Nghiên cứu đặc điểm văn hóa vùng châu thổ Bắc Bộ và việc khai thác những đặc điểm văn hóa này trong kinh doanh. Việt Nam ta vốn vẫn tự hào với một nền văn hóa lâu đời, đa dạng. Với sự ưu ái của mẹ thiên nhiên, cùng với những thuyền thuyết li kì như trong kho tàng cổ tích. Có thể nói, văn hóa nước ta là một nền văn hóa đẹp và ấn tượng. Thật may mắn cho chúng em rằng ở học kì này đã được tiếp xúc với bộ môn ‘cơ sở văn hóa Việt Nam’’. Nhờ có môn học này, vốn hiểu biết hạn hẹp của chúng em như đã được mở mang, khai sáng lên một cách đáng kể. Để chúng em hiểu được ngoài những tập tục quê hương, những văn hóa mắt thường chung em vẫn thường hay nhìn thấy còn có rất nhiều, rất nhiều những văn hóa lạ chưa từng một lần nghĩ đến.Và cũng qua môn học này, chúng em như nhìn thấy núi song quê hương bao la, tươi đẹp, trù phú và bí ẩn hơn rất nhiều. Và để rồi sau khi kết thúc học kì của môn học này, cũng như những cảm tình về vùng châu thổ bắc bộ mà chúng em quyết định lựa chọn đề tài thảo luận là: ‘Nghiên cứu đặc điểm văn hóa vùng châu thổ Bắc Bộ và việc khai thác những đặc điểm văn hóa này trong kinh doanh’’. Mặc dù đã cố gắng hết khả năng của mình nhưng do trình độ kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế, nên không tránh khỏi có những sơ sót. Em rất mong được sự nhận xét, đánh giá, đóng góp ý kiến của các thầy để bài tập này được hoàn thiện hơn. Chương 1: Giới thiệu về vùng châu thổ Bắc Bộ Bắc Bộ là cái nôi hình thành dân tộc Việt ; cũng là nơi sinh ra các nền văn hoá lớn; phát triển nối tiếp lẫn nhau: Văn hoá Đông Sơn; văn hoá Đại Việt và văn hoá Việt Nam. Từ trung tâm này; văn hoá Việt Nam truyền vào Trung Bộ rồi Nam Bộ. Sự lan truyền ấy; một mặt chứng tỏ sức sống mãnh liệt của văn hoá Việt; một mặt chứng tỏ sự sáng tạo của người dân Việt. Trong tư cách ấy; văn hoá vùng châu thổ Bắc Bộ có những nét đặc trưng của văn hoá Việt; nhưng lại có những nét riêng của vùng này. Ngoài ra văn hóa bắc bộ là sự giao hòa giữa thiên nhiên và con người, phát triển dựa trên sự kế thừa và phát huy bản sắc dân tộc kết hợp tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa khu vực và nhân loại 1.1.Đặc điểm môi trường tự nhiên và xã hội 1.1.1.Môi trường tự nhiên a.Về vị trí địa lý vùng nằm ở phía bắc đất nước, phía bắc giáp vùng văn hóa Việt Bắc , phía nam giáp vùng văn hóa Trung Bộ , phía tây giáp vùng văn hóa Tây Bắc phía đông giáp biển đông.Vùng châu thổ Bắc bộ là tâm điểm của con đường giao lưu quốc tế theo hai trục chính: tâyđông và bắcnam.Vị trí này là vị trí tiền đồ để nó tiến đến các vùng khác trong nước và đông nam á .Đây là vị trí thuận lợi để giao lưu và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. a. Về mặt địa hình b. Châu thổ Bắc Bộ là địa hình núi xen kẽ đồng bằng hoặc thung lũng, thấp và bằng phẳng, dốc thoải từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ độ cao 10 – 15m giảm dần đến độ cao mặt biển.Toàn vùng cũng như trong mỗi vùng , địa hình cao thấp không đều, tai vùng có địa hình cao vẫn có nơi thấp úng như Gia Lương(Bắc Ninh),có núi Thiên Thai nhưng vẫn là vùng trũng như Nam Định ,Hà Nam là vùng thấp nhưng vẫn có núi như Chương Sơn , núi Đọi… b.Về khí hậu Khí hậu bốn mùa với mỗi mùa tương đối rõ nét. Đồng bằng Bắc Bộ có một mùa đông thực sự với ba tháng có nhiệt độ trung bình dưới 18 độ, khiến vùng này cấy được vụ lúa ít hơn các vùng khác. Hơn nữa , khí hậu vùng này rất thất thường, gió mùa đông bắc lạnh khô gió mùa hạ nóng ẩm, rất khó chịu. c. Về môi trường nước d. Mạng lưới sông ngòi khá dày, gồm các dòng sông lớn như sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã, cùng các mương máng tưới tiêu dày đặc. Thủy chế các dòng sông cũng có hai mùa rõ rệt. Ngoài khơi, thủy triều vịnh Bắc Bộ theo chế độ nhật triều, mỗi ngày có một lần nước lên và một lần nước xuống.Chính yếu tố nước tạo ra sắc thái riêng biệt trong tập quán canh tác, cư trú , tâm lí ứng sử cũng như sinh hoạt cộng đồng của cư dân trong khu vực tạo nên nền văn minh lúa nước vừa có cái chung của văn minh khu vực ,vừa có cái riêng độc đáo của mình. 1.1.2 Đặc điểm xã hội a.Về lịch sử Vùng văn hóa Bắc Bộ là vùng đất lịch sử lâu đời nhất của người Việt, nơi khai sinh của vương triều Đại Việt, đồng thời cũng là quê hương của các nền văn hóa Đông Sơn, Thăng Long Hà Nội. Vùng cũng là nơi bắt nguồn của văn hóa Trung Bộ và Nam Bộ. Trong quá trình nguyên thủy phát triển, dân cư trên các nhóm Việt Mường sống vùng đồng bằng phát triển mạnh nhóm kia và trở thành chủ thể văn hóa đương thời đều thuộc chínhchủng của vùng. các tộc Nam Á (Việt Mường, Môn Khơ me, Hán – Thái). Những giá trị văn hóa của vùng là những sản phẩm từ sự sáng tạo, cần cù của nhóm Việt Mường, trong đó dân tộc Kinh đóng vai trò cốt lõi . b.Về kinh tế Nông nghiệp lúa nước trên vùng châu thổ các con sông lớn (Hồng, Mã, Cả, Chu) đã trở thành ngành kinh tế chủ yếu. Người nông dân Việt Bắc Bộ là người dân đồng đắp đê lấn biển trồng lúa. Nghề khai thác hải sản không mấy phát triển,các làng ven biển thực ra chỉ là các làng làm nông nghiệp, có đánh cá và làm muối. Người nông dân Việt Bắc Bộ là những cư dân “xa rừng nhạt biển”. Để tận dụng thời gian nhàn rỗi của vòng quay mùa vụ, người nông dân đã làm thêm nghề thủ công. Hàng trăm nghề thủ công, các làng phát triển thành chuyên nghiệp với những người thợ có tay nghề cao. c.Cách tổ
Trang 1Lời mở đầu
Việt Nam ta vốn vẫn tự hào với một nền văn hóa lâu đời, đa dạng Với sự ưu ái của mẹthiên nhiên, cùng với những thuyền thuyết li kì như trong kho tàng cổ tích Có thể nói,văn hóa nước ta là một nền văn hóa đẹp và ấn tượng
Thật may mắn cho chúng em rằng ở học kì này đã được tiếp xúc với bộ môn ‘cơ sởvăn hóa Việt Nam’’ Nhờ có môn học này, vốn hiểu biết hạn hẹp của chúng em như đãđược mở mang, khai sáng lên một cách đáng kể Để chúng em hiểu được ngoài những tậptục quê hương, những văn hóa mắt thường chung em vẫn thường hay nhìn thấy còn có rấtnhiều, rất nhiều những văn hóa lạ chưa từng một lần nghĩ đến.Và cũng qua môn học này,chúng em như nhìn thấy núi song quê hương bao la, tươi đẹp, trù phú và bí ẩn hơn rấtnhiều
Và để rồi sau khi kết thúc học kì của môn học này, cũng như những cảm tình về vùngchâu thổ bắc bộ mà chúng em quyết định lựa chọn đề tài thảo luận là: ‘Nghiên cứu đặcđiểm văn hóa vùng châu thổ Bắc Bộ và việc khai thác những đặc điểm văn hóa này trongkinh doanh’’
Mặc dù đã cố gắng hết khả năng của mình nhưng do trình độ kiến thức và kinhnghiệm còn hạn chế, nên không tránh khỏi có những sơ sót Em rất mong được sự nhậnxét, đánh giá, đóng góp ý kiến của các thầy để bài tập này được hoàn thiện hơn
Chương 1: Giới thiệu về vùng châu thổ Bắc Bộ
Trang 2Bắc Bộ là cái nôi hình thành dân tộc Việt ; cũng là nơi sinh ra các nền văn hoá lớn; pháttriển nối tiếp lẫn nhau: Văn hoá Đông Sơn; văn hoá Đại Việt và văn hoá Việt Nam Từtrung tâm này; văn hoá Việt Nam truyền vào Trung Bộ rồi Nam Bộ Sự lan truyền ấy; mộtmặt chứng tỏ sức sống mãnh liệt của văn hoá Việt; một mặt chứng tỏ sự sáng tạo củangười dân Việt Trong tư cách ấy; văn hoá vùng châu thổ Bắc Bộ có những nét đặc trưngcủa văn hoá Việt; nhưng lại có những nét riêng của vùng này Ngoài ra văn hóa bắc bộ là
sự giao hòa giữa thiên nhiên và con người, phát triển dựa trên sự kế thừa và phát huy bảnsắc dân tộc kết hợp tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa khu vực và nhân loại
1.1.Đặc điểm môi trường tự nhiên và xã hội
1.1.1.Môi trường tự nhiên
a.Về vị trí địa lý
vùng nằm ở phía bắc đất nước, phía bắc giáp vùng văn hóa Việt Bắc , phía nam giáp vùngvăn hóa Trung Bộ , phía tây giáp vùng văn hóa Tây Bắc phía đông giáp biển đông.Vùngchâu thổ Bắc bộ là tâm điểm của con đường giao lưu quốc tế theo hai trục chính: tây-đông và bắc-nam.Vị trí này là vị trí tiền đồ để nó tiến đến các vùng khác trong nước vàđông nam á Đây là vị trí thuận lợi để giao lưu và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại
a Về mặt địa hình
b
Châu thổ Bắc Bộ là địa hình núi xen kẽ đồng bằng hoặc thung lũng, thấp và bằngphẳng, dốc thoải từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ độ cao 10 – 15m giảm dần đến độcao mặt biển.Toàn vùng cũng như trong mỗi vùng , địa hình cao thấp không đều, taivùng có địa hình cao vẫn có nơi thấp úng như Gia Lương(Bắc Ninh),có núi ThiênThai nhưng vẫn là vùng trũng như Nam Định ,Hà Nam là vùng thấp nhưng vẫn cónúi như Chương Sơn , núi Đọi…
b.Về khí hậu
Khí hậu bốn mùa với mỗi mùa tương đối rõ nét Đồng bằng Bắc Bộ có một mùa đôngthực sự với ba tháng có nhiệt độ trung bình dưới 18 độ, khiến vùng này cấy được vụ lúa íthơn các vùng khác Hơn nữa , khí hậu vùng này rất thất thường, gió mùa đông bắc lạnhkhô gió mùa hạ nóng ẩm, rất khó chịu
c Về môi trường nước
d
Mạng lưới sông ngòi khá dày, gồm các dòng sông lớn như sông Hồng, sông TháiBình, sông Mã, cùng các mương máng tưới tiêu dày đặc Thủy chế các dòng
Trang 3sông cũng có hai mùa rõ rệt Ngoài khơi, thủy triều vịnh Bắc Bộ theo chế độ nhậttriều, mỗi ngày có một lần nước lên và một lần nước xuống.Chính yếu tố nước tạo ra sắc thái riêng biệt trong tập quán canh tác,
cư trú , tâm lí ứng sử cũng như sinh hoạt cộng đồng của cư dân trong khu vực tạo nênnền văn minh lúa nước vừa có cái chung của văn minh khu vực ,vừa có cái riêng độcđáo của mình
1.1.2 Đặc điểm xã hội
a.Về lịch sử
Vùng văn hóa Bắc Bộ là vùng đất lịch sử lâu đời nhất của người Việt, nơi khai sinh của vương triều Đại Việt, đồng thời cũng là quê hương của cácnền văn hóa Đông Sơn, Thăng Long- Hà Nội Vùng cũng là nơi bắt nguồn của văn hóaTrung Bộ và Nam Bộ Trong quá trình nguyên thủy phát triển, dân cư trên các nhóm Việt Mường sống
có tay nghề cao
Làng là đơn vị xã hội cơ sở của nông thôn Bắc Bộ, tế bào sống của xã hội Việt Làng, xã Bắc Bộ là những làng xã điển hình của của nông thôn Việt với sự khép kín rất cao: lũy tre dày, cổng làng đóng mở sáng tối,… Sự gắn bó giữa con người và con
Trang 4người trong cộng đồng làng Bắc Bộ, không chỉ là quan hệ sở hữu trên đất làng, trênnhững di sản hữu thể chung như đình làng, chùa làng v.v…, mà còn là sự gắn bó các quan
hệ về tâm linh, về chuẩn mực xã hội, đạo đức Đảm bảo cho những quan
hệ này là các hương ước, khoán ước của làng xã
1.2.Đặc điểm văn hóa vùng
Có 4 mùa rõ rệt : xuân hạ thu đông
Sông có mùa cạn và mùa lũ
1.2.3.Văn hóa ẩm thực
Mô hình bữa ăn: sử dụng rất nhiều món rau được canh tác như rau muống bầu và cácloại rau cải…, các loại thủy sản thông thường là ở vùng nước ngọt và thực phẩm chínhtrong bữa ăn vẫn là lúa gạo Món ăn miền Bắc có vị thanh không nồng không gắt luôn tôntrọng tính tự nhiên của thực phẩm như: tía tô thì là mùi tàu các gia vị như : ớt xả hạt tiêu
…Cư dân đô thị là Hà Nội ít dung đồ biển hơn các đô thị phía nam như Sài Gòn.Tăngthành phần thịt và mỡ , nhất là mùa đông lạnh Ít sử dụng các gia vị cay, chua ,đắng Âmthực Bắc Bộ cũng giống như các nền ẩm thực khác ít nhiều cũng chịu ảnh hưởng nguyêntắc âm dương ngũ hành ví dụ như mâm ngũ quả ngày tết được bày trí gồm 5 thứ quả với
5 màu sắc khác nhau với cách sắp xếp thể hiện ý nghĩa tâm linh và những điều mongmuốn trong cuộc sống.Hay trong cưới hỏi như bánh phu thê có hình tròn bọc trong khuônhình vuông thể hiện sự vẹn toàn, hòa hợp giữa trời đất.Tóm lại, nền văn hóa ẩm thực củaBắc Bộ rất phong phú , đa dạng không chỉ để lấp đầy dạ dày mà còn để tỏa mãn giácquan của người thưởng thức như vị giác, thị giác và khứu giác
1.2.4 Văn hóa mặc
Cách mặc của người dân Bắc Bộ cũng là một sự lựa chọn thích ứng với thiên nhiên châuthổ Bắc Bộ đó là màu nâu Đàn ông với y phục đi làm là chiếc quần lá toạ; áo cánh màunâu sồng Đàn bà cũng mặc váy thâm; chiếc áo nâu khi đi làm Lễ tết; hội hè thì trangphục này có khác hơn: đàn bà với áo dài mớ ba mớ bảy; đàn ông với chiếc quần trắng; áodài the; chít khăn đen Ngày nay; y phục người Việt Bắc Bộ đã có sự thay đổi khá nhiều
Trang 51.2.5 Văn hóa nhà ở
Văn hóa nhà ở Bắc Bộ là một đặc trưng trong nề văn hóa Bắc Bộ Nhà thường được xâybằng vật liệu nhẹ , bền Người nông dân Bắc Bộ thường muốn xây nhà theo kiểu
bền,chắc,to,đẹp tuy nhiên vẫn hòa hợp với cảnh quan Vì đối với họ ngôi nhà là một
trong những yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo cuộc sống ổn định
Về hình dáng nhà,của người dâu châu thổ bắc bộ thường có mái cong truyền thống Saunày,mái nhà bình thường được làm thẳng cho giản tiện hỉ có nhưng công trình kiến trúclớn mới làm mái cong cầu kì Ngoài ra,các cầu đao ở bốn góc đình chùa cũng được làmcong vút như con thuyền rẽ sóng lướt tới,tạo nên dáng vẻ thanh thoát và gợi cảm giác baybổng cho ngôi nhà vốn được trải rộng trên mặt bằng để hòa mình vào thiên nhiên
1.2.6.Lễ hội
Đáng kể nhất là các lễ hội, sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của người Bắc Bộ.Mật độ hội
hè ở Bắc Bộ khá dày đặc ở các làng nghề theo vòng quay thiên nhiên và mùa vụ Các tínngưỡng của cư dân trồng lúa nước như tục thờ Thành hoàng, thờ mẫu, thờ ông tổ nghề…hiện diện ở hầu hết các làng quê Bắc Bộ Các lễ hội mùa xuân, lễ hội mùa thu đều là cáchội làng của cư dân nông nghiệp, hay còn gọi là lễ hội nông nghiệp Nếu theo quy mô cóthể chia thành hội làng; hội vùng; hội của cả nước; nếu theo thời gian có thể chia thành lễhội mùa xuân; lễ hội mùa thu Dù thuộc loại nào; khởi nguyên; các lễ hội ấy đều là hộilàng của cư dân nông nghiệp; nói khác đi là các lễ hội nông nghiệp Những trò diễn trongcác lễ hội gợi lên các nghi lễ nông nghiệp Ví dụ như các nghi lễ thờ Mẹ lúa, thờ thầnMặt trời, cầu mưa, các điệu múa dân gian… Chính vì thế mà lễ hội ở đồng bằng châu thổBắc Bộ có thể được ví như một bảo tàng văn hóa tổng hợp, nơi đó lưu giữ rất nhiều cácsinh hoạt văn hóa của cư dân nông nghiệp
Tiến trình lịch sử đã lắng đọng ở đây các lớp văn hoá; khiến cho trên các lát cắt đồng đạikhó nhận ra gương mặt ban đầu của lễ hội nông nghiệp Tuy nhiên; các trò diễn trong các
lễ hội vẫn gợi lại những nghi nghi lễ nông nghiệp Chẳng hạn như các lễ thức thờ MẹLúa; cầu mưa; thờ thần Mặt Trời; các trò diễn mang tính chất phồn thực như múa gà phủ;múa các vật biểu trưng âm vật; dương vật …Chính vì vậy mà lễ hội ở đồng bằng Bắc Bộ
có thể ví như một bảo tàng văn hoá tổng hợp lưu giữ khá nhiều các sinh hoạt văn hoá tínngưỡng của cư dân nông nghiệp Với cư dân ở làng quê Việt Bắc Bộ; lễ hội là “môitrường cộng cảm văn hoá”; “công mệnh”- chữ dùng của PGS; PTS Ngô Đức Thịnh – vềmặt tâm linh
Hơn nữa,nói đến văn hóa vùng châu thổ Bắc Bộ là nói tới mật độ dày đặc của các di tích
văn hóa: đền, đình, chùa, miếu…tồn tại ở hầu hết khắp địa phương Nhiều di tích nổitiếng trong nước và cả ngoài nước như đền Hùng, khu vực Hoa Lư, Cổ Loa, chùa Hương,chùa Dâu, chùa Tây Phương…
1.2.7 Kho tàng văn học
Trang 6Bên cạnh đó, Bắc Bộ còn có cả một kho tàng văn học dân gian phong phú với các thể loạinhư thần thoại, truyền thuyết, ca dao, tục ngữ, truyện cười, truyện trạng… Ca dao miềnBắc có phần trau chuốt hơn ca dao miền Nam Các loại hình nghệ thuật biểu diễn dângian cũng đậm đà sắc thái vùng, gồm có: hát quan họ, hát xoan, hát chầu văn, hát trốngquân, hát chèo, múa rối…mỗi thể loại đều có một tầm dày dặn; mang nét riêng của Bắc
Bộ Chẳng hạn truyện trạng ở Bắc Bộ như truyện Trạng Quỳnh; Trạng Lợn…; sử dụngcác hình thức câu đố; câu đối; nói lái; chơi chữ nhiều hơn truyện trạng ở các vùng khác
Có những thể loại chỉ ở Bắc Bộ mới tồn tại; kiểu như thần thoại Ca dao xứ Bắc trauchuốt; tỉa gọt hơn ca dao Nam Bộ Các thể loại thuộc nghệ thuật biểu diễn dân gian cũngkhá đa dạng và mang sắc thái vùng đậm nét Đó là hát quan họ; hát xoan; hát trống quân;hát chầu văn; hát chèo; múa rối…
1.2.8 Văn hóa bác học
Chính sự phát triển của giáo dục ở đây đã tạo ra sự phát triển của văn hoá bác học;bởi chủ thể sáng tạo nền văn hoá bác học này chính là đội ngũ trí thức được sinh ra từ nềngiáo dục ấy Đội ngũ này tiếp nhận vốn văn hoá dân gian; vốn văn hoá bác học TrungQuốc; Ấn Độ; phương Tây tạo ra dòng văn hoá bác học Xin đơn cử; chữ Nôm; chữ Quốcngữ chính là sản phẩm được tạo ra từ quá trình sáng tạo của tri thức thể hiện rõ đặc điểmnày
Sự phát triển của giáo dục; truyền thống trọng người có chữ trở thành nhân tố tác độngtạo ra một tầng lớp tri thức ở Bắc Bộ Thời tự chủ; Thăng Long với vai trò là một kinh đôcũng đảm nhận vị trí một trung tâm giáo dục Năm 1078; Văn Miếu đã xuất hiện; năm
1076 đã có Quốc Tử Giám; chế độ thi cử để kén chọn người hiền tài… đã tạo cho xứ Bắcmột đội ngũ trí thức đông đảo; trong đó có nhiều danh nhân văn hoá tầm cỡ trong nước
và ngoài nước
GS Đinh Gia Khánh nhận xét: “Trong thời kì Đại Việt; số người đi học; thi đỗ ở vùngđồng bằng miền Bắc tính theo tỉ lệ dân số thì cao hơn rất nhiều so với các nơi khác Tronglịch sử 850 năm (1065 – 1915) khoa cử dưới các triều vua; cả nước có 56 trạng nguyênthì 52 người là ở vùng đồng bằng miền Bắc.” (Đinh Gia Khánh; Cù Huy Cận Các vùngvăn hoá Việt Nam; Nxb Văn học; Hà Nội; 1995) Thời thuộc Pháp; Hà Nội là nơi có các
cơ sở giáo dục; khoa học thu hút các tri thức mọi vùng
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHAI THÁcĐẶC ĐIỂM VÙNG CHÂU THỔ BẮC BỘ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
2.1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HOÁ
2.1.1 Khái niệm văn hoá và một số khái niệm liên quan:
Trang 7Đây là những công cụ- khái niệm hay công cụ- nhận thức dùng để tiếp cận nhữngvấn đề nghiên cứu Chúng thường hay bị, hay được sử dụng lẫn lộn, dù mỗi một kháiniệm đều có những đặc trưng riêng của mình.
2.1.1.1.Khái niệm văn hoá:
Văn hoá là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã hội loài
người Ở phương Đông, từ văn hoá đã có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm Trong Chu Dịch, quẻ Bi đã có từ văn và từ hoá: Xem dáng vẻ con người, lấy đó mà giáo hoá thiên hạ
(Quan hồ nhân văn dĩ hoá thành thiên hạ) Người sử dụng từ văn hoá sớm nhất có lẽ làLưu Hướng (năm 77-6 TCN), thời Tây Hán với nghĩa như một phương thức giáo hoá conngười- văn trị giáo hoá Văn hoá ở đây được dùng đối lập với vũ lực (phàm dấy việc võ là
vì không phục tùng, dùng văn hoá mà không sửa đổi, sau đó mới thêm chém giết) Ởphương Tây, để chỉ đối tượng mà chúng ta nghiên cứu, người Pháp, người Nga có từkuitura Những chữ này lại có chung gốc Latinh là chữ cultus animi là trồng trọt tinhthần Vậy chữ cultus là văn hoá với hai khía cạnh: trồng trọt, thính ứng với tự nhiên, khaithác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thể hay cộng đồng để họ không còn là con vật tựnhiên, và họ có những phẩm chất tốt đẹp
Tuy vậy, việc xác định và sử dụng khái niệm văn hoá không đơn giản và thay đổitheo thời gian thuật ngữ văn hoá với nghĩa “canh tác tinh thần” được sử dụng vào thế kỉXVII- XVIII bên cạnh nghĩa gốc là quản lí, canh tác nông nghiệp
Vào thế kỉ XIX thuật ngữ “văn hoá” được những nhà nhân loại học phương Tây sửdụng như một danh từ chính Những học giả này cho rằng văn hoá (văn minh) thế giới cóthể phân ra từ trình độ thấp nhất đến trình độ cao nhất, và văn hoá của họ chiếm vị trí caonhất Bởi vì họ cho rằng bản chất văn hoá hướng về trí lực và sự vươn lên, sự phát triểntạo thành văn minh, E.B Taylo (E.B Taylor) là đại diện của họ Theo ông, văn hoá là toàn
bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục,những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viêncủa xã hội
Ở thế kỉ XX, khái niệm “văn hoá” thay đổi theo F Boa (F Boas), ý nghĩa văn hoáđược quy định do khung giải thích riêng chứ không phải bắt nguồn từ cứ liệu cao siêunhư “trí lực”, vì thế sự khác nhau về mặt văn hoá từng dân tộc cũng không phải theo tiêuchuẩn trí lực Đó cũng là “tương đối luận của văn hoá” Văn hoá không xét ở mức độthấp cao mà ở góc độ khác biệt
A L Kroibơ (A.L Kroeber) và C.L Klúchôn (C L Kluckhohn) quan niệm vănhoá là loại hành vi rõ ràng và ám thị đã được đúc kết và truyền lại bằng biểu tượng, và nóhình thành quả độc đáo của nhân loại khác với các loại hình khác, trong đó bao gồm cả
đồ tạo tác do con người làm ra
Trang 82.1.1.2 Khái niệm văn minh:
Văn minh là danh từ Hán - Việt (Văn là vẻ đẹp, minh là sáng), chỉ tia sáng của đạođức, biểu hiện ở chính trị, luật pháp, văn học, nghệ thuật Trong tiếng Anh, Pháp, từcivilisation với nội hàm nghĩa văn minh, có căn gốc Latinh là civitas với nghĩa gốc: đôthị, thành phố, và các nghĩa phái sinh: thị dân, công dân
W Đuran (W Durrant) sử dụng khái niệm văn minh để chỉ sự sáng tạo văn hoá, nhờ mộttrật tự xã hội gây ra và kích thích Văn minh được dùng theo nghĩa tổ chức xã hội, tổchức luân lí và hoạt động văn hoá
Văn minh trong tiếng Đức là để chỉ các xã hội đã đạt được tới giai đoạn tổ chức đôthị và chữ viết
Theo F Ăngghen, văn minh là chính trị khoanh văn hoá lại và sợi dây liên kết vănminh là nhà nước Như vậy khái niệm văn minh thường bao hàm bốn yếu tố cơ bản: Đôthị, Nhà nước, chữ viết và các biện pháp kĩ thuật cải thiện, xếp đặt hợp lí, tiện lợi chocuộc sống của con người
Tuy vậy, người ta vẫn hay sử dụng thuật ngữ văn minh đồng nghĩa với văn hoá.Các học giả Anh và Pháp thường sử dụng lẫn lộn hai khái niệm văn hoá (culture), vănminh (civilisation) để chỉ toàn bộ sự sáng tạo và các tập quán tinh thần và vật chất riêngcho mọi tập đoàn người
Thực ra, văn minh là trình độ phát triển nhất định của văn hoá về phương diện vậtchất, đặc trưng cho một khu vực rộng lớn, một thời đại, hoặc cả nhân loại Như vậy, vănminh khác với văn hoá ở ba điểm: Thứ nhất, trong khi văn hoá có bề dày của quá khứ thìvăn minh chỉ là một lát cắt đồng đại Thứ hai, trong khi văn hoá bao gồm cả văn hoá vậtchất lẫn tinh thần thì văn minh chỉ thiên về khía cạnh vật chất, kĩ thuật Thứ ba, trong khivăn hoá mang tính dân tộc rõ rệt thì văn minh thường mang tính siêu dân tộc- quốc tế Ví
dụ nền văn minh tin học hay văn minh hậu công nghiệp và văn hoá Việt Nam, văn hoáNhật Bản, văn hoá Trung Quốc… Mặc dù giữa văn hoá và văn minh có một điểm gặp gỡnhau đó là do con người sáng tạo ra
2.1.1.3 Khái niệm văn hiến:
Ở phương Đông, trong đó có Việt Nam, từ xa xưa đã phổ biến khái niệm văn hiến
Có thể hiểu văn hiến là văn hoá theo cách dùng, cách hiểu trong lịch sử.Từ đời Lý(1010), người Việt đã tự hào nước mình là một “văn hiến chi bang” Đến đời Lê (thế kỉXV), Nguyễn Trãi viết “Duy ngã Đại Việt chi quốc thực vi văn hiến chi bang”- (Duynước Đại Việt ta thực sự là một nước văn hiến) Từ văn hiến mà Nguyễn Trãi dùng ở đây
là một khái niệm rộng chỉ một nền văn hoá cao, trong đó nếp sống tinh thần, đạo đứcđược chú trọng
Trang 9Văn hiến (hiến = hiền tài) - truyền thống văn hoá lâu đời và tốt đẹp GS Đào DuyAnh khi giải thích từ văn hiến khẳng định: “là sách vở” và nhân vật tốt trong một đời.Nói cách khác văn là văn hoá, hiến là hiền tài, như vậy văn hiến thiên về những giá trịtinh thần do những người có tài đức chuyển tải, thể hiện tính dân tộc, tính lịch sử rõ rệt.
2.1.1.4 Khái niệm văn vật (vật = vật chất):
Truyền thống văn hoá tốt đẹp biểu hiện ở nhiều nhân tài trong lịch sử và nhiều ditích lịch sử “Hà Nội nghìn năm văn vật” Văn vật còn là khái niệm hẹp để chỉ nhữngcông trình hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử, khái niệm văn vật cũng thể hiện sâusắc tính dân tộc và tính lịch sử Khái niệm văn hiến, văn vật thường gắn với phươngĐông nông nghiệp trong khi khái niệm văn minh thường gắn với phương Tây đô thị Nhưvậy, cho đến nay, chưa phải mọi người đã đồng ý với nhau tất cả về định nghĩa của vănhoá Từ 1952, hai nhà dân tộc học Mĩ A L Kroibơ (A.L Kroeber) và C.L Klúchôn (C
L Kluckhohn) đã trích lục được trên dưới 300 định nghĩa, mà các tác giả khác nhau củanhiều nước từng phát ra từ trước nữa cho đến lúc bấy giờ Từ đó cho đến nay, chắc chắn
số lượng định nghĩa tiếp tục tăng lên và đương nhiên, không phải lúc nào các định nghĩađưa ra cũng có thể thống nhất, hay hoà hợp, bổ sung cho nhau Chúng tôi xin trích dẫnmột số định nghĩa đã được công bố trong các giáo trình và công trình nghiên cứu về Vănhoá học hay Cơ sở văn hoá Việt nam Theo một số học giả Mĩ “văn hoá là tấm gươngnhiều mặt phản chiếu đời sống và nếp sống của một cộng đồng dân tộc” Ở trung tâm củavăn hoá quyển là hệ tư tưởng cũng được xem là một hệ văn hoá
Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích củacuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, phápluật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày vềmặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là vănhoá.”
Cựu thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Nói tới văn hoá là nói tới một lĩnh vực vôcùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà cóliên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làmnên lịch sử…cốt lõi của sự sống dân tộc là văn hoá với ý nghĩa bao quát và cao đẹp nhấtcủa nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức và phẩm chất, trí tuệ
và tài năng, sự nhạy cảm và tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bảnlĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và khôngngừng lớn mạnh.”
PGS Phan Ngọc đưa ra một định nghĩa văn hoá mang tính chất thao tác luận, khácvới những định nghĩa trước đó, theo ông đều mang tính tinh thần luận “Không có cái vật
gì gọi là văn hoá cả và ngược lại bất kì vật gì cũng có cái mặt văn hoá Văn hoá là mộtquan hệ Nó là mối quan hệ thế giới biểu tượng và thế giới thực tại Quan hệ ấy biểu hiện
Trang 10thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác,một cá nhân khác Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạothành những nền văn hoá khác nhau là độ khúc xạ.” Tất cả mọi cái mà tộc người tiếp thuhay sáng tạo đều có một khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ởmột tộc người khác.
Trên cơ sở phân tích các định nghĩa văn hoá, PGS, TSKH Trần Ngọc Thêm đã đưa
ra một định nghĩa về văn hoá như sau: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vậtchất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễntrong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” Địnhnghĩa này đã nêu bật 4 đặc trưng quan trọng của văn hoá: Tính hệ thống, tính giá trị, tínhlịch sử, tính nhân sinh Chúng tôi cho rằng, trong vô vàn cách hiểu, cách định nghĩa vềvăn hoá, ta có thể tạm quy về hai loại Văn hoá hiểu theo nghĩa rộng như lối sống, lối suynghĩ, lối ứng xử…Văn hoá hiểu theo nghĩa hẹp như văn học, văn nghệ, học vấn… và tuỳtheo từng trường hợp cụ thể mà có những định nghĩa khác nhau Ví dụ xét từ khía cạnh tựnhiên thì văn hoá là “cái tự nhiên được biến đổi bởi con người” hay “tất cả những gìkhông phải là thiên nhiên đều là văn hoá”
Gần đây nhất, trong một bài viết của mình, PGS Nguyễn Từ Chi đã quy các kiểunhìn khác nhau về văn hoá vào hai góc độ:
Góc rộng, hay góc nhìn “dân tộc học”: đây là góc chung của nhiều ngành khoa học xãhội
Góc hẹp, góc thông dụng trong cuộc sống hàng ngày, còn gọi là góc báo chí
Theo cách hiểu góc rộng - văn hoá là toàn bộ cuộc sống (nếp sống, lối sống) cả vậtchất xã hội và tinh thần của từng cộng đồng Ví dụ: nghiên cứu văn hoá Việt Nam lànghiên cứu lối sống của các dân tộc Việt Nam
Văn hoá từ góc nhìn “báo chí” tuy cũng có những cách hiểu rộng hơn hay hẹphơn, nhưng trước đây thường gắn với kiến thức của con người, của xã hội Ngày nay, vănhoá dưới góc “báo chí” đã hướng về lối sống hơn là về kiến thức mà theo tác giả là lốisống gấp, đằng sau những biến động nhanh của xã hội
2.1.2 Cơ cấu của văn hoá:
2.1.2.1 Văn hoá vật chất:
Một trong các hình thức văn hoá của mỗi tộc người, bao gồm: làng bản, nhà cửa, áoquần, trang sức, ăn uống, phương tiện đi lại, công cụ sản xuất, vũ khí, vv Theo UNESCOgọi là văn hoá hữu thể (Tangible)
2.1.2.2 Văn hoá tinh thần:
Trang 11Bao gồm các biểu hiện tượng trưng và “không sờ thấy được” của văn hoá đượclưu truyền và biến đổi qua thời gian, với một quá trình tái tạo, “trùng tu” của cộng đồngrộng rãi… Những di sản văn hoá tạm gọi là vô hình (intangible) này theo UNESCO baogồm cả âm nhạc, múa, truyền thống, văn chương truyền miệng, ngôn ngữ, huyền thoại, tưthế, nghi thức, phong tục, tập quán, y dược, cổ truyền, việc nấu ăn và các món ăn, lễ hội,
bí quyết và quy trình công nghệ của các nghề truyền thống…
Cái hữu thể và cái vô hình gắn bó hữu cơ với nhau, lồng vào nhau, như thân xácvới tâm trí con người
2.1.3 Chức năng xã hội của văn hoá:
2.1.3.1 Chức năng giáo dục:
Chức năng bao trùm nhất của văn hoá là chức năng giáo dục Nói cách khác, chứcnăng tập trung của văn hoá là bồi dưỡng con người, hướng lí tưởng, đạo đức và hành vicủa con người vào “điều hay lẽ phải, điều khôn, lẽ thiệt”, theo những khuôn mẫu, chuẩnmực mà xã hội quy định
Văn hoá bao giờ cũng hình thành trong một quá trình và được tích luỹ qua nhiềuthế hệ, mang tính lịch sử và tạo cho văn hoá một bề dày, một chiều sâu Nó được duy trìbằng truyền thống văn hoá, tức là cơ chế tích luỹ và truyền đạt kinh nghiệm trong cộngđồng qua không gian và thời gian Nó là những giá trị tương đối ổn định (những kinhnghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội được tích luỹ và tái tạo trongcộng đồng người và được cố định hoá dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ,luật pháp, dư luận… Văn hoá thực hiện chức năng giáo dục (giáo dục truyền thống)không chỉ bằng những giá trị ổn định mà còn bằng những giá trị đang hình thành Các giátrị đã ổn định và các giá trị đang hình thành tạo nên một hệ thống chuẩn mực mà conngười hướng tới Nhờ đó, văn hoá đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhâncách ở con người, trồng người, dưỡng dục nhân cách Một đứa trẻ được sống với cha mẹ
sẽ được giáo dục theo truyền thống văn hoá trong gia đình mình được sinh ra; còn nếu bịrơi vào rừng, đứa trẻ ấy sẽ mang hành vi, tính nết của loài thú Không phải ngẫu nhiên màtrong trong các ngôn ngữ phương Tây khác nhau, thuật ngữ “văn hoá” (cultura, culture)đều có chứa một nghĩa chung là chăm sóc, giáo dục, vun trồng… Chức năng giáo dục củavăn hoá sẽ đảm bảo tính kế tục của lịch sử Nếu gien sinh học di truyền lại cho các thế hệsau hình thể con người thì văn hoá được coi là một thứ “ghen” xã hội di truyền phẩm chấtcon người lại cho các thế hệ mai sau
Do là một hiện tượng xã hội, là sản phẩm hoạt động thực tiễn của con người, vănhoá có tính nhân sinh đậm nét và trở thành một công cụ giao tiếp quan trọng thông quangôn ngữ Nếu như ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hoá là nội dung của nó.Điều đó đúng với giao tiếp giữa cá nhân trong một dân tộc, lại càng đúng với giao tiếp
Trang 12giữa những người thuộc các dân tộc khác nhau và sự giao tiếp giữa các nền văn hoá khácnhau.
Bằng chức năng giáo dục, văn hoá tạo cho lịch sử nhân loại và lịch sử mỗi dân tộcmột sự phát triển liên tục Chức năng tổ chức xã hội và sự phát sinh của chức năng này làvăn hoá có chức năng điều chỉnh xã hội, định hướng các chuẩn mực, các cách ứng xử củacon người Gần đây, UNESCO cũng như Đảng, Nhà nước ta cho rằng văn hoá là động lựccủa phát triển, chính là đề cập đến chức năng này
2.1.3.2 Chức năng bảo tồn, bảo quản:
2.1.4 Những tính chất và quy luật của văn hoá:
2.1.4.1 Quy luật kế thừa trong sự phát triển.
Cơ sở triết học: Quy luật này là quy luật “phủ định của phủ định” trong triết học Khái niệm: “Kế thừa là thừa hưởng, giữ gìn và tiếp tục phát huy (cái có giá trị tinh
thần) Kế thừa những di sản văn hóa dân tộc” Kế thừa văn hóa là một quy luật cơ bảncủa sự phát triển và tiến bộ xã hội Nó thể hiện mối liên hệ tất yếu của cái cũ và cái mớixét theo thời điểm ra đời giữa giai đoạn trước và giai đoạn sau trong quá trình phát triểnvăn hóa của một cộng đồng, của một dân tộc và của nhân loại
Bản chất: Là sự chuyển hoá cái cũ tích cực thành các nhân tố của cái mới, thể hiện
mối liên hệ giữa các giai đoạn của sự phát triển: giai đoạn sau không cắt đứt, không đoạntuyệt với giai đoạn trước và cũng không lặp lại hoàn toàn như giai đoạn trước, cho phépgiai đoạn sau chỉ giữ những yếu tố tích cực, còn phù hợp của giai đoạn trước, trên cơ sở
đó tiếp tục biến đổi và sáng tạo nên những giá trị văn hóa mới Tiền nhân của chúng ta đã làm được một việc tuyệt vời đó là tiếp biến văn hóa rấtdiệu kỳ, qua một nghìn năm Bắc thuộc bị đồng hoá mà lại lại lớn lên, Việt hoá các yếu tốcủa văn hóa Hán, chứng tỏ chúng ta có một nền văn hoá bản địa có nội lực mạnh Chúng
ta phải dùng chữ Hán nhưng ta Việt hoá chữ Hán, đọc chữ Hán theo tiếng của người Việt,
Sau một nghìn năm Bắc thuộc, ta chuyển sang thời kỳ Đại Việt Đây là thời kỳchúng ta vừa xây dựng và phát triển nền văn hóa Đại Việt, vừa luôn luôn phải lo chống
đỡ, đánh đuổi giặc ngoại xâm
2.1.4.2 Quy luật giao lưu tiếp biến văn hóa:
Về thuật ngữ: “Giao lưu là có sự tiếp xúc và trao đổi qua lại giữa hai dòng, hailuồng khác nhau” - Nơi giao lưu của hai dòng sông (TĐ tiếng Việt)
- Giao lưu văn hóa là sự trao đổi qua lại hai chiều những sản phẩm văn hóa giữa
các cộng đồng dân tộc quốc gia với nhau, là sự giao thoa, học tập lẫn nhau, ảnh hưởnglẫn nhau, bổ sung cho nhau để làm phong phú cho văn hóa của mình Trong cuộc sốnghàng ngày cũng vậy, con người có thể ảnh hưởng lẫn nhau, có ảnh hưởng chủ động (học
Trang 13người) và ảnh hưởng thụ động (ảnh hưởng mà không biết).
- Tiếp biến văn hóa là sự tiếp nhận (một chiều) các yếu tố văn hóa từ bên ngoài
(ngoại sinh) và biến đổi cho phù hợp với các yếu tố văn hóa bên trong (nội sinh) để làm
- Cưỡng bức VH là sự áp đặt nền VH của kẻ mạnh đối với kẻ yếu, áp đặt VH dân
tộc lớn cho dân tộc nhỏ nhưng cũng có khi nó bị VH của nước nhỏ chinh phục lại
Tóm lại: Giao lưu VH là sự vận động thường xuyên gắn với sự phát triển của văn
hóa xã hội Trong đời sống xã hội, giao lưu càng mạnh mẽ thì mọi sáng tạo văn hóa đượcphổ biến và chuyển tải càng rộng rãi, sẽ góp phần nâng cao đời sống văn hóa của cộngđồng Ngược lại, đời sống cộng đồng càng được nâng cao càng có điều kiện mở rộng giaolưu văn hóa Đó là phép biện chứng của sự phát triển văn hóa trong cộng đồng xã hội Việt Nam có nguồn gốc văn hóa bản địa, là một nền văn hóa nông nghiệp lúanước (phi Hoa, phi Ấn), có quá trình giao lưu văn hoá với phương Bắc (1000 năm Bắcthuộc) Từ thời kỳ Đại Việt vẫn duy trì giao lưu văn hoá với các nước láng giềng, phíabắc với văn hoá Trung Hoa, phía nam với văn hoá Chiêm Thành, Chân Lạp (Khơme).Trong một trăm năm Pháp thuộc chúng ta có giai đoạn giao lưu với VH Pháp, tuy bịcưỡng bức văn hoá nhưng do văn hoá bản địa của Việt Nam có truyền thống lâu đời nên
Những năm xây dựng XHCN, ở miền Bắc chúng ta có một giai đoạn ảnh hưởngvăn hóa của các nước như Liên Xô, Đông Âu Trong miền nam Việt Nam có giai đoạnchịu ảnh hưởng văn hoá Mỹ Từ 1986 đến nay, với đường lối mở cửa “đa phương hoá, đadạng hoá” trong quan hệ đối ngoại, đất nước ta có điều kiện giao lưu văn hoá với rấtnhiều nước trên thế giới, trước hết là các nước trong khu vực, trong châu lục để vừa kếthừa những giá trị văn hóa truyền thống, vừa tiếp nhận được những thành tựu của loàingười, trong các nghị quyết của đảng ta đều chỉ rõ: Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tiếpthu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới
2.3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHAI THÁC TRONG KINH DOANH
Đồng bằng Bắc Bộ là kho tàng lịch sử-văn hóa, là cái nôi của nguồn cội văn hóa ViệtNam Với nhiều vùng văn hóa lịch sử lâu đời, các danh lam thắng cảnh, địa điểm du lịchnổi tiếng, giá trị văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, việc nâng cao hiệu quả khai thác trongkinh doanh là vô cùng cần thiết phải đưa ra để phát huy các giá trị văn hóa, phát triểnkinh tế cũng như quảng bá hình ảnh của miền Bắc nói riêng và Việt Nam nói chung rakhắp thế giới
2.2 Thực trạng việc khai thác đặc điểm văn hóa của một số địa điểm đặc trưng của vùngchâu thổ Bắc Bộ trong hoạt động kinh doanh
2.2.1 Lễ hội đền Hùng
Trang 14Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, trên mảnh đất Phú Thọ đã hình thành
và tồn tại tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương gắn liền với Lễ hội đền Hùng linh thiêng,độc đáo Ngày 9/12/2012, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã chính thức được côngnhận là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Điều được quan tâm hiện nay
là bảo tồn di sản văn hóa gắn kết với phát triển du lịch, xây dựng lễ hội đền Hùng thànhsản phẩm hấp dẫn
- Không gian văn hóa linh thiêng của dân tộc:
Lễ hội đền Hùng hình thành và phát triển tại Khu di tích lịch sử quốc gia đềnHùng với hệ thống các công trình tín ngưỡng: các ngôi đền, chùa, gác chuông, lăng mộ,bia ký, tháp… được các thế hệ cha ông tạo dựng trên một vùng “hội nhân, tụ thủy”, “sơnthủy hữu tình” đã tạo nên khí thiêng sông núi Trong xu thế phát triển và đổi mới của đấtnước, Khu di tích lịch sử đền Hùng đã được mở rộng và tu bổ nên có diện mạo ngày càngkhang trang, to đẹp, văn minh hơn nhưng không mất đi nét trầm mặc, trang nghiêm, linhthiêng tự bao đời
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba