LỜI CẢM ƠN Sau một thời gian học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Hồng Đức, đến nay tôi đã hoàn thành luận văn với đề tài Lịch sử văn hoá vùng đất Vân Sơn Triệu Sơn, Thanh Hóa.. Tôi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
NGÔ THỊ PHƯỢNG
LỊCH SỬ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT VÂN SƠN
(TRIỆU SƠN, THANH HÓA)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
THANH HÓA, NĂM 2022
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
NGÔ THỊ PHƯỢNG
LỊCH SỬ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT VÂN SƠN
(TRIỆU SƠN, THANH HÓA)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Trang 4Danh sách Hội đồng chấm luận văn Thạc sỹ khoa học
(Theo Quyết định số 1514/QĐ - ĐHHĐ ngày 06 tháng 07 năm 2022
của Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức)
Học hàm, học vị
Họ và tên Cơ quan Công tác
Chức danh trong Hội đồng
PGS.TS Mai Văn Tùng Trường Đại Học Hồng Đức Chủ tịch HĐ
TS Lê Ngọc Tạo Ban NC&BSLS tỉnh Thanh Hoá UV Phản biện 1
TS Vũ Quý Thu Hội KH Lịch sử Thanh Hoá UV Phản biện 2
TS Phạm Văn Tuấn Trung tâm nghiên cứu lịch sử &
Bảo tồn DSVH Thanh Hoá
Uỷ viên
TS Lê Sỹ Hưng Trường Đại Học Hồng Đức Thư ký
Xác nhận của Người hướng dẫn
Học viên đã chỉnh sửa theo ý kiến của Hội đồng
Ngày 5 tháng 9 năm 2022
Người hướng dẫn 1 Người hướng dẫn 2
PGS.TS Nguyễn Thị Thuý TS Nguyễn Thị Vân
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình khoa học đã công bố
Người cam đoan
Ngô Thị Phượng
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Hồng Đức,
đến nay tôi đã hoàn thành luận văn với đề tài Lịch sử văn hoá vùng đất Vân
Sơn (Triệu Sơn, Thanh Hóa)
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cô PGS.TS Nguyễn Thị Thuý, TS Nguyễn Thị Vân đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, giúp đỡ, động viên em hoàn thành bản luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo trong bộ môn Lịch sử, Khoa khoa học xã hội; phòng Quản lý Đào tạo sau đại học trường Đại học Hồng Đức đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập, hoàn thành luận văn
Chân thành cảm ơn Đảng uỷ, UBND xã Vân Sơn, cán bộ phòng văn hoá, cán bộ phòng Đảng uỷ, cán bộ phòng chính sách xã hội xã Vân Sơn; các ông bà thôn trưởng, Ban quản lý di tích trên địa bàn xã Vân Sơn đã giúp tôi trong quá trình nghiên cứu, thu thập tài liệu, điền dã, cung cấp nhiều thông tin quý giá để tôi hoàn thành luận văn của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn Trung tâm Nghiên cứu lịch sử và Bảo tồn
Di sản văn hoá Thanh Hoá; Thư viện tỉnh Thanh Hoá; Phòng văn hoá huyện Triệu Sơn; Thư viện trường Đại học Hồng Đức đã cho phép tôi sử dụng nguồn tài liệu quý phục vụ trong suốt quá trình xây dựng luận văn
Xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, đơn vị đã dành những chia sẻ, động viên, ủng hộ tinh thần và vật chất giúp tôi học tập, nghiên cứu, hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Thanh Hoá, ngày 12 tháng 9 năm 2022
Tác giả
Ngô Thị Phượng
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN……….i
LỜI CẢM ƠN……… ii
MỤC LỤC……… ……iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT……… ….… v
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài……… … 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… 3
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu……… 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……….……… 6
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu……… 7
6 Đóng góp của luận văn……… 10
7 Bố cục của luận văn……… ……… 11
Chương 1 VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT VÂN SƠN 12
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 12
1.1.1 Vị trí địa lý 12
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 14
1.2 Quá trình hình thành vùng đất Vân Sơn 18
1.2.1 Địa danh vùng đất trong lịch sử 18
1.2.2 Quá trình hình thành làng xã 18
1.3 Truyền thống lịch sử - văn hoá 30
1.3.1 Trong chiến đấu, chống giặc ngoại xâm 31
1.3.2 Trong lao động, sản xuất 32
1.3.3 Trong giáo dục, khoa cử 35
Tiểu kết chương 1 37
Chương 2 DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ 38
2.1 Đình và Nghè 38
2.1.1 Đình làng Vân Cổn 38
Trang 82.1.2 Nghè làng Hưng Thành 42
2.2 Đền thờ 44
2.2.1 Quần thể di tích đền Bà Triệu 44
2.2.2 Đền thờ Bà chúa Liễu Hạnh 52
2.3 Nhà thờ họ 54
2.3.1 Nhà thờ họ Lê Quang 54
2.3.2 Nhà thờ họ Lê Hữu 56
2.3.3 Nhà thờ họ Lê Kim 57
2.4 Thực trạng và giải pháp bảo tồn phát huy giá trị 59
2.4.1 Thực trạng 59
2.4.2 Giải pháp bảo tồn phát huy giá trị 61
Tiểu kết chương 2 61
Chương 3 DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 66
3.1 Lễ hội đình làng Vân Cổn 66
3.1.1 Lễ hội tháng 2 66
3.1.2 Lễ hội tháng 11……… 68
3.2 Lễ hội đền Bà Triệu 68
3.3 Nghệ thuật diễn xướng và trò chơi dân gian 73
3.3.1 Nghệ thuật diễn xướng dân gian 73
3.3.2 Trò chơi dân gian 81
3.4 Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy các giá trị 86
3.4.1 Thực trạng 86
3.4.2 Giải pháp 88
Tiểu kết chương 3 89
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC P1
Trang 9UBTVQH Uỷ ban thường vụ Quốc hội
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Làng xã Việt Nam từ lâu đã trở thành chủ đề thu hút sự quan tâm của các học giả trong và ngoài nước, đặc biệt là khoa học lịch sử Từ các hướng tiếp cận khác nhau, cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về làng xã được công bố Kết quả nghiên cứu đã cung cấp những tư liệu và nhận định có giá trị khoa học, góp phần nâng cao nhận thức về thực thể làng xã và nông thôn Việt Nam Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu về làng xã vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ những đòi hỏi của khoa học và thực tiễn đặt ra
Thực hiện Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng qua các kỳ Đại hội (X, XI, XII, XIII) vấn đề nông thôn và văn hóa làng xã Việt Nam đã trở thành một trong những quyết sách quan trọng của quốc gia Do đó, kết quả nghiên cứu về làng Việt cổ truyền cũng như lịch sử văn hoá của các làng xã sẽ
là những luận cứ khoa học để đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị, bản sắc văn hoá dân tộc Đồng thời, góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn, hội nhập toàn cầu Đây là một công việc cần thiết và cấp bách đang đòi hỏi phải có sự đóng góp của nhiều ngành khoa học nói chung và khoa học lịch sử nói riêng
1.2 Trong dòng chảy lịch sử Việt Nam, vùng Ái Châu xưa, Thanh Hóa
ngày nay được xem là đất “Tam vương nhị chúa”, “đế vương chung hội”
Nơi đây là đất phát tích của nhiều dòng họ, danh nhân, công thần, tướng lĩnh tiêu biểu góp phần làm rạng rỡ truyền thống lịch sử - văn hóa dân tộc
Đối với xứ Thanh, Triệu Sơn là vùng đất có nhiều đóng góp trong công cuộc chống giặc ngoại xâm, công lao mở mang bờ cõi, sáng tạo văn hóa, hình thành nên truyền thống lịch sử và bản sắc văn hoá của cộng đồng dân tộc Việt Nam Triệu Sơn là huyện chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng phía Tây tỉnh Thanh Hoá Nơi đây, được mệnh danh là miền đất của lịch sử - văn hóa lâu đời Các thế hệ cộng đồng cư dân Triệu Sơn đã trải qua quá trình sinh cơ, lập nghiệp hàng trăm năm, góp phần làm rạng danh những trang sử quê hương - đất nước
Trang 111.3 Vùng đất Vân Sơn là một trong 34 xã, thị trấn của huyện Triệu Sơn So với các làng Việt khác thì Vân Sơn là một vùng đất giàu truyền thống lịch sử và văn hoá, vừa mang đặc điểm chung của làng Việt vừa mang sắc thái riêng của một làng bán sơn địa nằm ở phía Tây Nam huyện Triệu Sơn Vùng đất Vân Sơn là nơi hội tụ, sinh cơ lâp nghiệp của nhiều dòng họ, như: họ Lê, Nguyễn, Hoàng, Quản, Tô, Đặng Vùng đất này còn hiện hữu nhiều loại hình di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đặc sắc, mang đậm dấu
ấn lịch sử - văn hóa dân tộc Đặc biệt, có di tích đền thờ Bà Triệu được xếp hạng di sản văn hoá cấp tỉnh Ngoài ra, vùng đất Vân Sơn còn có nhiều lễ hội lớn in đậm truyền thống văn hoá còn lưu giữ đến ngày nay
Với những đặc trưng riêng biệt đó, việc nghiên cứu lịch sử văn hoá vùng đất Vân Sơn nói chung, các di sản văn hoá nói riêng đã trở thành nhiệm
vụ có ý nghĩa quan trọng và cấp bách Từ đó, có những đề xuất, kiến nghị các giải pháp bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các loại hình di sản nhằm góp phần xây dựng đời sống văn hoá - xã hội và phát triển kinh tế - xã hội địa phương, phù hợp với xu thế phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay
1.4 Trong những năm gần đây, một số di sản văn hóa vật thể và phi vật thể như nghè, miếu, cổng làng, giếng làng, trò chơi dân gian…bị phá huỷ, xuống cấp và có nguy cơ bị mai một Bên cạnh đó, hoạt động mê tín dị đoan len lỏi vào các xóm làng để thu lợi nhuận cá nhân nên văn hóa làng quê truyền thống có nguy cơ bị phá vỡ Công tác bảo tồn, trùng tu các khu di tích còn nhiều hạn chế chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách của địa phương
Vì vậy, việc nghiên cứu lịch sử văn hóa vùng đất Vân Sơn đã trở thành một nhiệm vụ bức thiết Nghiên cứu sâu và toàn diện các giá trị văn hóa vùng đất Vân Sơn vừa góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị lịch sử - văn hóa truyền thống, đồng thời còn là những luận cứ khoa học để xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ hội nhập toàn cầu
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả mạnh dạn chọn vấn đề Lịch sử
văn hoá vùng đất Vân Sơn (Triệu Sơn, Thanh Hóa) làm đề tài luận văn thạc sỹ
chuyên ngành lịch sử Việt Nam
Trang 12Xuất phát từ nhận thức đó, từ trước đến nay, đặc biệt là trong những thập kỷ gần đây, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã quan tâm hơn đến vùng đất Vân Sơn, đặc biệt là di tích đền thờ Bà Triệu tọa lạc tại núi tía xã Vân Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa Một số công trình nghiên cứu đã được biên soạn, xuất bản nhưng còn sơ lược, tản mạn
Tài liệu nghiên cứu viết về làng xã Việt Nam qua các tác phẩm như Việt
Nam văn hoá sử cương của Đào Duy Anh [1], Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính [3], Tìm hiểu bản sắc văn hoá Việt Nam của Trần Ngọc Thêm [57] cung
cấp những kiến thức cơ bản giúp tác giả tìm hiểu mọi mặt của văn hóa Việt Nam nói chung, văn hoá xứ Thanh nói riêng từ vị trí địa lí đến khí hậu, kinh
tế, giáo dục, lịch sử, chính trị, tôn giáo đưa ra các nhận định khoa học liên quan tới vấn đề nghiên cứu
Sách 20 năm đổi mới của đảng bộ nhân dân huyện Triệu Sơn, xuất bản
năm 1985 [17] ghi chép lại lịch sử kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, chi viện cho cuộc đấu tranh giải phóng Miền Nam, bước đầu xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, đưa Triệu Sơn thành huyện tiên tiến của tỉnh Thanh Hoá của nhân dân xã Vân Sơn và 10 xã huyện Triệu Sơn
Cuốn Nữ chúa Việt Nam [22], xuất bản năm 1997 đã ghi lại các truyền
thuyết dân gian, thần tích lưu truyền ở địa phương về thời đại Hai Bà Trưng
Trong các tài liệu viết về làng xã Thanh Hoá cuốn Địa chí Thanh Hoá,
Tập I, xuất bản năm 2000 [53], giới thiệu một cách tổng quát về Địa lý và
Lịch sử tỉnh Thanh Hoá Trong công trình nghiên cứu ở phần II Địa lý hành
chính tỉnh Thanh Hoá, các nhà nghiên cứu đã giới thiệu Vùng đất Triệu Sơn
thời Thuộc Hán là đất của huyện Cư Phong “Ở phía Na Sơn, tức núi Nưa tức
là vùng đất từ bắc Tĩnh Gia kéo sang huyện Nông Cống, Triệu Sơn, Quảng
Trang 13Xương, Đông Sơn”; sang thời Tuỳ - Đường huyện Cửu Chân bao gồm: Nông
Cống, Triệu Sơn, Đông Sơn; Đến thời Lê – Nguyễn xã Vân Cổn (thuộc Vân Sơn ngày nay) thuộc tổng Cổ Định huyện Nông Cống Tại chương II cuốn
sách Ý nghĩa các lần thay đổi tên đơn vị hành chính của tỉnh Thanh Hoá giới
thiệu về lịch sử vùng đất huyện Triệu Sơn; giới thiệu núi Nưa, sông Nhơm thuộc xã Vân Sơn ngày nay
Sách Tên làng xã Thanh Hóa tập 2 [8] của Ban nghiên cứu và Biên
soạn lịch sử Thanh Hóa giới thiệu về quá trình hình thành và tên gọi của vùng đất Triệu Sơn
Cuốn Những làng văn hoá tiểu biểu tỉnh Thanh Hoá [49], xuất bản năm
2004, giới thiệu làng Đạt Thành còn có tên gọi là Đa Bao (Đa Bươu) thuộc xã Vân Sơn - huyện Triệu Sơn Nơi đây còn có các chứng tích Bùng Voi, Miếu Khai Sơn, đền Bà Chúa Liễu Hạnh, mỏ crôm
Sách Địa chí Thanh Hoá, Tập II Văn hoá xã hội (2004) giới thiệu các
thành tựu di sản văn hoá vật thể và phi vật thể tiêu biểu tại các địa phương trong tỉnh có Lễ hội Bà Triệu [54]
Cuốn Lịch sử đảng bộ huyện Nông Cống tập I (1946 – 2005), nhà xuất
bản Thanh Hoá (2005) [18] ghi lại huyện Triệu Sơn trước đây là một xã thuộc huyện Nông Cống cũ Sông Nhơm chảy qua xã Vân Sơn có chiều dài 66,9 km bắt nguồn từ huyện Như Xuân, chảy ven núi nưa (hiện nay thuộc huyện Triệu Sơn)
Sách Địa chí Thanh Hoá, Tập III Kinh tế xuất bản năm 2010 [55] là công trình quan trọng phục vụ cho nghiên cứu đề tài Phần IV Sự phân hoá
kinh tế Thanh Hoá theo lãnh thổ giới thiệu khái quát về vị trí địa lý, tình hình
kinh tế xã hội huyện Triệu Sơn
Công trình Địa chí huyện Triệu Sơn [51] nhà xuất bản Khoa học xã hội,
Hà Nội năm 2010 đã giới thiệu về tổng diện tích tự nhiên, dân cư, hành chính
và quá trình hình thành các làng xã Vân Sơn như: làng Phú Sơn, làng Vân Cổn, làng Đạt Thành, làng Tiền Phong, làng Hương Sơn, làng Hưng Thành
Sách Lịch sử Đảng bộ xã Vân Sơn (1953 – 2013) [56] xuất bản năm
2013 chào mừng 60 năm thành lập xã Vân Sơn và Đảng bộ xã từ năm 1953 –
2013 là công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến vùng đất Vân Sơn Cuốn sách giới thiệu về điều kiện tự nhiên – xã hội, dân cư, lịch sử đảng bộ xã Vân
Trang 14sơn 60 năm trưởng thành và phát triển Đây là nguồn tài liệu rất quan trọng để hiểu làm rõ hơn các nội dung của đề tài Tuy nhiên, nội dung cuốn sách tập trung chủ yếu là truyền thống cách mạng xã Vân Sơn, việc nhìn nhận lịch sử - văn hoá của vùng đất Vân Sơn chưa thật sự khái quát rõ nét
Cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Triệu Sơn 50 năm xây dựng và trưởng
thành (1965 – 2016) [11], xuất bản năm 2015 nhắc đến nhân vật lịch sử nữ
anh hùng dân tộc Triệu Thị Trinh với những đóng góp to lớn dân tộc nói chung và vùng đất Triệu sơn Để tưởng nhớ công lao của Bà, nhân dân đã lập đền thờ Bà Triệu toạ lạc tại núi Tía, xã Vân Sơn, Huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá Hằng năm, cứ đến tháng 2 âm lịch tại đền Bà Triệu nhân dân xã nhà tổ chức lễ hội tưởng nhớ công ơn to lớn của bà, báo cáo kết quả của một năm đã qua, cầu năm mới bình an, mùa màng bội thu
Sách Triệu Sơn 35 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành xuất bản
năm 2021 [20], do Đảng bộ huyện Triệu Sơn biên soạn giới thiệu về diện tích
tự nhiên, dân số, thành tích nổi bật của xã Vân Sơn qua các thời kỳ chống Mỹ, thời kỳ đổi mới
Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Dinh Quản lý đền thờ Bà Triệu
(Đền Tía) xã Vân Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá (2021) [15] đã chỉ ra
cơ sở lý luận của việc quản lý di tích đền Bà Triệu, đánh giá hoạt động quản
lý, chỉ đạo trong công tác trùng tu, tôn tạo từ đó đề ra các giải pháp quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị khu di tích Tuy nhiên, luận văn tập trung vào một di tích chính là đền Bà Triệu, chưa giới thiệu hết các công trình trong toàn bộ khu di tích, để có giải pháp chung cho tổng thể toàn bộ khu di tích
Nhìn chung, đây là những công trình nghiên cứu liên quan đến vùng đất Vân Sơn với nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau Các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại tìm hiểu, nghiên cứu ở một lĩnh vực như lịch sử hình thành vùng đất, nguồn gốc dân cư, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hoá cũng như một vài địa phương trong tỉnh trong đó có vùng đất Vân Sơn lịch
sử văn hoá vùng đất Vân Sơn Vì vậy, với luận văn này, tác giả muốn tìm hiểu một cách có hệ thống các di tích lịch sử văn hoá vật thể và phi vật thể của vùng đất Vân Sơn, những đóng góp của cộng đồng dân cư, của các cá nhân,
Trang 15dòng họ trong suốt tiến trình lịch sử dân tộc Từ đó, có một số giải pháp, kiến nghị trong công tác bảo tồn, phát huy những truyền thống văn hoá, lịch sử, các sản văn hóa vật thể và phi vật thể của huyện Triệu Sơn, Thanh Hoá nói chung và Vân Sơn nói riêng
3 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu toàn diện quá trình phát sinh, phát triển và giá trị các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vùng đất Vân Sơn Từ đó, đánh giá thực trạng di sản văn hóa trên vùng đất này để đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, quá trình hình thành, phát triển và các truyền thống lịch sử - văn hoá của vùng đất Vân Sơn
Làm rõ hệ thống di sản văn hoá vật thể, phi vật thể tại địa phương Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy giá trị di sản
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nguồn gốc, quá trình phát sinh, phát triển và giá trị của các loại hình di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể) trên vùng đất Vân Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu của đề tài là quá trình hình thành, phát triển và các giá trị lịch sử - văn hóa của vùng đất Vân Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Không gian của đề tài được giới hạn trong địa bàn xã Vân Sơn với các làng: làng Vân Cổn, làng Hưng Thành, làng Sơn Phú, làng Hương Sơn, làng Tiền Phong, làng Đạt Thành…
Ngoài ra, đề tài có thể mở rộng phạm vi khảo sát đến các làng, xã phụ cận để tìm hiểu các vấn đề liên quan đến lịch sử văn hoá vùng đất Vân Sơn như: xã Thái Hoà thuộc Triệu Sơn, xã Xuân Du thuộc Như Thanh
- Thời gian nghiên cứu tập trung vào sự hình thành các làng xã cùng
Trang 16nguồn gốc, quá trình tôn tạo, phục dựng di sản văn hóa trên vùng đất Vân Sơn trong dòng chảy lịch sử văn hóa dân tộc
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
5.1.1 Nguồn tài liệu thành văn
Có thể nói, để hoàn thành được luận văn, tác giả đã cố gắng tập hợp và khai thác thông tin triệt để từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau
Ngay từ thời phong kiến đã có các tác phẩm đề cập đến vùng đất và con
người Triệu Sơn nói chung và vùng đất Vân Sơn nói riêng như Đại Việt sử ký
toàn thư của Ngô Sỹ Liên viết về người con gái Triệu Ẩu (tức Bà Triệu) là
người con gái quận Cửu Chân, họp quân trong núi, đánh phá thành ấp, các bộ đều theo như bóng với hình…cũng là bậc hùng tài trong nữ giới” [29] Sách
Thanh Hoá Chư thần lục [60] do bộ lễ soạn, biên tập năm Thành Thái thứ 15
(1903) ghi làng Vân Cổn xã Vân Sơn (thuộc Nông Cống trước đây) thờ Chiêu Ứng tôn thần Đây là nguồn tài liệu có giá trị để nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển vùng đất Vân Sơn và nguồn gốc các loại hình di sản văn hoá trên vùng đất này
Sách Đại Nam nhất thống chí [35] biên soạn đời vua Duy Tân của Quốc sử quán triều Nguyễn trong phần Liệt nữ viết về Triệu Ẩu (tức Bà Triệu) “Theo Giao Chỉ chí, trong núi quận cửu chân, có người con gái họ
Triệu, vú dài 3 thước, không lấy chồng, họp tập đồ đảng, thường mặc áo gai màu vàng và đi guốc cưỡi đầu voi để đánh nhau với địch, năm Hán Diên Hy thứ 11, Ngô Tôn Quyền sai thứ sử là Lục Dận đem quân đánh dẹp, Triệu Ẩu chết; sau làm thần; Quảng Đông tân ngữ nói: “Triệu Ẩu là anh hùng trong phụ nữ’’ Có thể nói đây là những công trình sử liệu sớm nhất khảo về nhân
vật lịch sử gắn với chiến công tại vùng đất Vân Sơn Tuy nhiên, về đời sống văn hoá vật chất và tinh thần, tên gọi làng xã của cư dân vùng đất Vân Sơn chưa được đề cập tới nhiều và còn rất sơ lược
Một nguồn tài liệu khác có giá trị đặc biệt quan trọng đó là gia phả các dòng họ Tuy chỉ nói về một dòng họ, nhưng trong mỗi quyển gia phả của các
dòng họ lớn như; Gia phả dòng họ Lê Quang [23], Gia phả dòng họ Lê Kim
[21] có quan hệ chặt chẽ với các sự kiện lịch sử trong tiến trình xây dựng và phát triển vùng đất Vân Sơn
Trang 17Ngoài ra, nguồn tài liệu về Di tích lịch sử văn hoá và thắng cảnh đền
thờ Bà Triệu, tại làng Vân Cổn, xã Vân Sơn, Triệu Sơn [16], Quyết định số: 288/VHQĐ ngày 15 tháng 11 năm 1993 về việc công nhận di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắm cảnh đền Bà Triệu (đền Tía) thôn Vân Cổn, xã Vân Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh
[45]… lưu tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hoá, phòng văn hoá huyện Triệu Sơn, phòng văn hoá xã Vân Sơn là các công trình liên quan đến đến di tích lịch sử văn hoá đền Bà Triệu tại vùng đất Vân Sơn Các tài liệu hương ước, quy ước
các làng như; Hương ước xây dựng làng văn hoá Hương Sơn [27], Hương
ước xây dựng làng văn hoá Vân Cổn [28], Quy ước xây dựng làng văn hoá Hưng Thành [36], Quy ước xây dựng làng văn hoá Tiền Phong [37], Quy ước xây dựng làng văn hoá Vân Cổn [38], Quy ước xây dựng làng văn hoá Sơn Phú [39], Quy ước xây dựng làng văn hoá Bắc Sơn [40], Quy ước xây dựng làng văn hoá Đạt Thành [41] là các cam kết tự nguyện của nhân dân các
làng tai Vân Sơn, có vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội trong mỗi làng và các làng xung quanh
Ngoài các nguồn tài liệu trên, lý lịch các di tích lịch sử - văn hoá, câu đối, hoành phi, hương án, hương ước trong các từ đường dòng họ, các di tích lịch sử, nhà văn hoá thôn ở xã Vân Sơn cũng là một nguồn tài liệu quý và quan trọng để tác giả khai thác, giải quyết những vấn đề mà luận văn đề ra
- Để thực hiện đề tài, tác giả còn khai thác triệt để nguồn tư liệu dân tộc học và nguồn tư liệu văn hoá dân gian qua ca dao, tục ngữ, vè, truyền thuyết, giai thoại…tại vùng đất Vân Sơn
5.1.2 Nguồn tài liệu vật chất
Tài liệu vật chất được sử dụng trong luận văn không phải là một công trình chuyên sâu về các hiện vật khảo cổ, di vật… của vùng đất Vân Sơn Nguồn tài liệu này được sử dụng như những tài liệu, làm sáng tỏ thêm về lịch
sử văn hoá của vùng đất Vân Sơn bao gồm đình làng, đền thờ, nghè, miếu, nhà thờ họ, gia phả, bát hương và đồ thờ trong các di tích
5.1.3 Nguồn tài liệu văn hoá dân gian
- Nguồn tài liệu văn hoá dân gian là các truyền thuyết, ca dao, tục ngữ,
giai thoại, hò vè có liên quan đến di sản, lịch sử văn hoá vùng đất Vân Sơn
Trang 18- Các phong tục, lễ hội, tín ngưỡng ở vùng đất Vân Sơn giúp tìm hiểu lịch sử văn hoá vùng đất theo góc nhìn tâm thức văn hoá dân gian Do nguồn tài liệu này không được coi là chính sử nên khi sử dụng tác giả cũng rất cẩn trọng và nghiên cứu kỹ trước khi sử dụng
5.1.4 Nguồn tư liệu điền dã thực địa
Để bổ sung thêm nguồn tư liệu trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn
sử dụng cả nguồn tư liệu điền dã thông qua việc khảo sát thực địa, tìm hiểu, ghi chép, gặp gỡ và phỏng vấn các cụ cao tuổi trong làng, trong các dòng họ
để làm sáng rõ những vấn đề đã đặt ra của luận văn, đặc biệt là nguồn tư liệu liên quan đến đình làng Vân Cổn
Tác giả đã đến khảo sát thực địa tại làng các di tích như: đình làng Vân Cổn, đền thờ Bà Triệu (Đền Tía), đền thờ Chúa Thượng Ngàn, đền thờ Bà Chúa Liễu Hạnh tại làng Đạt Thành, từ đường họ Lê Quang, từ đường họ Lê Kim, từ đường họ Lê Hữu Bằng chứng còn lại là phong cách kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc, bệ thờ, tượng thờ, giếng cổ, hương án, gia phả
Khảo sát thực địa một số làng như: làng Vân Cổn, làng Phú Sơn, làng Hưng Thành, làng Đạt Thành, làng Tiền Phong, làng Hương Sơn để làm rõ thêm những vấn đề liên quan đã đặt ra trong luận văn
Bên cạnh đó, trong quá trình khảo sát điền dã thực địa tác giả cũng chú trọng việc sưu tầm các truyện kể, truyền thuyết, ca dao, tục ngữ có liên quan đến đất và người Vân Sơn như các phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, lễ tục dân gian ở Vùng đất Vân Sơn
Có thể nói, trong quá trình khảo sát thực địa, tác giả luận văn mới chỉ dừng lại qua các cuộc điều tra, khảo sát di tích trên bề mặt và chủ yếu được giới hạn trong phạm vi nhỏ hẹp của các di tích, đình, đền, từ đường dòng họ Tuy kết quả khảo sát mới chỉ dừng lại nhằm phục vụ công tác bảo tồn, trùng
tu, tôn tạo những di tích này nhưng bước đầu đã định hướng cho việc tìm hiểu, nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển của một dòng họ, một làng cổ, vùng tiếp giáp giữa miền xuôi và miền ngược, giữa vùng núi và đồng bằng, để hiểu rõ hơn về lịch sử, di tích và lễ hội văn hoá của một vùng đất
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Để triển khai các ý tưởng khoa học, đề tài luận văn sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp phương pháp logic nhằm phác hoạ lại một cách chân
Trang 19thực, khách quan bức tranh tổng thể về lịch sử văn hoá vùng đất Vân Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác như: phương pháp thống kê, đối chứng, so sánh, phân tích, tổng hợp
- Để nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển của di sản văn hoá ở vùng đất Vân Sơn trong mối liên hệ tác động của các làng xã cận kề như xã Thái Hoà, xã Nông Trường, xã Tân Ninh, xã Xuân Du, luận văn mạnh dạn vận dụng phương pháp Khu vực học Với hướng tiếp cận liên ngành và phương pháp khu vực học, vùng đất Vân Sơn là một không gian văn hoá (theo đơn vị hành chính) và được xem xét trong mối quan hệ tương tác giữa điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội và hoàn cảnh lịch sử, để từ đó rút ra những đặc trưng văn hóa vùng đất Vân Sơn
- Phương pháp điền dã, khảo sát thực địa: Khảo sát điền dã thu thập tư liệu, kiểm chứng và bổ sung thiếu hụt kết quả nghiên cứu Kết hợp so sánh với kết quả điều tra, điền dã thực trạng tại các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể ở Vân Sơn
- Đề tài luận văn sử dụng phương pháp xã hội học như thực hiện phỏng vấn, ghi âm các cụ cao niên, người quản lý, trông giữ đi tích ở địa phương, người đứng đầu dòng họ tại vùng đất Vân Sơn
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn là công trình nghiên cứu có tính hệ thống về lịch sử hình thành, chia tách, sáp nhập và phát triển các thôn, làng trên vùng đất Vân Sơn
Cung cấp thên luận cứ khoa học để địa phương biện soạn lịch sử làng xã
- Luận văn nghiên cứu toàn diện các di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể), danh nhân tiêu biểu vùng đất Vân Sơn Qua đó, đề xuất giải pháp bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa, truyền thống gia đình, dòng họ, quê hương
- Kết quả nghiên cứu luận văn là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị phục
vụ cho nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy bộ môn lịch sử Việt Nam, lịch sử địa phương… góp phần hướng dẫn thực tế, tham quan quan di tích lịch sử, văn hoá
lễ hội và con người Vân Sơn và các di sản vùng phụ cận
Trang 207 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dung luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Vài nét về vùng đất Vân Sơn
Chương 2: Di sản văn hoá vật thể
Chương 3: Di sản văn hoá phi vật thể
Trang 21Chương 1 VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT VÂN SƠN
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Triệu Sơn là huyện đồng bằng bán sơn địa nằm ở phía Tây - Nam của châu thổ sông Mã và sông Chu của tỉnh Thanh Hoá Huyện Triệu Sơn phía bắc giáp với hai huyện Thọ Xuân và Thiệu Hoá, phía Nam giáp với huyện Nông Cống và Như Thanh, phía tây giáp với huyện Thường Xuân, phía đông giáp huyện Đông Sơn và Thành phố Thanh Hóa Đây là huyện ở vị trí chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi phía Tây của tỉnh Huyện Triệu Sơn được thành lập đầu năm 1965 trên cơ sở sát nhập 13 xã nam Thọ Xuân và 20 xã Bắc Nông Cống (theo Quyết định số: 177/QĐ-CP ngày 16/12/1964 của Hội đồng Chính Phủ) Ngày 16/10/2019 Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 786/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Thanh Hóa (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1/12/2019) Theo đó, huyện Triệu Sơn có 2 thị trấn và 32 xã như hiện nay
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là: 291,96km2, dân số: 223.521 người Huyện có hai dạng địa hình cơ bản Trung du miền núi và đồng bằng Vân Sơn là một trong 7 xã (xã Thái Hoà, Tân Ninh, Vân Sơn, Thọ Bình, Thọ Sơn, Bình Sơn, Triệu Thành) của vùng trung du miền núi với diện tích tự nhiên 8.851ha Địa hình đồng bằng là vùng trồng lúa trọng điểm của tỉnh và huyện gồm 28 xã có diện tích tự nhiên 20.349 ha [51; tr.17-18]
Nằm ở vị trí giao thông có Quốc lộ 47 và Tỉnh lộ 501, 504, 506 đi qua,
từ Triệu Sơn có thể giao lưu với nhiều vùng trong và ngoài tỉnh Dọc theo quốc lộ 47 về phía Tây 20km là thành phố Thanh Hóa – trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của tỉnh Thanh Hoá Cũng từ quốc lộ 47 ngược về là khu công nghiệp Lam Sơn – Sao Vàng, vùng kinh tế các huyện miền núi phía tây của tỉnh Từ triệu Sơn có thể vào Nghệ An dọc theo đường bộ qua Nông Cống
- Như Thanh - Như Xuân Dọc theo tuyến đường Hồ Chí Minh ra Hà Nội hơn
130 km, ngược lên miền Tây sang nước bạn Lào khoảng 160 km Từ Triệu Sơn dễ dàng vào Nam ra Bắc, đi đến các tỉnh bằng các tuyến đường đường
Trang 22quốc lộ 1A và tuyến đường sắt xuyên Việt, đường thuỷ với hai con sông Nhơm và sông nhà Lê
Có thể nói vùng đất hội tụ đủ các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hoà”, là
nơi gặp gỡ của nhiều luồng dân cư, nơi định cư của nhiều dòng họ lớn đến sinh
cơ, lập nghiệp, xây dựng xóm làng ấm no, tươi đẹp Ngày nay, vị trí giao thông thuận lợi là điều kiện phát triển, giao lưu, hội nhập, kinh tế - xã hội bền vững
Vân Sơn là một trong 34 xã, thị trấn của huyện Triệu Sơn, cách trung tâm huyện 4km về phía Nam, cách thành phố 20km về phía Tây Vân Sơn có tổng diện tích tự nhiên: 1.640,10ha, dân số: 7.256 nhân khẩu theo số liệu
thống kê năm 2010 sách Địa chí huyện Triệu Sơn Phía bắc giáp hai xã An
Nông và Hợp Thắng; phía nam giáp huyện Nông Cống, phía đông giáp hai xã
là Xã Nông Trường và xã Thái Hoà, phía tây giáp huyện Thọ Xuân có tuyến đường nối thành phố Thanh Hoá đi sân bay Thọ Xuân (huyện Thọ Xuân) dài gần 35 km
Địa bàn xã Vân Sơn có vị trí tiếp giáp giữa đồng bằng với trung du miền núi Trên bản đồ, Vân Sơn chạy theo hướng chếch từ Đông Bắc xuống Tây Nam có chiều dài gần 8km Điểm cực Nam là núi Nưa Điểm cực Bắc là cánh đồng Cây Sơn (thôn Vân Đình)
Trên địa bàn xã Vân Sơn hiện nay có nhiều tuyến giao thông quan trọng như: đường sông nhà Lê, đường DT506, tuyến đường nối từ Nghi Sơn – Thọ Xuân dài 540m đi qua làng Hương Thành của xã Dự án chia thành hai giai đoạn, giai đoạn một khởi công tháng 5-2019, giai đoạn hai triển khai tháng 10-2020, theo dự kiến, tuyến đường sẽ hoàn thành đi vào khai thác tháng 10-2022, giúp rút ngắn khoảng cách và thời gian di chuyển từ địa bàn Vân Sơn xuống thành phố Thanh Hóa là 15 km cũng như rút ngắn thời gian đi đến các tỉnh lân cận, Cảng hàng không Thọ Xuân, và các vùng kinh tế miền núi Đây là một điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội và giao lưu kinh tế với các vùng miền trong cả nước
Với vị trí địa lý đặc biệt, Vân Sơn được coi là vùng đất mở, địa linh, nhân kiệt để chào đón, mời gọi các luồng dân cư từ xa đến khai khẩn đất đai, dựng làng, dựng xóm để tụ cư ổn định lâu dài
Trang 231.1.2 Điều kiện tự nhiên
Vùng đất Vân Sơn có cảnh quan tự nhiên tương đối phức tạp Các cuộc kiến tạo địa chất, tạo sông, tạo núi đã tạo cho vùng vừa có địa hình đồng bằng, đồi núi thấp, đồi núi cao, có sông Cảnh quan tự nhiên đã tạo nên một vùng danh thắng và đặt ra nhiều thách thức với đời sống người dân Vân Sơn
Cảnh quan địa hình xã Vân Sơn chia thành hai vùng: Khu vực phía Bắc
là vùng đồng bằng dân cư sinh sống dọc hai bờ sông Nhơm, dọc đường giao thông, các cánh đồng trải dài về hướng Tây, hướng nam và hướng đông; Khu vực phía nam xã là địa hình bán sơn địa kéo dài từ làng Đạt Thành, Hương Sơn đến phía Bắc và Đông Bắc của dãy núi Nưa Địa hình có nhiều đồi núi ở làng Đạt Thành như đồi Ho, đồi Bịp Bên cạnh đó, ở phía đông dọc Vực Bưu còn có khu đồng trũng
Địa hình vừa có đồng bằng, trung du bán sơn địa nên đất đai ở Vân Sơn cũng chia thành nhiều nhóm: nhóm phù sa cổ ít được bồi đắp nên thường xuyên được người dân cải tạo để trồng lúa, mía, lạc, đậu; nhóm đất fealit nâu vàng tập trung tại các làng Sơn Phú, Tiền Phong, Đạt Thành phù hợp trồng các loại cây tre, luồng, chè, keo, hoa đào, cây ăn quả; nhóm đất đen ở phía Tây Nam gồm các làng Sơn Phú, Hưng Thành thích hợp trồng cây lấy gỗ lâu năm Địa hình dốc nghiêng đã tạo ra thuận lợi cho việc xây dựng các công trình thủy nông tự chảy và tiêu thoát nước
Vân Sơn là xã có diện tích lớn thứ năm của huyện Triệu Sơn Nguồn gốc đất đai hình thành chủ yếu là nhóm đất sét pha, đất cát pha, đất feralit nâu vàng Trong quá trình hình thành và chịu biến đổi của thời tiết gió mùa, thiên nhiên, con người đất đai đã được khai phá, cải tạo, ngày càng màu mỡ, cây trông phong phú hơn Theo số liệu thống kê của chi cục thống kê tỉnh Thanh Hoá năm 2012 tổng diện tích tự nhiên của toàn xã là 1.553,27ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 839,39ha, đất phi nông nghiệp là 524,12ha, đất mặt nước 108,56ha, đất chưa sử dụng: 88,19ha Vân Sơn có 392,78 ha đất lâm nghiệp chiếm ¼ đất tự nhiên toàn xã, trong đó 322 ha là rừng phòng hộ, 69,98ha là rừng sản xuất Các dự án 327 ngàn Nưa và dự án 661 bảo vệ, chăm sóc, trồng rừng mới đang được triển khai có hiệu quả Phát triển kinh tế lâm nghiệp góp
Trang 24phần phủ xanh đất trống đồi trọc, chống rửa trôi, điều hoà không khí và tạo việc làm cho hàng trăm lao động trong xã
Vân sơn có dãy núi Nưa (núi Na) nằm ở phía tây nam của xã, có vị trí tiếp giáp giữa miền núi và đồng bằng với chiều dài gần 20km, rộng 6km, đỉnh cao nhất 536m Đây là dãy núi cao nhất cảu đồng bằng châu thổ phía nam Thanh Hoá Hiện nay, dãy núi Nưa thuộc quyền quản lý của cả ba huyện: Triệu Sơn, Như Thanh, Nông Cống Tại địa bàn xã Vân Sơn, núi Nưa có một
ngọn núi mang tên núi Đông Săng, người dân hay gọi “núi bàn chân tiên”
Nơi đây lưu giữ nhiều truyền thuyết, giai thoại liên quan đến cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu thế kỷ thứ III chống quân Ngô xâm lược Núi Nưa được xem là ngọn núi chủ của đồng bằng xứ Thanh [52; tr.8-10]
Trên địa bàn xã Vân Sơn có con sông Nhơm (còn gọi là sông Lê, sông Lãn Giang) và hệ thống hồ (hồ Hương Sơn) chảy qua địa bàn các làng Vân Cổn, làng Vân Thành, Hưng Thành, làng Phú Sơn, làng Đạt Thành và làng Tiền Phong của xã Sông Nhơm bắt nguồn từ vùng núi phía Tây, chảy qua vùng đất Thọ Xuân, chảy qua 7 xã của huyện Triệu Sơn rồi đổ vào vùng đất Vân Sơn Cũng chính các rìa con sông này, dân cư đến định cư hình thành xóm làng từ rất sớm nhất Hai xã Vân Sơn và xã Thái Hoà có diện tích hồ Vực Bưu là 30,95 ha Hệ thống sông ngòi, mau, ao hồ thuận lợi cho nuôi trồng, đánh bắt thuỷ hải sản; vừa là nơi tiêu úng, vừa cung cấp nguồn nước phục vụ đời sống và sản xuất; giao thông đường thuỷ thuận lợi đi đến các vùng từ sông nhà Lê và mau Vực Bưu; phát triển du lịch sinh thái tại Vực Bưu Tuy nhiên, hiện tượng ngập úng hàng năm tại các vùng ven sông vẫn diễn ra gây thiệt hại không nhỏ đến đời sống nhân dân xã Vân Sơn và sinh hoạt sản xuất, hoạt động khai thác quặng Crôm làm tắc các dòng chảy, gây ô nhiễm môi trường Chính quyền địa phương đã cho khơi dòng chảy, gia cố các tuyến đê, thiên tai lũ lụt đã được khắc phục [51; tr 62]
Nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp chủ yếu
từ đập Bái Thượng điều tiết qua con sông Nhơm, hồ Hương Sơn, mau Vực Bưu và hệ thống kênh mương cung cấp Người dân Vân Sơn dùng nước sinh hoạt từ nước máy, nước giếng khoan và giếng khơi Kể từ ngày có đê sông
Trang 25Lê, đập ngăn nước xã Vân Sơn và các xã lân cận từ chỗ chỉ cấy được một vụ lúa thì nay đã cấy được hai vụ Các xứ đồng của xã hiện nay gồm: Đồng Vĩnh, Đồng Nghè, Đồng Rọc, Đồng Cua, Đồng Mít, Đồng Chợ, Đồng Nấm, Đồng Chiêm, Mỏ Sắt, Cồn Bạc, Mã Dứa, Bãi Câu
Nghề trồng lúa ở Vân Sơn có từ lâu đời và chiếm vị trí chủ đạo trong nền kinh tế nông nghiệp trong suốt chiều dài lịch sử Người dân Vân Sơn đã khai khẩn các khu đất hoang, gò, bãi, hay trồng xen trên đất hai lúa các loại cây hoa như cây mía, cây lạc, cây đậu, khoai, sắn, trồng hoa đào phục vụ nhu cầu lương thực của người dân, tăng thu nhập và thức ăn cho chăn nuôi Hàng năm, Vân Sơn là nơi cung cấp hoa đào cho các địa phương trong tỉnh vào dịp tết cổ truyền
Bên cạnh nghề trồng trọt là chính, người dân Vân Sơn vẫn duy trì nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm truyền thống như nuôi trâu, bò, lợn, gia cầm Mô hình chăn nuôi trang trại đã được thực hiện, chính quyền địa phương luôn có các chính sách hỗ trợ cho các hộ chăn nuôi quy mô lớn Với nguồn mặt nước phong phú nghề nuôi trồng đánh bắt thuỷ sản ở Vân Sơn cũng có điều kiện phát triển Phần lớn các gia đình ở Vân Sơn đều có ao nuôi cá, chăn thả gà vịt xung quanh, trồng rau, cây ăn quả trên bờ ao Người dân Vân Sơn khai thác đánh bắt cá, tôm, tép trên sông Nhơm, hay ở hồ, Mau, vùng đồng chiêm trũng Các dụng cụ được sử dụng như thuyền thúng, lưới, nơm úp, kéo te, làm đăng bẫy cá… Ngày nay, việc áp dụng mô hình mới vừa trồng lúa, vừa nuôi
cá, tôm, nuôi cá lồng trên sông đem lại năng suất kinh tế cao hơn
Ngoài sản xuất nông nghiệp nhiều gia đình ở Vân Sơn chuyên làm nghề mộc, làm hàng mã, lông mi, quặng crôm, sản xuất phân bón, buôn bán nhỏ
Hoạt động thương mại dịch vụ, trao đổi buôn bán trong xã, trao đổi buôn bán với các xã lân cận như: xã Thái Hoà, xã Đồng Thắng, xã An Nông,
xã Xuân Du ngày càng phát triển Kinh tế dịch vụ thương mại phục vụ cho cụm công nghiệp xã Hợp Thắng và cụm công nghiệp Nưa Vân Sơn có chợ chung tại làng Vân Cổn Hệ thống cửa hàng buôn bán nhỏ vật tư nông nghiệp,
đồ mĩ nghệ, cơ khí…nằm trên các trục đường liên xã, tỉnh lộ 506 Trao đổi buôn bán với bên ngoài qua các tỉnh lộ 506, đường DT506, quốc lộ 47, tuyến
Trang 26đường nối từ Nghi Sơn - Thọ Xuân Bên cạnh hoạt động dịch vụ thương mại nguồn lao động ở Vân Sơn còn cung ứng cho các cụm công nghiệp ở xã và các vùng lân cận
Dịch vụ du lịch văn hoá tâm linh với lễ hội truyền thống, hội làng, tham quan danh lam thắng cảnh như lễ hội đền Bà Triệu, hội làng Vân Cổn, mau Vực Bưu, núi Bàn Chân Tiên, núi Nưa cũng được các cấp chính quyền ngày càng chú trọng
Về nguồn tài nguyên, Vân Sơn có quặng sắt và quặng crôm, nhiều đồi núi thấp thuận lợi khai thác đá và chế tác đá ở núi Nưa, Vực Bưu Tại các làng Tiền Phong và Đạt Thành từ nhân dân từ lâu đã có nghề khai thác quặng Crôm quý hiếm với diện tích hơn 80ha Hiện nay có 2 công ty khai thác chế biến khoáng sản là Công ty cổ phần Cromit Việt Nam thuộc tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam và Công ty cổ phần Cromit Nam Việt Việc khai thác quặng đã góp phần cải thiện đời sống của người dân trong xã Rất nhiều ngôi nhà khang trang đã được xây dựng mới nhờ nguồn lợi nhuận của việc khai thác quặng
Về khí hậu thời tiết, xã Vân Sơn cũng như các xã, thị trấn của huyện Triệu Sơn đều chịu ảnh hưởng chung của yếu tố khí hậu nhiệt đới gió mùa
Có hai mùa rõ rệt: mùa hè nắng lắm mưa nhiều, có một mùa đông lạnh và khô Tổng nhiệt trung bình năm là 8.500 – 8.6000C Lượng mưa trung bình năm 1600 - 1900 mm, vụ mùa chiếm 86 - 89% lượng mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, tháng 8 lượng mưa cao đạt 350 - 400 mm Hàng năm có khoảng
130 - 140 ngày mưa Độ ẩm không khí trung bình 85%
Với đặc điểm khí hậu như trên đòi hỏi chính quyền địa phương phải tăng cường các giải pháp phòng chống rét, lũ lụt, gió tây, lựa chọn giống cây trồng thích hợp, chống úng, rửa trôi, xói mòn vào mùa mưa và chống hạn hán, cháy rừng vào mùa khô Có thể nói, điều kiện tự nhiên của Vân Sơn cơ bản thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và hoạt động dịch vụ thương mại Mặt khác, địa hình cảnh quan đa dạng là điều kiện khai thác tiềm năng du lịch cho du khách tới thăm quan và trải nghiệm
Trang 271.2 Quá trình hình thành vùng đất Vân Sơn
1.2.1 Địa danh vùng đất trong lịch sử
Vân Sơn xưa thuộc huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hoá Đây là vùng đất
cổ có từ thời nhà Trần Đến cuối thời Trần, Nông Cống là một trong bốn
huyện của châu Cửu Chân [2; tr 88-89]
Dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460 – 1498) Nông Cống là một trong
ba huyện của phủ Tĩnh Gia Đến thời vua Gia Long triều Nguyễn (1802 – 1820) huyện Nông Cống gồm 9 tổng, hơn 215 xã, thôn Vân Sơn lúc này thuộc địa bàn hai tổng Cổ Định và Lai Triều của huyện Nông Cống, phủ Tĩnh Gia, trấn Thanh Hoa Tổng Cổ Định có 38 xã, thôn trong đó có làng Vân Cổn thuộc xã Vân Sơn sau này Tổng Lai Triều có 12 xã, thôn trong đó có làng Sơn Đương thuộc xã Vân Sơn Đến thời vua Duy Tân 1907-1916, tổng Cổ Định đổi thành tổng Hữu Định, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đơn vị hành chính cấp Tổng bị xoá bỏ Các làng Vân Sơn ngày nay thuộc xã Vĩnh Gia của huyện Nông Cống
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, bóc lột các dân tộc thuộc địa, đồn điền Mỹ Cái được thành lập (1925 – 1930) Theo tài liệu truyền miệng được biết có một kỹ sư người Pháp
đã nhìn thấy hòn đá chứa quặng crôm dắt trên bó nứa mang sau vai của người dân Sau khi tìm hiểu, nghiên cứu thì bắt đầu quá trình khai thác quặng crôm tại vùng đất Triệu Sơn Thực dân Pháp còn cho xây dựng đập Bái Thượng, Chi Giang 6 Từ đó mà làng Sơn Phú, Hưng Thành, Đạt Thành đời sống sinh hoạt và sản xuất dễ dàng hơn Vùng Mỹ Cái ngày càng mở rộng diện tích, thì bọn chủ điền lập mưu chiếm đất Thấy được âm mưu dân làng Mỹ Cái đã đưa các thanh niên khoẻ mạnh lên đồi mỏ sắt và lập trại Hưng Thành sau này là làng Hưng Thành để ở, xây miếu, lập làng Từ năm 1953 – 1939 phong trào bình dân Pháp thắng lợi, chủ điền Mỹ Cái giao lại cho tá điền quản lý và rút
về các tỉnh lỵ và thành phố
Năm 1946 các xã: Bình Định, Hà Mơ, Vĩnh Gia nhập thành xã An Nông, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá Xã An Nông lúc bấy giờ gồm 14 làng của
Trang 28các xã Nông Trường, An Nông, Vân Sơn hiện nay Từ ngày 1/6/1946 đến năm 1953 Vân Sơn thuộc xã An Nông [18; tr 14-24]
Tháng 12 năm 1953 xã Vân Sơn được thành lập gồm ba làng: Đạt Thành, Sơn Phú, Vân Cổn và xóm Hưng Thành thuộc xã An Nông tách ra Vân Sơn vẫn thuộc huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá
Tháng 2 năm 1965 huyện Triệu Sơn được thành lập gồm 20 xã của huyện Nông Cống (trong đó có xã Vân Sơn), 13 xã của huyện Thọ Xuân theo quyết định 177/QĐ-CP ngày 16-12-1964 của Hội đồng chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính các huyện Nông Cống, Thọ Xuân thuộc tỉnh Thanh Hoá
Đến năm 1987 và 1994 thành lập thêm hai xã Triệu Thành và Bình Sơn Tháng 6 năm 1988 thành lập thị trấn Triệu Sơn theo quyết định số 99/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng Huyện Triệu Sơn hiện nay có 35 xã và 1 thị trấn Ngày 16/10/2019 Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 786/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Thanh Hóa (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1 tháng 12 năm 2019) Theo đó huyện Triệu Sơn có 2 thị trấn và 32 xã như hiện nay
Nhìn chung, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, vùng đất Vân Sơn ngày càng mở rộng và phát triển Biết ban thế hệ người dân nơi đây đã chung sức, đồng lòng khai phá các vùng đất hoang rậm rạp, đá sỏi, lầy lội thành những vùng đất trồng trọt màu mỡ Nhân dân các làng cùng nhau đoàn kết, tương trợ chống lại kẻ thù xâm lược, thiên tai, đói nghèo xây dựng cộng đồng dân cư Vân Sơn ngày càng phát triển, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sẵn sàng hội nhập kinh tế - văn hoá
1.2.2 Quá trình hình thành làng xã
Vùng đất Vân Sơn, huyện Triệu Sơn được coi là vùng đất cổ xưa có từ lâu đời Trên địa bàn Vân Sơn hàng trăm năm trước đã có con người quần tụ sinh sống, khai phá các vùng đất hoang lập nên các vùng dân cư đông đúc, đồng ruộng trù phú Những cộng đồng người đầu tiên đã đặt nền móng cho làng xã đầu tiên được thành lập
Trang 29Có thể nói, Vân Sơn là vùng đất có quá trình phát lịch sử - văn hoá hàng trăm năm Vùng thung lũng núi Nưa nằm trên vành đai bao quanh đồng bằng Thanh Hoá đã phát hiện nhiều dấu tích, hiện vật, có thể khẳng định trong buổi đầu dựng nước con người đã có mặt tại vùng ven núi Nưa, sông Nhơm (trong
đó có vùng đất Kẻ Mơ, Kẻ Nưa thuộc đất Triệu Sơn từ rất sớm) Cuộc khởi nghĩa của người nữ anh Hùng Triệu Thị Trinh vào thế kỷ thứ III đã núi ngàn Nưa làm căn cứ quân sự Dấu vết Núi Bàn Chân Tiên, núi Tía như dấu tích của người nữa anh hùng lưu giữ đến ngày nay [56, tr 24]
Trên đất xã Vĩnh Gia huyện Nông Cống năm 1945 có rất nhiều dòng họ lớn từ các tỉnh thành trong cả nước đến lập nghiệp là: họ Lưu, họ Nguyễn, họ
Lê, họ Đặng với các tên tuổi như: Lưu Trọng, Nguyễn Đình, Lê Quang, Lê Kim, Lê Văn, Đặng Viết, Đặng Duy Xem thế đất có sông suối, đất rộng, núi cao các dòng họ đã định cư dựng làng, lập ấp, dân cư ngày càng đông đúc, nhất là các khu vực ven sông, gần nguồn nước thuận lợi sinh hoạt, tưới tiên, đánh bắt thuỷ sản Từ đó đã hình thành nên các ngõ xóm, khối dân cư
Theo tiến trình lịch sử có sự thay đổi về địa giới hành chính, sáp nhập đơn vị hành chính như sau: Năm 1952 Vân Sơn gồm các làng: Vân Đình, Vân Thành, Vân Lương, Bắc Sơn
Năm 1960 các làng Hưng Thành và Sơn Phú được thành lập Năm 1961: làng Đạt Thành, Tiền Phong, Thành Sơn Năm 1985 làng mới Hương Sơn thành lập [8; tr 250-251]
Đến năm 2013 xã Vân Sơn gồm các làng: làng Vân Cổn, làng Sơn Phú, làng Hưng Thành, làng Đạt Thành, làng Tiền Phong, làng Hương Sơn và thôn 11
Ngày 17/08/2018 UBND tỉnh Thanh Hóa đã ban hành quyết định số: 3110/QĐ-UBND về việc đổi tên, chuyển thôn thành khu phố, sát nhập để thành lập thôn, tổ dân phố tại xã, phường thị trấn thuộc các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Theo đó, điều 1 của quyết định ghi rõ: đổi tên 184 thôn (thôn, bản), tổ dân phố (tổ dân phố, khu phố, tiểu khu); chuyển 02 thôn thành khu phố; sát nhập 2.719 thôn, tổ dân phố để thành lập 1.3339 thôn, tổ dân phố mới tại 439 xã, phường, thị trấn thuộc các huyện, thị
xã, thành phố
Trang 30Thực hiệu công văn của UBND tỉnh tại huyện Triệu Sơn đổi tên 30 thôn; sát nhập 265 thôn, tổ dân phố để thành lập 134 thôn, tổ dân phố mới tại
33 xã, thị trấn cụ thể như sau:
- Sáp nhập thôn 2 Sơn Phú (210 hộ, 766 nhân khẩu, diện tích 64,7 ha) và thôn 3 Sơn Phú Đông (134 hộ, 141 nhân khẩu, diện tích 39,2 ha) để thành lập thôn 2 Sau khi thành lập thôn 2 có 344 hộ, 1.256 nhân khẩu, diện tích 103,9 ha
- Sáp nhập thôn 4 làng Hương Sơn (130 hộ, 492 nhân khẩu, diện tích 53,7 ha) và thôn 11 (54 hộ, 141 nhân khẩu, diện tích 679,57 ha) để thành lập thôn 3 Sau khi thành lập có 184 hộ, 633 nhân khẩu, diện tích 733,27 ha
- Sáp nhập thôn 5 làng Tiền Phong (158 hộ, 600 nhân khẩu, diện tích 162,1 ha) và thôn 6 làng Đạt Thành (211 hộ, 855 nhân khẩu, diện tích 216,3 ha) để thành lập thôn 4 Sau khi thành lập thôn 4 có 369 hộ, 1.455 nhân khẩu, diện tích 378,4 ha
- Đổi tên thôn 7 Bắc sơn thành thôn 5
- Đổi tên thôn 8 Vân Thành thành thôn 6
- Đổi tên thôn 9 Vân Đình thành thôn 7
- Đổi tên thôn 10 Vân Cổn thành thôn 8
Như vậy, đến tháng 8/2018 địa giới hành chính Vân Sơn đã có sự thay đổi bao gồm 8 thôn Tên gọi thôn làng thay đổi đáp ứng yêu cầu thời kỳ
đổi mới nhưng truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “Tương thân tương ái”
của nhân dân Vân Sơn vẫn được lưu giữ Đời sống vật chất, tinh thần cùa nhân Vân Sơn đã được nâng lên rõ rệt, nếp sinh hoạt mới lành mạnh vui tươi,
đa dạng hóa ngành nghề phát triển kinh tế thương mại - dịch vụ, lâm nghiệp
- Sự hình thành các làng xã ở Vân Sơn tính từ phía bắc xuống phía nam
Trang 31Phương Khê, Lan Châu, Ái Liên của xã Nông Trường; phía tây giáp xã An Nông và làng Sơn Phú của xã Vân Sơn
Đầu thế kỷ XIX, làng Vân Cổn thuộc tổng Cổ Định Từ năm 1886 –
1888 thời vua Đồng Khánh làng được công nhận đơn vị hành chính xã thuộc tổng Yên Định Sang thời vua Duy Tân (1907 – 1916) tổng Yên Định đổi tên thành tổng Hữu Định Cách mạng tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi, đơn
vị hành chính Tổng không còn tồn tại từ năm 1945 - 1953 Vân Cổn thuộc xã
An Nông Vân Cổn bao gồm bốn xóm: Vân Đình, Vân Trung, Vân Lương, Vân Cổn sinh sống ở tả ngạn sông Lê (sông Nhơm) Về sau này, dân số tăng lên cộng đồng dân cư Vân Cổn tiến sang cư trú sinh sống ở hữu ngạn sông Lê Hai xóm Vân Trung, Vân Lương nhập vào xóm Vân Đình, Vân Cổn Năm
2018 hai xóm mới được hình thành là Bắc Sơn và Vân Thành Vân cổn lúc bấy giờ bao gồm bốn thôn: thôn Bắc Sơn (thôn 7), thôn Vân Thành (thôn 8), thôn Vân Đình (thôn 9), thôn Vân Cổn (thôn 10)
Theo thống kê năm 2012 làng Vân cổn có diện tích: 230ha, dân số: có
772 hộ, 3.164 nhân khẩu Nhân dân Vân cổn chủ yếu làm nghề nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm gạch, làm cối đá, dọc tuyến đường liên xã, đường
506 dân cư buôn bán nhỏ hàng tạp hoá, xăng dầu, chợ cóc, công ty dày da…
Vùng đất Vân Cổn có rất nhiều dòng họ di cư đến sinh sống, khai hoang, lập làng, phát triển sản xuất Có thể kể đến các dòng họ lớn như: họ Lê (Lê Đình, Lê Kim, Lê Trọng, Lê Văn), họ Nguyễn (Nguyễn Hữu, Nguyễn Quang, Nguyễn Ngọc), họ Hoàng, họ Cao, họ Đặng, họ Tô, họ Quản, họ Doãn, họ Quách Hiện nay, chưa có một tài liệu chính thống ghi rõ mốc thời gian thành lập làng Vân Cổn Hiện nay, các nguồn tài liệu thành văn, tài liệu truyền thuyết nhắc về việc thành lập làng như sau:
Theo nguồn tài liệu thành văn Lịch sử Đảng bộ xã Vân Sơn ghi: “vào
thời nhà Lý thế kỷ XI có bốn gia đình từ vùng Kinh Bắc vào sinh sống đầu tiên Sau này hình thành 4 chi họ Lê Kim, Lê Trọng, Lê Quang, Lê Văn Hai chi Lê Văn, Lê Quang ở giữa làng, chi Lê Kim ở đầu làng, chi Lê Trọng ở cuối làng” [56; tr 26]
Sách Lịch sử Đảng bộ xã Vân Sơn còn viết: Dưới thời vua Lê Thánh
Tông (1054 – 1072) giặc phương nam tràn lên quấy phá, cướp đất đai nhà
Trang 32Lý Vua Lý cử một võ tướng đưa quân đi đánh Chiêm Thành ở phương Nam Khi đi qua địa phận làng, thấy cảnh vật nơi đây rất đẹp, ông hạ lệnh quân sỹ đóng quân dừng chân tại mảnh đất thuộc thôn Vân Đình, làng Vân Cổn lúc bấy giờ
“Dân cư chòm ấp vạn thịnh khang Sông Lê uốn lượn rồng phun ngọc”
Sáng hôm sau, ông lập đàn khấn vái và hứa nếu thắng trận sẽ quay trở
về lập đền thờ Quả đúng như lời khấn vị tướng đã giành thắng lợi và tâu việc này cho vua Lý Nhà vua Lý Thái Tông đã ban chiếu lập làng Vân Cổn (Vân
là mây, Cổn là cuộn) có nghĩa là vầng mây hồng cuộn lại Đồng thời, cho xây dựng đình làng Vân Cổn để thờ cúng vị thần có công phù hộ cho triều đình đánh giặc” [56; tr 26 - 27]
Về sự tích làng Vân Cổn, sách Địa chí huyện Triệu Sơn cho biết:
“Trước đây làng Vân Cổn có tên là Hà Mơ, nằm ở tả ngạn con sông Lê (Sông Nhơm) Đây là vùng có sông, có núi, có đồng ruộng, thiên nhiên tươi đẹp…Năm Giáp Ngọ (1069) vua Lý Thánh Tông cho lập làng Vân Cổn (ngĩa
là mây cuộn) Tên làng Vân Cổn có từ ngày đó” [51; tr 589]
Như vậy, các nguồn tài liệu trên khẳng định làng Vân Cổn được thành
lập vào thời nhà Lý Sách Địa chí huyện Triệu Sơn và Lịch sử đảng bộ xã Vân
Sơn (1953 – 2013) xác định làng Vân Cổn có từ thời vua Lý Thánh Tông
(1054 – 1072)
Với lịch sử phát triển hàng trăm năm, làng Vân Cổn đã trở thành nơi hội tụ của nhiều dòng họ đến sinh cơ, lập nghiệp Thời phong kiến, làng có hai Giáp: Giáp trên và Giáp dưới Làng có hương ước quy định các điều khoản về kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, an ninh trật tự, lễ tết, việc tang, hôn nhân, vệ sinh, khen thưởng, xử lý vi phạm
Cách mạng tháng Tám thành công, quân dân làng Vân Cổn tiếp tục cùng cả nước tiến hàng cuộc kháng chiến chống hai đế quốc lớn là thực dân pháp và đế quốc Mĩ xâm lược Trải qua quá trình chiến đấu lâu dài, nhiều di sản văn hoá vật thể của làng đã bị tàn phá, hư hại nghiêm trọng trong đó có đình làng Vân Cổn, chùa Thông, nhà thờ bằng gỗ lim, giếng cổ Với truyền
Trang 33thống uống nước nhớ nguồn, đời sống văn hoá tâm linh của nhân của người dân được chú trọng sau khi cuộc kháng chiến trường kỳ giành thắng lợi Nhân dân Vân Cổn quyết tâm thực hiện đổi mới, phát triển quê hương, xóm làng, tu tạo, sửa chữa, dựng mới lại các công trình tâm linh phục vụ dân làng và cho con cháu đời sau kế tiếp truyến thống [28; tr.1-8]
Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ giai đoạn 1945 – 1975, làng Vân Cổn đã có nhiều người con ưu tú lên đường nhập ngũ, tham gia thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến Vân cổn có 19 liệt sỹ, 11 thương bệnh binh, 2 bà mẹ Việt Nam anh hùng
Nền kinh tế của làng chủ yếu là kinh tế nông nghiệp Từ năm 1951 –
1953 trong 5531 tấn thóc đóng góp Nông nghiệp của toàn xã thì làng Vân Cổn đóng 246,2 tấn, làng Đạt Thành 7,8 tấn, làng Sơn Phú 141 tấn, làng Hưng Thành 65,8 tấn Bên cạnh đó, các ngành nghề thủ công, thương nghiệp
đã hình thành Trong làng có chợ Vân Cổn bày bán nhiều mặt hàng nông sản, thuỷ sản, thực phẩm; các cửa hàng tạp hoá, hàng kim hoàn, làm chè lam, làm bánh khảo, nghề thợ rè, thợ mộc…Các ngành nghề ra đời, phát triển góp phần thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội địa phương
Trong quá trình xây dựng và phát triển, từ năm 1960 làng Vân Cổn tách thành 4 thôn: Thôn Bắc Sơn (thôn 7), thôn Vân Thành (thôn 8), thôn Vân Đình (thôn 9), thôn Vân Cổn (thôn 10) Các thôn xóm vẫn giữ được truyền thống gắn bó, đồng cam cộng khổ, cùng nhau xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu
Làng Vân Cổn là cộng đồng dân cư có lịch sử hình thành lâu đời Trải qua bao thăng trầm lịch sử, tên làng Vân Cổn vẫn giữ được nguyên vẹn Nhân dân làng Vân Cổn vẫn gìn giữ được truyền thống gắn bó, yêu thương, giúp đỡ
lẫn nhau Hiện nay, nhân dân làng Vân Cổn hưởng ứng phong trào “toàn dân
xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, đảm bảo khối đoàn kết toàn dân,
bảo vệ giữ gìn các giá trị văn hoá, phong tục tập quán tốt đẹp, loại bỏ phong tục tập quán lạc hậu, xây dựng Làng Vân Cổn thành làng nông thôn mới kiểu mẫu nâng cao
Trang 34* Làng Hưng Thành
Đầu thế kỷ XX thực dân Pháp mở rộng xâm lược thuộc địa, chúng lập đồn điền, lập ấp ở nhiều nơi trên đất nước ta Tại quê hương Thanh Hoá, thực dân Pháp chiếm đất lập các đồn điền lớn Đồn điền Mỹ Cái được thành lập ở phía bắc vùng núi Nưa thuộc tổng Lai Triều từ năm 1925 – 1930 Đập Bái Thượng và chi giang 6 cũng được xây dựng để cung cấp nước tưới tại đồn điền Mỹ Cái và các làng xung quanh Tên chủ đồn là Rila đã chiếm hàng trăm
ha đất, còn thực hiện lấn đất của các làng Trước âm mưu của Pháp, nhân Dân Đạt Thành đã bố trí các gia đình khoẻ mạnh lên sinh sống, giữ đất, lập trại Hưng Thành Miếu thờ Mỏ Sắt và miếu Khang Sơn được xây dựng để giữ đất cho làng, là cột mốc để bọn chủ đồn không thể lấn đất
Trước năm 1945, trại Hưng Thành thuộc tổng xã Vĩnh Gia, tổng Lai Triều, huyện Nông Cống Sau cách mạng tháng tám 1945 được gọi là thôn Hưng Thành thuộc xã Vĩnh Gia, tiếp sau là xã An Nông
Cuối năm 1953 đến nay thôn Hưng Thành thuộc xã Vân Sơn, huyện Triệu Sơn
Trong 16 dòng họ đến định cư tại Hưng Thành, dòng họ Lê Hữu đến sớm nhất Bên cạnh đó, có các dòng họ như họ Nguyễn, họ Đinh, họ Trần, họ Trịnh, họ Vũ, họ Quản, họ Đào, họ Thiều, họ Mai
Làng Hưng Thành có vị trí địa lý phía bắc giáp xã Hợp Thắng, phía nam giáp làng Hương Sơn, phía đông và phía Tây giáp xã Xuân Du của huyện Như Thanh
Tổng diện tích tự nhiên của Hưng Thành 62,3ha trong đó đất ở 5,4ha, đất nông nghiệp 48ha; dân cư: 187 hộ với 731 nhân khẩu Trung tâm sinh hoạt văn hoá chung của làng là nhà văn hoá rộng 130m2, 74% đường giao thông trong làng đã được bê tông hoá, thôn đạt 6 tiêu chí xây dựng nông thôn mới Nền kinh tế chủ yếu của thôn là nông nghiệp, các hộ dọc trục đường chính của làng còn buôn bán nhỏ phục vụ đời sống và du lịch Phủ Na Chi bộ đảng có 19 đảng viên
* Làng Sơn Phú
Trước đây, Sơn Phú là vùng đất đai rộng lớn, chủ yếu là cây cối Những gia đình đầu tiên đến quần cư sinh sống tại vùng đất này đã lập một
Trang 35trang ấp gồm 7 gia đình thuộc dòng họ Lê và họ Nguyễn Khi đất đai được
mở rộng, đất canh tác được mở rộng, dân số của làng tăng lên thì số lượng gia đình di chuyển về đây cuối thế kỷ XVIII càng đông hơn với 40 gia đình
Thời vua Gia Long (1802 – 1820) làng có tên gọi là thôn Sơn Đương thuộc tổng Lai Triều Đứng đầu làng là lý trưởng và năm chức dịch giúp việc cho lý trưởng
Cuối đời vua Đồng Khánh (1886 – 1888) làng đổi tên thành thôn Sơn Phú thuộc xã Vĩnh Gia, tổng Lai Triều Từ năm 1947 làng Sơn Phú thuộc xã
An Nông, huyện Nông Cống Năm 1953 Sơn Phú thuộc xã Vân Sơn, làng bao gồm ba xóm: Phú Lực, Phú Thắng, Phú Cường
Sơn Phú là làng nằm trên một quả đồi, phía bắc giáp xã Hợp Thắng, phía nam Hương Sơn, phía đông giáp thôn 8 Vân Thành, phía tây giáp làng Hưng Thành
Tổng diện tích tự nhiên: 96,41ha, dân cư: 333 hộ với 1.260 khẩu Ngoài kinh tế nông nghiệp, làng Hưng Thành còn trồng diện tích lớn hoa đào, ớt, mía phục trên đất canh tác hai lúa góp phần tăng thu nhập cho nhân dân làng Hưng Thành Các cửa hàng buôn bán nhỏ mọc lên dọc trục đường chính của làng như tạp hoá, đá ốp lát, bán cây cảnh, bán hàng các mặt hàng phục vụ lễ hội tâm linh Phủ Na Làng có vị trí tiếp giáp với xã Xuân Du thuận lợi cho giao thông, trao đổi liên vùng [39; tr.2-10]
Từ năm 1962 – 1973 hợp nhất các hợp tác xã đang có tại vùng đất thành hợp tác xã Thành Sơn Sang đầu năm 1973 hợp tác xã Thành Sơn hợp nhất với hợp tác xã Thành Phong của làng Đạt Thành và làng Hoằng Trinh thành hợp tác xã Phong Phú
Từ năm 1976 – 1984 hợp tác xã Phong Phú hợp nhất với hợp tác xã Thành Vân (làng Vân Cổn) thành hợp tác xã Vân Sơn Năm 1884 từ một hợp tác xã chia ra thành 3 hợp tác xã nhỏ là: Thành Vân, Thành Sơn, Thành Phong
Năm 1992 hợp 3 hợp tác xã thành hợp tác toàn xã Đến năm 2004, Sơn phú chia thành 2 thôn: thôn Sơn Phú (thôn 2), thôn Phú Đông (thôn 3)
Trang 36Trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ tổ quốc Sơn Phú có nhiều đóng góp sức người, sức của cho tuyền tuyến, có 200 người tham gia quân đội, 18 liệt
sỹ, 9 thương bệnh binh
- Trước năm 1945 làng có nhiều công trình: đình, miếu, nghè của Đình làng được trùng tu vào thời vua Bảo Đại (1925 -1945) đây là nơi hội họp, sinh hoạt văn hoá tâm linh của cả làng Trải qua thời gian bị chiến tranh, thiên tai làm hư hỏng đình làng đã dần mất đi không còn nguyên vẹn Ngày nay, nhân dân làng Hưng Thành quyết tâm xây dựng đời sống mới, đời sống nhân dân được phát triển hơn Nhiều dãy nhà cao tầng mọc lên khang trang làm thay đổi diện mạo xóm làng [56; tr 42-43]
- Thôn Sơn Phú có tổng diện tích đất tự nhiên là 64,7ha trong đó đất ở
15,7ha, đất nông nghiệp: 40,2 ha, dân cư: 203 hộ với 760 nhân khẩu các trục đường giao thông của làng 80% đã được bê tông hoá Chi bộ đảng có 22 đảng
viên
- Thôn Sơn Phú Đông tổng diện tích đất tự nhiên là 31,71ha trong đó đất ở 6,71ha, đất nông nghiệp: 25 ha, dân cư: 130 hộ với 500 nhân khẩu các trục đường giao thông của làng 92% đã được bê tông hoá Chi bộ đảng có 15 đảng viên
Trong thời kỳ mới, nhân dân làng Sơn Phú quyết tâm phát huy truyền thống tốt đẹp để xây dựng làng văn hoá kiểu mẫu toàn diện, xây dựng nông thôn mới giàu đẹp, văn minh
* Làng Đạt Thành
Đạt Thành trước đây là vùng núi rậm rạp bên cạnh là núi Nưa Vùng đất ban đầu có tên là trại Đa Bao Trại Đa Bao tập trung khoảng vài chục hộ gia đình của các dòng họ Lê, Vũ, Đỗ, Nguyễn, Lưu, Lê đến quần cư sinh sống khai khẩn các vùng đất hoang, chống chọi với tự nhiên khắc nghiệt, thú dữ rình rập, đắp đê, ngăn đập bảo vệ đồng ruộng, xóm làng Thời vua Thành Thái (1889 – 1907) trại Đa Bao đổi thành làng Đạt Thành
Vị trí địa lý của làng phía bắc giáp thôn Vân Thành (thôn 8), phía nam giáp với núi Nưa, phía đông giáp xã Thái Hoà và phía tây giáp thôn Tiền Phong (thôn 5) Tổng diện tích tự nhiên của làng 216,27ha, dân cư: 210 hộ với 849 nhân khẩu Làng Đạt Thành có đồi Ho cao 15m, diện tích: 40.000m2;
Trang 37đồi Bịp cao 20m, diện tích: 10.500m2; núi Sông Đăng (núi Bàn Chân Tiên) thuộc núi Nưa [41, tr1-16]
Thời phong kiến, trong làng có hai ngôi đình lớn: đình thờ Quan nghè
và đình Trung, miếu Mỏ Sắt thờ thần đất, miếu Giáp Trại thờ chúa sơn lâm, miếu Khai Sơn thờ sơn lâm, chùa Nhà Sắc, đền thờ Bà chúa Liễu Hạnh
Trong làng có rất nhiều dòng họ như: họ Lê, họ Lưu, họ Nguyễn, họ Hoàng, họ Trần, họ Đặng…Trong đó, dòng họ Lê và họ Nguyễn đến sớm nhất
Trước đây, làng Đạt Thành có cổng làng xây bằng gạch, xung quanh có
4 cột gỗ lim, mỗi cột có đục lỗ vuông để luồn các thanh gỗ qua không cho người vào làng buổi tối Chính vì thế mà cổng còn được gọi là cổng ngăn Phía trên cổng có các sàn gỗ để tuần phu nằm canh gác
Làng có Giáp trong, Giáp ngoài và một hội những người ham thích võ thuật Vào dịp tết âm lịch sẽ diễn ra các nghi lễ như lễ làng văn, lễ cầu yên, làng hội với sự điều hành của các chủ tế, phụ tế, người chấp sự Sau phần lễ là
tổ chức văn nghệ, hát hội, đấu võ, chơi cờ tướng, đánh bài điếm
Nhân dân trong làng chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa, có thể kể đến các cánh đồng lớn như: đồng Chiêm, đồng Sàng, đồng Chớp Bên cạnh đó dân làng còn phát triển các nghề phụ: ươm tơ, dệt vải, nuôi tôm cá ở Vực Bưu
Trong lịch sử các thế hệ người Đạt Thành rất hăng hái tiên phong đi xây dựng làng mới, đấu tranh chống lại thực dân pháp xâm lược giữ làng, giữ đất Làng có 98 người tham gia bộ đội, 33 người tham gia dân công hoả tuyến, 21 người đi thanh niên xung phong, 20 liệt sĩ, 7 thương binh Rất nhiều gia đình của làng được tặng huân chương, bằng khen, huy chương các loại
Hiện nay, làng đạt nhiều tiêu chí xây dựng nông thôn mới Đường giao thông liên làng đạt trên 80%, số nhà mái bằng tăng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống Chi bộ có gần 30 đảng viên Đời sống của người dân Đạt Thành ngày càng được nâng cao, bộ mặt làng quê có nhiều đổi mới
* Làng Hương Sơn
Làng Hương Sơn phía bắc giáp làng Hưng Thành, phía nam giáp thôn
11, phía đông giáp làng Tiền phong, phía tây giáp xã Xuân Du Diện tích đất của thôn trước đây thuộc đồn điền Rila (chủ đồn điền là người Pháp) về sau
Trang 38thuộc nông trường Mỹ Cái Cư dân đầu tiên của làng là người làng Sơn Phú
và làng Hưng Thành đến quần cư sinh sống, khai hoang, lập nghiệp Đến năm
1980 thôn Hương Sơn được thành lập [27; tr.1-16]
Làng có 6 dòng họ đang sinh sống: họ Phạm Ngọc, họ Nguyễn Quốc,
họ Nguyễn Hữu, họ Nguyễn Văn, họ Phạm Hữu, họ Ngô Trong số các dòng
họ đến khai hoang, lập làng thì dòng họ Phạm đến làng Hương Sơn sớm nhất
Kinh tế của làng chủ yếu là nông nghiệp, trồng cây mía, trồng rừng, khai thác quặng crôm…
Tổng diện tích đất tự nhiên thôn Hương Sơn 49ha trong đó đất ở 24ha, đất nông nghiệp: 22,5ha, dân cư: 126 hộ với 486 nhân khẩu các trục đường giao thông của làng 88% đã được bê tông hoá Chi bộ đảng có 11 đảng viên
* Làng Tiền Phong
Tiền Phong nằm trên quả đồi đất bazan nâu vàng, làng có vị trí địa lý phía Bắc giáp làng Sơn Phú, phía nam giáp núi Nưa, phía đông giáp làng Đạt Thành, phía tây giáp làng Hương Sơn [37; tr.1-10]
Cũng như làng Hương Sơn, làng Tiền Phong trước là vùng đất đai của đồn chủ người Pháp là Rila Từ năm 1956 thuộc nông trường Mỹ Cái Thực hiện chủ trương vận động nhân dân đi xây dựng vùng kinh tế mới tại nông trường Mỹ Cái ở Vân Sơn Từ tháng 3/1960 – tháng 12/1960 đã có 17 hộ gia đình với 86 nhân khẩu di cư từ xã Hoằng Trinh, huyện Hoằng Hoá lên xây dựng quê hương mới, số dân cư của làng ngày càng tăng lên đến cuối năm
1963 đã có 43 hộ với 185 nhân khẩu
Tổng diện tích tự nhiên của làng 162ha, trong đó có 34,5ha đất nông nghiệp, còn lại là đất ở và đất sử dụng khác: khai khoáng, trồng rừng… Dân cư thôn 5 gồm 157 hộ, 639 nhân khẩu Thôn đã đạt nhiều tiêu chí xây dựng nông thôn mới và phấn đấu để đạt các tiêu chí còn lại Chi bộ đảng có 17 đảng viên
Nhìn chung, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, vùng đất Vân Sơn ngày càng mở rộng và phát triển Biết bao thế hệ người dân nơi đây đã chung sức, đồng lòng khai phá các vùng đất hoang rậm rạp, đá sỏi, lầy lội thành những vùng đất trồng trọt màu mỡ Nhân dân các làng cùng nhau đoàn kết, tương trợ
Trang 39chống lại kẻ thù xâm lược, thiên tai, đói nghèo xây dựng cộng đồng dân cư Vân Sơn ngày càng phát triển, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sẵn sàng hội nhập kinh tế - văn hoá
Thực hiện Quyết định số: 2005/QĐ-UBND của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh hoá ngày 07/06/2010 về việc phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 2010 – 2020, định hướng năm 2030 Xây dựng nông thôn mới là cuộc vận động tất cả các lĩnh vực thực hiện 19 tiêu chí do chính
phủ ban hành [33; tr.119-123] Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền
địa phương, Vân Sơn đang từng nước vươn lên xây dựng nền văn hoá mới
“nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Năm 2015, xã Vân Sơn đạt
chuẩn nông thôn mới Năm 2021, Vân Sơn đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao
1.3 Truyền thống lịch sử - văn hoá
1.3.1 Trong chiến đấu, chống giặc ngoại xâm
Vân Sơn là vùng đất có lịch sử phát triển liên tục và lâu đời Truyền thống yêu nước của người dân Vân Sơn được khẳng định trong các giai đoạn lịch sử chống phong kiến phương Bắc (khởi nghĩa Bà Triệu 248 TCN), phong trào chống thực dân Pháp, phong trào chống đế quốc Mỹ Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, huyện ủy, chi bộ đảng, truyền thống cách mạng của quân dân Vân Sơn phát huy cao hơn nữa
Cuối thế kỷ XIX khi phong trào Cần Vương diễn ra sôi nổi trong cả nước, thực dân Pháp đã đặt chân xâm lược Vân Sơn cướp thóc gạo, truy bắt nghĩa sỹ Cần Vương Các di sản văn hoá thời kỳ này như: Chùa Thông (Vân Cổn), cổng làng Đa Bao (Đạt Thành) đã bị Pháp thiêu rụi
Dưới chế độ cai trị hà khắc của thực dân Pháp, thêm vào đó là mất mùa, hạn hán, vụ mùa thì bị ngập lụt, vụ chiêm không có nước, năng suất cây lúa thấp nhiều gia đình rơi vào cảnh đói nghèo, phải vay nặng lãi, người dân gánh trên vai rất nhiều thứ thuế như: thuế thân, thuế lao dịch, thuế điền và các loại sưu thuế khác
Trước năm 1945, Vân Sơn chỉ có 12 hộ có trên 10 mẫu ruộng (Đạt Thành 4 hộ, Sơn Phú 5 hộ, Vân Cổn 3 hộ), cả làng có 12 nhà gỗ và vài nhà mái ngói đỏ, các loại dịch bệnh thường xuyên xảy ra làm cho đời sống của người dân càng thêm vất vả như: dịch tả, đậu mùa, sốt rét
Trang 40Trong 30 năm đầu thế kỷ XX, đồn chủ Pháp cướp ruộng đất lập nhiều đồn điền lớn Tại Vân Sơn, thực dân Pháp lập đồn điền Mỹ Cái để trồng trọt
và chăn nuôi Không dừng lại ở đó, đồn chủ Rila còn âm mưu chiếm đất của dân Nhân dân làng Đạt Thành đã đưa các hộ gia đình mạnh khoẻ lên đây sinh
cơ lập nghiệp, giữ đất Xây dựng miếu thờ ở Mỏ sắt và miếu Khai Sơn để làm cột mốc không cho đồn chủ lấn chiếm đất đai
Tháng 3 năm 1941, Hội nghị Trung ương Đảng họp và xác định nhiệm
vụ tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, chủ trương thành lập mặt trận Việt Minh Tháng 3 năm 1945 Vân Sơn có 20 người ở Hưng Thành kết nạp hội Việt Minh, thành lập đội tự nguyện Sơn Phú Tháng 3 năm 1945 ban lãnh đạo Việt Minh được thành lập Tháng 8 năm 1945 toàn xã có 93 hội viên Việt Minh (Hưng Thành 20 người, Đạt Thành 8 người, Vân Cổn 65 người Số đội viên tự vệ cũng tăng lên, sẵn sàng tham gia khởi nghĩa ở địa phương
Ngày 20/8/1945 tỉnh Thanh Hoá có 8 huyện và thị xã giành chính quyền Lệnh khởi nghĩa ở các huyện lỵ Nông Cống được ban bố, các đội tự vệ Vân Sơn đã tham gia cuộc đấu tranh giành chính quyền ở tổng Hữu Định Kết quả lý trưởng phải đem sổ sách và con dấu nộp cho Việt Minh Chính quyền cách mạng được thành lập từ các làng đến huyện
Sau 15 năm đấu tranh anh dũng, xoá bỏ ách thống trị của thực dân Pháp
và phong kiến Hệ thống làng xã chiến đấu ở Vân Sơn được xây dựng và ngày càng mở rộng, bảo vệ vững chắc, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của quân dân Vân Sơn nói riêng và quân dân Thanh Hoá nói chung Từ đây, nhân dân Vân Sơn thoát khỏi chế độ cai trị thực dân kiểu cũ, tiếp tục thực hiện đấu tranh giữ vững thành quả cách mạng, xây dựng chế độ mới
Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi, dưới sự lãnh đạo của đảng và mặt trận Việt Minh, nhân dân các làng Vân Cổn, Sơn Phú, Hưng Thành, Đạt Thành kiên quyết đấu tranh chống các thế lực phản động và
bè lũ cướp nước Các làng xã Vân Sơn đoàn kết, phấn khởi xây dựng cuộc sống mới, bảo vệ thành quả cách mạng
Từ năm 1945 – 1947 nhân dân huyện Nông Cống chấp hành chủ trương của Đảng uỷ, chính quyền địa phương hưởng ứng sôi nổi các phong trào quyết tâm chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm