và thờ cúng người chết…

Nhóm 3: Tín ngưỡng nghề nghiệp: Tín ngưỡng nông nghiệp; Thờ thánh sư (tổ nghề); Thờ Thần tài (nghề buôn); Thờ Cá Ông (ngư dân)…

Nhóm 4: Tín ngưỡng thờ Thần (đạo thờ Thần): Thành hoàng làng; Đạo

Mẫu; Thờ các anh hùng dân tộc; Thờ Thổ thần (thổ công - thổ thần); Sơn thần, Thủy thần…

Theo các phân loại như trên thì có thể tạm xếp tín ngưỡng thờ Quan Công vào nhóm “Tín ngưỡng thờ Thần” – một dạng thức tín ngưỡng cộng đồng

1.1.2 Văn hóa và các khái niệm liên quan

1.1.2.1 Khái ni ệm văn hóa và chức năng của văn hóa a Khái ni ệm văn hóa

"Văn hóa" xuất phát từ từ Latinh "kultura" và có nhiều biến thể trong các ngôn ngữ như Đức, Anh, Pháp Trong tiếng Trung, văn hóa được hiểu là giá trị và quá trình biến mọi thực hành của con người thành những giá trị có ý nghĩa Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chung nhất về "văn hóa".

Quan Công là biểu tượng của các giá trị văn hóa, và để hiểu rõ hơn về khái niệm này, chúng ta cần xem xét các định nghĩa về văn hóa Tác giả Trần Ngọc Thêm (2000) định nghĩa văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội Trong khi đó, nhà nghiên cứu Phan Ngọc (2015) nhấn mạnh rằng văn hóa cần được định nghĩa qua việc bình luận và lập luận về bản chất của nó, không chỉ dừng lại ở những khái niệm chung chung Ông cho rằng văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong tâm trí cá nhân hoặc tộc người với thế giới thực tại, được mô hình hóa theo cách riêng Từ đó, chúng ta có thể hiểu văn hóa như một hệ thống các giá trị và quá trình tạo ra các giá trị nhằm phục vụ sự tiến bộ của nhân loại.

• Ch ức năng của văn hóa:

Mỗi nhà nghiên cứu văn hóa có những định nghĩa và quan điểm riêng về văn hóa, tùy thuộc vào mục đích và góc độ nghiên cứu Tuy nhiên, nếu xem văn hóa như một tổng thể của nhiều hoạt động đa dạng nhằm sản xuất và sáng tạo các sản phẩm văn hóa, thì văn hóa có bốn chức năng chính.

Văn hóa thực hiện chức năng giáo dục thông qua các hoạt động và sản phẩm của mình, tác động đến sự phát triển tinh thần và thể chất của con người Nó không chỉ dựa vào các giá trị truyền thống mà còn cả những giá trị đang hình thành, tạo thành hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới Nhờ đó, văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách và "trồng người", góp phần vào sự phát triển liên tục của lịch sử mỗi dân tộc và nhân loại Văn hóa cũng duy trì và phát triển bản sắc dân tộc, là cầu nối hữu nghị giữa các dân tộc và gắn kết các thế hệ trong mục tiêu hướng đến Chân - Thiện - Mỹ.

Chức năng nhận thức là một yếu tố quan trọng trong văn hóa, vì không có nhận thức, con người sẽ không thể thực hiện bất kỳ hành động văn hóa nào Quá trình nhận thức này diễn ra thông qua các đặc thù và đặc trưng của văn hóa.

Chức năng thẩm mỹ của văn hóa phản ánh nhu cầu con người không chỉ trong việc hiểu biết mà còn trong việc thưởng thức cái đẹp Văn hóa, như một sản phẩm sáng tạo của con người, thể hiện rõ nhất qua văn học nghệ thuật Qua việc tiếp nhận văn hóa, con người có khả năng tự thanh lọc bản thân, hướng tới cái đẹp và khắc phục những điều xấu xa trong chính mình.

Chức năng giải trí đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống, bên cạnh lao động và sáng tạo Các hoạt động văn hóa như câu lạc bộ, bảo tàng, lễ hội và ca nhạc đáp ứng nhu cầu giải trí của con người Sự tham gia vào các hoạt động văn hóa không chỉ cần thiết mà còn giúp nâng cao hiệu quả lao động sáng tạo và phát triển toàn diện hơn.

Theo cấu trúc chức năng của B Malinowski, chức năng giải trí thuộc nhóm chức năng sinh học, trong khi ba chức năng còn lại (giáo dục, nhận thức và thẩm mỹ) thuộc phạm trù chức năng xã hội Nghiên cứu của chúng tôi xem xét chức năng (giá trị) cái thiêng trong mối quan hệ biện chứng giữa giá trị thế tục xã hội và giá trị thiêng trong đời sống tâm linh, theo Durkheim, trong đó giá trị thế tục xã hội quyết định ý nghĩa và sự tồn tại của tín ngưỡng thờ.

Quan Công trong khi giá trị thiêng giúp đảm bảo giá trị thế tục xã hội được triển khai hiệu quả trên thực tế b Giao lưu văn hóa

Thuật ngữ “giao lưu văn hóa” được áp dụng phổ biến trong các lĩnh vực khoa học xã hội như dân tộc học, xã hội học và văn hóa học.

Giao lưu văn hóa được định nghĩa là sự trao đổi qua lại giữa các cộng đồng dân tộc và quốc gia, bao gồm việc tiếp xúc và ảnh hưởng lẫn nhau Đây là quá trình hai chiều, trong đó các sản phẩm văn hóa được chia sẻ, học hỏi và bổ sung cho nhau, nhằm làm phong phú thêm văn hóa của mỗi bên.

Hướng tiếp cận nghiên cứu

1.2.1 Ti ếp cận địa - văn hóa

Khu vực học, được hình thành từ thế kỷ XIX ở châu Âu, đã phát triển mạnh mẽ thành một lĩnh vực khoa học quan trọng trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ II.

Mỹ, châu Âu, rồi phát triển sang nhiều nước khác, kể cả ở châu Á như Nhật

Bản, Hàn Quốc, Trung Hoa, Singapore, Thái Lan v.v

Khu vực học là một lĩnh vực khoa học liên ngành nghiên cứu các vùng lãnh thổ ngoài biên giới quốc gia, tập trung vào các khía cạnh xã hội, kinh tế, chính trị và văn hóa liên quan đến không gian địa lý Mục tiêu của nó là nâng cao nhận thức về sự đa dạng của thế giới và phục vụ lợi ích chung.

Thuật ngữ địa - văn hóa đề cập đến việc nghiên cứu văn hóa qua lăng kính địa lý và khu vực, nhấn mạnh tầm quan trọng của "phạm vi không gian" trong việc hiểu biết về các hiện tượng văn hóa.

Văn hóa không thể hình thành từ một cá nhân hay một nhóm nhỏ, mà cần sự đóng góp của các nhóm người có nhiều điểm tương đồng về tập quán, tư duy và phương thức sản xuất, cùng sống trong một khu vực địa lý nhất định Việc nghiên cứu sự khác biệt và tương đồng trong tín ngưỡng Quan Công giữa các quốc gia sẽ gặp khó khăn nếu khoảng cách địa lý quá lớn và bản sắc văn hóa không tương đồng, như giữa tín ngưỡng Quan Công ở Trung Hoa và Hoa Kỳ Ngược lại, tín ngưỡng Quan Công ở Trung Hoa, Hàn Quốc và Việt Nam lại có nhiều điểm chung đáng chú ý.

Nhật Bản phải được đặt trong góc nhìn vùng văn hóa – góc nhìn khu vực khi tiếp cận bản chất và đặc trưng

Trong gần hai thập niên qua, nghiên cứu khu vực học tại Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, không chỉ trong các ngành khoa học xã hội như văn hóa học, dân tộc học, xã hội học mà còn trong các lĩnh vực tự nhiên Việc đặt đối tượng nghiên cứu trong tương quan khu vực địa lý và văn hóa đã giúp các nhà nghiên cứu "khoanh vùng" và định vị rõ nét hướng nghiên cứu, từ đó nâng cao độ chính xác và rõ ràng của kết quả nghiên cứu.

1.2 2 Ti ếp cận khu vực lịch sử - văn hóa

Nếu đặt đối tượng nghiên cứu trong góc nhìn địa - văn hóa nhấn mạnh về

Nghiên cứu "không gian văn hóa" từ góc nhìn lịch sử - văn hóa giúp chúng ta hiểu rõ mối quan hệ giữa văn hóa và thời gian, theo một trật tự tuyến tính của các giai đoạn lịch sử Không gian địa lý cho phép nhận diện phong tục, tập quán và phương thức tư duy của các tộc người sống trên cùng một lãnh thổ Hoa Nam Trung Hoa và Nam Bộ Việt Nam là những vùng văn hóa tiêu biểu, trong khi Đông Á và Đông Nam Á lại là các khu vực lịch sử - văn hóa riêng biệt Tục thờ Quan Công là cầu nối giữa hai khu vực này, và bối cảnh lịch sử văn hóa của giao lưu văn hóa Việt – Trung cũng như bối cảnh đặc thù ở Nam Bộ Việt Nam cần được khảo cứu để hiểu rõ quy luật của tín ngưỡng Quan Công.

1.2 3 Ti ếp cận dưới góc độ giao lưu tiếp biến văn hóa

Tiếp biến văn hóa là quá trình chọn lọc và điều chỉnh các yếu tố văn hóa ngoại lai để phù hợp với văn hóa bản địa Giao lưu văn hóa diễn ra giữa ít nhất hai nền văn hóa, nhằm tạo ra mối quan hệ trao đổi có lợi, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau Qua đó, những nhu cầu mới được hình thành, thúc đẩy sự phát triển của văn hóa song phương Nói cách khác, giao lưu văn hóa là sự cộng sinh giữa các nền văn hóa, dựa trên việc kế thừa và phát huy những điểm tương đồng, đồng thời cải biến để phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc.

Sự giao lưu tiếp biến văn hóa diễn ra qua hai con đường: tự nguyện và cưỡng bức Con đường tự nguyện bao gồm các hoạt động như buôn bán, du lịch, và trao đổi văn hóa, trong khi con đường cưỡng bức thường xảy ra sau chiến tranh, khi nước thua trận phải tiếp nhận văn hóa của nước thắng Tuy nhiên, việc xác định tính chất tự nguyện hay cưỡng bức là khó khăn, vì mỗi quốc gia có bản sắc văn hóa riêng, và sự thay đổi văn hóa không phải là điều đơn giản Cưỡng bức văn hóa thường không mang lại kết quả tích cực.

Thuyết này cho rằng sự phân bổ văn hóa không đồng đều, với văn hóa tập trung ở một số khu vực và dần lan ra các khu vực lân cận Càng xa trung tâm, ảnh hưởng của văn hóa gốc càng giảm, cho đến khi mất hẳn Điều này dẫn đến sự hình thành các vùng giao thoa văn hóa, nơi chịu ảnh hưởng từ nhiều trung tâm văn hóa khác nhau, cũng như các vùng tối, nơi mà sức lan tỏa không tới được.

Thuyết lan tỏa văn hóa giải thích sự tương đồng văn hóa trong cùng một khu vực địa lý và sự tồn tại của các nền văn hóa hỗn dung ở những khu vực giáp ranh giữa các nền văn hóa lớn Ví dụ, văn hóa các dân tộc thiểu số ở phía Nam Trung Hoa như Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông có sự giao thoa với các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam Khi nghiên cứu khuyếch tán và giao lưu văn hóa, vai trò năng động và sáng tạo của cộng đồng tiếp nhận là yếu tố quan trọng trong việc xác định bản sắc văn hóa qua lịch sử.

Nghiên cứu tín ngưỡng dân gian trong ngành văn hóa học từ góc nhìn giao lưu và tiếp biến văn hóa giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tiến trình phát triển của một nền văn hóa sau khi tiếp nhận các yếu tố từ các nền văn hóa khác.

1.2.4 Ti ếp cận chức năng

Sự phát triển của lý thuyết khoa học xã hội giúp chúng ta hiểu rõ hơn về các hiện tượng xã hội một cách khách quan Mỗi lý thuyết được áp dụng trong các ngành khoa học xã hội và đời sống cho phép chúng ta giải thích các vấn đề xã hội và nhận diện cách thức vận hành của chúng từ nhiều góc độ khác nhau.

Tín ngưỡng và tôn giáo, mặc dù xuất phát từ những ước vọng xã hội ban đầu, đã được định chế hóa và thống nhất giá trị theo những khuôn khổ nhất định, dẫn đến việc che khuất một phần ước vọng xã hội nguyên thủy Khác với tôn giáo, tín ngưỡng dân gian không có quy định chặt chẽ và được thực hiện theo cách riêng của từng cộng đồng, phản ánh nhận thức và tâm lý của họ Do đó, giá trị và chức năng của tín ngưỡng rất phong phú, bao gồm chức năng nhận thức, định hướng đánh giá, xác định chuẩn mực ứng xử, giao tiếp, đảm bảo tính kế tục lịch sử, thẩm mỹ, dự báo và giải trí, trong đó nổi bật nhất là chức năng giáo dục.

Mỗi hiện tượng văn hóa và hoạt động xã hội đều có nội dung và chức năng riêng, liên quan chặt chẽ với nhau Các nhà chức năng luận cho rằng mỗi nền văn hóa đều có giá trị riêng, và mọi sự so sánh chỉ là tương đối Để hiểu cách thức hoạt động của một xã hội, nhà nghiên cứu cần tìm hiểu ảnh hưởng của phong tục và thực hành đối với các thể chế và cấu trúc, cũng như ngược lại Nghiên cứu chức năng của một thể chế giúp xác định vai trò của nó trong tương quan với các thể chế và yếu tố văn hóa khác Từ góc nhìn chức năng luận, chúng ta nhận thấy giá trị và tác dụng của nền văn hóa đối với bản thân và đất nước Nếu không có thuyết chức năng, chúng ta có thể chỉ thấy những hạn chế và khía cạnh tiêu cực trong xã hội Thuyết chức năng cho thấy xã hội hoạt động như một cỗ máy, mặc dù đôi khi có những hỏng hóc cần được sửa chữa.

Tổng quan tín ngưỡng truyền thống ở Trung Hoa và Việt Nam

Tín ngưỡng truyền thống Trung Hoa vẫn giữ nhiều yếu tố của tín ngưỡng nguyên thủy, đặc biệt là niềm tin vào thuyết vạn vật hữu linh, cho thấy sự coi trọng của người Trung Hoa đối với các "linh vật" và tín ngưỡng sùng bái đa thần Họ không chỉ sùng bái tự nhiên mà còn tôn thờ tổ tiên và các vị thần của từng ngành nghề, tương tự như ở Việt Nam Các nhà nghiên cứu văn hóa nhận định rằng điều này phản ánh sự đa dạng trong văn hóa tín ngưỡng dân gian của Trung Hoa Phân loại tín ngưỡng được tổng hợp từ các công trình của Trần Thúc Hà, Lý Tuấn Lĩnh, Trần Quế Bính và Lưu Đạo Siêu.

• Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên ( 自然崇拜 )

Sùng bái tự nhiên là tín ngưỡng của con người đối với các hiện tượng và sự vật tự nhiên có liên quan mật thiết đến đời sống Đây là một trong những tín ngưỡng dân gian lâu đời và phổ biến nhất trong xã hội Trung Hoa truyền thống, bao gồm nhiều hình thức khác nhau.

Sùng bái thiên thể: Thần Trời; Thần Đất; Thần Mặt Trời; Thần Mặt

Sùng bái thiên tượng: Thần Gió; Thần Chớp; Thần Mây; Thần Cầu

Sùng bái vật tự nhiên: Thần Lửa; Thần Nước; Thần Núi; Thần Đá

Sùng bái động-thực vật: Chim; thú; côn trùng; cá v.v.; cây ngũ cốc; cỏ hoa

• Tín ngưỡng sùng bái vật tổ ( 图腾崇拜 )

Sùng bái vật tổ là một tín ngưỡng cổ xưa, phát triển từ tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, đặc biệt là thờ động - thực vật Là tín ngưỡng nguyên thủy, sùng bái vật tổ tồn tại trong giai đoạn đầu phát triển của nhiều dân tộc trên thế giới, mặc dù có sự khác biệt về tiêu chí phân loại và ý nghĩa Tín ngưỡng này có những đặc điểm nổi bật riêng.

(1) Đối tượng sùng bái chủ yếu là các loài động vật, một số ít là thực vật

Các thị tộc theo tín ngưỡng sùng bái vật tổ tin rằng có một mối quan hệ huyết thống đặc biệt giữa họ và vật tổ được tôn thờ.

Tất cả thành viên trong thị tộc đều có trách nhiệm thờ cúng vật tổ Nếu vô tình làm hại vật tổ, họ phải thực hiện lễ xin lỗi; nếu không, sẽ phải chịu hình phạt nghiêm khắc.

Vật tổ không chỉ là biểu tượng mà còn là thần hộ mệnh cho thị tộc, do đó, các thành viên trong thị tộc cần tuân thủ những nguyên tắc kiêng kỵ khi thờ cúng vật tổ.

(5) Những người trong thị tộc cùng sùng bái chung một vật tổ thì không được kết hôn với nhau

Tên gọi của thị tộc thường dựa trên tên của các vật tổ, và theo thời gian, chúng đã trở thành họ chung cho các thành viên trong thị tộc Nghiên cứu đã chỉ ra rằng một số họ tiêu biểu bao gồm Mã, Ngưu, Mai, Lý, Diệp, Lâm và Long.

Phong v.v của Trung Hoa đều là những dấu tích của tín ngưỡng sùng bái vật tổ thời nguyên thủy [34]

Mỗi dân tộc đều có những câu chuyện thần thoại truyền đời về vật tổ của mình, phản ánh quá trình hình thành và phát triển của dân tộc đó Những thần thoại này không chỉ khám phá ý nghĩa của các nghi lễ cúng tế mà còn đề cập đến những kiêng kỵ trong việc sùng bái vật tổ.

Những câu chuyện thần thoại trong văn tự Hán cổ phản ánh tín ngưỡng sùng bái vật tổ lâu đời, không chỉ của dân tộc Hán mà còn của các dân tộc thiểu số khác như Nộ và Lahu Tín ngưỡng này xuất hiện trong giai đoạn xã hội thị tộc, một trong những hình thức xã hội cổ xưa nhất Nghiên cứu tín ngưỡng sùng bái vật tổ giúp hiểu rõ giá trị và nguồn gốc của các tín ngưỡng dân gian.

• Tín ngưỡng sùng bái thần linh ( 神灵崇拜 )

Tín ngưỡng sùng bái thần linh của người Trung Hoa rất đa dạng và phong phú, tương tự như người Việt Họ tin rằng linh hồn tồn tại và sau khi chết, con người sẽ nhận hình phạt hoặc khen thưởng dựa trên hành động và công đức trong kiếp hiện tại Mỗi vị thần linh có chức năng riêng biệt, phản ánh nhu cầu đa dạng của con người, do đó, người Trung Hoa tích cực thờ phụng nhiều thần linh để cầu mong sự hỗ trợ Điều này thể hiện rõ trong sinh hoạt cộng đồng như thờ tổ tiên và các vị anh hùng dân tộc, cũng như trong sinh hoạt gia đình hàng ngày với việc thờ thần bếp và thần Thổ Công Trong số các thần linh phong phú của người Trung Hoa, có nhiều thể loại khác nhau.

Thiên thần: Thiên Địa phụ mẫu, Thái Bạch Tinh Quân, Ngọc Hoàng

Nhân thần: Quan Công, Thiên Hậu, Bảo Sanh Đại đế v.v

Thủy hải thần: Thiên Hậu, Thuỷ mẫu, Long mẫu nương nương, Long vương v.v

Thần ở âm giới: Thập Điện Diêm Vương, Địa Tạng vương v.v

Thần động vật: Hổ, Rồng, Ngựa, Cá v.v

Thần thực vật: Cây cối, hoa cỏ v.v

Thần đá: Thái Sơn, Thạch Cảm Đương v.v

Thần hộ mệnh: Kim Huê nương nương, Lâm Thủy phu nhân, Cửu

Thiên Huyền Nữ, Quan Thế âm v.v

Thần may mắn: Phúc, lộc, thọ; Thần tài; Hoa công Hoa bà

Thần Nông (nghề nông), Hoa Đà (nghề thuốc), Lỗ Ban (nghề mộc); Huê Quang đại đế, Hỏa Đức Tinh quân (nghề kim hoàn) v.v

Người Trung Hoa cổ xưa sở hữu một đời sống văn hóa tín ngưỡng phong phú, cung cấp những nguồn tư liệu quý giá cho các học giả trong việc nghiên cứu tôn giáo và tín ngưỡng sau này.

1.3.2 Tổng quan tín ngưỡng truyền thống ở Việt Nam

Tín ngưỡng truyền thống Việt Nam, hay còn gọi là tín ngưỡng dân gian

Việt Nam, là tín ngưỡng bản địa của các dân tộc đang cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam [8]

1.3.2.1 Đặc trưng tổng quát của tín ngưỡng dân gian Việt Nam

Tín ngưỡng Việt Nam, như các khía cạnh khác của văn hóa, phản ánh những đặc trưng tiêu biểu của văn hóa nông nghiệp.

• Tôn trọng và gắn bó mật thiết với thiên nhiên: Thể hiện ở trọng tâm tín ngưỡng sùng bái tự nhiên

• Hài hòa âm dương: Thể hiện ở các đối tượng thờ cúng: Trời-Đất, Tiên

- Rồng, Ông Đồng - Bà Cốt, hài hòa nam thần – nữ thần v.v

Vai trò của phụ nữ được đề cao qua việc thờ cúng nhiều nữ thần, như các Mẫu Tam phủ (Bà Trời, Đất, Nước) và Mẫu Tứ pháp (thờ các mẫu thần cai quản hiện tượng mây, mưa, sấm, chớp).

• Tính hỗn dung: Tính hỗn dung vừa là nội dung chủ đạo, vừa là đặc điểm nổi bật nhất trong hệ thống tín ngưỡng dân gian Việt Nam

Việt Nam, nằm ở trung tâm khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, sở hữu thiên nhiên phong phú và đa dạng Trong quá khứ, người Việt chủ yếu sống dựa vào việc khai thác tài nguyên tự nhiên, dẫn đến việc thờ cúng các vị thần tự nhiên trở thành một phần quan trọng trong văn hóa Hơn nữa, Việt Nam là nơi giao thoa của nhiều tộc người và nền văn minh khác nhau, tạo nên sự phong phú trong bản sắc văn hóa.

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo với sự hiện diện của nhiều vị thần, thể hiện tính đa thần phong phú trong tâm thức người Việt Đặc điểm nổi bật trong đời sống tín ngưỡng của người Việt là sự hỗn dung tôn giáo, nơi các tín ngưỡng và thần thánh cùng tồn tại và hòa quyện.

Ngày đăng: 04/07/2023, 06:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Phan Huy Lê (2011), Quá trình hình thành và phát tri ển vùng đất Nam B ộ , Đề án KHXH Cấp Nhà nước, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam,tr.20-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình hình thành và phát tri ển vùng đất Nam B ộ
Tác giả: Phan Huy Lê
Nhà XB: Đề án KHXH Cấp Nhà nước
Năm: 2011
16. Nguy ễn Thanh Lợi (2014), Tr ịnh Hoài Đức với Gia Định thành thông chí (đăng ngày 23/05/2014) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tr ịnh Hoài Đức với Gia Định thành thông chí
Tác giả: Nguy ễn Thanh Lợi
Năm: 2014
17. Nguy ễn Ngọc Nguyên (2004), Tìm hi ểu hình tượng Quan Công trong văn hóa Trung Hoa , Khóa lu ận tốt nghiệp Khoa Đông phương học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu hình tượng Quan Công trong văn hóa Trung Hoa
Tác giả: Nguy ễn Ngọc Nguyên
Nhà XB: Khóa lu ận tốt nghiệp Khoa Đông phương học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2004
18. Nguy ễn Tri Nguyên (2004), B ản chất và đặc trưng tín ngưỡng dân gian trong l ễ hội cổ truyền Việt Nam ,T ạp chí di sản ,s ố7/2004.tr.7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất và đặc trưng tín ngưỡng dân gian trong lễ hội cổ truyền Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tri Nguyên
Nhà XB: Tạp chí di sản
Năm: 2004
19. Phan Ng ọc (2015), B ản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn học.tr.31,tr.123 20. Nguy ễn Vinh Phúc, Nguyễn Duy Hinh (2004), Th ần tích Hà Nội và tínngưỡng thị dân, Nxb Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: B ản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Phan Ng ọc
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2015
21. Lê Văn Sao (2016), Tín ngưỡng Quan Thánh Đế Quân trong cộng đồng người Hoa tỉnh Trà Vinh , Lu ận văn thạc sỹ Văn hóa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng Quan Thánh Đế Quân trong cộng đồng người Hoa tỉnh Trà Vinh
Tác giả: Lê Văn Sao
Nhà XB: Luận văn thạc sỹ Văn hóa học
Năm: 2016
22. Nguy ễn Hoàng Thân (2013), Nghiên c ứu “Bi Lâm” Quan Thánh ở miếu H ội An, T ạp chí Phát tri ển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng , tr.62-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu “Bi Lâm” Quan Thánh ở miếu Hội An
Tác giả: Nguyễn Hoàng Thân
Nhà XB: Tạp chí Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng
Năm: 2013
23. Tr ần Ngọc Thêm (2005), Cơ sở văn hóa Việt Nam , Nxb Giáo d ục. tr.10,tr.86-126 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
24. Tr ần Ngọc Thêm (1999/2004), Tìm v ề bản sắc văn hóa Việt Nam , Nxb Văn hóa Thông tin. tr.268-314 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1999/2004
25. Ngô Đức Thịnh (2012), Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam , Nxb Tr ẻ.tr.21-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2012
26. Ngô Đức Thịnh (1984), Giao ti ếp văn hóa và vai trò của nó đối với quy lu ật đổi mới cái “truyền thống”,trong văn hóa các dân tộc Việt Nam và Đông Nam Á ,T ạp chí Dân t ộc học ,tr.39-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao ti ếp văn hóa và vai trò của nó đối với quy lu ật đổi mới cái “truyền thống”,trong văn hóa các dân tộc Việt Nam và Đông Nam Á
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: Tạp chí Dân tộc học
Năm: 1984
28. Nguy ễn Ngọc Thơ (2012), Nho giáo và tính cách văn hóa Việt Nam , China and the world, Social Sciences Publishing House, Beijing, China Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và tính cách văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguy ễn Ngọc Thơ
Nhà XB: Social Sciences Publishing House
Năm: 2012
29. Nguy ễn Ngọc Thơ (2012), Tín ngưỡng Thiên Hậu tại Nam Bộ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng Thiên Hậu tại Nam Bộ Việt Nam
Tác giả: Nguy ễn Ngọc Thơ
Năm: 2012
30. Nguy ễn Ngọc Thơ, Trịnh Xuân Tuyết (2014), Tín ngưỡng Thiên Hậu tại Nam B ộ Việt Nam , Di s ản lịch sử và xã hội đương đại , Nxb. Tri Th ức và Vi ện Harvard-Yenching Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng Thiên Hậu tại Nam Bộ Việt Nam
Tác giả: Nguy ễn Ngọc Thơ, Trịnh Xuân Tuyết
Nhà XB: Nxb. Tri Thức
Năm: 2014
31. Nguy ễn Ngọc Thơ (2014), Trung và nghĩa trong văn hóa Việt Nam – điển cứu hình tượng Quan Công , Giáo d ục và truyền thông với văn hóa dân gian Đông Nam Bộ , Nxb Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung và nghĩa trong văn hóa Việt Nam – điển cứu hình tượng Quan Công
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thơ
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
Năm: 2014
32. Nguy ễn Cẩm Thúy (2000), Định cư của người Hán trên đất Nam bộ từ th ế kỷ XVII đến 1945 , Hà N ội, Nxb Khoa học Xã hội.tr.57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định cư của người Hán trên đất Nam bộ từ thế kỷ XVII đến 1945
Tác giả: Nguyễn Cẩm Thúy
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2000
33. Trần Quốc Vượng 1997/2009,Cơ sơ văn hóa Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.tr.51-52,tr.100.Tài li ệu tiếng Trung Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sơ văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Quốc Vượng
Nhà XB: Nxb. Giáo dục, Hà Nội
Năm: 1997/2009
34. 姬中贵: 《姓氏大多是图腾遗留,但姓氏图腾是现代艺术创作》。 ( Cơ Trung Quý: Đại bộ phận họ tên là Totem để lại, tuy nhiên họ tên bắt ngu ồn từ Totem là sáng tạo của nghệ thuật hiện đại) Sách, tạp chí
Tiêu đề: 姓氏大多是图腾遗留,但姓氏图腾是现代艺术创作
Tác giả: 姬中贵, Cơ Trung Quý
38. 刘道超 (2012), 《中国民间信仰之性质、结构与特征理论探析》,广 西示范学院学报,社会科学出版(04)。 (Lưu Đạo Siêu (2012), Nghiên c ứu lý lu ận về tính chất, kết cấu và đặc trưng của tín ngưỡng dân gian Trung Qu ốc ,T ạp chí Học viện sư phạm Quảng Tây , Nxb Khoa h ọc Xã hội Triết h ọc, kỳ 04) Sách, tạp chí
Tiêu đề: 中国民间信仰之性质、结构与特征理论探析
Tác giả: 刘道超
Nhà XB: 广 西示范学院学报
Năm: 2012
44. 梅铮铮 (2010), 《解码关公》,北京:中国民主法制出版社。 (Mai Tranh Tranh (2010), “Gi ải mã Quan Công” , Nxb Dân ch ủ Pháp chế Trung Qu ốc, Bắc Kinh) Sách, tạp chí
Tiêu đề: 解码关公
Tác giả: 梅铮铮
Nhà XB: 中国民主法制出版社
Năm: 2010

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm