Trân trọng cảm ơn Thư viện tỉnh Thanh Hóa, Trung tâm bảo tồn di sản văn hóa xứ Thanh, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Thiệu Hóa, thư viện huyện Thiệu Hóa, Đảng ủy, UBND xã Thiệu Giao, c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
TRẦN THỊ THU
LỊCH SỬ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT THIỆU GIAO
(THIỆU HÓA, THANH HÓA)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
THANH HÓA, NĂM 2022
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
TRẦN THỊ THU
LỊCH SỬ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT THIỆU GIAO
(THIỆU HÓA, THANH HÓA)
Trang 4Danh sách Hội đồng chấm luận văn Thạc sỹ khoa học
(Theo Quyết định số 1519/QĐ - ĐHHĐ ngày 06 tháng 07 năm 2022 của Hiệu
trưởng Trường Đại học Hồng Đức)
Học hàm, học vị
Họ và tên Cơ quan Công tác
Chức danh trong Hội đồng
PGS TS Mai Văn Tùng Trường Đại học Hồng Đức Chủ tịch HĐ
TS Lê Ngọc Tạo Ban NC&BS Lịch sử Thanh Hóa UV Phản biện 1
TS Vũ Quý Thu Hội KH Lịch sử Thanh Hóa UV Phản biện 2
TS Nguyễn Thị Vân Trường Đại học Hồng Đức Uỷ viên
TS Lê Sỹ Hưng Trường Đại học Hồng Đức Thư ký
Xác nhận của Người hướng dẫn
Học viên đã chỉnh sửa theo ý kiến của Hội đồng
Ngày 05 tháng 9 năm 2022
PGS TS Nguyễn Thị Thúy TS Nguyễn Thị Định
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Thúy và TS Nguyễn Thị Định Trong quá trình nghiên cứu, tôi có tham khảo một số tài liệu có liên quan (như danh mục Tài liệu tham khảo), các số liệu, trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực
Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố
Thanh Hoá, ngày tháng năm 2022
Người cam đoan
Trần Thị Thu
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn Thạc sĩ với đề tài “Lịch sử văn hóa vùng đất
Thiệu Giao (Thiệu Hóa, Thanh Hóa)”, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất
tới PGS.TS Nguyễn Thị Thúy, TS Nguyễn Thị Định – những người thầy đã gợi mở về hướng nghiên cứu cũng như tạo mọi điều kiện, động viên và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy, cô giáo, phòng sau Đại học Trường Đại học Hồng Đức, đặc biệt là các thầy, cô giáo thuộc Khoa khoa học - Xã hội đã truyền đạt và trang bị cho tôi những kiến thức bổ ích trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Trân trọng cảm ơn Thư viện tỉnh Thanh Hóa, Trung tâm bảo tồn di sản văn hóa xứ Thanh, Phòng Văn hóa
và Thông tin huyện Thiệu Hóa, thư viện huyện Thiệu Hóa, Đảng ủy, UBND xã Thiệu Giao, các cụ cao niên, trưởng các dòng họ Lê Minh, Lê Khắc, Lê Huy, trưởng ban quản lý di tích trên địa bàn xã Thiệu Giao đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, điền dã, thực tế tại địa phương, cung cấp cho tôi nhiều tài liệu và thông tin bổ ích để tôi hoàn thành đề tài của mình
Cuối cùng, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường THPT Lê Văn Hưu - Thiệu Hóa, bạn bè, đồng nghiệp - nơi tôi công tác đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa học và bản luận văn này
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng để tìm hiểu, nghiên cứu về lịch sử văn hóa vùng đất Thiệu Giao (Thiệu Hóa, Thanh Hóa) nhưng chắc chắn luận văn sẽ còn nhiều thiếu sót, hạn chế Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến chân thành từ phía các thầy cô, các nhà khoa học, đồng nghiệp và các bạn học viên để luận văn được hoàn thiện tốt hơn
Xin chân thành cảm ơn !
Thanh Hóa, tháng năm 2022
Tác giả
Trần Thị Thu
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN - 1 -
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC……… iii
DANH MỤC BẢNG VIẾT TẮT v
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của luận văn 12
7 Bố cục của luận văn 12
Chương 1 VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT THIỆU GIAO 14
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 14
1.1.1 Vị trí địa lý 14
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 17
1.2 Quá trình hình thành vùng đất Thiệu Giao 19
1.2.1 Địa danh vùng đất Thiệu Giao trong lịch sử 19
1.2.2 Sự hình thành cộng đồng dân cư và làng xã 23
1.3 Truyền thống lịch sử - văn hóa 28
1.3.1 Truyền thống trong lao động sản xuất 28
1.3.2 Truyền thống trong chiến đấu, chống giặc ngoại xâm 29
1.3.3 Truyền thống trong giáo dục - khoa cử 34
Tiểu kết chương 1 37
Chương 2 DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ 38
2.1 Đình, nghè và phủ 38
2.1.1 Đình làng Bái Giao 38
2.1.2 Nghè làng Đại Bái 39
2.1.3 Phủ làng Bái Giao 45
Trang 92.2 Chùa và đền thờ 48
2.2.1 Chùa Châu Long 48
2.2.2 Đền thờ Lê Khắc Tháo 52
2.3 Nhà thờ họ 54
2.3.1 Nhà thờ họ Lê Duy 54
2.3.2 Nhà thờ họ Lê Minh 57
2.4 Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị 58
2.4.1 Thực trạng 58
2.4.2 Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị 65
Tiểu kết chương 2 68
Chương 3 DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 69
3.1 Lễ hội làng Bái Giao 69
3.1.1 Phần lễ 69
3.1.2 Phần hội 73
3.2 Lễ hội làng Đại Bái 75
3.2.1 Phần lễ 75
3.2.2 Phần hội 78
3.3 Lễ hội chùa Châu Long 81
3.3.1 Phần lễ 81
3.3.2 Phần hội 85
3.4 Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị 87
3.4.1 Thực trạng 87
3.4.2 Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị 91
Tiểu kết chương 3 95
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 PHỤ LỤC……… P1
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Văn hóa là nền tảng của phát triển bền vững, là nhân tố quan trọng trong việc củng cố sự thống nhất và tăng cường sức mạnh đoàn kết của mỗi cộng đồng cư dân, mỗi địa phương Khẳng định điều này, sinh thời Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã từng nói: “Văn hóa soi đường quốc dân đi” Thực tế lịch sử
đã chứng minh văn hóa có vai trò to lớn góp phần nuôi dưỡng tình quê hương đất nước, nhân lên lòng yêu nước, ý chí khát vọng và tinh thần cống hiến của mỗi người dân Việt Nam vì sự phát triển toàn diện của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân và sự trường tồn của dân tộc
Trong công cuộc dựng xây đất nước, văn hóa đã trở thành nhân tố vững chắc để củng cố sức mạnh đoàn kết của cộng đồng - một thứ vũ khí, với sức mạnh vô biên, đã giúp dân tộc Việt vượt qua muôn vàn thử thách hiểm nghèo, chiến thắng nhiều kẻ thù hùng mạnh và hung hãn Do đó, việc nghiên cứu bảo tồn và phát huy giá trị, bản sắc văn hóa dân tộc đã trở thành một yêu cầu cấp thiết Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, nghiên cứu văn hóa Việt Nam nói chung và văn hóa làng Việt cổ truyền nói riêng đang là chủ đề thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, đặc biệt là khoa học lịch sử
1.2 Trong diễn trình lịch sử dân tộc, Ái Châu - Thanh Hoa và Thanh Hóa
luôn được xem là vùng đất “phên dậu” giúp đất nước vượt qua nhiều thử thách,
khó khăn Đây là vùng đất của lịch sử, nơi lắng đọng tinh hoa văn hóa ngàn năm Thanh Hóa vinh dự và tự hào là quê hương của trống đồng Đông Sơn với nền văn hóa – văn minh rực rỡ, nơi lưu lại nhiều dấu ấn đặc sắc về thời đại
Hùng Vương Vùng đất này còn là nơi phát tích của “tam vương, nhị chúa” và
nhiều anh hùng, võ tướng, danh nhân tiêu biểu, làm nên bản sắc lịch sử văn hóa đồng bằng sông Mã
Thiệu Hóa là một trong số những vùng quê của xứ Thanh có bề dày truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng lâu đời Hiện nay, nơi đây còn hiện
Trang 12hữu nhiều di sản văn hóa có giá trị Tiêu biểu như di chỉ khảo cổ học Núi Đọ, đền thờ Lê Văn Hưu, đền thờ Đinh Lễ, đền thờ Nguyễn Quán Nho… Có thể
nói Thiệu Hóa là “bức tranh” thu nhỏ các loại hình di sản văn hóa Việt Nam
1.3 Thiệu Giao là một trong 25 xã, thị trấn của huyện Thiệu Hóa Nằm trong không gian của nền văn hóa Đông Sơn, từ thủa sơ khai nơi đây đã có
người Việt cổ sinh sống Phát huy truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, từ
thời xa xưa người dân vùng đất đã xây dựng hệ thống DSVH vật thể và phi vật thể có giá trị Tiêu biểu như chùa Châu Long, nghè Đại Bái, đình làng Bái Giao… Các lễ hội truyền thống đặc sắc như lễ hội làng Bái Giao, lễ hội làng Đại Bái, lễ hội chùa Châu Long…
Có thể khẳng định Thiệu Giao là vùng đất có bề dày lịch sử và truyền thống cách mạng với những nét độc đáo riêng biệt trong không gian văn hóa chung của cộng đồng cư dân nông nghiệp xứ Thanh Bởi vậy, nghiên cứu lịch
sử văn hóa một vùng đất như Thiệu Giao có ý nghĩa khoa học trong việc giữ gìn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa làng Việt cổ truyền Đồng thời, còn góp phần vào thực tiễn việc xây dựng nông thôn mới văn minh hiện đại song vẫn bảo lưu được những giá trị văn hóa truyền thống của địa phương
1.4 Nằm ở phía đông nam huyện Thiệu Hóa, cận kề thành phố Thanh Hóa, hiện nay, cùng với tác động của quá trình đô thị hóa, vùng đất Thiệu Giao
đang có nguy cơ biến đổi mô hình từ “làng lên phố” Do đó, bên cạnh những
yếu tố thuận lợi, xã Thiệu Giao đang đứng trước những thách thức lớn Đời sống văn hoá, sinh hoạt cộng đồng chưa được quan tâm đúng mức, nhiều di tích lịch sử - văn hoá đã bị mai một, xuống cấp, một số tục lệ, trò chơi dân gian
…đang dần bị lãng quên Vì vậy, việc nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử văn hóa vùng đất Thiệu Giao là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần làm
rõ các giá trị của hệ thống DSVH vật thể và phi vật thể nơi đây Từ đó, đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản phục vụ cho công cuộc xây dựng
và bảo vệ đất nước
Trang 13Kết quả nghiên cứu còn là cơ sở dữ liệu quan trọng để định hướng các cấp quản lý nhà nước, đặc biệt là cấp cơ sở có thêm sự nhìn nhận, đánh giá khách quan và khoa học để hoạch định chính sách văn hóa Từ đó góp phần giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, thúc đẩy sự phát triển kinh tế
- xã hội của địa phương và quy hoạch các điểm du lịch của huyện Thiệu Hóa và tỉnh Thanh Hóa trong tương lai
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn vấn đề Lịch sử văn hoá vùng
đất Thiệu Giao (Thiệu Hóa, Thanh Hóa) làm đề tài nghiên cứu cho Luận văn
Thạc sỹ, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về mảng đề tài lịch sử văn hóa vùng đất không phải là vấn
đề mới mẻ nhưng luôn có sức hấp dẫn đối với các học giả trong và ngoài nước Trong những năm gần đây với xu thế trở về cội nguồn dân tộc, xu hướng gìn giữ, bảo lưu các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu về văn hóa đặc biệt là lịch sử văn hóa địa phương Xuất phát từ thực tiễn đó đã có nhiều hội thảo khoa học, nhiều công trình nghiên cứu về lịch
sử văn hóa vùng đất được triển khai, công bố Đây là động thái tích cực góp phần
“đánh thức” các giá trị văn hóa truyền thống đã từng bị “ngủ quên”
Xã Thiệu Giao (Thiệu Hóa, Thanh Hóa) là vùng đất cổ có lịch sử hàng nghìn năm Vì vậy, ngay từ rất sớm vùng đất này đã được quan tâm nghiên cứu
ở nhiều góc độ khác nhau Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:
Đầu thế kỉ XX, tiến sĩ Charles Robequain - cựu Hội viên trường Viễn
Đông Bắc Cổ đã viết tác phẩm La Thanh Hóa (Tỉnh Thanh Hóa) [58] Đây là
công trình nghiên cứu chuyên sâu về đất và người Xứ Thanh, trong đó có đề cập đến con người và quá trình hình thành các làng cổ nơi đây Cuốn sách đã cung cấp những thông tin quan trọng để có những nhìn nhận, đánh giá tổng thể
về làng xã Thanh Hóa thời thuộc Pháp
Cuốn Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX (từ Nghệ Tĩnh trở ra) [75] đã
Trang 14giới thiệu hệ thống tên làng xã Việt Nam vùng đất liền thuộc các tỉnh từ Nghệ
An trở ra ở giai đoạn đầu thế kỉ XIX Cuốn sách đã thống kê tên gọi từng địa phương từ trấn, xứ, đạo, huyện, phủ, tổng, xã, thôn theo hệ thống từ cao xuống thấp; tên gọi các địa phương được xếp theo hệ thống a, b, c Công trình đã tiến hành khảo sát tên làng xã thuộc vùng đất Thiệu Giao trong bức tranh tổng thể của làng xã Thiệu Hóa ở nửa đầu thế kỉ XIX
Cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Thiệu Hóa [33] là công trình nghiên cứu
liên quan trực tiếp đến huyện Thiệu Hóa và vùng đất Thiệu Giao Mặc dù nội dung viết khái lược, tập trung lịch sử Đảng bộ trong phạm vi huyện Thiệu Hóa nhưng đây là nguồn tài liệu quan trọng để tác giả nghiên cứu chuyên sâu nội dung của đề tài Ở phần đầu, tác giả sách đã giới thiệu khái quát về vùng đất Thiệu Hóa xưa và nay, trong đó có đề cập đến xã Thiệu Giao Tuy nhiên, đây
là cuốn sách viết về lịch sử Đảng bộ huyện, nội dung chủ yếu là truyền thống cách mạng của huyện Thiệu Hóa từ khi có đảng đến nay Vì vậy, lịch sử văn hóa vùng đất Thiệu Giao chưa được các tác giả quan tâm chú ý nhiều
Cuốn Địa chí Thanh Hóa, tập I [67] đã giới thiệu tổng quát về Địa lý và
Lịch sử của Thanh Hóa Trong công trình, ở phần Lịch sử Thanh Hóa, các nhà
nghiên cứu đã đề cập vài nét sơ lược về xã Thiệu Giao
Cuốn Địa chí Thanh Hóa, tập II [68] đã trình bày một cách hệ thống về
diện mạo văn hoá xứ Thanh Công trình đã giới thiệu cụ thể một số thành tựu văn hoá vật thể và phi vật thể tiêu biểu tại các địa phương ở Thanh Hóa trong
đó có xã Thiệu Giao
Cuốn Địa chí Thanh Hóa, Tập III [69] đã giới thiệu khái quát về thiên
nhiên, con người, lịch sử, đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hóa của các địa phương tỉnh Thanh Hóa, trong đó có huyện Thiệu Hóa Công trình là cơ sở tài liệu giúp chúng tôi đối chiếu, so sánh khi tìm hiểu về vùng đất Thiệu Giao đặt trong cái nhìn tổng thể với huyện Thiệu Hóa và tỉnh Thanh Hóa Đồng thời, tài liệu đã cung cấp những thông tin hữu ích về các làng Việt cổ, hệ thống DSVH
Trang 15tại địa phương Thanh Hóa, trong đó có những DSVH còn hiện hữu ở vùng đất Thiệu Giao
Trong công trình Tên làng xã Thanh Hóa, tập I [8] cùng với việc giới
thiệu khái quát về quá trình hình thành và tên các làng xã thuộc huyện Thiệu Hóa, nội dung cuốn sách cũng đã đề cập đến các làng xã ở Thiệu Giao Công trình đã phác họa đôi nét về quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Thiệu Giao trong tiến trình lịch sử địa phương - dân tộc
Cuốn Khảo sát văn hoá truyền thống Thiệu Hoá [59] là công trình nghiên
cứu chuyên sâu, khảo tả những nét đặc trưng của truyền thống văn hóa huyện Thiệu Hóa trong bức tranh chung của truyền thống văn hóa tỉnh Thanh Tác giả cuốn sách đã trình bày khái quát về văn hoá truyền thống của huyện Thiệu Hoá trên các khía cạnh như: địa lí nhân văn, truyện kể dân gian, phương ngôn, ngạn ngữ, tục ngữ, tục lệ, trò diễn dân gian, nghề cổ truyền, danh nhân, giai thoại văn học và nội dung một số văn bia Trong công trình, tác giả cũng đã đề cập đến những truyền thống văn hóa tiêu biểu của vùng đất Thiệu Giao Đây là nguồn tài liệu có giá trị để tác giả luận văn có cái nhìn tổng thể về hệ thống DSVH phi vật thể ở vùng đất Thiệu Giao
Tác giả sách Những người con ưu tú của quê hương Thiệu Hóa [31]đã giới thiệu những tấm gương sáng, những “tài sản tinh thần vô giá, một trong
những nhân tố quan trọng làm nên sức mạnh nội lực, mãi mãi là hành trang của các thế hệ người Thiệu Hóa mang theo” [31; tr 6] Trong cuốn sách, tác
giả đã đề cập đến vai trò của Tán tướng quân vụ Đông Sơn Lê Khắc Tháo của vùng đất Thiệu Giao Tài liệu là cơ cở quan trọng giúp tác giả tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp, công lao của những người con ưu tú trên vùng đất Thiệu Giao nói riêng và Thiệu Hóa nói chung
Nhắc đến lịch sử văn hóa vùng đất Thiệu Giao không thể không nhắc tới
cuốn Địa chí huyện Thiệu Hóa [32] Đây là công trình nghiên cứu, đề cập đa
chiều về điều kiện tự nhiên, lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội và con người của
Trang 16vùng đất Thiệu Hóa trong quá khứ cũng như trong hiện tại Chương 5 - phần
Văn hóa- xã hội – tác giả sách đã hệ thống hóa danh mục các di tích lịch sử văn
hóa của huyện Thiệu Hóa Trong đó, một số di tích của vùng đất Thiệu Giao cũng đã được tác giả đề cập trong tổng thể bức tranh chung của hệ thống di sản tại địa phương Đây là một trong số các công trình nghiên cứu công phu về huyện Thiệu Hóa nói chung, xã Thiệu Giao nói riêng, có giá trị tham khảo, cần
thiết cho quá trình triển khai nghiên cứu đề tài luận văn Tuy nhiên, đây là công
trình về địa chí nên các nội dung mà tác giả đề cập đến xã Thiệu Giao cũng chỉ dừng lại ở mức điểm qua chưa nêu bật được quá trình hình thành, lịch sử tồn tại, giá trị các di tích trên vùng đất này
Công trình trực tiếp liên quan đến đề tài nghiên cứu của luận văn là cuốn
Lịch sử Đảng bộ và phong trào cách mạng xã Thiệu Giao [12] Chương 1 của
cuốn sách đã giới thiệu khái quát về vùng đất Thiệu Giao trên nhiều phương diện
như: vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, quá trình hình thành, phát triển làng xã và
truyền thống văn hóa lịch sử, các di tích lịch sử Cuốn sách là nguồn tài liệu có
giá trị để tác giả đi sâu nghiên cứu về lịch sử văn hóa vùng đất Thiệu Giao
Bên cạnh đó, cuốn Thiệu Hóa quê ta [13] là công trình tập hợp các bài
viết nghiên cứu công phu, kĩ lưỡng về quê hương Thiệu Hóa Các tác giả đã tập trung làm rõ truyền thống văn hóa, đặc biệt là truyền thống yêu nước, cách mạng của mảnh đất Thiệu Hóa Xã Thiệu Giao cũng được đề cập ở một vài khía cạnh nhất định Tác giả đã tập trung làm rõ truyền thống hiếu học, những vị hiền tài xưa và nay của xã Thiệu Giao trong bức tranh chung của truyền thống văn hóa huyện Thiệu Hóa
Cuốn Chùa xứ Thanh [27] đã giới thiệu về các ngôi chùa nổi tiếng ở
Thanh Hóa; trong đó có đề cập đến chùa Châu Long ở xã Thiệu Giao Công trình
đã giới thiệu quy mô, kiến trúc và những hiện vật còn lại tại chùa
Cuốn Văn quan - võ tướng xứ Thanh [64] là công trình nghiên cứu nhằm
tôn vinh các nhân vật lịch sử tiêu biểu của Thanh Hóa trên hai lĩnh vực văn và
Trang 17võ quan các thời kỳ lịch sử Cuốn sách trở thành công cụ tra cứu, là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm tìm hiểu và nghiên cứu về mình đất, con người xứ Thanh Đây là công trình nghiên cứu quan trọng giúp tác giả tìm hiểu thêm về tích sử, thân thế, sự nghiệp, công lao của Hữu thị lang Lê Văn Hiển và tán tướng quân vụ Lê Khắc Tháo - những người con ưu tú của quê hương Thiệu Giao
Đặc biệt, năm 2013, phát huy truyền thống “uống nước nhớ nguồn” Hội
khoa học lịch sử Việt Nam đã tổ chức hội thảo khoa học về dòng họ Lê Minh tại Hà Nội Trên cơ sở tập hợp bài viết của các nhà nghiên cứu khoa học lịch
sử và con cháu trong dòng họ tập Kỷ yếu về một dòng tộc yêu nước ở Thanh
Hóa [35] đã được xuất bản Tập kỷ yếu đã cung cấp những tư liệu quý giá về
dòng họ Lê Minh cũng như những đóng góp của dòng họ này với lịch sử dân tộc Đây là nguồn tài liệu có giá trị để tác giả nghiên cứu chuyên sâu về nội dung của đề tài
Ngoài ra, cuốn Di tích và danh thắng Thanh Hóa tập IX [14] và tập XII
[15] đã giới thiệu các di tích, danh thắng nổi tiếng của xứ Thanh Trong đó, tác giả Lê Văn Viện đã đề cập đến hai di sản văn hóa vật thể xã Thiệu Giao Cụ thể, trong bài viết của mình, tập IX tác giả đã giới thiệu về từ đường họ Lê Duy, tập XII đã giới thiệu về chùa Châu Long trên các phương diện như lịch sử hình thành, quá trình tôn tạo, khảo tả di tích…Đây là nguồn tư liệu quý báu làm cơ
sở để tác giả triển khai nội dung nghiên cứu của luận văn
Như vậy, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về vùng đất Thiệu Giao nhưng vì nhiều lí do các tác giả mới chỉ tiếp cận ở các khía cạnh, góc độ cụ thể khác nhau mà tác giả quan tâm Hiện nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện về lịch sử văn hóa vùng đất này Vì lẽ đó, vấn đề lịch sử văn hóa vùng đất Thiệu Giao vẫn còn một khoảng trống khoa học để tác giả tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu Các công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên là cơ sở cần thiết để tác giả nghiên cứu sâu sắc và
Trang 18toàn diện hơn về lịch sử văn hóa vùng đất Thiệu Giao trong bối cảnh lịch sử mới Trên cơ sở đánh giá được thực trạng, chiều hướng phát triển, tác giả đề xuất giải pháp góp phần bảo tồn, phát huy giá trị các DSVH của vùng đất Đồng thời, luận văn sẽ là công trình nghiên cứu mới bổ sung thêm một tài liệu quý giá không chỉ làm sáng tỏ lịch sử văn hóa vùng đất mà còn lí giải những vấn đề hiện tại, góp phần định hướng cho quá trình phát triển ở tương lai của quê hương Thiệu Giao nói riêng và huyện Thiệu Hóa nói chung
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu toàn diện quá trình hình thành, phát triển và giá trị của
hệ thống DSVH vật thể và phi vật thể vùng đất Thiệu Giao Từ đánh giá thực trạng, đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận văn cần giải quyết các vấn đề cơ bản sau:
- Khái quát vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên; quá trình hình thành, phát triển và các truyền thống lịch sử - văn hóa tiêu biểu tại xã Thiệu Giao
- Làm rõ diện mạo hệ thống DSVH vật thể, phi vật thể tại địa phương
- Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy
giá trị di sản
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu nguồn gốc, quá trình phát sinh, phát triển
và giá trị của hệ thống DSVH vật thể, phi vật thể tiêu biểu tại vùng đất Thiệu Giao
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nội dung nghiên cứu của đề tài là nguồn gốc, quá trình
phát sinh, phát triển và các giá trị lịch sử, văn hóa của vùng đất Thiệu Giao
- Về không gian: Không gian nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong
Trang 19địa bàn xã Thiệu Giao ngày nay với 2 làng Đại Bái và Bái Giao Ngoài ra, đề tài còn mở rộng phạm vi khảo sát đến các làng xã phụ cận để tìm hiểu các vấn đề liên quan đến lịch sử văn hóa vùng đất Thiệu Giao trong lịch sử Đó là các xã như: Tân Châu, Thiệu Vân, Đông Cương, Đông Tiến, Đông Thanh …
- Về thời gian: Thời gian nghiên cứu tập trung vào sự hình thành xã
Thiệu Giao, nguồn gốc, quá trình tôn tạo các di sản văn hóa nơi đây theo dòng chảy lịch sử - văn hóa của dân tộc
-
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
* Tài liệu thành văn
Đây là nguồn tài liệu quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối với quá trình triển khai nghiên cứu đề tài của tác giả Tài liệu thành văn bao gồm các bộ sử gốc
như: Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Lịch sử Việt Nam
từ nguồn gốc đến nay, Thanh Hoá Chư Thần Lục… Có thể nói, đây là những
công trình đề cập sớm nhất đến các lĩnh vực của làng xã Việt Nam như: kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội
Bên cạnh đó, bản lý lịch các di tích như: Đình làng Bái Giao, nghè làng Đại Bái, chùa Châu Long… cũng là nguồn tư liệu thành văn quan trọng để tác giả tìm hiểu, chọn lọc trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài Tuy nhiên,
hồ sơ lý lịch di tích chỉ là những tài liệu khảo tả đơn lẻ từng di tích, chưa đưa
ra phương án bảo tồn và phát huy một cách tổng thể giá trị các DSVH vật thể
và phi vật thể trên vùng đất Thiệu Giao
Ngoài ra, gia phả của 2 chi họ lớn như họ Lê Duy, họ Lê Minh…; nội dung của các bản sắc phong, văn bia, các bức hoành phi, câu đối, đại tự còn hiện hữu tại các di tích Tiêu biểu như các bản sắc phong tại đình làng Bái Giao, phủ Cố Đồng; nội dung văn bia tại đình làng Bái Giao, chùa Châu Long; bức hoành phi, câu đối tại nhà thờ họ Lê Minh; các bức đại tự tại các di tích nghè
Trang 20làng Đại Bái, nhà thờ Lê Khắc Tháo…cũng là nguồn tư liệu thành văn giúp ích cho tác giả trong quá trình triển khai thực hiện đề tài
* Tài liệu vật chất
Cùng với tài liệu thành văn, tác giả đã sử dụng thêm nguồn tài liệu vật chất (di tích, di vật lịch sử) tại các di sản để làm sáng tỏ thêm về lịch sử văn hóa vùng đất Thiệu Giao Các di vật, hiện vật hiện đang bảo lưu tại các di tích đình, chùa, nghè, phủ, đền thờ, nhà thờ họ như: văn bia, bia đá, chân tảng, bát hương và các đồ thờ khác trong di tích Tiểu biểu là bia đá chùa châu Long, cụm văn bia trong đình làng Bái Giao, bia đá trong nhà thờ họ Lê Duy…
* Tài liệu văn hóa dân gian
Tài liệu văn hóa dân gian được tác giả sử dụng bao gồm các truyện kể, truyền thuyết, ca dao, tục ngữ có liên quan đến đất và người Thiệu Giao Đây
là nguồn tài liệu giúp tác giả tìm hiểu thêm về lịch sử - văn hóa vùng đất này theo khía cạch của tâm thức văn hóa dân gian Tuy nhiên, nguồn tài liệu này chỉ mang tính chất tham khảo và không được coi là tài liệu chính sử nên tác giả luận văn cũng phải cẩn trọng xem xét khi sử dụng
* Tài liệu điền dã
Để bổ sung thêm nguồn tài liệu, tăng cường tính chính xác, khoa học cho quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng thêm thông tin, tư liệu, hình ảnh thu được qua quá trình điều tra điền dã, gặp gỡ và trao đổi trực tiếp với các cụ cao niên trong làng như cụ Lê Thiện Dung, Lê Đình Dong, Lê Đình Bùi ., những người đang hương hỏa trông coi từ đường, nhà thờ các dòng họ, cán bộ văn hóa tại địa phương
5.2 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp lịch sử
Trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài, luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử để nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển các loại hình DSVH trên vùng đất Thiệu Giao
Trang 21* Phương pháp logic
Phương pháp logic được tác giả sử dụng để làm rõ mối liên hệ giữa các yếu tố địa lí, tự nhiên, kinh tế - xã hội, lịch sử, văn hóa đến sự vận động, phát triển của xã Thiệu Giao nói chung và hệ thống DSVH nói riêng
* Phương pháp phân tích và tổng hợp
Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để sưu tầm, tổng hợp các nguồn tư liệu có giá trị liên quan đến vấn đề nghiên cứu Tác giả tiến hành phân tích từng mặt sau đó tổng hợp các thông tin để tạo ra hệ thống lý thuyết đầy đủ, sâu sắc theo từng vấn đề Trên cơ sở đó làm rõ quá trình hình thành, phát triển, diện mạo các DSVH vật thể và phi vật thể tại xã Thiệu Giao
* Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh được tác giả sử dụng để đánh giá, nhận diện sự tương đồng và khác biệt về giá trị văn hóa của vùng đất Thiệu Giao so với các vùng đất khác
* Phương pháp điều tra điền dã
Tác giả còn sử dụng phương pháp điều tra điền dã, nhiều lần xuống khảo sát, nghiên cứu trực tiếp tại địa phương để kiểm chứng và bổ sung nguồn tư liệu, đánh giá thực trạng các DSVH vật thể và phi vật thể tại xã Thiệu Giao; tiến hành phỏng vấn các cụ cao niên, trưởng các dòng họ lớn, những người trông coi, quản lý trực tiếp tại di tích ở địa phương; kết hợp thu thập tài liệu, đối chiếu so sánh giữa lý luận và thực tiễn Từ đó đề xuất các giải pháp thiết thực, phù hợp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản
- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu của
Trang 22các chuyên có ngành liên quan như: Khảo cổ học, Dân tộc học, Văn hóa học…
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần dựng lại bức tranh sống động, toàn diện, có hệ thống
về lịch sử văn hóa vùng đất Thiệu Giao (Thiệu Hóa, Thanh Hóa) Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung thêm nguồn tài liệu về nguồn gốc, lịch sử hình thành, phát triển và các truyền thống lịch sử - văn hóa tiêu biểu của
xã Thiệu Giao; lột tả rõ nét diện mạo hệ thống DSVH vật thể, phi vật thể tại địa phương Trên cơ sở đó làm rõ vị trí, vai trò của vùng đất này trong sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện Thiệu Hóa nói riêng và tỉnh Thanh Hóa nói chung
- Trên cơ sở khắc họa bức tranh chung về hệ thống di sản, luận văn xác định giá trị, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản Từ đó góp phần giúp cơ quan có thẩm quyền có thêm cơ sở, định hướng trong việc giáo dục truyền thống, khai thác tiềm năng của hệ thống di sản này
- Luận văn còn bổ sung thêm nguồn tài liệu về lịch sử văn hóa địa phương; có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ, giáo viên làm công tác quản lý, nghiên cứu, giảng dạy lịch sử, văn hóa ở các nhà trường và một số cơ quan bảo tàng, văn hóa, du lịch trên địa bàn Thanh Hóa
- Luận văn còn có ý nghĩa thiết thực trong việc quảng bá các di tích lịch
sử - văn hóa của vùng đất Thiệu Giao; góp phần giáo dục thế hệ trẻ thêm hiểu biết về lịch sử quê hương Trên cơ sở đó bồi dưỡng lòng yêu quê hương, tự hào
về truyền thống văn hóa địa phương và trách nhiệm đối với việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đất nước
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1 Vài nét về vùng đất Thiệu Giao
Chương 2 Di sản văn hóa vật thể
Trang 23Chương 3 Di sản văn hóa phi vật thể
Trang 24Chương 1 VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT THIỆU GIAO 1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Thiệu Hóa là một trong 27 huyện thị, thành phố của tỉnh Thanh Hóa Nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thanh Hóa, huyện Thiệu Hóa có một vị trí địa lý thuận lợi Lại nằm ở trung tâm của vùng đồng bằng xứ Thanh, Thiệu Hóa được
xem là “một huyện đồng bằng điển hình của vùng châu thổ sông Mã, sông Chu”
[32; tr 17]
Về địa giới hành chính, phía Đông huyện Thiệu Hóa giáp huyện Hoằng Hóa và thành phố Thanh Hóa; phía Tây giáp huyện Triệu Sơn và Thọ Xuân; phía Nam giáp huyện Đông Sơn; phía Bắc giáp huyện Yên Định Trung tâm huyện lỵ của huyện Thiệu Hóa cách thành phố Thanh Hóa 17 km theo Quốc lộ 45
Có thể nói, về mặt địa lý Thiệu Hóa là cửa ngõ của thành phố Thanh Hóa, là đầu mối giao thông quan trọng, thuận tiện kết nối các huyện phía Tây, Tây Bắc với thành phố Thanh Hóa và các huyện phía Đông, Đông Nam của tỉnh Vị trí thuận lợi nêu trên, huyện Thiệu Hóa có nhiều lợi thế trong giao lưu, phát triển kinh tế - văn hóa với các vùng phụ cận
Huyện Thiệu Hóa có địa hình tương đối bằng phẳng, không quá phức tạp, đại đa số các xã đều là đồng bằng, ít hoặc không có đồi núi Là một bộ phận của đồng bằng Thanh Hóa, đồng bằng Thiệu Hóa được cấu tạo bởi phù sa sông Mã, sông Chu, trải dài trên bề rộng nghiêng dần về phía Đông Nam Mặc
dù là vùng châu thổ bằng phẳng nhưng ở Thiệu Hóa vẫn còn xen kẽ đồi núi sót như núi Bằng Trình (Thiệu Khánh), núi Đọ (Thiệu Vân), núi Nuông, núi Là (Thiệu Tiến)…
Nhìn chung, tổng thể về địa hình Thiệu Hóa rất thuận lợi cho việc hình thành các vùng chuyên canh tập trung với diện tích tương đối lớn Đây là cơ sở
tự nhiên lý giải Thiệu Hóa luôn là một trong số những vùng trọng điểm trồng lúa và hoa màu có năng suất cao của tỉnh
Không những vậy, Thiệu Hóa là một trong những huyện của tỉnh Thanh
Trang 25Hóa có hệ thống sông ngòi phong phú, đa dạng Sông Mã và sông Chu chảy qua địa phận huyện Thiệu Hóa và giữ vai trò quan trọng đối với sự hình thành
và phát triển của cư dân nơi đây Ngoài nguồn phù sa bồi đắp thường xuyên cho vùng đồng bằng châu thổ, hai dòng sông trên còn là huyết mạch giao thông đường thủy quan trọng của huyện Thiệu Hóa Ngoài sông Mã, sông Chu, huyện Thiệu Hóa còn có các tuyến sông khác như: sông Mậu Khê, sông Cầu Chày, sông Dừa, sông Nhà Lê, kênh đào Bái Thượng…Có thể nói rằng ngay từ rất sớm thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Thiệu Hóa một mạng lưới sông ngòi phân bố hầu khắp các xã Đây là yếu tố tác động rất lớn đối với việc định cư lâu dài của con người, tạo thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế, văn hoá,
xã hội với các vùng lân cận
Do điều kiện tự nhiên thuận lợi, vùng đất Thiệu Hoá đã sớm có con người tới sinh sống Từ thời đại đồ đá, khu vực các dải núi ven đôi bờ sông Mã, sông Chu đã là địa bàn cư trú của người nguyên thủy Dấu vết con người thời kì tiền
sử và các công cụ bằng đá đã tìm thấy ở Núi Đọ (Tân Châu), núi Nuông (Thiệu Long) Bước vào thời đại đồng thau, ven đôi bờ sông Mã, sông Chu lớp cư dân Cồn Chân Tiên nằm sát chân phía Đông Nam núi Đọ đã trở thành cốt lõi đầu tiên trong việc hình thành bộ Cửu Chân của nhà nước Văn Lang (từ khoảng thế
kỷ VII TCN) Từ văn hoá Cồn Chân Tiên, người dân Thiệu Hoá nói riêng và Thanh Hóa nói chung đã bước vào nền văn hoá Đông Sơn
Trải qua bao thăng trầm biến đổi của lịch sử, sau nhiều lần dịch chuyển
vị trí, địa giới và danh xưng, hiện nay huyện Thiệu Hóa có 25 xã, thị trấn với tổng diện tích là 160,68 km2, dân số là 183.560 người (theo số liệu điều tra năm
2018 của Chi cục thống kê huyện Thiệu Hóa)
Thiệu Giao là một trong 25 xã, thị trấn của huyện Thiệu Hóa
Xã Thiệu Giao nằm ở phía Đông Nam của huyện Thiệu Hóa, cách trung tâm thành phố Thanh Hóa 5km; cách thị trấn Vạn Hà - trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của huyện Thiệu Hóa 12km
Trang 26Về địa giới hành chính, phía Đông xã Thiệu Giao giáp xã Thiệu Vân, xã Đông Cương (thành phố Thanh Hóa); phía Tây giáp xã Đông Tiến, Đông Thanh (huyện Đông Sơn) và xã Tân Châu (Thiệu Hóa); phía Nam giáp xã Đông Lĩnh (thành phố Thanh Hóa) và xã Đông Tiến (huyện Đông Sơn); phía Bắc giáp xã Tân Châu và xã Thiệu Vân (thành phố Thanh Hóa).Có thể nhận thấy, bao bọc quanh địa phận xã Thiệu Giao đều là những vùng đất có bề dày lịch sử và chiều sâu văn hóa của tỉnh Thanh Hóa Trong đó, Thiệu Vân và Tân Châu là một vùng đất cổ với lịch sử hình thành và phát triển hàng ngàn năm, gắn liền với địa danh Núi Đọ là địa bàn sinh sống của người nguyên thủy cách đây 30-40 vạn năm, vào thời kỳ đồ đá cũ sơ kỳ Đông Thanh một vùng quê hiếu học với
câu ca nổi tiếng “Đông Sơn tứ Bôn, Hoằng Hóa lưỡng Bột” để chỉ các vùng
đất học của xứ Thanh [8; tr 13] Phường Đông Lĩnh nơi có các di chỉ khảo cổ học như Bái Man, Bái Tê, Cồn Gấu, Xóm Rú Xã Đông Tiến là địa điểm thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên tại Thanh Hóa [8; tr 15]
Nằm trong không gian của nền văn hóa Đông Sơn, với vị trí giao thao văn hóa của nhiều vùng đất cổ, xã Thiệu Giao có hệ thống giao thông tương đối thuận lợi Xã nằm cách quốc lộ 45 chưa đầy 3km Đây là tuyến giao thông trọng điểm nối liền các huyện phía Tây tỉnh Thanh Hóa và di chuyển vào Nam ra Bắc đều thuận tiện, dễ dàng Hiện nay tuyến đường cao tốc Ninh Bình - Thanh Hóa đi qua xã Thiệu Giao đã được thi công đang trong giai đoạn hoàn tất
Các tuyến đường liên hương, liên xã không ngừng được nâng cấp, mở rộng, rải nhựa, bê tông để phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế, xã hội
và sinh hoạt của người dân địa phương Từ trung tâm xã Thiệu Giao, đi về phía tây theo đường liên xã hơn 1km qua địa phận xã Tân Châu là đến bờ đê sông Chu Về phía đông, theo đường liên xã khoảng 12km qua địa phận phường Đông Cương, phường Thiệu Khánh đến bờ đê Sông Mã hoặc theo tuyến đường liên xã khác qua Đông Thanh, Đông Lĩnh, Đông Cương vào trung tâm thành phố Thanh Hóa Ngay cánh Đồng Sau của làng Đại Bái, xã Thiệu Giao là chân núi Đọ (địa phận xã Thiệu Vân) với khoảng cách chỉ gần 1km Chính vì vậy,
Trang 27từ rất sớm Thiệu Giao đã trở thành mảnh đất giao lưu, hội tụ sắc thái văn hóa vùng miền
Hiện nay, xã Thiệu Giao gồm có 2 làng: Đại Bái và Bái Giao Theo thống
kê năm 2010, xã có 2.166 hộ với 7.758 nhân khẩu Tuy nhiên, phần lớn nhân khẩu đi làm ăn xã tại các tỉnh phía nam và nước bạn Lào Số nhân khẩu thường xuyên có mặt tại địa phương là 3.000 nhân khẩu, chủ yếu là người cao tuổi, trẻ
em [12; tr 13]
Như vậy, về vị trí địa lý, Thiệu Giao là vùng đất được kiến tạo cùng với
sự hình thành và phát triển bởi phù sa của sông Mã, sông Chu Nằm ở vị trí địa
lí thuận lợi, cùng với hệ thống giao thông đang tiếp tục được xây dựng, mở rộng, xã Thiệu Giao có nhiều điều kiện thuận lợi trong giao lưu, phát triển kinh
tế - văn hóa với các vùng lân cận của huyện Thiệu Hóa và tỉnh Thanh Hóa
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Về địa hình, so với các xã lân cận như Thiệu Vận, Đông Cương, Đông Tiến, Đông Thanh thì địa hình xã Thiệu Giao thuộc vùng thấp trũng của huyện Vùng đất này có độ dốc nghiêng dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, với độ cao trung bình từ 3 – 6m so với mực nước biển Nhờ vậy, rất thuận lợi cho việc xây dựng các công trình thủy lợi cũng như kiến tạo nên các cánh đồng rộng và bằng phẳng
Nổi lên giữa những cánh đồng châu thổ màu mỡ là các ngọn núi gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Thiệu Giao Đó là núi Voi, núi Sóc, núi Chúa, núi Ché, núi Cọc Đặc biệt là 2 ngọn núi lớn là núi Voi và núi Chúa
Núi Voi là ngọn núi đá vôi được hình thành tự nhiên và gắn liền với nhiều sự kiện quan trọng của lịch sử dân tộc Từ thuở sơ khai, dưới chân ngọn núi này đã từng là nơi cư trú của người Việt cổ thuộc nền văn hóa Đông Sơn Trong những ngày Cách mạng tháng Tám, núi Voi cũng là nơi Đảng bộ huyện Thiệu Hóa tổ chức treo cờ trên đỉnh núi báo hiệu khởi nghĩa giành chính quyền
ở Đại Bối giành thắng lợi Ngày nay, núi Voi là địa điểm khai thác và cung cấp
Trang 28vật liệu đá xây dựng
Núi Chúa là ngọn núi đá và đất Nơi đây từng có khu lăng mộ của công chúa Bảo Châu thời Lê Sơ Do sự tàn phá của thời gian và chiến tranh hiện nay khu lăng mộ chỉ còn là phế tích Riêng ngôi mộ vẫn còn nằm nguyên vẹn trong lòng đất Khu vực chân núi cũng được nhân dân cải tạo để phát triển kinh tế nông nghiệp trồng trọt và chăn nuôi gia súc[11; tr 13]
Về đất đai, cũng như các xã khác trong huyện, đất đai của Thiệu Giao được hình thành chủ yếu là do sự tích tụ và bồi đắp của phù sa sông Chu Tuy nhiên, hiện nay, hệ thống đê sông Chu đã được bồi đắp kiên cố nên đất đai của Thiệu Giao thuộc nhóm đất phù sa cổ không được bồi đắp hàng năm Loại đất này có độ PH trung tính, lượng mùn khá cao, rất thuận lợi cho việc phát triển cây trồng, nhất là cây lúa và hoa màu
Hiện nay, xã Thiệu Giao có diện tích tự nhiên là 575,24 ha, trong đó đất nông nghiệp là 445,92 ha, đất chuyên dùng là 87,49 ha, đất chưa sử dụng 10,37
ha, đất ở 31,46 ha Với đặc điểm địa hình đồng bằng là chủ yếu đã tạo điều kiện thuận lợi cho cư dân nơi đây phát triển nông nghiệp từ rất sớm Từ làng Đại Bái đến làng Bái Giao là những cánh đồng gắn liền với các địa danh cổ như: Đồng Trông, Đồng Chon, Đồng lái, Đồng Sau, Mã Chúa[12; tr 13]
Nhìn chung, địa hình và đất đai của Thiệu Giao mang tính đồng nhất Đây là vùng đồng bằng thuận lợi cho việc hình thành điểm chuyên canh cây lúa
có diện tích tương đối lớn của tỉnh Thanh Hóa
Về hệ thống sông ngòi, Thiệu Giao là vùng đồng bằng châu thổ nằm ở
phía nam hạ lưu sông Chu Do đó, Thiệu Giao cũng như nhiều xã khác trong
khu vực nhận được nhiều ưu đãi đặc biệt của dòng sông này Sông Chu “vốn
là nhánh lớn nhất trong hệ thống sông Mã và là sông lớn thứ hai của tỉnh Thanh Hóa, phát tích từ cao nguyên Sầm Nưa (Lào), chảy theo hướng tây bắc - đông nam, có chiều dài 325 km, trong đó phần chảy qua huyện Thiệu Hóa khoảng
25 km” [32; tr 12] Thiệu Giao nằm trong vùng trung tâm của đồng bằng
Trang 29châu thổ Thanh Hóa do hệ thống sông Mã, sông Chu bồi đắp nên đất đai tương đối màu mỡ, thuận lợi cho phát triển kinh tế nông nghiệp
Trên địa bàn xã Thiệu Giao còn có kênh nông giang B69 lấy nước từ đập Bái Thượng chảy về và hệ thống kênh, mương dày đặc là nguồn nước cung cấp chủ yếu cho đồng ruộng cũng như tiêu úng trong mùa lũ Ngoài hệ thống kênh mương, Thiệu Giao còn có 3,9 ha diện tích ao hồ được nhân dân sử dụng để nuôi thủy sản nước ngọt và góp phần cải tạo môi trường tự nhiên
Về khí hậu, cũng như các địa phương khác của huyện, Thiệu Giao nằm
trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Độ ẩm không khí trung bình hàng năm
từ 65-68%, độ ẩm không khí sắp sỉ 90% Bình quân nhiệt độ trong năm dao động trong khoảng 22°C - 25°C Mùa hè nhiệt độ trung bình từ 28°C - 32°C, cao nhất là 37°C - 40°C Mùa đông nhiệt độ trung bình từ 15°C - 20°C, thấp nhất xuống 8°C Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.600-1.900mm Mưa thường tập trung từ tháng 6 đến tháng 10” [12; tr 15]
Có thể khẳng định, vùng đất Thiệu Giao có kết cấu địa hình, đất đai, sông ngòi, khí hậu…mang những đặc điểm chung, gắn bó mật thiết với vùng đất châu thổ Thiệu Hóa nói riêng và Thanh Hóa nói chung Trên cơ sở điều kiện tự nhiên thuận lợi, cư dân nơi đây đã khai thác thế mạnh, tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp Đây là nhân tố hết sức quan trọng, có tác động mạnh mẽ tới quá trình tụ cư lâu đời của cộng đồng cư dân trên vùng đất này
1.2 Quá trình hình thành vùng đất Thiệu Giao
1.2.1 Địa danh vùng đất Thiệu Giao trong lịch sử
Thiệu Giao là một vùng đất cổ có lịch sử hình thành và phát triển hàng ngàn năm Từ buổi bình minh của lịch sử văn hóa văn minh dân tộc, vùng đất này đã sớm trở thành địa bàn cư trú của con người Các nguồn sử liệu, văn bia, địa danh và kết quả nghiên cứu khảo cổ học là căn cứ để khẳng định sự phát triển lâu đời và liên tục của con người trên vùng đất Thiệu Giao
Thiệu Giao nằm cận kề các di chỉ khảo cổ học nổi tiếng thời kỳ đồ đá, đồ
Trang 30đồng Trong không gian lịch sử ấy, vùng đất Thiệu Giao đã từng chứng kiến sự tiến hóa của người nguyên thủy- những cư dân đầu tiên có mặt tại vùng đất này
Vượt qua cánh Đồng Sau làng Đại Bái, xã Thiệu Giao trong khoảng cách chưa đầy 1km về phía Đông là chân núi Đọ (xã Thiệu Vân) di chỉ khảo cổ học thời đại sơ kỳ đồ đá cũ, bằng chứng khoa học khẳng định sự tồn tại của người nguyên thủy trên vùng đất này Tiếp đó, nằm sát chân núi phía Đông Nam di chỉ Núi Đọ là di chỉ khảo cổ học Cồn Chân Tiên (Thiệu Tân, Thiệu Hóa) thuộc giai đoạn mở đầu thời đại đồng thau ven đôi bờ sông Mã tiếp tục minh chứng
cho quá trình tồn tại của cư dân Việt cổ nơi đây Có thể nói “cư dân văn hóa
Cồn Chân Tiên là cốt lõi đầu tiên trong quá trình hình thành bộ Cửu Chân trong đất nước của các Vua Hùng” [32; tr 195]
Cách Thiệu Giao gần 2km về phía Đông Bắc là phường Thiệu Dương (thành phố Thanh Hóa), tại đây các nhà khảo cổ học đã phát hiện một số khu
mộ Hán và rất nhiều vũ khí bằng đồng, gốm Hán, tiền Ngũ Thù…Đây là minh chứng rõ nét cho thấy từ trước công nguyên cư dân cổ xưa đã khai phá vùng đất này làm nghề nông nghiệp, đúc đồng, đan lát, chài lưới
Chính từ hạt nhân Cồn Chân Tiên và sau đó là Thiệu Dương đã tạo nên
sự hình thành đô thị Tư Phố với những hoạt động buôn bán sôi nổi, đầu mối giao thông thuỷ bộ của cả vùng từ năm 111 TCN Làng Đại Bái của Thiệu Giao nằm ngay vùng ven đô của thành Tư Phố ngự trị giữa ngã ba sông Mã - sông Chu đã trở thành đầu mối gắn kết các tụ điểm dân cư Thiệu Dương, Đông Sơn, núi Nấp, núi Sói (xã Hoằng Lý, huyện Hoằng Hoá)
Như vậy, qua các nguồn tài liệu và kết quả khảo cổ học, có thể khẳng định từ thuở bình minh của xã hội loài người vùng đất Thiệu Giao đã có người Việt cổ sinh sống Sớm nhất là cách ngày nay khoảng 4000 năm, sau đó thời kì văn hóa Đông Sơn cách ngày nay hơn 2000 năm Những chứng cứ văn hóa vật chất từ ngàn xưa còn lưu giữ đến ngày nay đã khẳng định sự có mặt của người Việt cổ và sự tồn tại làng cổ trên vùng đất này Chính họ là những chủ nhân khai phá vùng đất còn hoang sơ thành những cánh đồng trù phú, tạo lập nên những tụ điểm dân cư đông đúc, sầm uất Đó là những cộng đồng dân cư đặt
Trang 31nền móng cho sự ra đời và hình thành các làng xã đầu tiên trong lịch sử
Ngoài ra, căn cứ vào một số DSVH vật thể và phi vật thể còn bảo lưu cho đến ngày nay cũng đã cho thấy sự hình thành và phát triển lâu đời của cư dân trên vùng đất này Đặc biệt, hai câu đối lưu tại nghè thờ Thành hoàng làng Đại Bái có ghi:
Triều Tống khôi nguyên chân tể tướng Bối cung thượng đẳng tối linh thần
Dịch nghĩa:
Thời nhà Tống thi đậu đến bậc Khôi nguyên làm đến chức Tể tướng
Vị thần tối linh được thờ trong cung làng Đại Bối
Như vậy, từ trước thời nhà Tống cai trị, trên vùng đất Thiệu Giao đã có con người khai đất lập làng và sinh sống đông đúc thành làng xã [41; tr 6]
Theo sách cũ ghi từ thời Tiền Tống (417- 470) thành Tư Phố (thuộc Thiệu Dương, Thiệu Khánh ngày nay) đã là một trung tâm hành chính, kinh tế Thiệu Giao ở gần thành Tư Phố lại thuộc vùng đất màu mỡ, gần những con sông lớn nên sớm có người định cư Cách đây hàng ngàn năm, Lỗ Tử thuộc vùng Tam Lỗ (Lỗ Tử, Mao Lỗ, Đông Lỗ) là miền đất lập nghiệp của Dương Tam Kha (thế kỷ thử X), người sinh ra Thái hậu Dương Vân Nga nổi tiếng trong lịch sử Điều này chứng minh người dân đã sinh sống, định cư từ rất sớm trên vùng đất Thiệu Giao [41; tr 6]
Nằm trong không gian lịch sử sôi động của thời kỳ phục hưng văn hóa dân tộc ở thế kỷ X, gắn liền với tên tuổi Dương Đình Nghệ, Dương Tam Kha, Ngô Quyền Thiệu Giao là vùng đất thuộc sự cai quản của Bộc xạ tướng quân
Lê Lương - người từng được Đinh Bộ Lĩnh ban cấp cho nửa cõi “đông từ Phân
Dịch, nam từ Vũ Long, tây từ đỉnh núi Ma La, bắc từ họ chân lèn Kim Cốc, đời đời con cháu Tại được quyền trông coi” mà bia chùa Hương Nghiêm đã ghi
chép [64; tr 70]
Các nguồn sử liệu, gia phả của một số dòng họ còn được lưu giữ tại Thiệu
Trang 32Giao không cho biết cụ thể thời gian thành lập làng, chỉ biết rằng đến thời Lý - Trần cư dân đã tụ cư đông đúc Qua quá trình đấu tranh chinh phục thiên nhiên, tạo dựng cuộc sống, các xóm làng nơi đây dần dần được hình thành Lịch sử hình thành và phát triển của xã Thiệu Giao gắn liền với hai huyện Đông Sơn và Thiệu Hóa
Thời Lý, vùng đất Thiệu Hóa là một khu vực khá phát triển, dân cư đông đúc Vùng đất Thiệu Giao thời kỳ này đã khá tấp nập với 3 làng Bái Thượng, Bái Trung và Bái Giao
Thời Lê, các làng ở Thiệu Giao dân cư tụ họp đông đúc, các dòng họ lớn
đã được hình thành, nhiều dòng họ có những người đỗ đạt cao, được triều đình trọng dụng Tiêu biểu nhất là hai dòng họ Lê Văn (sau đổi thành Lê Duy) và họ Hoàng Hai dòng họ này có ông Lê Văn Hiển và ông Hoàng Doãn Vũ đều đỗ Tiến sĩ khoa thi năm Mậu Thìn và làm quan đến chức Hữu thị lang Các công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc còn lại có giá trị nghệ thuật mang dấu
ấn thời Lê tại các làng ở Thiệu Giao đã cho biết các làng nơi đây nổi tiếng là văn vật của xứ Thanh
Đầu thế kỷ XIX, theo sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX, vùng
đất Thiệu Giao thuộc tổng Đại Bối, huyện Đông Sơn Tổng Đại Bối có 16 xã, thôn, trang, khu vực gồm: Đại Bối, Bái Giao, Doanh Xá, Đông Xá, Phúc Lâm, Đại Khánh, Bái Trung, Thanh Dương, Dương Xá, Đại Lý, Phú Lâm, Vân Liễu, giáp Nam Phố, giáp Đông Phố, thôn Chuyên, trang Cổ Nịnh [41; tr 143,144]
Năm 1900, có sự chia lại địa giới các huyện, Đông Sơn cắt hai tổng là Vận Quy, Đại Bối và một phần của Thạch Khê về huyện Thụy Nguyên Năm
1928, huyện Thụy Nguyên đổi thành phủ Thiệu Hóa Từ đó cho đến cách mạng Tháng Tám năm 1945, các làng của Thiệu Giao gồm: Đại Bái và Bái Giao thuộc tổng Đại Bối, phủ Thiệu Hóa
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, thực hiện chương trình của Trung
Trang 33ương (bãi bỏ tổng thành lập cấp xã) Xã Đại Bái được thành lập gồm các làng Đại Bái, Bái Giao, Vân Tập, Phúc Lâm, Thôn Chuyên, Cổ Ninh, Phúc Hòa, Đại
Lý Năm 1953, thực hiện chủ trương của ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh Thanh Hóa, các xã lớn được tách ra thành các xã nhỏ, xã Đại Bái được tách thành hai xã là Thiệu Giao và Thiệu Vân
Năm 1977, theo quyết định số 177/CP ngày 5-7-1977 của Hội đồng Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số huyện thuộc tỉnh Thanh Hóa, 15 xã nằm trong vùng tả ngạn sông Chu sáp nhập vào huyện Yên Định, lập huyện mới Thiệu Yên; 16 xã còn lại ở hữu ngạn sông Chu sáp nhập vào Đông Sơn lập ra huyện Đông Thiệu (năm 1982 đổi theo tên cũ là Đông
Sơn) Theo đó, xã Thiệu Giao lúc này thuộc quản lý của huyện Đông Sơn Ngày
18 tháng 11 năm 1996, huyện Thiệu Hóa được tái lập theo Nghị định số 72/CP của Chính phủ Ngày 1 tháng 1 năm 1997, địa giới và tổ chức hành chính trở lại như Thiệu Hóa của 20 năm trước đây Đơn vị quản lý xã Thiệu Giao vẫn giữ nguyên thuộc huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa và ổn định cho đến ngày
hôm nay [12, tr 29]
Như vậy, nằm trong hệ thống các vùng đất cổ của xứ Thanh, xã Thiệu Giao được hình thành từ rất sớm Trên vùng đất này, hàng nghìn năm về trước
đã có con người cư trú, họ là những chủ nhân đã khai phá vùng đất còn hoang
sơ thành những cánh đồng trù phú, tạo lập nên những tụ điểm dân cư đông đúc, đặt nền móng cho sự ra đời và hình thành các làng xã đầu tiên trong lịch sử Các làng xã ra đời đã góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng về kinh tế, văn hóa cho vùng đất Thiệu Giao Trải qua thời gian, vùng đất này đón nhận số lượng dân cư ngày càng đông đúc đến sinh cơ lập nghiệp, cùng nhau chung sức xây dựng và đấu tranh bảo vệ quê hương
1.2.2 Sự hình thành cộng đồng dân cư và làng xã
Quá trình hình thành vùng đất Thiệu Giao gắn liền với sự hình thành cộng đồng dân cư và làng xã Với lịch sử phát triển hàng ngàn năm, ngay từ rất sớm Thiệu Giao đã trở thành điểm tụ cư của các luồng dân cư đến đây sinh cơ
Trang 34lập nghiệp Tuy khác nhau về nguồn gốc, dòng họ và thời điểm đến đất Thiệu Giao lập nghiệp nhưng tất cả các dòng họ đã góp phần xứng đáng vào việc phát triển làng xã, xây dựng Thiệu Giao trở thành vùng đất tiêu biểu của châu thổ sông Chu với nhiều dấu ấn lịch sử - văn hóa đặc sắc
Trải qua quá trình thay đổi danh xưng, địa giới hành chính, hiện nay, xã Thiệu Giao gồm có 2 làng: Đại Bái và Bái Giao
* Làng Đại Bái
Theo Địa chí huyện Thiệu Hóa làng Đại Bái là một trong 30 làng Việt
cổ (Kẻ) của huyện Thiệu Hóa được phân bố dọc hữu ngạn và tả ngạn sông Chu Xưa kia, làng được gọi là Kẻ Bái Bên cạnh Kẻ Bái là các Kẻ Chòm, Kẻ Họ,
Kẻ Go, Kẻ Núi (Thiệu Châu), Kẻ Trần (Thiệu Tân), Kẻ Đo, Kẻ Vôm, Kẻ Chánh (Thiệu Khánh), Kẻ Giàng (Thiệu Dương), Kẻ Chiểu (Đông Tiến - Đông Sơn) Đây đều là những làng xóm đã có lịch sử cách đây hàng ngàn năm [32; tr 501]
Làng Đại Bái thuộc vùng đồng bằng nằm ở phía nam hạ lưu sông Chu Tuy là vùng đồng bằng, nhưng xung quanh làng vẫn tồn tại nhiều ngọn núi sót che chắn, bao bọc Đó là núi Phượng Lĩnh, Đông Khối, Ngũ Hoa Phong, các núi thuộc hệ núi Hàm Rồng, núi Đọ, núi Tràn Đây là vùng đất đã từng chứng kiến sự tiến hóa của con người từ thời đại sơ kì đồ đá cũ cách đây ba, bốn chục vạn năm
Dưới thời Bắc thuộc, làng Đại Bái thuộc huyện Tư Phố, quận Cửu Chân, Châu Ái Từ thời Trần đến đầu thời Nguyễn, làng Đại Bái (Đại Bối) thuộc huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hoa [41; tr 143-144]
Đến đời vua Đồng Khánh triều Nguyễn (1885 - 1888) làng vẫn được gọi
là Đại Bối Lúc này, làng thuộc huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa Năm Thành Thái thứ 12 (1900), nhà Nguyễn cho cắt chuyển tổng Đại Bối
về huyện Thụy Nguyên (sau đổi là phủ Thiệu Hóa), từ đó trở đi, làng thuộc huyện Thiệu Hóa
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đơn vị hành chính cấp tổng bị giải thể, xã Đại Bối được đổi thành xã Đại Bái Từ 1953 đến nay, làng
Trang 35Đại Bái thuộc xã Thiệu Giao
Hiện nay, làng có tích tự nhiên là 343,24 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 241,4 ha, còn lại là khác đất [12; tr 33] Phía Đông làng Đại Bái giáp làng Bái Giao; phía Tây giáp làng Cổ Bôn (xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn); phía Nam giáp làng Bái Giao và xã Đông Tiến (huyện Đông Sơn); phía Bắc giáp làng Đắc Châu (xã Thiệu Châu) và làng Đại Lý xã Thiệu Vân
Cũng như mọi làng quê khác trên đất nước Việt Nam, việc hình thành cộng đồng dân cư ở Đại Bái gắn liền với sự phát triển của các dòng họ Trong quá trình phát triển, làng Đại Bái có sự di chuyển, du nhập, cộng cư của nhiều dòng họ khác nhau Tuy nhiên, hiện nay những tài liệu thành văn ghi chép về lịch sử hình thành các dòng họ trên vùng đất Thiệu Giao không còn được lưu giữ nhiều nên việc khảo tả quá trình hình thành cả hai làng Đại Bái và Bái Giao còn gặp nhiều hạn chế Chỉ biết rằng trên làng Đại Bái hiện nay có 18 chi họ:
Lê Văn, Lê Duy, Lê Hữu, Lê Viết, Lê Đồng, Lê Trọng, Lê Như, Lê Minh, Lê
Sỹ, Mai, Vũ, Lý, Dương, Lường, Tạ, Hoàng, Nguyễn, Lê Như cùng sinh sống
Theo những câu truyện truyền thuyết được các cụ cao niên trong làng kể lại xưa kia vùng đất này còn rất hoang sơ, bùn lầy, rậm rạp, dân cư thưa thớt
Do nằm gần sông Chu, sông Mã, và đường cái quan (là đê sông Chu có từ thời
Lý - Trần) mà làng cổ Đại Bái (Đại Bối) có thể liên lạc dễ dàng, nhanh chóng với các vùng đất trong, ngoài tỉnh Vì thế, về sau các dòng họ vùng Hải Dương, Hưng Yên di cư đến đây sinh sống, lập nghiệp Đất đai dần được mở rộng, cư trú dân cư nhiều nơi đến cư trú và làm ăn, sau này trở thành một làng quê trù phú Do đó, ngoài những đặc trưng chung của một vùng châu thổ sông Mã, sông Chu thì làng Đại Bái còn có những đặc trưng văn hóa riêng biệt với nền kinh tế nhiều nghề và tính cách của cư dân năng động, tháo vát Các dòng họ ở làng Đại Bái, dù lớn hay nhỏ, dù đến trước hay sau, đều đã góp phần xứng đáng vào việc phát triển làng xã
Dân cư trong làng chủ yếu sống bằng nghề nông, nhưng do diện tích ruộng đất ít và dân số mỗi ngày một tăng nên hầu hết các gia đình đều có thêm nghề
Trang 36phụ như nghề buôn đồng nát, đúc nồi gang, làm hàng xáo, nuôi lợn nái và chạy chợ khắp các nơi Từ xa xưa làng Chè Đông (hay còn gọi là Trà Đúc – xã Thiệu Trung) chuyên đúc đồng, còn làng Đại Bái lại chuyên thu mua đồng nát để nhập bán cho làng Chè Đông, hoặc trao đổi, mua sản phẩm đồ đồng đúc ra của làng Chè Đông để bán rao khắp các chợ quê, làng xóm trong, ngoài tỉnh Nhờ vậy, đời sống kinh tế của người dân làng Đại Bái không ngừng được cải thiện
Đại Bái là làng quê giàu truyền thống lịch sử- văn hóa Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, làng có hệ thống đình, chùa, nghè, miếu, đền thờ, văn chỉ, võ chỉ, từ đường riêng vô cùng phong phú Theo lời của các cụ cao niên, trước đây làng có 3 ngôi đình là: Vườn Đình, Đình Phúc và Đình Chợ; có nhà thánh văn, hội phường đồng, …Tuy nhiên, do bào mòn của thời gian và sự tàn phá của chiến tranh nên đến nay hầu như các di tích trên của làng không còn nữa mà chỉ còn lại một số di tích mới được nhân dân trùng tu và xây dựng lại
Như vậy, làng Đại Bái (Kẻ Bái) xã Thiệu Giao nằm trong hệ thống các làng cổ xứ Thanh Vùng đất này có lịch sử hình thành từ lâu đời Trong đó, quá trình hình thành làng gắn liền với quá trình tụ cư của các dòng họ trên vùng đất này Với vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên thuận lợi, đất đai trù phú, làng Đại Bái đã thu hút được nhiều dòng họ đến đây sinh cơ lập nghiệp Trải qua quá trình phát triển hàng ngàn năm, cộng đồng các thế hệ dân cư làng Đại Bái đã chung lưng đấu cật cùng nhau cải tạo đồng ruộng, ổn định sản xuất, tạo dựng xóm làng và góp phần xây dựng làng Đại Bái thành một vùng quê giàu truyền thống lịch sử - văn hóa của xứ Thanh
* Làng Bái Giao
Theo Dư địa chí làng Bái Giao, truyền thuyết và lời truyền ngôn của các
cụ cao niên trong làng thì làng Bái Giao được hình thành vào thời nhà Lý Dưới đời Lý Thánh Tông, niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo (1049), 2 ông là Sùng Nghiêm và Phước Long đã đến nơi đây khai ấp lập làng Tiếp đó, dân cư từ các nơi khác đến đây quần tụ sinh cơ lập nghiệp, xây dựng xóm làng Thời điểm ấy làng được gọi là trang Bái Giao, thuộc tổng Đại Bối, phủ Thiệu Thiên, trấn
Trang 37Thanh Hoa
Về tên gọi của làng, theo giải thích của các cụ cao niên trong làng, “Bái”
là tràn đầy, tốt đẹp hay bái tế; “Giao” là giao keo “Bái Giao” là nơi tế trời Nam hồn thiêng sông núi Về mặt địa thế, làng Bái Giao mang hình dáng “con
rùa sống”, đầu rùa về phía Cồn Vàng, đuôi rùa về phía Võng Vịnh Vì vậy, từ
xa xưa, Bái Giao đã có câu: “Bái giao đất chật người đông, thế đất sinh quy,
trung Đình Tuấn mã, hậu thủy tụ mình rồng, tiền sơn núi Chúa, bên tả bãi Bạc
kề, bên hữu cồn Vàng tựa, trước làng có 3 cồn đất gọi là cồn Anh Hùng, sau làng có 7 cồn đất gọi là thất tinh.” [12; tr 21]
Với cảnh quan và điều kiện tự nhiên thuận lợi ấy, Bái Giao là nơi sinh tụ của 16 dòng là Họ Nguyễn Đình, Lê Đình, Lê Viết, Lê Thiện, Lê Khắc, Lê Trọng, Lê Đăng, Lê Sỹ, Đỗ Huy, Bùi Duy, Khổng Hữu, Nguyễn Hữu, Phan Văn, Lê Doãn, Lê Nho, Nguyễn Viết
Về cơ cấu tổ chức xã hội, Bái Giao xưa chia làm 2 giáp là giáp Đông và giáp Đoài; 8 phe: phe Nam, phe Trung, phe Tiền, phe Nội, phe Đá, phe Thịnh, phe Thượng, phe Kim và 8 ngõ gồm: 2 ngõ bé, ngõ Trong, ngõ Đá, ngõ Trữa, ngõ Phường và 2 ngõ Kim
Đầu thế kỷ XIX, làng Bái Giao có tên là thôn Bái Giao thuộc tổng Đại Bối, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hoa Thời vua Đồng Khánh (1885 - 1888) thuộc tổng Đại Bối, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa Năm Thành Thái thứ 12 (1900) cắt chuyển tổng Đại Bối về huyện Thụy Nguyên (sau đó đổi thành phủ Thiệu Hóa), làng Bái Giao thuộc đơn vị hành chính trên
Từ tháng 8/1945 - 1/1946, tổng Đại Bối, phủ Thiệu Hóa bị giải thể, làng Bái Giao thuộc xã Đại Bái, huyện Thiệu Hóa Năm 1947, xã Đại Bái sáp nhập với xã Liên Hòa thành xã Đại Bái lớn Năm 1953, xã Đại Bái chia thành 2 xã Thiệu Giao và Thiệu Vân Lúc này, làng Bái Giao thuộc xã Thiệu Giao
Hiện nay, làng Bái Giao thuộc xã Thiệu Giao, huyện Thiệu Hóa, tỉnh
Trang 38Thanh Hóa Phía Đông giáp núi vôi xã Đông Cương, phía Tây giáp xã Đông Lĩnh và giáp làng Đại Bái, phía Nam giáp núi Đọ xã Thiệu Vân, phía Bắc giáp
xã Thiệu Vân
Bái Giao cũng là làng quê giàu truyền thống văn hóa, nơi đây có đình làng Bái Giao; nghè thờ Kiều Sơn Đại Vương, Bố Lộ Đại Vương, Cử Kỷ Đại Vương, thần Đệ lục; phủ thờ Tiên quế chân nhân quận phu nhân tôn thần…và các lễ hội, lễ tục truyền thống đặc sắc trong vùng Đây là minh chứng khẳng định Bái Giao là vùng quê giàu truyền thống văn hóa từ ngàn xưa
Như vậy, với địa thế và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho quá trình sinh hoạt và sản xuất, vùng đất Bái Giao đã sớm trở thành địa điểm tụ cư của con người Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, dưới lớp bụi của thời gian và biến đổi của xã hội, cộng đồng cư dân làng Bái Giao đã chung tay xây dựng nơi đây thành một vùng đất có bề dày lịch sử và chiều sâu văn hóa của địa phương Hiện nay, làng Bái Giao đang không ngừng phát triển về mọi mặt và đóng góp
to lớn cho quá trình phát triển của xã Thiệu Giao nói riêng và xứ Thanh nói chung Với bề dày lịch sử - văn hóa hàng ngàn năm, nhân dân làng Bái Giao
luôn tự hào về vùng đất quê hương mình với “ngàn năm văn hiến Bái Giao ta”
[12; tr 25]
Truyền thống lịch sử văn hóa của hai làng Bái Giao và Đại Bái là thể hiện cụ thể và sinh động cho những giá trị văn hóa truyền thống của nhân dân Thiệu Giao trong suốt chiều dài lịch sử Đặc trưng này đã góp phần rất lớn vào
hệ thống những giá trị văn hóa tốt đẹp của quê hương Thanh Hóa nói chung
1.3 Truyền thống lịch sử - văn hóa
1.3.1 Truyền thống trong lao động sản xuất
Truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất là một nét đẹp tiêu biểu trong truyền thống văn hóa của cư dân vùng đất Thiệu Giao nói riêng và
xứ Thanh nói chung Truyền thống đó đã xuyên suốt ngàn năm lịch sử, góp phần xây dựng khối đoàn kết trong cộng đồng làng xã, tạo động lực to lớn xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp
Với địa thế dựa lưng núi Đọ, tiếp giáp Cồn Chân Tiên, vùng đất Thiệu
Trang 39Giao sớm có người Việt Cổ sinh sống Việc phát hiện ra những công cụ lao động bằng đá của người Việt cổ tại núi Đọ, những di vật đồ đá và đồ gốm tại
di tích Cồn Chân Tiên, đồ đồng tại di tích Thiệu Dương là những minh chứng hùng hồn, sống động cho quá trình lao động sáng tạo của người Việt Cổ trong quá trình tụ cư trên vùng đất này
Ngay từ buổi đầu khai ấp, lập làng, cộng đồng cư dân Thiệu Giao đã gắn
bó chặt chẽ với hoạt động nông nghiệp Nông nghiệp được xem là “cái gốc”,
“cái bản” để ổn định đời sống cho cư dân địa phương Bằng sự cần cù, chịu
thương, chịu khó, cư dân vùng đất Thiệu Giao đã biến những vùng đất sình lầy, rậm rạp thành những cánh đồng tươi tốt, xóm làng trù phú Hiện trên vùng đất này vẫn còn lưu giữ được tên gọi của các địa danh cổ mà cư dân nơi đây đã khai phá được như: Đồng Trông, Đồng Sốc, Cồn Lĩnh, Cồn Đằng, Cồn Vàng… [12; tr 14 ]
Bằng kinh nghiệm của ông cha, người Thiệu Giao qua nhiều thế hệ đã biết khai thác và sử dụng nguồn lợi thiên nhiên để phục vụ cuộc sống với nhiều hoạt động kinh tế đa dạng và phong phú Bên cạnh nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước, với truyền thống lao động cần cù, người dân Thiệu Giao còn trồng thêm các loại hoa màu khác như ngô, khoai lang, lạc, đậu Trước Cách mạng tháng Tám 1945, trong xã còn có nhiều hộ gia đình trồng bông dệt vải, trồng dâu, nuôi tằm dệt tơ lụa
Không chỉ trong sản xuất nông nghiệp, cư dân Thiệu Giao còn chú trọng phát triển tiểu thủ công nghiệp, xem đây là nghề bổ trợ, tăng thu nhập lúc nông nhàn Từ xa xưa, nhân dân các làng xã Thiệu Giao đã làm nghề đúc đồng truyền thống, đúc nhôm, làm gạch, gò xoong nồi, thợ nề, thợ mộc Về sau nhân dân trong xã không làm nghề nhôm đúc nữa mà đi nhận các mặt hàng như xoong nồi, mâm, chậu rồi đem đi trao đổi khắp nơi sau đó lại thu mua vật liệu nhôm, gang, đồng nát về nhập cho làng Trà Đông (xã Thiệu Trung) Không chỉ thu mua trong tỉnh, nhân dân xã Thiệu Giao còn vào tận các tỉnh phía nam như Đồng Nai, Bình Dương, Sài Gòn để thu mua các loại phế liệu nhập cho các
Trang 40đại lý lớn Nhờ tinh thần lao động cần cù, thông minh sáng tạo mà thu nhập tăng lên đáng kể, cuộc sống người dân không ngừng được cải thiện, xóm làng ngày một khang trang
Truyền thống cần cù, lao động sáng tạo của người dân Thiệu Giao còn được thể hiện sâu sắc trong hệ thống di sản văn hóa (vật thể, phi vật thể) phong phú còn hiện hữu tại vùng đất này Tiểu biểu là đình làng Bái Giao, nghè làng Đại Bái, Phủ làng Bái Giao, chùa Châu Long…Các công trình kiến trúc ấy đã phản ánh rõ nét sự sáng tạo trong lao động của người dân Thiệu Giao trong dặm dài lịch sử tồn tại và phát triển
Truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất được duy trì và phát huy cao độ trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mĩ, trong thời kỳ đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội, góp phần vào thắng lợi chung của cách mạng cả nước
Có thể nói, cư dân vùng đất Thiệu Giao từ xưa đến nay luôn mang trong mình tinh thần tự lực tự cường, thông minh sáng tạo, chấp nhận điều kiện khó khăn để không ngừng phấn đấu vươn lên Tinh thần ấy đã tạo thành truyền thống tốt đẹp của người Thiệu Giao, được trao truyền, tiếp nối qua nhiều thế
hệ Đồng thời, người dân Thiệu Giao đã nhạy bén khai thác lợi thế khách quan
“Nhất cận thị, nhì cận giang” thành sức mạnh, kết hợp tốt đa ngành nghề để
tạo ra hiệu lực phát triển mạnh mẽ, góp phần làm giàu cho mảnh đất Thiệu Giao nói riêng và Thiệu Hóa nói chung
1.3.2 Truyền thống trong chiến đấu, chống giặc ngoại xâm
Nằm ở phía đông nam huyện Thiệu Hóa, vùng đất Thiệu Giao gắn bó máu thịt với từng bước phát triển thăng trầm của lịch sử dân tộc Từ xa xưa, nơi đây không chỉ được biết đến là vùng đất có lịch sử phát triển lâu đời mà còn là vùng đất giàu truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm Trải qua các thời kỳ lịch sử, cùng với các vùng đất khác trên quê hương Thiệu Hóa, cư dân Thiệu Giao đã luôn đoàn kết, sẵn sàng đóng góp sức người, sức của cho các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm