TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG KHOA NGỮ VĂN TIỂU LUẬN VĂN HÓA VÙNG CHÂU THỔ BẮC BỘ Đà Nẵng, tháng 122021 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 3 NỘI DUNG 4 CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VÙNG VĂN HÓA CHÂU THỔ BẮC BỘ 4 1 1 Điều kiện tự nhiên 4 1 1 1 Vị trí địa lý 4 1 1 2 Địa hình 5 1 1 3 Khí hậu 5 1 1 4 Tài nguyên thiên nhiên 6 1 2 Lịch sử hình thành và phát triển 7 1 3 Điều kiện kinh tế xã hội 7 1 4 Đặc điểm dân cư 8 CHƯƠNG 2 ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA VÙNG CHÂU THỔ BẮC BỘ 9 2 1 Văn hóa vật chất 9 2 1 1 Văn hóa sản xuất.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG KHOA NGỮ VĂN
- -TIỂU LUẬN VĂN HÓA VÙNG CHÂU THỔ BẮC BỘ
Đà Nẵng, tháng 12/2021
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VÙNG VĂN HÓA CHÂU THỔ BẮC BỘ 4
1.1 Điều kiện tự nhiên 4
1.1.1 Vị trí địa lý 4
1.1.2 Địa hình 5
1.1.3 Khí hậu 5
1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên 6
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển 7
1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 7
1.4 Đặc điểm dân cư 8
CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA VÙNG CHÂU THỔ BẮC BỘ 9
2.1 Văn hóa vật chất 9
2.1.1 Văn hóa sản xuất 9
2.1.2 Văn hóa ẩm thực 11
2.1.3 Văn hóa trang phục 12
2.1.4 Văn hóa nhà ở 13
2.1.5 Văn hóa đi lại 14
2.2 Văn hóa tinh thần 14
2.2.1 Phong tục tập quán 14
2.2.2 Tôn giáo, tín ngưỡng 15
2.2.3 Lễ hội truyền thống 17
2.2.4 Nghệ thuật biểu diễn 19
2.2.5 Nghệ thuật tạo hình 20
CHƯƠNG 3: ÁO TỨ THÂN - GIÁ TRỊ VĂN HÓA TIÊU BIỂU CỦA VÙNG CHÂU THỔ BẮC BỘ 24
3.1 Nguồn gốc của áo tứ thân 25
3.2 Đặc điểm của áo tứ thân 25
3.3 Vai trò và ý nghĩa của áo tứ thân 26
3.4 Biến đổi trong thời kì hội nhập 26
KẾT LUẬN 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
Trang 3BÀI LÀM
MỞ ĐẦU
Vùng đồng bằng Bắc Bộ là Vùng nằm ở phía Bắc đất nước, phía Bắc giáp Vùng vănhóa Việt Bắc, Phía Nam giáp vùng văn hóa Trung Bộ, phía Tây giáp vùng văn hóa TâyBắc, phía Đông giáp biển Đông Vùng châu thổ Bắc Bộ là tâm điểm của con đường giaolưu quốc tế theo hai trục chính: Tây - Đông và Bắc - Nam Vị trí này khiến cho nó trởthành là mục tiêu xâm lược đầu tiên của tất cả bọn xâm lược muốn bành trướng thế lựcvào lãnh thổ Đông Nam Á Nhưng cũng tạo điều kiện cho cư dân có thuận lợi về giao lưu
và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Không gian văn hóa đồng bằng Bắc Bộ là địa hìnhnúi xen kẽ đồng bằng hoặc thung lũng, thấp và bằng phẳng, dốc thoải từ Tây Bắc xuốngĐông Nam, từ độ cao 10 – 15m giảm dần đến độ cao mặt biển
Bắc Bộ là cái nôi hình thành nên văn hóa tộc người Kinh, vì thế cũng là nơi sinh racác nền văn hoá lớn, phát triển nối tiếp lẫn nhau Từ trung tâm này, văn hoá truyền vàoTrung Bộ rồi Nam Bộ Sự lan truyền ấy, một mặt chứng tỏ sức sống mãnh liệt của văn hoáBắc Bộ một mặt chứng tỏ sự sáng tạo của người dân nơi đây
Trước tiên là sự ứng xử với thiên nhiên Hàng ngàn năm lịch sử, người dân đã chinhphục thiên nhiên, tạo nên một diện mạo đồng bằng như ngày nay bằng việc đắp mương,đắp bờ, đắp đê Biết bao cây số đê cũng được tạo dựng dọc các triền sông thuộc hệ thốngsông Hồng và sông Thái Bình Nói cách khác, đồng bằng châu thổ sông Hồng, sông TháiBình là kết quả của sự chinh phục thiên nhiên của người dân Bắc Bộ Trong văn hoá đờithường, sự khác biệt giữa văn hoá Bắc Bộ và các vùng khác trong cả nước chính được tạo
ra từ sự thích nghi với thiên nhiên này Thể hiện qua văn hóa nhà ở, văn hóa trang phục,tín ngưỡng, phong tục,…
Đồng bằng Bắc Bộ là nơi diễn ra các hoạt động sinh sống và sản xuất của người dântrồng lúa nước, đồng thời cũng là không gian sinh hoạt, gìn giữ và phát huy các giá trị vănhóa Văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ được hình thành và phát triển trong suốt chiều dàilịch sử của dân tộc với nhiều đặc trưng, trong đó nổi bật là tính cộng đồng, tính tự trị, tínhdung hợp trong tư duy Văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc Bộ có vai trò to lớn đối vớiviệc hun đúc nên tâm hồn Việt, các giá trị đạo đức, nhân văn Tuy nhiên, văn hóa làng
Trang 4đồng bằng Bắc Bộ cũng có những hạn chế, không phù hợp với yêu cầu của việc xây dựngnông thôn mới ở nước ta hiện nay
Phía bắc và đông bắc là Vùng Đông Bắc (Việt Nam), phía tây và tây nam là vùngTây Bắc, phía đông là vịnh Bắc Bộ và phía nam vùng Bắc Trung Bộ Đồng bằng thấp dần
từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ các thềm phù sa cổ 10 15m xuống đến các bãi bồi 2 4m ở trung tâm rồi các bãi triều hàng ngày còn ngập nước triều
-Trong đồng bằng sông Hồng có nhiều ô trũng tự nhiên, điển hình là ô trũng Hà NamNinh, ô trũng Hải Hưng và ô trũng Nho Quan Ngoài ra còn có rất nhiều đầm lầy Trầmtích và phù sa do các sông vận chuyển ra khỏi lòng sông mỗi mùa lũ đã không lấp đượccác ô trũng và đầm lầy này do chúng quá xa sông hoặc do bị đê điều nhân tạo ngăn cản.Việc các sông đổi dòng cũng tạo ra nhưng đầm lầy và ao hồ
Khu vực đồng bằng Bắc Bộ gồm 10 tỉnh thành: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thái Bình, NamĐịnh, Ninh Bình, Bắc Ninh, Hà Nam, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng Trong 10 tỉnhthành này có 2 thành phố trực thuộc trung ương là Hà Nội và Hải Phòng, 8 tỉnh và 12thành phố thuộc tỉnh Đây là vùng có mật độ dân số cao nhất Việt Nam
Đồng bằng sông Hồng là một trong những vùng kinh tế có tầm quan trọng đặc biệttrong phân công lao động của cả nước Đây là vùng có vị trí địa lí và điều kiện tự nhiênthuận lợi, tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, dân cư đông đúc, nguồn lao độngdồi dào, mặt bằng dân trí cao
Trang 51.1.2 Địa hình
Toàn vùng có diện tích gần 15000 km², tỷ lệ khoảng 4,5% tổng diện tích cả nước.Đồng bằng dạng hình tam giác, đỉnh là thành phố Việt Trì và cạnh đáy là đường bờ biểnphía đông Đây là đồng bằng châu thổ lớn thứ hai Việt Nam sau đồng bằng sông CửuLong có diện tích 40.000 km2 Phần lớn bề mặt đồng bằng có địa hình khá bằng phẳng, có
độ cao từ 0,4–12m so với mực nước biển
Địa hình tương đối bằng phẳng với hệ thống sông ngòi dày đặc đã tạo điều kiệnthuận lợi để phát triển hệ thống giao thông thuỷ bộ và cơ sở hạ tầng của vùng
Hệ thống sông ngòi tại khu vực đồng bằng sông Hồng rất phát triển Tuy nhiên vềmùa mưa lưu lượng dòng chảy quá lớn có thể gây ra lũ lụt, nhất là ở các vùng cửa sôngkhi nước lũ và triều lên gặp nhau gây ra hiện tượng dồn ứ nước trên sông Về mùa khô(tháng 10 đến tháng 4 năm sau), dòng nước trên sông chỉ còn 20-30% lượng nước cả nămgây ra hiện tượng thiếu nước Bởi vậy, để ổn định việc phát triển sản xuất, đặc biệt trongnông nghiệp thì phải xây dựng hệ thống thuỷ nông đảm bảo chủ động tưới tiêu và phảixây dựng hệ thống đê điều chống lũ và ngập mặn
1.1.3 Khí hậu
Bắc Bộ quanh năm có nhiệt độ tương đối cao và ẩm, nền khí hậu chịu ảnh hưởng từlục địa Trung Hoa chuyển qua và mang tính chất khí hậu lục địa Trong khi một phần khuvực Duyên hải lại chịu ảnh hưởng tính chất khí hậu cận nhiệt đới ấm và gió mùa ẩm từđất liền Mùa xuân có tiết mưa phùn Điều kiện về khí hậu của vùng tạo thuận lợi cho việctăng vụ trong năm vụ đông với các cây ưa lạnh, vụ xuân, vụ hè thu và vụ mùa
Toàn vùng có khí hậu cận nhiệt đới ẩm với 2 mùa rõ rệt hè, đông Đồng thời hàngnăm chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam Nhiệt độ trung bìnhnăm tăng dần từ phía bắc xuống phía nam và có khí hậu giao hoà, là đặc trưng của khuvực đồng bằng Bắc Bộ và ven biển Thời tiết mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10 nóng ẩm vàmưa cho tới khi gió mùa nổi lên Mùa đông từ tháng 11 tới tháng 4 năm sau trời lạnh, khô,
có mưa phùn Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25 °C, lượng mưa trung bình từ1.700 đến 2.400 mm Vào mùa đông nhiệt độ xuống thấp nhất trong các tháng 12 và thánggiêng
Khí hậu vùng Bắc Bộ cũng thường phải hứng chịu nhiều tác động xấu của thời tiết,trung bình hàng năm có từ 6 đến 10 cơn bão và áp thấp nhiệt đới gây ra lũ lụt, đe dọa trựctiếp đến cuộc sống và ngành nông nghiệp của toàn địa phương trong vùng
Trang 61.1.4 Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên khoáng sản
Đáng kể nhất là tài nguyên đất sét, đặc biệt là đất sét trắng ở Hải Dương, phục vụcho phát triển sản xuất các sản phẩm sành sứ Tài nguyên đá vôi ở Thuỷ Nguyên - HảiPhòng đến Kim Môn - Hải Dương, dải đá vôi từ Hà Tây đến Ninh Bình chiếm 5,4% trữlượng đá vôi cả nước, phục vụ cho phát triển ngành công nghiệp vật liệu xây dựng Tàinguyên than nâu ở độ sâu 200m đến 2.000m có trữ lượng hàng chục tỷ tấn đứng hàng đầu
cả nước, hiện chưa có điều kiện khai thác Ngoài ra vùng còn có tiềm năng về khí đốt.Nhìn chung khoáng sản của vùng không nhiều chủng loại và có trữ lượng vừa và nhỏ nênviệc phát triển công nghiệp phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu từ bên ngoài
Tài nguyên biển
Đồng bằng sông Hồng có một vùng biển lớn, với bờ biển kéo dài từ Thuỷ Nguyên Hải Phòng đến Kim Sơn - Ninh Bình Bờ biển có bãi triều rộng và phù sa dày là cơ sởnuôi trồng thuỷ hải sản, nuôi trồng cây và chăn vịt ven bờ
-Ngoài ra một số bãi biển, đảo có thể phát triển thành khu du lịch như bãi biển ĐồSơn, huyện đảo Cát Bà,
Tài nguyên đất đai
Đất đai nông nghiệp là nguồn tài nguyên cơ bản của vùng do phù sa của hệ thốngsông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp Hiện có trên 103 triệu ha đất đã được sử dụng,chiếm 82,48 % diện tích đất tự nhiên của vùng và chiếm 5,5% diện tích đất sử dụng của
cả nước Như vậy mức sử dụng đất của vùng cao nhất so với các vùng trong cả nước Đất đai của vùng rất thích hợp cho thâm canh lúa nước, trồng màu và các cây côngnghiệp ngắn ngày Vùng có diện tích trồng cây lương thực đứng thứ 2 trong cả nước vớidiện tích đạt 1242,9 nghìn ha
Khả năng mở rộng diện tích của đồng bằng vẫn còn khoảng 137 nghìn ha Quá trình
mở rộng diện tích gắn liền với quá trình chinh phục biển thông qua sự bồi tụ và thực hiệncác biện pháp quai đê lấn biển theo phương thức “lúa lấn cói, cói lấn sú vẹt, sú vẹt lấnbiển”
Tài nguyên sinh vật
Tài nguyên sinh vật trong vùng khá phong phú với nhiều động thực vật quý hiếmđặc trưng cho giới sinh vật của Việt Nam Mặc dù trong vùng có các khu dân cư và đô thịphân bố dầy đặc nhưng giới sinh vật vẫn được bảo tồn ở các vườn quốc gia Ba Vì, Cát Bà,Cúc Phương
Trang 7Vùng văn hóa Bắc Bộ là vùng đất lịch sử lâu đời nhất của người Việt, nơi khai sinhcủa vương triều Đại Việt, đồng thời cũng là quê hương của các nền văn hóa Đông Sơn,Thăng Long – Hà Nội Từ vùng đất thủy tổ là vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, văn hóaĐại Việt, Việt Nam phát triển và lan rộng sang các vùng khác và phát triển trên tòan lãnhthổ như hiện nay Vùng cũng là nơi bắt nguồn của văn hóa Trung Bộ và Nam Bộ Đây làcái nôi hình thành văn hóa Văn minh Việt từ buổi ban đầu và hiện tại cũng là vùng vănhóa bảo lưu được nhiều giá trị truyền thống trên đường đi tới xây dựng nền văn hóa hiệnđại, đậm đà bản sắc dân tộc.
1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
Kinh tế truyền thống của vùng này là nông nghiệp trồng lúa nước Ở Việt Nam nghềtrồng lúa nước đã phát triển ít nhất cũng từ thiên niên kỷ II trước công nguyên trong đờisống của người Việt Dân tộc Kinh là một dân tộc trồng lúa và có nhiều kinh nghiệm làmthủy lợi, kỹ thuật tăng vụ, gối vụ để trồng nhiều nhiều vụ lúa trong một năm Biển vàrừng bao bọc quanh đồng bằng Bắc Bộ nhưng từ trong tâm thức, người nông dân Việt Bắc
Bộ là những cư dân “ xa rừng nhạt biển”
Nói khác đi là, người nông dân Việt Bắc Bộ là người dân đồng bằng đắp đê lấn biểntrồng lúa, làm muối và đánh cá ở ven biển Hàng ngàn năm lịch sử, người nông dân Việtkhông có việc đánh cá được tổ chức theo một cách quy mô lớn, không có những đội tàuthuyền lớn Nghề khai thác hải sản không mấy phát triển Các làng ven biển thực ra chỉ làcác làng làm nông nghiệp, có đánh cá và làm muối
Ngược lại, Bắc Bộ là một châu thổ có nhiều song ngòi, mương máng nên người dânchài trọng về khai thác thủy sản Tận dụng ao, hồ đầm để khai thác thủy sản là mộtphương cách được người nông dân rất chú trọng Đã có lúc việc khai thác ao hồ thả cátôm được đưa lên hàng đầu như một câu ngạn ngữ: nhất canh trì, nhì canh viên, ba canhđiền
Bên cạnh nghề nông, việc trồng rau, trồng cà, trồng cây ăn quả, trồng dâu tằm, nuôi
gà, nuôi lợn, chó, trâu, bò…cũng rất phát triển
Trang 8Trong khi đó, đất đai ở Bcắ Bộ không phải là nhiều, dân cư lại đông Vì thế, để tậndụng thời gian nhàn rỗi của vòng quay mùa vụ, người nông dân đã làm thêm nghề thủcông Ở đồng bằng song Hồng, trước đây nguoif ta đừng từng đếm được hàng trăm nghềthủ công, có một số phát triển lành mạnh chuyên nghiệp với những người thợ có tay nghềcao Một số nghề đã rất phát triển, có lịch sử phát triển lâu đời như nghề gốm, nghề dệt,luyện kim, đúc đồng…ngày càng tạo ra nhiều sản phẩm hơn, phục vụ tốt hơn cho nhu cầucon người.
Số lượng đồ đồng tăng lên với nhiều loại dụng cụ như rìu, mũi giáo, mũi tên, liềm,dao, các nhạc cụ bằng đồng như chiêng trống, tượng đồng… số lượng đồ gốm cũngphong phú: bát, đĩa, bình, nồi…
Theo truyền thống ngàn đời thì người Kinh sống theo làng Nhiều làng họp lại thìthành một xã Mỗi làng có thể có nhiều xóm, nếu tính ra một thôn của miền Bắc thì bằngvới một ấp của miền Nam Trong các làng và xã đều có luật lệ riêng mà mọi người đềuphải thi hánh Các làng miền Bắc thường được che chắn bằng cách trồng tre hoặc xâycổng kiên cố Mỗi làng đều có nơi hội tụ và thờ lạy chung Một số làng có đình thờ thànhHoàng làng, là người được coi là thần bảo hộ của làng Vào thời xưa thì phụ nữ bị cấmkhông được đến đình làng
1.4 Đặc điểm dân cư
Những người nông dân sống quần tụ lại thành làng Nhiều làng họp lại thì thành một
xã Mỗi làng có thể có nhiều xóm, nếu tính ra một thôn của miền Bắc thì bằng với một ấpcủa miền Nam Trong các làng và xã đều có luật lệ riêng mà mọi người đều phải thi hánh.Các làng miền Bắc thường được che chắn bằng cách trồng tre hoặc xây cổng kiên cố Mỗilàng đều có nơi hội tụ và thờ lạy chung Một số làng có đình thờ thành Hoàng làng, làngười được coi là thần bảo hộ của làng Vào thời xưa thì phụ nữ bị cấm không được đếnđình làng
Để đảm bảo cho các quan hệ này là các hương ước; khoán ước của làng xã Cáchương ước hay khoán ước này là những quy định chặt chẽ về mọi phương diện của làng
từ lãnh thổ làng đến sử dụng đất đai; từ quy định về sản xuất bảo vệ môi trường đến quyđịnh về tổ chức làng xã; ý thức cộng đồng làng xã; vì thế trở thành một sức mạnh tinhthần không thể phủ nhận Nhưng cũng vì thế mà cá nhân; vai trò cá nhân bị coi nhẹ
Trang 9CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA VÙNG CHÂU THỔ BẮC BỘ
2.1 Văn hóa vật chất
2.1.1 Văn hóa sản xuất
Vùng đồng bằng Bắc Bộ mang đặc trưng của nền sản xuất nông nghiệp, ngoài rangành nghề thủ công cũng cực kì phát triển ở nơi đây Nơi đây tập trung tới hơn 500 làngnghề, phân bố khắp các tỉnh thành vùng đồng bằng Bắc Bộ như Nam Định, Thái Bình,Bắc Ninh, Hải Dương,…
2.1.1.1 Làng nghề đúc đồng
Thăng Long – Hà Nội có Ngũ Xã Trang nổi tiếng với nghề đúc đồng Làng NamTràng, chính tên là Năm Tràng nằm gọn trong đảo hồ Trúc Bạch – một doi đất hình tròn
từ các phố Trúc Bạch, Châu Long ăn ra hồ Tên gọi “Năm Tràng” bắt nguồn vào cuối đời
Lê, các thợ của năm làng đúc đồng: Đông Mai (làng Me), Châu Mỹ (làng hè), LongThượng (làng Rồng), Đào Viên (Di Thượng) và Điền Viên (Di Hạ) ở vùng Kinh Bắc vềđây cư tụ để làm nghề, lập ra Ngũ Xã Tràng, gọi tắt là Ngũ Xã hay Năm Tràng
Tại làng Nam Tràng, nam giới chuyên làm nghề đúc đồng, phụ nữ chuyên đi thugom đồng nát để có nguyên liệu cho nghề đúc Cả làng có hơn 20 xưởng đúc, mỗi xưởng(hay lò) đúc thu hút người trong gia đình cùng anh em ruột thịt, một số người làng hoặcngười các nơi đến học việc Xưởng đúc là một gian nhà rộng, để đặt lò nấu đồng gồm haitầng, tầng trên nướng khuôn, tầng dưới nấu đồng Sản phẩm của nghề đúc đồng NămTràng - Ngũ Xã là các loại hạc, lư hương, đỉnh, cây nến, chậu thau Hàng đúc xong giaocho phụ nữ, người học việc hoặc trẻ nhỏ mài, rũa cho nhẵn bóng Thành phẩm làm xongđem bán cho các cửa hàng ở phố Hàng Đồng Chủ các cửa hàng này là người làng CầuNôm (xã Đồng Xá, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên) Họ cấp vốn để các gia đình ở NămTràng đi mua nguyên liệu để đúc, rồi trả lại bằng sản phẩm Những nơi cần đúc tượng chocác đình, chùa, đền, miếu thì phường đúc đứng ra nhận Tương truyền, bức tượng lớnbằng đồng đen ở chùa Quán Thánh do thợ Năm Tràng đúc
2.1.1.2 Làng gốm Bát Tràng
Làng gốm Bát Tràng nằm tại xã Bát Tràng, bao gồm thôn Giang Cao và thôn BátTràng, thuộc huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội Theo các ghi chép lịch sử, khi nhà Lýdời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, dân Bát Tràng đã di cư theo Khi đến gần kinh đô, thấyvùng đất bồi ven sông Hồng màu mỡ, họ quyết định định cư ở đó và cùng nhau tạo nghềlàm gốm Sau nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, đến 1964, xã Bát Tràng chính thứcđược thành lập, làng gốm Bát Tràng bắt đầu ổn định và phát triển hơn
Trang 10Để làm ra đồ gốm người thợ gốm phải qua các khâu chọn, xử lý và pha chế đất, tạodáng, tạo hoa văn, phủ men, và cuối cùng là nung sản phẩm Kinh nghiệm truyền đời củadân làng gốm Bát Tràng là “Nhất xương, nhì da, thứ ba dạc lò” Người thợ gốm quanniệm hiện vật gốm không khác nào một cơ thể sống, một vũ trụ thu nhỏ trong đó có sự kếthợp hài hòa của ngũ hành là kim, mộc, thuỷ, hoả và thổ
Gốm Bát Tràng đa phần được sản xuất thủ công, thể hiện tài năng sáng tạo củangười thợ Lớp men trắng ngà, đục cùng kiểu vẽ hoa văn thiên về tả của gốm Bát Tràngđược khách hàng đánh giá cao về mặt nghệ thuật Vì vậy, sản phẩm gốm cổ Bát Tràng cógiá trị kinh tế rất cao, được lưu giữ tại một số bảo tàng trong nước và quốc tế
2.1.1.3 Làng dệt lụa Vạn Phúc
Làng dệt lụa Vạn Phúc - Hà Đông với vốn tồn tại hơn 1000 năm là một trong nhữnglàng nghề dệt lụa nổi tiếng bậc nhất Việt Nam Làng dệt lụa Vạn Phúc có tên gọi khác làlàng dệt lụa Hà Đông thuộc phường Vạn Phúc, Hà Đông, Hà Nội
Làng dệt lụa Vạn Phúc trước kia có tên gọi khác là Vạn Bảo Do kỵ húy nhà Nguyễnnên làng đã được đổi tên là Vạn Phúc Năm 1931, lần đầu tiên lụa Vạn Phúc Hà Đông đãđược quảng bá ra thị trường quốc tế tại hội chợ Marseille và đã được người Pháp đánh giá
là một trong những dòng lụa tinh xảo, đẹp nhất của vùng Đông Dương Đến năm 1958, tơlụa Vạn Phúc đã được xuất sang các nước Đông Âu và cho đến nay lụa Hà Đông được ưachuộng tại nhiều nước trên thế giới
Quy trình tỉ mỉ, cầu kỳ của các nghệ nhân đã cho ra sản phẩm thuyệt vời của lụaVạn Phúc: trồng dâu nuôi tằm, lấy tơ, chuẩn bị dệt lụa (công đoạn này các nghệ nhân phảitúc trực 24/24 để phát hiện lỗi hoặc tiếp sợi tơ khi cần), cuối cùng là nhuộm vải (thuốcnhuộm phải tỉ lệ chuẩn của làng) Nhờ đó mà qua dòng thời gian, lụa Vạn Phúc vẫn giữđược nét đẹp truyền thống của nó Và hiện nay, lụa Vạn Phúc đang đi đầu trong ngành dệtViệt Nam Tơ lụa Vạn Phúc luôn được đánh giá là đẹp bền Bởi hoa văn trên lụa đa dạng,trang trí cân xứng, đường nét thanh thoát, giản đơn mang đến sự dứt khoát, phóng khoángcho người xem
Trang 11Chiếu cói Kim Sơn và những sản phẩm được làm từ cây cói là truyền thống trămnăm của mảnh đất Kim Sơn, những sản phẩm này đã trở nên nổi tiếng cả trong nước vànước ngoài với chất lượng tốt, độc đáo, gần gũi với cuộc sống và thiên nhiên Để làm nênmột chiếc chiếu cói đẹp, bền, đủ kích thước thì người làm phải tuyển chọn từng cây cói,sau đó chẻ và phơi đủ nắng để cói được bền chắc và giữ được màu Đặc biệt nhất là khâudệt cải hoa của chiếu Người cải hoa phải nhanh, uyển chuyển, mềm mại, mắt phải tinh,tay cải phải chính xác, thuộc từng nét cải để không đan lỗi.
2.1.2 Văn hóa ẩm thực
Từ xưa kết cấu bữa ăn truyền thống của vùng châu thổ Bắc Bộ thường là: cơm – rau– cá – thịt, vì vậy tuyệt đại đa số sản vật có mặt trong bữa ăn hàng ngày của người dân làsản phẩm từ nông nghiệp do chính bàn tay người lao động làm ra Chất đạm cung cấp chobữa ăn chủ yếu là thuỷ sản, thịt gia súc, gia cầm, thủy sản thường là cá nước ngọt Hải sảncũng là thành phần trong bữa cơm người miền Bắc, hải sản sẽ được đánh bắt ở biển, chủyếu giới hạn ở các làng ven biển còn ở sâu trong đồng bằng thì hải sản không phải là thức
ăn chiếm ưu thế Và theo kinh nghiệm của ông cha thì chất lượng của các loại thức ănthường chịu ảnh hưởng vào thời tiết và có sự thay đổi theo mùa
Theo đó, nét đặc trưng của ẩm thực của vùng châu thổ Bắc Bộ chính là sự hài hòatrong cảm quan, hương vị vừa phải, không quá chua, quá cay, quá mặn hay quá nồng Đềcao sự thanh tao, đạm bạc nhưng vẫn tôn lên được những hương vị tinh túy của nhữngmón ăn
Trong bữa ăn hằng ngày của họ còn có sự kết hợp hài hòa giữa tính âm và tínhdương Ví như ngày Tết theo truyền thống dân tộc, thường có bánh chưng, bánh tét Ruộtcủa hai loại bánh này là gạo nếp, hạt tiêu, thịt heo, hành,… (nóng) ăn lâu tiêu, nhưng vỏbọc bằng lá dong, lá chuối (mát) Hai thứ – một làm ruột, một làm vỏ (ruột nóng, vỏ mát)được trung hoà qua ngọn lửa khiến cho bánh ngon và bớt “nóng” Sự kết hợp giữa các gia
vị vào các món ăn cũng được tính toán hợp lí như: thịt mỡ đi với dưa hành, củ kiệu; lòng,trứng vịt lộn, cá trê, ốc, thịt vịt (hàn) phải ăn với húng, tía tô, gừng, rau răm, muối tiêu,nước mắm gừng (nhiệt); nước dừa thêm muối, ốc hấp lá gừng: ốc, lá gừng,…
Ngoài khía cạnh âm dương, người dân vùng châu thổ Bắc Bộ còn biết cấu tạo món
ăn thức uống một cách hài hoà theo ngũ hành trong việc dung hoà các vị cay (kim), chua(mộc), mặn (thuỷ), đắng (hoả), ngọt (thổ)
Các món ăn đặc sắc của người miền Bắc: phở, bún ốc, bún đậu, bún chả, bánh đúc,bún thang, giò chả, bánh khúc, bánh giò, bánh gai, bánh cuốn…
2.1.3 Văn hóa trang phục
Trang phục thường nhật:
Trang 12Thời phong kiến, trang phục của phụ nữ là: váy đen, yếm, áo tứ thân, đầu chít khăn
mỏ quạ, thắt lưng hoa lý Phụ nữ mặc áo cách ngắn vải nâu phía trong mặc yếm Ðó làloại áo cổ tròn, viền nhỏ, tà mở; nếu mặc với yếm thì thường không cài cúc ngực Chiếcyếm màu vàng tơ tằm hay hoa hiên, nâu non, là vuông vải mang chéo trước ngực, góc trênkhoét tròn hay chữ V để làm cổ Kiểu dáng và màu sắc áo yếm cũng được phân chia chocác giai cấp khác nhau trong lịch sử Việt Nam Phụ nữ thuộc tầng lớp lao động mặc yếmlàm bằng vải thô, màu nâu sồng nhuộm từ vỏ cây Con gái quan được phép mặc yếm đỏ,gọi là yếm đại hồng Ca kỹ mặc yếm màu hoa đào, màu sắc của sự lẳng lơ và thiếu đứngđắn Riêng màu vàng bị cấm, vì đây là màu của nhà vua và của tượng Phật Cổ yếm có dảivải buộc ra sau gáy, dưới có hai dải vải dài buộc sau lương hình chữ nhật hoặc tam giác.Váy là loại váy kín (ống), có nơi mặc ngắn đến ống chân Thắt lưng là bao lưng bằng vảimàu (có nơi gọi là ruột tượng) quấn ra ngoài cạp váy Khi ra đường họ thường mang khănvuông đội theo lối "mỏ quạ" hoặc các loại nón: thúng, ba tầm Phụ nữ cũng chiếc váythâm, chiếc áo nâu, khi đi làm, bộ y phục của phụ nữ gồm ba chiếc áo, ngoài cùng là áodài tứ thân bằng the thâm hay màu nâu non, kế đến là chiếc áo màu mỡ gà và trong cùng
là chiếc áo màu cánh sen Khi mặc, cả ba chiếc áo chỉ cài khuy bên sườn, phần từ ngựcđến cổ lật chéo để lộ ba màu áo Bên trong chiếc yếm thắm Đầu đội nón trông rất duyêndáng và kín đáo Trang phục của đàn ông là chiếc quần trắng, áo dài the, chít khăn đen.Người nam thường ngày mặc áo cách nâu, xẻ ngực, cổ tròn, xẻ tà, hai túi dưới Ðây
là loại áo ngắn mặc với quần lá tọa ống rộng Ðó là loại quần có cạp hoặc dùng dây rút.Trước đây nam để tóc dài, búi tó, hoặc thắt khăn đầu rìu, đóng khố
Trang phục trong lễ, tết, hội hè:
Trong những dịp này phụ nữ thường mang áo dài Áo dài có hai loại: Loại xẻ ngựcbuông vạt không cài cúc bên trong thường mặc áo "cổ xây" cho kín đáo; loại thứ hai làloại áo năm thân, xẻ nách phải cổ đứng Có loại mặc theo lối vạt đè chéo lên nhau dùngdây lưng buộc ngang thân rồi buông xuống phía trước Họ thường để tóc dài vấn khănthành vành tròn quanh đầu, ngoài trùm khăn hoặc đội nón ba tấm, nón thúng Các thiếu
nữ thường búi tóc đuôi gà Mùa rét phổ biến quấn trên đầu chiếc khăn vuông màu thâm
Ðồ trang sức thường mang là các loại trâm, vòng cổ, hoa tai, nhẫn, vòng tay
Nam thường mặc áo dài màu đen, hoặc loại vải the có lót trắng bên trong, đầu độikhăn xếp, quần tọa màu trắng Ðó là loại áo dài, xẻ nách phải không trang trí hoa văn, nếu
có chỉ là loại hoa văn dệt cùng màu tinh tế trên vải Chân đi guốc mộc
Tới nay, trang phục truyền thống của người Kinh Bắc Bộ đã thay đổi Bộ âu phụcdần thay thế cho bộ đồ truyền thống của đàn ông Chiếc áo dài của phụ nữ ngày càngđược cải tiến và hoàn thiện hơn như ngày nay, mặt khác do yêu cầu của lao động,
Trang 13côngviệc, không phải lúc nào phụ nữ cũng mặc áo dài mà chỉ những ngày trang trọng,ngày vui thì mới có dịp để trưng diện.
2.1.4 Văn hóa nhà ở
Nhà người Việt miền Bắc có nhiều kiểu, nhiều dạng khác nhau thể hiện ở kết cấu bộkhung nhà, chủ yếu là ở các kiểu vì kèo, ở bình đồ, (tổ hợp nhà ), ở tổ chức mặt bằng sinhhoạt Song kiểu nhà ba gian hai chái với vì kèo suốt - giá chiêng - sáu hàng cột là tiêubiểu hơn cả Cũng có thề là vì kẻ chuyền (một biến dạng gần của vì kèo suốt) Tổ hợp hainhà : nhà chính và nhà phụ kết hợp với nhau theo hình "thước thợ "
Mặt bằng sinh hoạt : gian giữa đặt bàn thờ tổ tiên, phản gỗ (ghế ngựa) dành cho chủnhà và bàn ghế tiếp khách Hai gian bên của gian giữa kê giường tủ giành cho các thànhviên nam trong nhà Hai gian chái có vách (đố hoặc tường) ngăn với ba gian giữa Trongcác gian này dành cho sinh hoạt của các thành viên nữ, đồng thời còn là nơi để cất lươngthực và các thứ lặt vặt khác Ðó là ngôi nhà chính, còn nhà phụ : một gian hai chái, vì kèothường đơn giản (vì kèo cầu hoặc vì kèo - ba cột) Nhà này thường là nhà bếp kết hợp làmnơi để nông cụ, cối xay, cối giã, và chuồng trâu
Mái của ngôi nhà được thiết kế có độ dốc lớn để thoát nước mưa và tránh dột, tậndụng không gian từ độ dốc lớn làm thành gác, kệ lửng thêm chỗ để kho chứa thóc lúa,ngô khoai Mái đưa ra xa chân tường vừa tạo nên bóng râm vừa tránh mưa hắt vào cácchân cột gỗ và tường đất nện Chất liệu lợp mái tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của từnggia đình mà có thể là ngói hoặc tranh
Chọn hướng nhà, chọn đất là một trong những bước quan trọng cho việc xây nhà củangười Bắc Bộ Đây là biện pháp quan trọng để ứng phó với môi trường tự nhiên Hướngnhà tiêu biểu ở Bắc Bộ là hướng Nam Vì Bắc Bộ ở gần biển, trong khu vực gió mùa.Hướng Nam (hoặc Đông Nam) vừa tránh được nóng từ phía Tây, bão phía Đông và giórét từ phía Bắc lại vừa tận dụng được gió mát vào mùa nóng (gió nồm) Tuỳ thuộc vào địahình, địa vật xung quanh, vào sự có mặt của núi, của sông, của con đường mà ảnhhưởng của gió nắng sẽ khác nhau Vì thế, phải chọn đất làm nhà
Ngôi nhà Bắc bộ phản ánh truyền thống văn hoá của vùng Tính cộng đồng thể hiện
ở việc không chia phòng biệt lập Giữa hai nhà ngăn bằng rào cây thấp để dễ liên hệ vớinhau Truyền thống thờ cúng tổ tiên và hiếu khách thể hiện ở bàn thờ ở gian giữa (phíatrong là bàn thờ, phía ngoài là bàn ghế tiếp khác) Sau nữa là truyền thống coi trọng bêntrái (phía Đông) với chiếc đòn nóc có đầu gốc ở phía Đông, bếp ở phía đông, Trong kiếntrúc nhà ở Bắc Bộ, nguyên tắc coi trọng số lẻ cũng được tôn trọng, thể hiện qua số gian,
số cổng, số toà đều là số lẻ Đây là do quan niệm của người xưa: lẻ là số dương, dành chongười sống
Trang 142.1.5 Văn hóa đi lại
Vùng châu thổ Bắc bộ là vùng sông nước với rất nhiều hệ thống kênh rạch, sôngngòi, bờ biển nên bên cạnh đó có một phương tiện rất phổ biến là đường thuỷ, người Việtlặn giỏi,bơi tài, thạo thuỷ chiến, giỏi dùng thuyền
Sông ngòi tạo điều kiện thuận lợi cho đường thuỷ nhưng lại gây khó khăn chođường bộ, vì vậy đã xuất hiện cầu di động bằng tre, gỗ (cầu phao) tại vùng văn hóa nơiđây
2.2 Văn hóa tinh thần
có câu: “Phép vua thua lệ làng” Nhưng tính tự trị đó lại được xuất phát từ tính cộng đồng,đặc trưng văn hóa nổi bật của người Việt Trong một làng mọi người sống hòa đồng, yêuthương giúp đỡ lẫn nhau trên cơ sở dân chủ, bình đẳng Các hoạt động cộng đồng diễn rathường xuyên, đặc biệt hội làng, đây là nét tiêu biểu của làng quê Bắc Bộ Biểu tượng chotính cộng đồng là cây đa, bến nước, sân đình
2.2.1.2 Lễ tết
Những phong tục, lễ nghi quan trọng ở vùng đồng bằng Bắc Bộ thì dường nhưkhông mấy thay đổi như trồng cây nêu, lễ tiễn ông Công ông Táo (vị thần cai quảnchuyện bếp núc của mỗi nhà) về trời, cúng tất niên (vào cuối năm âm lịch), cúng giaothừa (thời khắc chuyển giao năm cũ và năm mới), xông đất, lì xì, đi lễ chùa xin lộc đầunăm… Tết Nguyên đán tuy chỉ diễn ra trong ba ngày đầu của tháng giêng Tuy nhiên,trước và sau đó hàng chục ngày là nhiều hoạt động liên quan đến tết diễn ra Mấy ngày tếtngười ta sẽ đến nhà nhau và chúc tết con cháu thường chúc ông bà, cha mẹ mạnh khỏe,trường thọ; ông bà, cha mẹ chúc con cháu hiếu thảo, ngoan hiền; bạn bè chúc nhau năm
Trang 15mới ăn nên làm ra… Sau mấy ngày tết mọi nhà lại làm một cái lễ gọi là cúng đưa để kếtthúc ngày tết.
Ngoài đi chùa, người ta còn đi hội Trải khắp vùng đồng bằng Bắc Bộ có rất nhiều lễhội nổi tiếng, trong đó có thể kể đến Hội Gióng ở Sóc Sơn, Hội Cổ Loa,… Người dân duxuân đi hội không chỉ để vui chơi mà còn là cách thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn,tưởng nhớ về những kỳ tích của các bậc tiền nhân trong việc gây làng, dựng nước, giữnước
2.2.2 Tôn giáo, tín ngưỡng
Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội bao gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin vàsùng bái những lực lượng siêu tự nhiên định đoạt tất cả, con người phải phục tùng và tônthờ Hệ thống những quan niệm tín ngưỡng một hay những vị thần nào đó và những hìnhthức lễ nghi thể hiện sự sùng bái ấy Còn tín ngưỡng là tin theo một tôn giáo nào đó
Có thể nói tín ngưỡng là một nhân tố văn hóa không thể thiếu trong đời sống tinhthần của người dân Việt từ thời xa xưa Vùng đồng bằng Bắc Bộ là một minh chứng chotính đa dạng, phong phú của tín ngưỡng của người Việt Văn hóa tín ngưỡng ở vùng làmột hình thức văn hóa bao chứa nhiều nội dung như: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tínngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ cúng Thành hoàng làng, tín ngưỡng thờ ông tổ nghề,
2.2.2.1 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một phong tục lâu đời của gia đình Việt Gia đình dùnghèo hay giàu cũng đều có bàn thờ tổ tiên và hằng năm cúng giỗ cha mẹ, ông bà, nhữngngười đã khuất Con cháu xa nhà đến ngày giỗ ông bà, cha mẹ đều nhớ về quê Nhữngdòng họ lớn, có học thức thường soạn gia phả để giáo dục các thế hệ kế tiếp giữ gìntruyền thống tốt đẹp của gia đình
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là để tỏ lòng thành kính, biết ơn của những người cònsống đối với những người đã khuất và để mong linh hồn của những người đã khuất sẽ phù
hộ cho một cuộc sống hạnh phúc no ấm đủ đầy
2.2.2.2 Tín ngưỡng phồn thực
Từ thời xa xưa, để có thể duy trì và phát triển sự sống cùng với việc có được mùamàng tươi tốt và con người được sinh sôi nảy nở những người nông dân đã xây dựng nêntín ngưỡng phồn thực Phồn có nghĩa là nhiều, thực có nghĩa là nảy nở Tín ngưỡng phồnthực được thể hiện ở việc lấy các biểu tượng sinh khí và hành vi giao phối làm đối tượng
Có thể thấy văn hóa tín ngưỡng phồn thực trên các tượng đất nung (di tích Mã Đồng– Hà Tây), một số hình điêu khắc ở những ngôi đình như Đông Viên (Ba Vì), đình Thổ