Thiệu Vũ không chỉ được biết đến với tư cách là một vùng đất cổ có truyền thống lịch sử - văn hoá phong phú, mà còn là quê hương của cách mạng với nhiều sự kiện, nhiều nhân vật nổi tiếng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - -
THIỀU THỊ QUỲNH
LỊCH SỬ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT THIỆU VŨ
(THIỆU HÓA, THANH HÓA)
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố
Người cam đoan
Thiều Thị Quỳnh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn Thạc sĩ của tôi được hoàn thành, cùng với sự nổ lực phấn đấu của bản thân, là nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các cá nhân, tập thể và các ban, ngành
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Thúy, người trực tiếp hướng dẫn, tạo mọi điều kiện, động viên và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo và cán bộ Trường Đại học Hồng Đức đã giúp đỗ tôi trong quá trình học tập cũng như nghiên cứu tại trường
Tôi xin cảm ơn Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Thanh Hóa, Thư viện tỉnh Thanh Hóa, Thư viện huyện Thiệu Hóa, Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Thiệu Hóa, UBND xã Thiệu Vũ, đã cung cấp tư liệu và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã luôn ở bên, cổ vũ và động viên tôi vượt qua những lúc khó khăn để hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy, rất mong được sự góp ý chân thành của quý Thầy, Cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn !
Tác giả
Thiều Thị Quỳnh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
5 Nguồn tài liệu, cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Bố cục của luận văn 7
Chương 1 VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT THIỆU VŨ 8
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 8
1.1.1 Vị trí địa lý 8
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 12
1.2 Quá trình hình thành vùng đất Thiệu Vũ 15
1.2.1 Địa danh vùng đất Thiệu Vũ trong lịch sử 15
1.2.2 Quá trình hình thành làng xã 16
1.3 Truyền thống lịch sử - văn hóa 20
1.3.1 Truyền thống lịch sử 20
1.3.2 Truyền thống văn hóa 22
Tiểu kết chương 1 25
Chương 2 DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ 26
2.1 Đình làng và nghè 26
2.1.1 Đình làng Yên Lộ 26
2.1.2 Đình Lam Vĩ 28
2.1.3 Đình Cẩm Vân 33
Trang 52.1.4.Nghè Yên Lộ 35
2.2 Chùa và nhà thờ 37
2.2.1.Chùa Yên Lộ 37
2.2.2 Nhà thờ giáo xứ Đạt giáo 39
2.3 Di tích lịch sử cách mạng 41
2.3.1 Di tích lịch sử văn hóa từ đường họ Nguyễn Đình 41
2.3.2 Di tích lịch sử cách mạng Lê Chủ - nguyên Bí thư tỉnh ủy Thanh Hóa 46
2.3.3 Di tích lịch sử Cách mạng địa điểm nhà ông Hoàng Văn Cài 49
2.4 Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể 53
2.4.1 Thực trạng 53
2.4.2 Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị 54
Tiểu kết chương 2 57
Chương 3 DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 58
3.1 Phong tục - tập quán, tôn giáo - tín ngưỡng 58
3.1.1 Phong tục - tập quán 58
3.1.2 Tôn giáo - Tín ngưỡng 64
3.2 Lễ hội làng Yên Lộ 66
3.2.1 Phần lễ 66
3.2.2 Phần hội 68
3.3 Trò chơi dân gian 70
3.3.1 Đánh bài điếm 70
3.3.2 Cờ người 73
3.3.3 Đánh Đu 74
3.3.4 Kéo co 75
3.4 Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể 76
3.4.1.Thực trạng 76
Trang 63.4.2 Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị 78
Tiểu kết chương 3 80
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 PHỤ LỤC P1
Trang 8MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình lịch sử dài lâu của sự tồn tại và phát triển, cùng với nhu cầu chống thiên tai, địch họa thì cộng đồng làng xã được hình thành Làng xã
Việt “đóng một vai trò hết sức đặc biệt đối với lịch sử dân tộc nói chung và
đối với đời sống của mỗi con người Việt Nam nói riêng” [53]. Vì vậy, trước nay nông thôn và làng Việt cổ truyền luôn là chủ đề quan tâm của các học giả trong và ngoài nước
Tuy nhiên, ở mỗi làng, mỗi địa phương trong quá trình phát sinh, phát triển đã tạo nên những dấu ấn và đặc trưng riêng biệt Do đó, việc nghiên cứu làng xã Việt Nam nói chung và văn hóa làng Việt cổ nói riêng là sự phản chiếu lịch sử - văn hóa địa phương và dân tộc
Xứ Thanh xưa - Thanh Hóa nay là vùng đất có lịch sử hình thành và phát triển hàng ngàn năm.Vùng đất này là một trong những cái nôi của nền Văn hóa - Văn minh Đông Sơn, được kiến tạo bởi phù sa sông Mã và sông Chu Vùng đồng bằng Thanh Hóa là nơi hội tụ của nhiều luồng cư dân đến sinh cơ lập nghiệp, tiêu biểu của trung tâm đồng bằng sông Mã là các làng xã thuộc huyện Thiệu Hóa
Thiệu Vũ là một trong số 25 xã thị trấn của huyện Thiệu Hóa Đây là vùng đất ven sông Chu được hình thành từ rất sớm Trong hàng ngàn năm lịch
sử, Thiệu Vũ không chỉ là một vùng đất phát triển lịch sử lâu đời mà còn là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử sôi động, phong phú Thiệu Vũ không chỉ được biết đến với tư cách là một vùng đất cổ có truyền thống lịch sử - văn hoá phong phú, mà còn là quê hương của cách mạng với nhiều sự kiện, nhiều nhân vật nổi tiếng qua nhiều thời đại
Trải qua các bước phát triển thăng trầm của lịch sử và truyền thống đạo
lý “Uống nước nhớ nguồn” nhân dân Thiệu Vũ đã tạo lập nên nhiều công
trình kiến trúc như đình, nghè, chùa, nhà thờ họ đây là nơi mà các thế hệ
Trang 9người dân Thiệu Vũ đã lập nên để thờ phụng, tưởng nhớ tới các vị anh hùng dân tộc và đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hoá tâm linh Gắn liền với các di sản văn hóa vật thể vùng đất Thiệu Vũ còn là nơi hội tụ tiêu biểu các loại hình văn hóa phi vật thể, tín ngưỡng, tôn giáo, các lễ tục, lễ hội, trò chơi, trò diễn
Trong xu thế hội nhập toàn cầu và quá trình đô thị hóa, di sản văn hóa
ở vùng đất Thiệu Vũ nói riêng cũng như Thanh Hóa nói chung đang có nguy
cơ bị mai một Vì vậy việc nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển của các loại hình di sản văn hóa ở vùng đất Thiệu Vũ, để từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa – lịch sử có ý nghĩa bức thiết
Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu đề cập đến sử văn hóa của vùng đất Thiệu Vũ dưới các góc độ khác nhau Tuy nhiên, dưới góc
độ chuyên ngành lịch sử thì đến nay vẫn còn hạn chế Vì vậy, luận văn này s
là sự bổ sung có ý nghĩa cho hướng nghiên cứu còn chưa đầy đủ, hệ thống, góp phần vừa làm sáng rõ những mảng còn thiếu khuyết về lịch sử văn hóa địa phương mà còn là sự bổ sung cần thiết cho lịch sử dân tộc
Với những lý do trên, tôi đã mạnh dạn chọn vấn đề “Lịch sử văn hóa
vùng đất Thiệu Vũ (Thiệu Hóa, Thanh Hóa)” làm đề tài luận văn thạc sỹ
chuyên ngành Lịch sử Việt nam
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu toàn diện quá trình hình thành, phát triển và giá trị của các
di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vùng đất Thiệu Vũ Từ đó đánh giá thực trạng của các di sản văn hóa ở vùng đất này, đồng thời đề xuất các giải pháp bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn nhằm giải quyết các vấn đề sau:
- Từ những hiểu biết tổng quan về vùng đất Thiệu Vũ có thể nhận thức
và xác định vị trí và vị thế của vùng đất này trong dòng chảy lịch sử - văn hóa dân tộc
Trang 10- Hệ thống các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể còn hiện hữu trên vùng đất Thiệu Vũ để tái hiện lại vùng đất cổ và có cái nhìn sâu sắc hơn về những giá trị văn hóa của vùng đất này
- Nghiên cứu về lịch sử văn hóa vùng đất này, tìm ra những đặc điểm riêng trong lịch sử hình thành của vùng đất Thiệu Vũ so với các vùng đất khác ở xứ Thanh
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nguồn gốc, quá trình phát sinh, phát triển và giá trị của các loại hình di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể) trên vùng đất Thiệu Hóa
Nội dung nghiên cứu của đề tài là quá trình hình thành, phát triển và các giá trị lịch sử - văn hóa của vùng đất Thiệu Vũ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian của đề tài được giới hạn trong địa bàn xã Thiệu Vũ với 3 làng Ngoài ra, đề tài có thể mở rộng phạm vi khảo sát đến các làng xã phụ cận để tìm hiểu các vấn đề liên quan đến lịch sử văn hóa vùng đất Thiệu Vũ như xã Thiệu Ngọc, xã Thiệu Tiến, Thiệu Thành thuộc huyện Thiệu Hóa
Thời gian nghiên cứu tập trung vào sự hình thành các làng xã cùng nguồn gốc, quá trình tôn tạo, phục dựng di sản văn hóa trên vùng đất Thiệu
Vũ trong dòng chảy lịch sử văn hóa dân tộc
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu lịch sử văn hóa một vùng đất không phải là vấn đề mới mẻ
mà đây luôn là một đề tài hấp dẫn đối với các học giả trong và ngoài nước Trong xu thế trở về cội nguồn, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nhiều địa phương đã tổ chức các cuộc Hội thảo về lịch sử văn hóa quê hương
- đất nước Đây chính là cơ hội để các học giả quan tâm, tìm hiểu và nghiên
cứu mỗi vùng đất “ Đánh thức” lại đầy đủ các giá trị văn hóa của mình Thiệu
Vũ nói riêng và Thiệu Hóa nói chung, được xem là vùng đất cổ nên đã thu
Trang 11hút được khá nhiều các bài viết, công trình đề cập với các khía cạnh khác nhau Có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu như sau:
Đầu thế kỉ XX, vùng đất Thiệu Vũ, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa cũng được các học giả Pháp quan tâm nghiên cứu Tiêu biểu như tiến sĩ Charles Robequain - cựu Hội viên trường Viễn Đông Bắc Cổ trong tác phẩm
La Thanh Hóa (Tỉnh Thanh Hóa) [39] đã khảo cứu sâu về vùng đất và con
người Xứ Thanh, trong đó có đề cập đến con người và quá trình hình thành các làng cổ Xứ Thanh
Trong các cuốn sách Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý - Trần [51], Lệ
làng phép nước [33], Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ tuyền ở đồng bằng Bắc
Bộ [45]; Đất lề quê thói [43], Thế kỷ X – Những vấn đề lịch sử [52] Các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc thống kê tên gọi của các làng xã, chưa khảo cứu về quá trình hình thành vùng đất Thiệu Vũ và lịch sử văn hóa của vùng đất này
Cũng nghiên cứu về vấn đề này trong cuốn Tên làng xã Thanh Hóa (tập
2) [15] của Ban nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hóa đã giới thiệu khái quát về quá trình hình thành và tên làng xã thuộc huyện Thiệu Hóa, trong đó
có đề cập đến các làng xã ở Thiệu Vũ (Thiệu Hóa) Nội dung cuốn sách phác họa đôi nét về lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Thiệu Vũ trong lịch sử - dân tộc
Trong các công trình nghiên cứu về địa chí, lịch sử huyện, liên quan
đến lịch sử xã Thiệu Vũ là cuốn Địa chí huyện Thiệu Hóa [34] Nội dung sách
đã giới thiệu về địa lý tự nhiên, tài nguyên khoáng sản cũng như sự hình thành của huyện, trong đó có đề cập tới vùng đất Thiệu Vũ Trong phần lịch
sử văn hóa, công trình này đã giành một phần khái quát về các di tích lịch sử văn hóa của huyện Do đó một số di tích của các làng xã vùng đất Thiệu Vũ
đã được đề cập đến cùng với địa phương khác của huyện Tuy nhiên do tính chất của một công trình nghiên cứu địa chí nên quá trình phát sinh và phát triển của các loại hình di sản văn hóa trên vùng đất Thiệu Vũ chưa được quan tâm sâu
Trang 12Công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến vùng đất Thiệu Vũ là
cuốn Lịch sử Đảng bộ huyên Thiệu Hóa [8] Mặc dù còn mang tính chất sơ
lược và đơn lẻ, nhưng đây cũng là nguồn tài liệu quan trọng để tác giả so sánh đối chiếu và đi sâu vào nội dung nghiên cứu đề tài Nội dung sách đã giới thiệu khái quát về vùng đất Thiệu Vũ xưa và nay trong đó có điểm qua xã Thiệu Vũ Tuy nhiên đây là cuốn sách viết về lịch sử Đảng bộ huyện, nội dung chủ yếu là truyền thống huyện Thiệu Hóa nên lịch sử văn hóa vùng đất Thiệu Vũ chưa được tác giả quan tâm chú ý
Cuốn Lịch sử Đảng bộ và phong trào Cách mạng xã Thiệu Vũ [12] đã
khái quát về vùng đất Thiệu Vũ trên nhiều phương diện như vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, quá trình hình thành, phát triển làng xã và truyền thống văn hóa lịch sử, các di tích lịch sử…Đây là nguồn tài liệu có giá trị để đề tài đi sâu nghiên cứu về vùng đất Thiệu Vũ và các giá trị văn hóa trên vùng đất giàu truyền thống lịch sử - văn hóa
Như vậy, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về vùng đất Thiệu Vũ ngày nay nhưng vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về lịch sử văn hóa của vùng đất này Tuy nhiên, ở mỗi công trình nghiên cứu các tác giả mới chỉ nêu lên vài khía cạnh và cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau Thiệu Vũ
là vùng đất có lịch sử phát triển lâu đời, với cách nhìn sâu sắc và toàn diện về lịch sử văn hóa vùng đất Thiệu Vũ, đề tài tiếp tục nghiên cứu các vấn đề sau:
-Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, dân cư và lịch sử hình thành vùng đất Thiệu Vũ
- Quá trình phát sinh, phát triển và giá trị của các di sản văn hóa vật thể
và phi vật thể ở Thiệu Vũ
- Trên cơ sở đó đánh giá thực trạng các loại hình di sản văn hóa trên vùng đất Thiệu Vũ, đề xuất giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị góp phần giữ gìn văn hóa dân tộc
Trang 135 Nguồn tài liệu, cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, chúng tôi dựa vào các nguồn tài liệu sau
- Tài liệu thành văn bao gồm Đại việt sử ký toàn thư, lịch chiều hiến
chương loại chí, lịch sử Việt nam từ Nguồn gốc đến nay…
Gia phả các dòng họ trên vùng đất Thiệu Vũ; hồ sơ khoa học về lý lịch các di tích như Đình Yên Lộ, đình Lam Vĩ, nghè Yên Lộ, chùa Cẩm Vân, di tích Cách mạng nhà lưu niệm Nguyễn Đình, di tích Cách mạng nhà lưu niệm Hoàng Văn Cài…
- Tài liệu vật chất là trong các di tích lịch sử trong các đình, nghè, chùa, văn bia…
- Tài liệu văn hóa dân gian bao gồm truyện kể, truyền thuyết, ca dao tục ngữ có liên quan đến vùng đất Thiệu Vũ
- Tài liệu điền dã: Để bổ sung thêm nguồn tài liệu trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi còn tìm hiểu, khảo cứu tại các làng của xã Thiệu
Vũ, tìm hiểu các di tích, chùa, nhà thờ đạo ở đây Đồng thời chúng tôi đã tiếp xúc, gặp gỡ và trao đổi trực tiếp với các cụ cao niên trong làng để bổ sung thêm nguồn tư liệu
- Luận văn sử dụng phương pháp liên ngành (Khu vực học) và phương pháp lịch sử (chủ yếu), phương pháp logic, khảo cổ học, dân tộc học, văn hóa học Vận dụng các phương pháp nghiên cứu này để tìm mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử, nhằm nêu bật những nội dung cốt lõi, bản chất của sự vật và hiện tượng lịch sử, những nội dung cốt lõi, bản chất của sự vật và hiện tượng lịch sử Trình bày có hệ thống về quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Thiệu
Vũ theo thời gian, diễn trình của lịch sử - văn hóa, đại phương và dân tộc
- Đề tài sử dụng phương pháp so sánh để đánh giá, tổng hợp để xác minh tính chính xác của nguồn tư liệu Từ đó phân tích quá trình phát sinh, phát triển của các di sản văn hóa trên vùng đất Thiệu Vũ Luận văn nêu lên mối liên hệ chặt ch và tác động qua lại, tìm ra những nét chung và nét riêng nổi trội về sự phát triển văn hóa vùng đất này trong chảy văn hóa dân tộc
Trang 14- Ngoài ra, Luận văn còn sử dụng phương pháp điền dã để đối chiếu các sử liệu thành văn với những chứng tích lịch sử – văn hóa trên thực tế và thẩm định, sưu tầm thêm các nguồn tư liệu
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn là công trình nghiên tổng hợp về điều kiện tự nhiên, môi trường, lịch sử, văn hóa làng xã, dòng họ và nhân vật tiêu biểu xứ Thanh Luận văn dự kiến s đạt được những kết quả chủ yếu như sau:
- Đề tài cung cấp những tư liệu về lịch sử hình thành, phát triển của vùng đất Thiệu Vũ và bức tranh toàn cảnh về nguồn gốc, lịch sử phát triển của các dòng họ lớn, công lao một số danh nhân tiêu biểu trên vùng đất này Qua đó góp phần giáo dục đạo đức, tư tưởng hướng về nguồn cuội, phát huy những giá trị quý báu của gia đình, dòng họ và quê hương
- Luận văn cũng góp phần làm phong phú thêm nguồn tư liệu tham khảo và làm giàu thêm lịch sử địa phương, trở thành nguồn tài liệu quan trọng
để nghiên cứu về lịch sử văn hóa dân tộc Đây không chỉ là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm nghiên cứu, cho giáo viên giảng dạy lịch sử - văn hóa địa phương mà còn là tài liệu cho việc hướng dẫn tham quan du lịch tại các điểm di tích lịch sử - văn hóa ở Thiệu Vũ
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dung của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Vài nét về vùng đất Thiệu Vũ
Chương 2: Di sản văn hóa vật thể
Chương 3: Di sản văn hóa phi vật thể
Trang 15Chương 1 VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT THIỆU VŨ
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
- Phía Bắc giáp huyện Yên Định;
- Phía Nam giáp huyện Đông Sơn, huyện Triệu Sơn và thành phố Thanh Hóa;
- Phía Tây giáp huyện Triệu Sơn và huyện Thọ Xuân;
- Phía Đông giáp huyện Hoằng Hóa.[12,tr 17]
Trung tâm huyện lỵ của huyện Thiệu Hóa chỉ cách thành phố Thanh Hóa 17 km theo Quốc lộ 45, tạo cho Thiệu Hóa lợi thế về mặt địa lý là cửa ngõ của thành phố Thanh Hóa, là đầu mối giao thông quan trọng, thuận tiện kết nối các huyện vùng phía Tây, Tây Bắc của tỉnh với thành phố Thanh Hóa
và các huyện vùng phía Đông, Đông Nam của tỉnh Vị trí này tạo cho Thiệu Hóa tiềm năng phát triển thương mại, dịch vụ kho bãi, trung chuyển hàng hóa
và hành khách Điều kiện thuận lợi về giao thương trở thành một trong những yếu tố thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện
Thiệu Hóa là nơi hợp lực của hai con sông là sông Chu và sông Mã Ngoài việc bồi đắp phù sa để tạo ra những cánh đồng màu mỡ của vùng đồng bằng châu thổ, những con sông này còn có vai trò là tuyến giao thông về đường thủy, kết nối Thiệu Hóa với Biển Đông nơi có cảng Hới (Sầm Sơn) và Lạch Sung (giữa Nga Sơn và Hậu Lộc) Ngoài ra, ở Thiệu Hóa còn có nhiều con sông khác như: Mậu Khê, Cầu Chày, sông Dừa, sông Nhà Lê Hệ thống sông ngòi không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho Thiệu Hóa có khả năng phát
Trang 16triển vận tải đường thủy, mà còn cung cấp nguồn tài nguyên nước phong phú cho sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân trong địa bàn huyện
Huyện Thiệu Hóa hình thành và phát triển gắn liền với lịch sử dân tộc, địa danh của vùng đất này cũng có những đổi thay do quá trình chia tách hay sáp nhập trong suốt thời quân chủ và cả thời hiện đại
Theo các tài liệu lịch sử thì vùng đất Thiệu Hóa xét về phạm vi cương vực lãnh thổ đó là vùng đất đai của nhiều huyện hợp thành Đó là đất của huyện Lương Giang cũ (thời Trần trở về trước huyện Thiệu Hóa có tên là Lương Giang, vì có sông Lương đi qua) Bao gồm phần đất của các tổng Phùng Cầu, Mật Vật, Phù Chẩn, Thử Cốc, Phú Hà, An Trường, Quảng Thi, Ngọc Lặc; một phần đất huyện Lôi Dương (tức Thọ Xuân ngày nay) gồm tổng Xuân Phong (nay là các xã Thiệu Chính, Thiệu Hòa và 3 làng Thái Ninh, Thái Bình, Thái Lai của xã Thiệu Tâm), tổng Xuân Lai (nay là các xã Thiệu Toán, Thiệu Minh và 3 làng Đồng Thanh, Đồng Tiến, Đồng Tâm xã Thiệu Tâm); một phần đất thuộc tổng Đại Bối (huyện Đông Sơn cũ, nay gồm các xã Thiệu Tân, Thiệu Vân, Thiệu Giao, Thiệu Khánh, Thiệu Dương), tổng Vận Quy gồm các xã Thiệu Viên, Thiệu Lý, Thiệu Vận, Thiệu Trung, Thiệu Đô, Thiệu Châu và một xã hợp nên do một phần tổng Đa Lộc, tổng Hải Quật (huyện Yên Định) cắt ra là xã Thiệu Giang gồm các thôn Đường Lâm, Vân Điền, Cổ Bi (tổng Hải Quật), thôn Đa Lộc, Trung Đường, An Thượng (tổng
Đa Lộc) Giai đoạn từ đời Trần trở về trước huyện có tên là Lương Giang Đầu đời Lê Thái Tổ đổi là huyện Ứng Thụy Năm 1469 đời Lê Thánh Tông định bản đồ toàn quốc lấy lại tên cũ là huyện Lương Giang thuộc phủ Thiệu Thiên, đến đời vua Lê Uy Mục đổi là huyện Thụy Nguyên Đến đầu đời vua Gia Long (1802) vẫn giữ nguyên là huyện Thụy Nguyên lãnh 8 tổng (Phùng Cầu, Mật Vật, Phù Chẩn, Thử Cốc, Phú Hà, An Trường, Quảng Thi, Ngọc Lặc) 85 xã, thôn, sách, trang, giáp
Đến đời vua Đồng Khánh (1885 - 1888), huyện Thiệu Hóa vẫn có tên là huyện Thụy Nguyên lãnh 8 tổng (Mật Vật, Phù Chẩn, Yên Trường, Thử Cốc,
Trang 17Phú Hà, Ngọc Lặc, Phùng Thịnh, Quảng Thi), 131 xã, thôn Đến năm Thành Thái thứ 12 (1900) tách 1 tổng Ngọc Lặc và mấy xã có dân tộc thiểu số trong hai tổng An Tràng, Quảng Thi đặt ra châu Ngọc Lặc, còn các xã dân Kinh thì hợp vào đặt ra tổng An Quảng Lại trích thêm hai tổng Vận Quy, Đại Bối trong huyện Đông Sơn cho thuộc vào, hiện lãnh 8 tổng (Mật Vật, Phù Chẩn, Phùng Thịnh, Thử Cốc, Xuân Phong, Xuân Lai, Vận Quy, Đại Bối), 133 xã, thôn Sau Cách mạng tháng Tám toàn bộ tổng Thử Cốc được chuyển về huyện Thọ Xuân, lúc này bản đồ hành chính tỉnh Thanh Hóa gồm 21 huyện, thị xã (các châu, phủ đều đổi ra huyện) Tên huyện Thiệu Hóa lúc này là lấy theo tên phủ Thiệu Hóa Địa giới hành chính lúc này bao gồm 12 xã là: Huy Toán, Đại Đồng, Minh Quy, Thái Bình, Đại Bái, Ngọc Vũ, Thành Công, Tân Dương, Vạn Hà, Chùy Giang, Duy Tân, Quang Thịnh Đến tháng 3 năm
1953, các xã trên được chia thành 31 xã gồm: Thiệu Chính, Thiệu Toán, Thiệu Hòa, Thiệu Minh, Thiệu Tâm, Thiệu Viên, Thiệu Lý, Thiệu Vận, Thiệu
Đô, Thiệu Trung, Thiệu Vân, Thiệu Tân, Thiệu Châu, Thiệu Giao, Thiệu Khánh, Thiệu Dương, Thiệu Ngọc, Thiệu Vũ, Thiệu Tiến, Thiệu Phúc, Thiệu Thành, Thiệu Công, Thiệu Long, Thiệu Giang, Thiệu Duy, Thiệu Hợp, Thiệu Thịnh, Thiệu Quang, Thiệu Nguyên, Thiệu Phú,Thiệu Hưng
Ngày 5/7/1977 Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 177/CP về việc giải thể huyện Thiệu Hóa, 15 xã tả ngạn sông Chu sáp nhập vào huyện Yên Định, còn 16 xã hữu ngạn sông Chu sáp nhập vào huyện Đông Sơn Đến ngày 18/11/1996 với Nghị định 72/CP của Chính phủ huyện Thiệu Hóa được tái lập với 31 xã, thị trấn
Với Nghị quyết số 05-NQ/CP, ngày 29/2/2012 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính các huyện Hoằng Hóa, Đông Sơn, Quảng Xương, Thiệu Hóa để mở rộng địa giới hành chính Thành phố Thanh Hóa và thành lập các phường thuộc Thành phố Thanh Hóa, các xã Thiệu Dương, Thiệu Khánh, Thiệu Vân của huyện Thiệu Hóa được sáp nhập vào Thành phố Thanh Hóa Vì vậy huyện có 28 xã, thị trấn gồm: Thiệu Chính, Thiệu Toán,
Trang 18Thiệu Hòa, Thiệu Minh, Thiệu Tâm, Thiệu Viên, Thiệu Lý, Thiệu Vận, Thiệu
Đô, Thiệu Trung, Thiệu Tân, Thiệu Châu, Thiệu Giao, Thiệu Ngọc, Thiệu
Vũ, Thiệu Tiến, Thiệu Phúc, Thiệu Thành, Thiệu Công, Thiệu Long, Thiệu Giang, Thiệu Duy, Thiệu Hợp, Thiệu Thịnh, Thiệu Quang, Thiệu Nguyên, Thiệu Phú,Thiệu Hưng
Thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 24/12/2018 của Bộ chính trị, chỉ thị số 20-CT/TU, ngày 15/3/2019 của UBND tỉnh và nhiều văn bản của tỉnh, của huyện “về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã” vì vậy huyện Thiệu Hóa hiện nay bao gồm 25 xã thị trấn, cụ thể các xã được sáp nhập: Xã Thiệu Tân sáp nhập với xã Thiệu Châu Thành xã Tân Châu; Xã Thiệu Minh được sáp nhập với xã Thiệu Tâm thành xã Minh Tâm; xã Thiệu
Đô sáp nhập với thị trấn Vạn Hà thành thị trấn Thiệu Hóa
Thiệu Vũ là một trong 25 xã thị trấn của huyện Thiệu Hóa Phía Bắc giáp Định Tăng (Yên Định) và xã Thiệu Thành, phía Đông giáp xã Thiệu Tiến, phía Nam giáp dòng sông Chu, bên kia là xã Thiệu Minh (nay là xã Minh Tâm) và Thiệu Toán, phía tây giáp xã Thiệu Ngọc Từ Thiệu Vũ xuôi dòng sông Chu khoảng 9km ra đến Quốc lộ 45 và thị trấn Thiệu Hóa, ngược sông Chu khoảng 13km tới thị trấn Thọ Xuân, nếu đi về phía Tây Bắc, qua đoạn đường khoảng 8km tới thị trấn Quán Lào của huyện Yên Định Trước kia hệ thống giao thông của các làng trong xã Thiệu Vũ không mấy phát triển, đường đi lại giữa các làng trong xã và các xã xung quanh chỉ dựa vào đê sông Chu và vài con đường đất nhỏ, không có con đường ô tô nên sự tiếp xúc với
xã hội bên ngoài ít và gặp khó khăn Riêng làng Yên Lộ hai mặt Đông và Tây
có hai hồ rộng, phía Nam là sông Chu và một con đường nhỏ ra núi Năm
1937, thực dân Pháp mới bắt nông dân trong vùng đắp con đường đất chạy thẳng từ thị trấn Vạn Hà qua Xã Thiệu Tiến đến xã Thiệu Vũ lên xã Thiệu Ngọc song song với đê sông Chu Con đường này đi theo hướng Đông - Tây nằm giữa làng và núi đá Ô tô nhỏ có thể đi lại được Ngày nay con đường này trở thành bờ kênh dẫn nước tưới của hệ thống thủy nông Nam sông Mã,
Trang 19đồng thời là đường giao thông liên xã Từ năm 1960 trở lại đây, Nhà nước tăng cường củng cố hệ thống đê sông Chu, con đê trở thành tuyến giao thông quan trọng cho các xã trong vùng Từ năm 2010, hệ thống giao thông đường
bộ được cải tạo đáng kể, đường liên xã, liên thôn, liên huyện đều được bê tông hóa, tuyến giao thông này mới thuận tiện hơn
Về đường thủy, Thiệu Vũ lại có lợi thế giao thông thủy do sông Chu mang lại Dòng sông Chu từ xa xưa đã là tuyến giao thông thủy quan trọng Trước đây trên dòng sông Chu luôn tấp nập thuyền bè đi lại Các bè mảng chở lâm thổ sản từ miền núi về, các thuyền buôn chở hải sản, hàng hóa từ vùng dưới lên Mãi về sau này, các địa phương gần dòng sông vẫn còn duy trì các
đội thuyền vận tải của hợp tác xã.[12; tr11]
Xã được bố trí theo ba làng Làng lam Vĩ; Làng Yên Lộ; Làng Cẩm Vân với tổng diện tích tự nhiên của xã là 596,67ha Đất nông nghiệp 370,71 ha; đất chuyên dùng là 109,26 ha, đất ở 27,08 ha, đất chưa qua sử dụng 89,62 ha Dân số 1.550 hộ [34;tr 115]
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Đất đai Thiệu Vũ tương đối bằng phẳng, tuy nhiên xét ở góc độ sản xuất địa hình tương đối phức tạp Ở tất cả các làng đều có những cánh đồng cao xen kẻ có khu đồng trũng Chính vì vậy khi hệ thống thủy nông chưa ra đời, mùa nắng hạn, khi mưa lớn thì nhiều cánh đồng bị ngập lụt Có khoảng 15% diện tích cấy được 2 vụ, còn rất ít diện tích bị bỏ hoang Ngoài ra còn dạng địa hình khác chỉ có riêng ở Thiệu Vũ và các xã trong khu vực dọc theo
đê sông Chu, đó là hồ do vỡ đê tạo thành
Do chủ yếu là đất phù sa được bồi đắp hàng năm, nên nhìn chung chất đất ở Thiệu Vũ tương đối thuận tiện cho việc trồng lúa và màu Việc xuất hiện bãi bồi ven sông với chất đất pha cát tạo điều kiện làm phong phú thêm cơ cấu giống cây trồng ở địa phương
Nói đến Thiệu Vũ không thể không nói đến dòng sông Chu Sông Chu uốn khúc bao bọc, ngăn cách sông với làng bởi con đê cao Có thể nói huyện
Trang 20Thiệu Hóa là nơi có hệ thống sông ngòi phong phú và đa dạng Ngoài những dòng sông lớn tự nhiên như sông Mã, sông Chu, sông Cầu Chày, thì còn có hệ thống sông đào như sông nhà Lê, sông Nông Giang chảy len lỏi qua các làng
xã trong huyện Hệ thống sông ngòi dày đặc tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước trong huyện Đối với Thiệu Vũ thì hệ thống sông ngòi gắn bó quen thuộc với con người nơi đây Sông Chu là con sông lớn thứ hai của tỉnh Thanh Hóa Sông này phát nguyên từ cao nguyên Sầm Nưa (Lào) trên độ cao 1.100m chảy qua nhiều vùng
và đổ về Thanh Hóa chảy qua các huyện Thường Xuân, Thọ Xuân, Thiệu Hóa rồi nhập vào sông Mã ở Ngã Ba Đầu (làng Giàng, xã Thiệu Khánh)
Lịch sử Thiệu Vũ cũng như các khu vực ở Thanh Hóa đã từng ghi những trận lũ lụt kinh hoàng do sông Chu gây ra Nhiều trận lũ lụt đã phá hủy hàng ngàn ngôi nhà, hàng vạn héc ta đồng ruộng bị nhấn chìm trong nước
Trước sự hung dữ của dòng sông, từ xưa con người luôn ước mơ trị thủy bắt dòng sông phục vụ lợi ích sản xuất và sinh hoạt Từ xa xưa nhân dân
đã tiến hành đắp đê để hạn chế lũ lụt Đầu thế kỉ XX, người Pháp đã cho xây dựng đập Bái Thượng lấy nước phục vụ cho 50 vạn héc ta ruộng ở một số huyện của Thanh Hóa Công trình thủy lợi Hồ Cửa Đạt được đi vào hoạt động năm 2010 Trên tuyến đê sừng sững ngăn lũ lụt bảo vệ đời sống nhân dân ở địa bàn xã Thiệu Vũ cũng đã xuất hiện những trạm bơm điện, bắt nước dòng sông Chu chảy ngược phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân
Trong lịch sử sông Chu đóng vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của Thiệu Vũ Ngoài đê còn có bãi bồi phù sa rộng 13,6ha, nhân dân thường trồng hoa màu như: ngô, đậu, khoai lang, các loại rau, đặc biệt rất thuận tiện để trồng dâu Có thể nói, bãi bồi ven sông với ngàn dâu xanh tốt, với những trận lũ lụt ngập bờ đã gắn bó, đã trở thành kí ức của bao lớp người Thiệu Vũ mỗi lần xa quê Bãi Lam Vĩ có trữ lượng cát lớn, chất lượng tốt thỏa mãn nhu cầu xây dựng cho nhân dân trong vung, đồng thời là nguồn hàng hóa
có giá trị kinh tế cao
Trang 21Thiệu Vũ có 4 hồ lớn với diện tích 63,4 ha, hồ ở Yên Lộ, hồ ở Cẩm Vân và hai hồ ở Lam Vĩ (với diện tích tổng cộng là 17 mẫu) Đa phần các hồ
có trong xã đều hình thành từ những đợt vỡ đê sông Chu từ năm 1945 trở về trước Ngoài ra ở phía đông bắc xã có sông Mậu Khê đi qua, nhân dân đã đắp ngăn để nuôi thả cá, vịt và lấy nước tưới ruộng Do biến thiên của thời gian và
sự cải tạo của con người, hiện nay 60% diện tích hồ đã biến thành ruộng lúa, diện tích còn lại được nhân dân thả cá hoặc kết hợp canh tác lúa
Xã Thiệu Vũ có 5 núi đá vôi (trong đó Cẩm Vân 3 núi, Yên Lộ 2 núi) Tổng diện tích núi đá là 13,4 ha Trong các núi này có 2 hang động lớn nằm gần như liên tiếp nhau bao bọc phía ngoài gồm: núi Lớn và núi Nhỏ thuộc làng Yên Lộ cách làng 500m về phía Đông Bắc Núi đá thuộc Cẩm Vân cũng gồm 3 núi gần nhau (3 núi này lớn hơn núi Lớn Yên Lộ) cách làng Cẩm Vân 200m về phía Đông và Đông Bắc Trước đây người Pháp đã tiến hành khai thác đá tại các núi này vận chuyển ra sông Chu để đến các công trình xây dựng đường sắt Ngày 15 tháng 7 năm 1945, tại đây đã diễn ra trận đánh ác liệt giữa tự vệ cứu quốc do đồng chí Ngô Ngọc Vũ chỉ huy với bọn giặc Nhật Đồng chí Ngô Ngọc Vũ đã anh dũng hi sinh tại trận đánh này Thời kháng chiến chống Pháp, tại hang núi Vân đã có kho quân dược đóng tại đây Các núi này đều là núi đá vôi Trước Cách mạng Tháng Tám trên núi và nhất là quanh chân núi còn nhiều cây cối rậm rạp có nhiều bãi rậm, cồn hoang Ngày nay thảm thực vật bị khai thác hết, chỉ còn trơ trụi đá vôi, nhân dân đang khai
thác đá làm vật liệu xây dựng và đá rải đường
Khí hậu cũng giống như các xã trong huyện Thiệu Hóa, Thiệu Vũ có khí hậu nhiệt đới gió mùa Đặc trưng của kiểu thời tiết này là ngoài việc phân
bố nhiệt và ẩm theo vĩ độ, còn chịu tác động sâu sắc của 2 mùa gió Từ tháng
5 đến tháng 10 nhiệt độ cao, thường có gió mùa Đông Nam, còn gọi là gió nồm, mang hơi nước từ biển vào nên gây mưa nhiều Trong mùa này còn có gió Tây có tính chất khô nóng thổi về tạo nên kiểu thời tiết rất khó chịu, không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân Kiểu
Trang 22thời tiết đặc biệt khác là bão với sức gió mạnh và mưa lớn, nhiều khi gây ngập lụt cho đồng ruộng, phá hoại hoa màu, nhà cửa của nhân dân Từ tháng
11 đến tháng 4 năm sau nhiệt độ xuống thấp, trùng với mùa gió Đông Bắc, là khối khí lục địa nên thường khô và lạnh.Tùy thuộc vào cường độ các khối khí tràn về mạnh hay yếu mà nhiệt độ xuống thấp nhiều hay ít Từ xưa nhân dân
ta rất quan tâm đến các yếu tố thời tiết, rút ra quy luật hoạt động để lên lịch gieo trồng nông nghiệp
1.2 Quá trình hình thành vùng đất Thiệu Vũ
1.2.1 Địa danh vùng đất Thiệu Vũ trong lịch sử
Dân cư Thiệu Vũ quần tụ thành 3 làng theo dọc bờ đê sông Chu Từ phía thượng lưu trở xuống lần lượt là các làng Yên Lộ (tên cũ là An Lộ), Cẩm Vân (Tên cũ Hoa Vân thôn) và Lam Vĩ Dọc theo chân đê có các hồ nước khá rộng Cách làng Yên Lộ với Cẩm Vân, Cẩm Vân với Lam Vĩ là các hồ lớn được hình thành do nạn vỡ đê năm Đinh Mùi 1907
Đặc biệt vùng đất Thiệu Vũ có dòng sông Chu chảy qua nên có làng chài “trên bến dưới thuyền” Trước kia khu vực này thuộc huyện Quân Ninh, đến thời Lý - Trần đổi thành Lương Giang, đến thời Lê đổi tên là Thụy Nguyên Thời Hồng Đức định lại bản đồ đổi lại thành phủ Thiệu Thiên, năm
1815 phủ Thiệu Thiên đổi tên là phủ Thiệu Hóa Phủ Thiệu Hóa kiêm nhiếp 8 huyện Quảng Bằng, Thạch Thành, Thụy Nguyên, Yên Định, Lôi Dương, Vĩnh Lộc, Đông Sơn, Cẩm Thủy Các làng Thiệu Vũ thuộc tổng Phù Chẩn, huyện Thụy Nguyên Đến năm 1900, huyện Thụy Nguyên có sự điều chỉnh lại địa giới, cắt một phần về Ngọc Lặc, Thọ Xuân về, đổi tên huyện Thụy Nguyên thành phủ Thiệu Hóa Các làng của Thiệu Vũ vẫn thuộc tổng Phù Chẩn
Xã hội thì tổng Phù Chẩn có 11 xã, thôn là; thôn An lộ thuộc xã Phù Chẩn, thôn Ngọc Đới, thôn Thượng thuộc xã Chẩn Xuyên, thôn Bình Ngô, thôn Phác Đồng, thôn Bảo Đức, Hương Mẫn, Hoa Vân, Phú Lộc, Quan Chỉ, Lam Vĩ
Trang 23Trước Cách Tháng Tám, tổng Phù Chẩn có các làng là: Lỗ Chấn ( Chẩn Xuyên), Bình Ngô và Ngọc Đới (Tân Bình), Vạc (Ngọc Sơn), Trại Vạc (Ngọc Thiện, Ba Cồn thuộc xã Thiệu Ngọc ngày nay; Lam Vĩ (Vả, hoặc Quan Cai), Yên Lộ (kẻ Lỗ), Cẩm Vân (Hoa Vân) trong đó có Đạt Giáo (Tân Giáo), thuộc Thiệu Vũ ngày nay; Phúc Lộc (Chuộc), Quan Trung (Là) thuộc xã Thiệu Tiến ngày nay; làng Bèo (Biểu Đức), làng Mấu (Thành Sơn), Đoài Thượng (Thành Thượng), Đoài Đông (Thành Đông), Lộng Giang (Thành Giang), Thiện Giáo (Thành Thiện) thuộc xã Thiệu Thành ngày nay
Sau cách mạng Tháng Tám, Chính phủ có quyết định bỏ cấp tổng, thành lập cấp xã, các làng của Thiệu Vũ thuộc xã Ngọc Vũ (lấy theo tên chiến
sĩ cách mạng của quê hương – Ngô Ngọc Vũ)
Từ năm 1947, xã Ngọc Vũ tháp nhập với Thành Lập (Thiệu Ngọc ngày nay), có tên chung là Ngọc Vũ Tháng 3 năm 1953, từ 12 xã của huyện Thiệu Hóa, được chia thành 31 xã, xã Ngọc Vũ được chia thành các xã: Thiệu Vũ và Thiệu Ngọc Thiệu Vũ lúc này có các làng: Cẩm Vân, Yên Lộ, Lam Vĩ Theo Quyết định, 177/CP ngày 5- 7-1997 của Hội đồng Chính phủ, huyện Thiệu Hóa giải thể, 16 xã hữu ngạn sông Chu tháp nhập với huyện Đông Sơn lấy tên
là huyện Đông Thiệu, 25 xã thuộc tả ngạn tháp nhập với huyện Yên Định, lấy tên là huyện Thiệu Yên, xã Thiệu Vũ thuộc huyện Thiệu Yên
Ngày 18 tháng 11 năm 1996, Chính phủ có Nghị định 72/CP tái lập huyện Thiệu Hóa Từ ngày 1 tháng 1 năm 1997, huyện Thiệu Hóa đi vào hoạt động bình thường, xã Thiệu Ngọc lại trở về Thiệu Hóa
1.2.2 Quá trình hình thành làng xã
* Làng Yên Lộ
Trước cách mạng Tháng Tám làng thuộc tổng Phù Chẩn, phủ Thiệu Hóa Trước đây làng có tên là An Lộ, không rõ giai đoạn nào được đổi thành Yên Lộ Vào năm 1907 (đời vua Thành Thái làng có 32 mẫu điền thổ, 50 hộ với khoảng 70 xuất đinh Đến trước Cách mạng Tháng Tám làng có 116 hộ, với 550 khẩu, diện tích làng ở 35 mẫu, đất canh tác 289 mẫu
Trang 24Cho đến nay chưa xác định được cư dân đầu tiên đến đây lập nghiệp từ bao giờ Căn cứ vào gia phả các dòng họ có thể phỏng đoán làng được hình thành khoảng gần 300 năm nay Hiện nay số họ đến đây lâu đời nhất có 12 đời, số họ đến sau có khoảng 4- 5 đời
Trong làng có bốn giáp là: giáp Kim, giáp thượng, giáp Thái, giáp Phú Làng Yên Lộ có núi đá hình yên ngựatrên núi có đền thờ thần Tản viên Sơn, tuy không phải là làng lớn nhất nhưng Yên Lộ đứng đầu hàng tổng (Phù Chẩn) Các dòng họ trong làng có người từng đỗ đạt làm quan, như họ Hoàng
có người làm quan ở Cổ Định
Làng có một ngôi đình 5 gian lợp tranh, đến năm 1935 được sửa sang lại thành 3 gian lợp ngói Làng còn có ngôi Chùa Yên Lộ, không rõ xây dựng năm nào, đến năm 1928 thì được tu sữa lại Cách làng 300m về phía Tây Bắc còn có ngôi nghè ở chân núi được xây dựng từ thời nhà Lý
Cũng giống như nhân dân các làng, người Yên Lộ sống chủ yếu nhờ nông nghiệp Tuy nhiên, dù nằm cạnh con sông lớn nhưng ruộng đồng lại luôn thiếu nước Trước kia phần lớn diện tích chỉ cấy được vụ mùa nhờ nước mưa, vụ chiêm không cấy được do thiếu nước Nhiều năm lụt lớn ruộng đồng ngập chìm trong biển nước Chính vì vậy dù được mùa nhân dân vẫn chủ yếu
ăn độn ngô, khoai Trước cách mạng Tháng Tám, bọn thực dân Pháp lo thu thuế, bày đặt ra đủ thứ đóng góp mà ít quan tâm đến việc tu sửa đê điều Nhân dân nước mưa, vụ chiêm không cấy được do thiếu nước Nhiều năm lụt lớn ruộng đồng ngập chìm trong biển nước Chính vì vậy dù được mùa nhân dân vẫn chủ yếu ăn độn ngô, khoai Trước cách mạng Tháng Tám, bọn thực dân chỉ lo thu thuế, bày đặt ra đủ thứ đóng góp mà ít quan tâm đến việc tu sửa đê điều Nhân dân Yên Lộ cùng các làng trong vùng đã từng gánh chịu hậu quả nặng nề của những lần vỡ đê, gần nhất là các năm 1907, 1944 Hậu quả các trận lụt vô cùng nặng nề Nhà cửa, tài sản bị cuốn trôi, đồng ruộng thành biển nước Khi nước rút đi để lại hàng ngàn tấn cát sỏi trên mặt ruộng, hoặc đào
Trang 25sâu thành hồ, ao phải nhiều năm sau người dân mới cải tạo lại được Vết tích của những trận lụt do vỡ đê còn để lại qua một số hồ trong xã
Tuy nhiên, vượt lên tất cả, nhân dân Yên Lộ đoàn kết một lòng cùng nhau xây dựng cuộc sống mới Trong quá trình ấy nhân dân nơi đây đã tạo dựng nhiều giá trị tinh thần phong phú Ngoài các tục lệ chung như các làng, Yên Lộ có trò đánh chuột tế thần Vào cuộc thi, các phe giáp, đàn em hạ bàn chuẩn bị cuốc thuổng, gậy gộc, giỏ, mây xiên…tập trung tại đình làng, nghè làng phổ biến thể lệ cuộc thi Khi dứt tiếng trống mọi người tỏa ra các cánh đồng săn chuột Cuối buổi làng chấm giải, phe nào thắng cuộc được đứng lên thề, được tế thần Đây là cách làm sáng tạo của người xưa trong việc động viên mọi người diệt chuột bảo vệ mùa màng
Yên Lộ là làng có phong trào cách mạng sớm trong tổng Phù Chẩn Phong trào cách mạng ở Yên Lộ và các làng trong xã đã đóng góp tích cực vào phong trào chung của huyện và tỉnh
* Làng Cẩm Vân
Trước làng có tên là Hoa Vân, đến thời Thiệu Trị (1841-1847) đổi tên Cẩm Vân và giữ đến ngày nay Theo gia phả các dòng họ thì cư dân đầu tiên đến đây lập nghiệp cách ngày nay khoảng trên 300 năm Lúc đầu làng ở khu vực đồng Nội bây giờ, di tích còn lại là cồn Nền Đình là nơi đặt đình làng trước kia Do ở xa sông không thuận tiện cho sinh hoạt nên làng chuyển về gần đê phía dưới khu làng bây ở bây giờ Vì ở gần quãng đê yếu sợ đê vỡ, làng chuyển lên chỗ có đê chắc chắn hơn là vị trí ngày nay
Ban đầu dân cư thưa thớt, khi số dân tăng nhiều, làng được chia thành 2 xóm là xóm phường và xóm Lũy, sau có thêm xóm Đình Làng có 4 giáp là: giáp Đông, giáp Đoài, giáp Nam, giáp Phủ Trách nhiệm mỗi giáp là giúp nhau khi các gia đình có công việc như tang lễ, việc làng, việc quan và đỡ đần nhau trong cuộc sống Làng có ngôi đình 5 gian lợp ngói Đình thờ 3 vị thần: Nguyệt Nga phu nhân - Thượng đẳng thần, Phương Dung công chúa - Trung đẳng thần, Trịnh Duy Gia - Trung đẳng thần Trong làng còn có chùa thờ phật Thích ca
Trang 26Trước cách mạng Tháng Tám làng có 80 hộ, trên 100 đinh với khoảng
300 khẩu Điền thổ của làng có 200 mẫu (100 ha) Đất đồng trong có thể làm được hai vụ lúa, hoặc một vụ lúa, một vụ màu chiếm khoảng 25% diện tích đất canh tác của làng Đất đồng ngoài chỉ trồng được một vụ lúa, chủ yếu là gieo sạ lúa mùa đỏ
Ngoài làm ruộng, chăn nuôi, nhân dân trong làng còn có nhiều nghề trồng bông, dệt vải Vải tấm làng Vân bền đẹp thường được bán ở chợ Bản, chợ Kiểu, chợ Đu được nhân dân trong vùng rất ưa chuộng Hàng năm làng còn tổ chức các cuộc thi dệt vải để chọn những người khéo tay, hay làm Một
số nam giới có nghề chế tác đá Hàng hóa chủ yếu là cối giã gạo, giã giò, cối xay ngô, đậu, đá tảng, con lăn…Một số người trình độ cao hơn có thể tạc rùa, hạc, bia đá Sản phẩm đá ở Cẩm Vân đã có mặt ở một số đình chùa và phục
vụ sinh hoạt của nhân dân
Làng Cẩm Vân kết chạ với làng Bái Trại (Định tăng) Theo các cụ cao niên kể lại thì thành hoàng làng Bái Trại là anh ruột cụ Trịnh Duy Gia, thành hoàng làng Cẩm Vân nên hai làng kết chạ anh em Hàng năm vào mồng 5 tết Nguyên đán các làng đến thăm nhau, lần lượt mỗi bên làm khách một năm Đoàn gồm có một chức sắc trong làng, các bàn trai hộ mỗi bàn cử một người, mang lễ vật đến tế thần tại đình làng chạ Làng chạ làm cỗ mời khách, tổ chức văn nghệ, tình cảm anh em thắm thiết Làng Trại còn dành hẳn một dãy lều ở chợ Bản để làng Vân đến bán vải mà không thu thuế Trong các ngày lễ hội hoặc có công việc lớn nhờ làm chùa, sửa đình, làm cầu cống hai làng giúp đỡ nhau về công sức, gỗ luồng…
Trang 27trang Phù Sa” có cụ Lê Hội sinh ra người con gái tên là Lê Thị Hòa, sau này
bà Hòa lấy ông Cao Phong người Trung quốc Bà Hòa sinh ra ông Cao Tá, tên húy là Hoàng Tế là một danh tướng thời Lý, do có công dẹp giặc được nhà vua phong “ thượng đẳng Phúc thần Đại vương”
Trước đây Lam vĩ ở sát Cẩm Vân, sau do vỡ đê tạo thành hồ lớn nên chuyển xuống vị trí bây giờ Hiện nay trong làng có một số địa danh như: ngõ Phủ, Bổng Binh (ao của trại lính) nên có giả thuyết nơi đây trước kia từng là phủ lị của phủ Thiệu Thiên Trước Cách mạng Tháng tám, trụ sở tổng Phù Chẩn đóng ở đây Trong làng còn có trường tiểu học Pháp – Việt
Làng có ngôi đình lớn gồm 5 gian thờ “ Đức thánh Đại vương Hoàng Tế”; trong làng còn có ngôi chùa đặt tại vị trí của xóm Chùa bây giờ thờ Nguyệt Nga công chúa, tương truyền là con gái của Lý Thái Tổ Ngoài ra còn
có ngôi nghè thờ Húy Hiệp Đại Vương, vị trí ở bãi Mộc Bài Hiện nay ngôi chùa này không còn Làng còn có nhà thờ đạo thiên chúa được xây dựng khoảng cuối thế kỷ XIX
Đây là một làng nhiều dòng họ có nhiều người đỗ đạt, thành danh, như:
họ Nguyễn Đình có nhiều vị Công hầu bá tước.Trong số này có 6 vị được phong Phúc thần Đại vương, trong đó có phúc thần Nguyễn Đình Hoán được phong tới Quận Công triều Lê
1.3 Truyền thống lịch sử - văn hóa
1.3.1 Truyền thống lịch sử
* Trong lao động sản xuất
với vị trí thuận lợi và là vùng đồng bằng phì nhiêu của lưu vực sông
Mã, sản xuất nông nghiệp là đặc trưng kinh tế của Thiệu Vũ Ngay từ buổi đầu lập làng, nhân dân nơi đây đã ra sức mở mang diện tích gieo trồng, chăm sóc đồng ruộng Hết thế hệ này đến thế hệ khác đã chung tay khai phá đất đai, biến những khu đầm lầy, bãi đất cằn thành ruộng vườn, đào mương dẫn nước
về cho mùa màng xanh tốt, đồng thời dũng cảm đấu tranh với thiên tai, địch họa để bảo vệ xóm làng Trong quá trình ấy người Thiệu Vũ đã tạo dựng cho
Trang 28mình những truyền thống tốt đẹp Đó là đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, lạc quan yêu đời, chịu đựng gian khó để vượt qua mọi khó khăn xây dựng cuộc sống gia đình xóm làng trù phú
Từ khi đến đây mở đất lập làng người Thiệu Vũ đều coi nghề nông làm nghề chính Mà nghề nông ở đây thì cực nhọc vô cùng Ruộng cao thì khô cạn, ruộng trũng thì úng lụt Người nông dân quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời vẫn không đủ ăn Những năm mưa thuận gió hòa thì còn có bát cơm độn, những năm mất mùa thì quanh năm ăn ngô, ăn khoai trừ bữa Thế nhưng vượt lên tất cả nhân dân từng bước cải tạo đồng ruộng, trên ruộng cạn trồng màu, dưới ruộng sâu trồng lúa, thả cá Trong quá trình sản xuất nhân dân Thiệu Vũ đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm, đồng thời tạo nên những nông sản quý giá như: lúa tám thơm, gà ri, lợn ỉ…
Trong gian khó người Thiệu Vũ không nản chí mà trái lại luôn lạc quan yêu đời Dù cơm không đủ no, áo không đủ ấm, nhưng lời ca tiếng hát vẫn cứ vút lên Bên cối gạo, khung cửi, sân lúa…
Trong quá trình lao động cần cù, sáng tạo và dũng cảm, nhân dân xã Thiệu Vũ đã tạo dựng được những xóm làng đông vui, thoáng đãng Hoạt động kinh tế, xã hội, giao thông thuận lợi rất nhiều, đời sống vật chất và tinh thần của người dân nơi đây được nâng lên rõ rệt, làng xóm đông vui, trù mật
* Trong chống ngoại xâm
Thanh Hóa là tỉnh có truyền thống anh hùng bất khuất chống giặc ngoại xâm Các thế hệ ở Thiệu Vũ nói riêng, Thiệu Hóa nói chung đã góp phần làm làm rạng rỡ quê hương, đất nước
Từ ngàn xưa, chữ trung, chữ hiếu luôn được người Thiệu Vũ coi trọng, trở thành đạo lý, lối sống của người dân Với lòng trung quân, ái quốc những người nông dân áo vải của Thiệu Vũ đã gác tay cày, cầm vũ khí bảo vệ đất nước Trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc trước đây, những nghĩa binh người Thiệu Vũ đã có những đóng góp quan trọng Sử sách còn ghi lại gương ông Hoàng Tế người làng Lam Vĩ là một tướng tài
Trang 29giỏi thời Lý đã lập được nhiều công lớn trong công cuộc bảo vệ đất nước, được nhà vua phong sắc Khi vua Hàm nghi ra chiếu Cần Vương kêu gọi toàn dân đánh giặc cứu nước, nhân dân các làng ở Thiệu Vũ đã hăng hái tham gia, như các ông: Nguyễn Văn Binh, Đào Trọng Văn, Nguyễn Văn Tiệm, Nguyễn Văn Nhờn… ở Cẩm Vân; các ông: Lê Đình Khương, Lê Đình Khang, Lê Đình Cung, Lê tiến Trừu… ở Lam Vĩ Đặc biệt từ khi có Đảng lãnh đạo, nhân dân Thiệu Vũ đã không quản tù đày, hi sinh, hăng hái tham gia các phong trào
do Đảng lãnh đạo Phong trào cách mạng ở Thiệu Vũ cùng một số làng trong tổng Phù Chẩn đã thực sự là “chiếc nôi” nhen nhóm phong trào cách mạng trong huyện Thiệu Hóa và tỉnh Thanh Hóa
Xã Thiệu Vũ, có vị trí chiến lược quân sự đặc biệt quan trọng, hai tuyến đường giao thông bờ đê sông Chu và đường kênh Nam là hai tuyến đường vận chuyển lương thực thực phẩm trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, hai núi đá Cẩm Vân và Yên Lộ khu Chùa, Nghè làng Yên Lộ là nơi cán bộ Cách mạng hoạt động bí mật triển khai các hội nghị của tỉnh, huyện là địa điểm và là nơi in ấn tài liệu của Đảng và là nơi cất giấu vũ khí đạn dược trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp Hiện nay dấu tích đó vẫn còn, đó là hang quân dược tại núi Cẩm Vân và là nơi thuận tiện cho luyện tập quân sự để chuẩn bị cho khởi nghĩa cướp chính quyền Thời kỳ đó cán bộ lãnh đạo, cán
bộ quân sự của tỉnh, huyện đều là người con của Thiệu Vũ hiện nay khu vực núi đá Yên Lộ, Cẩm Vân được huyện và Ban chỉ huy quân sự huyện Thiệu
Hóa quy hoạch làm nơi chỉ huy của huyện khi có chiến tranh xảy ra
1.3.2 Truyền thống văn hóa
Thiệu Vũ có truyền thống văn hóa phong phú, lâu đời Nơi đây hội tụ đầy đủ nét văn hóa truyền thống của dân tộc Truyền thống học hành khoa cử,
từ xưa người dân nơi đây đã có ý thức về lợi ích của việc học Các làng, dòng
họ đều khuyến khích việc học hành đỗ đạt của con cháu Người dân nơi đây coi việc học là con đường làm rạng danh gia đình, dòng họ, làng xóm Do đề
Trang 30cao việc học và người hiền tài, trong các làng của xã Thiệu vũ trước đây đều
có văn chỉ hàng huyện và văn chỉ hàng xã Trước đây, làng nào cũng cho lập văn chỉ hàng xã để thờ khổng Tử và đề cao Nho học
“ Uống nước nhớ nguồn” là một câu tục ngữ mà cha ông ta đúc rút
kinh nghiệm, nó có ý nhắc nhở, khuyên nhủ mọi người cần phải có lòng biết
ơn, tôn trọng những người đã có công lao tạo nên cuộc sống của mình hiện
nay “Uống nước nhớ nguồn” là đạo lý được truyền từ thế hệ này sang thế hệ
khác và có ý nghĩa tích cực trong cuộc sống của mỗi người Thiệu Vũ (Thiệu Hóa) là một vùng quê trong mạch ngầm truyền thống ấy Từ khi những cư dân đầu tiên theo dòng sông Chu đến đây lập nghiệp, nhân dân nơi đây đã phải chống trọi với muôn vàn khó khăn, gian khổ để tồn tại và phát triển Trong quá trình ấy nhân dân Thiệu Vũ đã tạo dựng nên những phẩm chất tốt đẹp Đó
là tính nhẫn nại, cần cù, thông minh, sáng tạo trong lao động; là đức thương
người như thể thương thân, “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, hiếu nghĩa với
cha mẹ, anh em, họ mạc, xóm giềng; là tinh thần lạc quan, yêu đời; là đạo lí trung quân, ái quốc, sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn…
Thiệu Vũ truyền thống tôn trọng người già, hiếu thảo với cha mẹ được đặt lên hàng đầu Làng xã tôn trọng người cao tuổi, con cháu chăm sóc ông
bà, cha mẹ, lắng nghe người già răn dạy kinh nghiệm sản xuất và những lời hay, l phải trong cuộc sống, quan hệ xã hội Đó là nét đẹp trong đạo lý
“uống nước nhớ nguồn”, “lá rụng về cội” của người Việt Nam nói chung và
người dân Thiệu Vũ nói riêng
Cũng như nhiều miền quê Việt Nam khác, vùng đất Thiệu Vũ cũng hình thành và tồn tại những phong tục tập quán, tín ngưỡng đậm đà bản sắc dân tộc.Trong đó, tục thờ cúng tổ tiên rất được coi trọng Tín ngưỡng này
không chỉ thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, mà còn giáo dục con cháu
tinh thần yêu quê hương, đất nước Tục thờ cúng tại nhà thờ họ được thực hiện ở các dòng họ lớn tại vùng đất Thiệu Vũ như dòng họ Nguyễn Đình, Lê Văn, Nguyễn Văn
Trang 31Tục thờ thành hoàng làng cũng là một truyền thống văn hóa của con người Thiệu Vũ Ở vùng đất này, thờ thành hoàng làng có những nét riêng, độc đáo Các vị thành hoàng được thờ rất phong phú, có cả nhiên thần, có cả nhân thần Trong đó phần lớn Thiệu Vũ đều thờ những anh hùng dân tộc, những người có công với đất nước, giúp đỡ dân Điều đặc biệt, thành hoàng làng không chỉ được thờ ở Đình làng, mà còn được thờ trong cả đền, nghè Sự hiện hữu của các đình, nghè trong đó có thờ thành hoàng làng như bức thành đồng vững chãi trong đời sống văn hóa người dân Thiệu Vũ Bởi nơi thờ thành hoàng làng là nơi hết sức thiêng liêng, giúp duy trì sự đoàn kết, nếp sống hòa thuận trong gia đình, cộng đồng dân cư, đồng thời là nơi người dân Thiệu Vũ gửi gắm niềm tin, niềm tự hào để vượt qua khó khăn thử thách
Trang 32Tiểu kết chương 1
Thiệu Vũ là một trong số 25 xã, thị trấn của huyện Thiệu Hóa Đây là vùng đất có lịch sử phát triển lâu đời, mang nhiều dấu ấn đậm nét về lịch sử - văn hóa của vùng châu thổ sông Chu
Nơi đây có vị thế thuận lợi, đất đai chủ yếu được kiến tạo bởi phù sa của dòng sông Chu nên tương đối màu mỡ, thuận tiện cho trồng cây lúa và màu
Cư dân nơi đây luôn chịu thương, chịu khó trong lao động và trong đấu tranh
dựng nước và giữ nước, luôn coi trọng truyền thống “ Uống nước nhớ nguồn”
Sự hình thành làng xóm và dân cư Thiệu Vũ là một quá trình lâu dài Quá trình ấy được bắt đầu từ khi những người lao động đầu tiên đến khai khẩn vùng đất này tới lúc dân cư ở nơi khác tới cùng khai phá lập nghiệp Bằng tinh thần quyết tâm lao động và ý chí vươn lên, họ đã khai hoang, lập nên xóm làng trù mật Tuy khác về nguồn gốc xứ sở, dòng tộc nhưng tất cả đã chung sức, đồng lòng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, xây dựng cuộc sống ấm no
Nằm ở hạ lưu sông Chu, kinh tế nông nghiệp luôn đóng vai trò quan trọng đối với cư dân nơi đây Được đồng bằng phù sa của sông Chu bồi đắp nên Thiệu Vũ luôn là nơi thu hút của các dòng họ đến sinh cơ lập nghiệp Ngoài dòng họ Nguyễn Đình, Lê thì vùng đất Thiệu Vũ còn là nơi sinh sống của các dòng họ Trịnh, họ Phạm, họ Đàm, …Ngoài các làng nông nghiệp như làng Yên Lộ, làng Cẩm Vân thì Thiệu Vũ còn có làng chài ở Lam Vỹ Trải qua lịch sử phát triển thăng trầm cộng đồng cư dân Thiệu Vũ đã chung tay xây dựng nên một vùng quê trù phú
Bằng ý chí vươn lên trong lao động, sản xuất và đấu tranh giữ nước, giữ làng của cộng đồng cư dân thiệu Vũ Truyền thống ấy được hun đúc thành
bề dày lịch sử với các loại hình di sản văn hóa vật thể và phi vật thế đặc sắc Đây chính là sức mạnh để con cháu Thiệu Vũ hôm nay tiếp tục phát huy những giá trị tốt đẹp của cha ông
Trang 33Chương 2 DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ
Di tích lịch sử - văn hóa là chiếc cầu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, là di sản văn hóa quý giá, là động lực tinh thần của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Kho tàng di sản văn hóa vật thể được xem là mảng tiêu biểu của các giá trị vật thể truyền thống dân tộc Đây là bằng chứng sống về sự hy sinh, cống hiến và sáng tạo ở nhiều lĩnh vực của nhiều thế hệ tiền nhân để lại cho hậu thế
đi lại dễ dàng
Theo tài liệu ghi chép lại đình làng là nơi thờ thành hoàng Tản Viên Sơn Hiện nay chưa có tài liệu nào ghi chép lại đình được xây dựng năm nào Trước đây đình làng có kiến trúc 5 gian lợp tranh Thời gian gần đây cán bộ
và nhân dân làng Yên Lộ đã sữa sang lại ngôi đình lại cho diện mạo ngôi đình trở nên có giá trị thẩm mỹ
Đình Yên Lộ ngoảnh mặt về phá tây hai dốc mái có lắp mát hổ phù Toàn bộ cột, kẻ, rui, mè đều làm bằng gỗ xoan đào, kẻ hiên có chạm trổ long,
ly quy phượng Đến năm 1935 được trùng tu, tôn tạo, với kiến trúc đình gồm
5 gian được kết cấu đỡ bằng 6 vì, các vì liên kết với nhau bằng các hàng xà (thượng, hạ và xà thế hoành) Đình được xây dựng đăng đối về kích thước Bố cục kết cấu kiến trúc được tạo thành bởi 3 phần chính: 2 vì kèo của gian giữa, hai vì của 2 gian bên và 2 vì gian chái Cùng với các vì 1,6; 2,5; trong đình vì 3,4 nằm ở gian giữa, là hai vì chủ đạo.[18, tr 6] Điều đặc biệt là các bức cốn ở
Trang 34hai vì 3 và 4 được chạm rất công phu Mặt trước chạm khắc đề tài quân thần, rồng được thể hiện rõ, có đầu, thân, chân, đuôi xoắn ở mảng trên, bên dưới là họa tiết mô tả lân và ngư đang quẩy cùng vân mây và hoa lá, thể hiện đạo vua tôi Mặt sau bức cốn chạm đề tài mang ý nghĩa bình dân, phần trên cao chỉ có đầu rồng, bên dưới là các cảnh cá bơi, chim bay, nai chạy cùng mây bay đặc biệt đầu xà nách và đầu dư được khắc nạ tễu đang cười Đề tài này thể hiện cảnh thái bình thịnh trị đương thời Bằng kỹ thuật chạm khắc điêu luyện, thể hiện những mảng họa tiết hoa văn trang trí mang ý nghĩa triết học về xã hội,
về vũ trụ của những người nghệ nhân xưa trong ngôi đình đã để lại cho cộng đồng cư dân nơi đây một di sản văn hóa quý giá
Suốt từ năm 1930 đến 1945 nhiều sự kiện lịch sử Cách mạng đã diễn ra
ở ngôi đình này Các đồng chí cán bộ Đảng viên và hội quần chúng do Đảng lãnh đạo thường xuyên lấy đình Yên Lộ làm địa điểm họp để tuyên truyền giác ngộ quần chúng một cách hợp pháp
Năm 1937 đồng chí Ngô Ngọc Toản và Lê Chủ là hai hội viên thanh niên Cách mạng đồng chí Hội đầu tiên đã chủ trì cuộc họp dân bầu tuần phiên chọn lựa những người có lòng yêu nước, yêu dân để bảo vệ xóm làng, đồng thời dần dần giác ngộ số người này vào tổ chức, kết quả bầu được 15 người theo ý muốn
Tháng 3 năm 1937, các đồng chí cán bộ Đảng viên thông qua các hội quần chúng đã tổ chức họp dân gồm 150 người để bàn Cải lương hương chính
và chia công điền, công thổ cho các hội viên nghèo Tại đình làng Yên Lộ dân làng tổ chức vui xuân mới đọc diễn văn chúc thọ người già và hoan nghênh cuộc cải Lương hương chính của làng
Tháng 6 năm 1938, cán bộ Cách mạng tổ chức họp dân và lấy chữ ký ủng hộ Trung Hoa Kháng Nhật và đòi nhà cầm quyền phải thực hiện các quyền tự do dân chủ
Tháng 10 năm 1938 bầu kiến thiết hương thôn (tất cả đều là người của cách mạng) để điều hành các hình thức hợp tác giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất, mua bán, đổi công
Trang 35Trong năm 1939 có nhiều cuộc họp, mít tinh tại đình để quyên góp tiền bạc ủng hộ Trung Hoa kháng Nhật kỷ niệm cách mạng tư sản Pháp, lấy chữ
ký đòi thả đồng chí Bùi Đạt, truy điệu đồng chí Phan Thanh Công bị địch giết, phát động chống siêu cao thuế nặng, học chữ quốc ngữ…
Đình Yên Lộ còn là nơi tập trung tập luyện quân sự của lực lượng tự vệ Yên Lộ thời kỳ Phản đế cứu quốc (1940-1941) và thời kỳ Việt Minh khởi nghĩa (1943-1945) Đình cũng là nơi ra mắt chính quyền cách mạng và nơi giải tán bộ máy chính quyền tay sai
Thời kỳ kháng chiến chống pháp, đình Yên Lộ còn là nơi họp của nhiều cơ quan, đoàn thể của Tỉnh và Huyện Năm 1951 đại hội đảng bộ Huyện Thiệu Hóa được tổ chức tại ngôi đình này
Đình Yên Lộ là một Di tích Cách mạng gắn liền với nhiều sự kiện lịch
sử Cách mạng quan trọng Với giá trị lớn lao về mặt lịch sử và kiến trúc nghệ thuật của đình làng Yên Lộ cùng với việc lưu giữ những nét đẹp văn hóa, nơi đây còn là địa điểm sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa thu hút đông đảo người dân trong cũng như ngoài xã tham gia Vì vậy rất cần được giữ gìn, trùng tu, tôn tạo
và bảo vệ ngang tầm quốc gia Với những giá trị to lớn, đình làng Yên Lộ được UBND tỉnh Thanh Hóa xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa và Cách mạng (Đình Yên Lộ nằm trong cụm di tích lịch sử Cách mạng Yên Lộ: Đình, Nghè, chùa và các điểm liên quan, xã Thiệu Vũ, Huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa)
2.1.2 Đình Lam Vĩ
Đình làng Lam Vĩ thuộc xã Thiệu Vũ, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (Đình Lam Vĩ còn được nhân dân trong làng gọi là đền Lam Vỹ) Theo gia phả và qua dân gian truyền lại thì đền được dựng năm 1080 là năm mất của vị thần hoàng làng Đình làng đã trải qua nhiều lần trùng tu tôn tạo ở các thời : Lý - Trần - Lê - Nguyễn và đến nay chỉ còn lại 5 gian tiền đường
Đình Lam Vĩ được xây dựng trên một thân đất cao ở phía rìa trước làng, hai bên đằng sau đình làng đều là khu dân cư Đình làng cách trụ sở Ủy ban xã Thiệu Vũ khoảng 2km về phía tây và cách thị trấn Thiệu Hóa khoảng
Trang 36trên 10 km, từ thành phố Thanh Hóa theo đường bộ đến đình Lam Vĩ khoảng 30km Từ Lam Vĩ, chúng ta có thể theo men đường sông Chu, hoặc đi theo đường đê để đến được các xã ở phía Tây của huyên Thọ Xuân, huyện Thường Xuân, hoặc đi tắt qua cánh đồng phía sau làng là có thể đến được huyện Yên Định, huyện Vĩnh Lộc
Trước mặt đình và làng Lam Vĩ là dòng sông Chu và bãi dâu xanh với con đê viền theo thân làng đã trở thành con đường giao thông liên huyện Thiệu Hóa và Thọ Xuân, cuộc sống của nhân dân làng Lam Vĩ và cả xã Thiệu
Vũ đều gắn bó với dòng sông Chu hiền hòa, thơ mộng và ngày đêm chở nặng phù sa
Đình (đền) Lam Vĩ thờ vị thần hoàng có tên kiêng húy là Hoàng Tế, còn tên thật là Tá, họ là Cao Theo thần phả và các tài liệu sưu tầm khác thì vị thần Hoàng Tế tức Cao Tá mà Quan Đại học sĩ Đông các viện Hàn Lâm Nguyễn Bính chép vào năm 1577 là một nhân vật lịch sử có thật đời Lý, được sinh ra và lớn lên ở quê mẹ tức Khu A Vĩ Trang phù sa (tức làng Lam Vĩ bây giờ) Từ năm 16 tuổi, Cao Tá đã nổi tiếng khắp nơi về dung mạo và tài cao võ nghệ, đặc biệt là tài bơi lội, vượt sông thì khó ai đuổi nổi Triều đình nhà Lý biết tin đã vời ông về triều và trọng dụng Năm Thuận Thiên thứ 9 (1018) Chiêm Thành xâm chiếm, cướp đoạt địa giới, quấy nhiều dân cư, nhà vua lại triều cầu các nhân tài trong thiên hạ Ba lần được tiến cử, ông liền nhận vào triều yết kiến bái lậy vua Lý Vua Lý thấy yêu mến nên ban chức tước Ông không dám nhận tước vị Nhà vua hạ lệnh xuất quân đi đánh giặc Chiêm Thành, ông vâng mệnh đem ba chục vạn quân, một ngàn chiến thuyền, thủy
bộ tiến tới sào huyệt của giặc quyết chiến với giặc, tướng giặc thoái lui, tiếp thêm trận nữa quân giặc chạy tan, tất thẩy đều về đất Chiêm Thành và không dám bén mảng quay lại nữa
Ông thẳng tiến thuyền rồng về triều yết kiến và được vua tặng tước hiệu quyết kiêm Đô Hộ Đại tướng quân, và ban thưởng cho ông 100kg tiền bạc Ông lại xin tâu về thăm tổ đường và Úy lạo quân dân, nhà vua cho phép
Trang 37Ông đi đường thủy về nhà thờ cha ở Kỳ Pha Động (Ở huyện Thường Xuân bây giờ) và làm lễ ăn mừng, ban thưởng Úy lạo quân dân…ông triệu tập nhân dân bô lão cùng về chào mừng Trong khi đang yến tiệc, ông tự bảo rằng: dân bản khu A Vĩ (tức làng Lam Vĩ bây giờ) vốn là đất sinh, nay là ơn lộc nước tỏ tình báo đáp dân làng Hiện vùng Lam Vĩ vẫn còn lưu truyền câu ca của vị thần hoàng làng:
Tình ở Kỳ pha động Nghĩa về A Vỹ khu Tuy lời vui yến tiệc Hương thơm muôn vạn khu
Đọc xong ông ban thưởng cho nhân dân trăm lượng tiền bạc để làm việc
ơn thường Công việc xong ông lại xuống thuyền rồng về triều …thuyền ông tự chìm mất đáy sông (Mất ngày 25 tháng 11 năm 1018) Thời gian này nhân dân già trẻ khu A Vĩ đều cho là lạ, cảm ơn công đức của ông, hội họp làm biểu tâu lên vua, nhà vua bèn làm đài tiết bậc công thần có công lao với nước
Vua lại sai các quan triều đình cùng làm lễ điếu viếng và truyền mệnh dựng lăng, miếu vốn ông ở trước để làm chỗ hương khói phụng thờ Ban thưởng nhân dân bản khu A Vĩ tiền công 40 quan, cho phép được miễn binh, lương và các việc tạp dịch trong 3 năm, xếp lệ phong khen chữ đẹp phúc thần thượng đẳng, lớn lao cùng đất nước mãi là hình thức thịnh đạt phong: Dương cảnh thần hoàng, cao quang, sáng sủa, đức độ, đoan trang, nghiêm túc, oai anh hùng, cứu thế rộng khắp, kéo dài phúc bậc thượng đẳng phúc thần Đại vương Cho phép khu A Vĩ phù sa, huyện Lương Giang, phủ Thiệu Thiên, đạo Thanh Hóa, làm việc coi sóc phụng thờ hương hỏa… Đến đời Trần khai sáng cơ đồ, bỗng có giặc Nguyên nổi lên, vua Trần tiến binh dẹp giặc, qua đền thờ đều thấy có linh thiêng ứng nghiệm hiển hách đã cho thờ mãi, ban thêm tiền công 27 quan để làm tế thờ vào mùa xuân, mùa thu
Có thể khẳng định vị thần hoàng đình Lam Vĩ là một nhân vật lịch sử - một danh tướng anh hùng – một bậc đại công thần thời Lý đã có nhiều công
Trang 38lao đức độ với làng với nước Tước hiệu trong văn tế của nhân vật lịch sử này
là “Dương cảnh thần hoàng cao quang, minh đức, đoan túc, anh Uy Hoàng” tế hoặc “ Hoàng Tế diễn phúc Thượng đẳng phúc thần Đại Vương” Theo các cụ truyền lại thì trước cải cách ruộng đất ở đây có tới bốn chục sắc phong của các triều đại cho vị thần hoàng này nhưng biến động lịch sử đã bị mất mát cả
Khu đình Lam Vĩ có một quy mô khá bề thế, trước hòa bình lập lại năm
1954, khu đình gồm 3 gian chính thẩm (hậu cung) rất độc đáo mà nhân dân gọi là đền thờ vị thành hoàng Cách một cái sân vừa trông cây cảnh là đến 5 gian tiền tiền đường (mà dân gọi là đình) Sân đình rất rộng ở phía trước hai bên sân đình là hai dãy vũ hình chữ nôm Ngoài ra ở phía ngoài cũng là bức bình phong và cổng nghinh môn
Khi đê sông Chu nắn lại thì toàn bộ phần tam quan, bình phong, dãy
vũ và sân đình bị tháo bỏ Hiện nay đình Lam Vĩ ở sát gần con đê Không gian cảnh quan không còn nguyên vẹn như trước, sân đình bây giờ chỉ còn rộng 7,5m là sát chân đê Qua biết bao biến động thời gian, lịch sử, chiến tranh, mặc dù không còn nguyên vẹn quy mô cũ, nhưng toàn bộ 5 gian đình (tiền đường) vẫn còn nguyên giá trị vốn có
Đình gồm 5 gian có chiều dài 15,10m, rộng 7,5m toàn bộ cột gồm 12 cột đá hình vuông và 24 cột gỗ hình tròn dài 0,23m và rộng 0,22m, còn cột tròn thì có chu vi 1,1m hoặc 1,05m Toàn bộ hệ thống cột cũ vẫn còn nguyên vẹn Hai vì đốc được trang trí điêu khắc gỗ mặt hổ phù [19, tr5] Kết cấu tất
cả các vì kèo đều làm theo kiểu chồng rường và chồng riêm trạm theo hình hoa lá, cúc dây, vân mây, sóng nước, thỉnh thoảng lại có hình rồng và cá hóa long, 6 cột đá ngoài cùng đỡ mái hiên Sân hiên và lòng nhà liền nhau không ngăn cách vì hệ thống gạch, cửa, sân đã bị tháo bỏ từ sau cải cách ruộng đất
Ở thượng lương còn chữ ghi đều được trùng tu vào đời vua Tự Đức Về kiến trúc thì toàn cục thì 5 gian đình Lam Vỹ còn lại đều là kiến trúc Nguyễn
mà ta thường gặp còn kiến trúc thời nhà Lê và sớm hơn chỉ còn gặp ở một số
Trang 39gạch ngói còn sót lại Bức đại tự còn lại đề 4 chữ: “Thánh cung vạn tuế” theo các cụ truyền lại là do triều vua Tự Đức thứ 14 đề tặng vị thần hoàng ở ngôi đình này Xung quanh ngôi đình còn một số cây cổ thụ tỏa bóng mát cho đình.Về hiện vật trong di tích đình Lam Vĩ bị thất tán từ kháng chiến chống Pháp và cải cách ruộng đất Thời gian vừa qua, nhân dân tiếp tục sưu tầm các hiện vật đồ thờ để dải rác mang ra đình như hương án, bát hương, lư hương và một số hiện vật khác
Từ năm 1930 đến 1935 Đình Lam Vĩ đã trở thành địa điểm để những cán bộ cộng sản đầu tiên tuyên truyền giác ngộ cách mạng cho quần chúng
Từ năm 1936 đến 1939 (Thời kỳ vận động dân chủ) nhiều cán bộ cách mạng và hội tương tế ái hữu đã biến sự sinh hoạt tín ngưỡng tại đình làng Lam Vỹ để tổ chức hội họp và tuyên truyền cách mạng
Từ năm 1940 đến 1941 đình Lam Vĩ là nơi luyện tập của lực lượng tự
vệ phản đế, nơi gặp gỡ liên lạc của nhiều cán bộ cách mạng trong và ngoài địa phương Thời kỳ Việt Minh và tổng khởi nghĩa là thời kỳ diễn ra rất sôi động Tổng phù Chẩn là một trong những địa phương có phong trào cách mạng nhất tỉnh Đình Lam Vĩ đã trở thành trung tâm của các cuộc mít tinh, hội họp, tuyên truyền cách mạng Năm 1950 đến 1951, trường quân chính liên khu IV
và sư đoàn 304 đã làm thêm một hội trường tại sân đình Lam Vĩ để mở các lớp huấn luyện quân sự, Chính trị
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp đình Lam Vĩ là nơi tập trung huy động sức người, sức của cho tiền tuyến, nơi phát động “ Tuần lễ vàng”;
“Tuần lễ dân quân tự túc”, “Lúa khao quân”, công trái quốc gia, công phiếu kháng chiến, thuế nông nghiệp, dân quân, tòng quân…
Trong 9 năm kháng chiến, đình Lam Vĩ thực sự đã trở thành một trung tâm sinh hoạt chính trị, nơi hội họp mít tinh, nơi phát động nhiều phong trào ủng hộ kháng chiến, không phải chỉ là nơi trung tâm sinh hoạt của làng, mà còn là trụ sở và địa điểm hoạt động kháng chiến của tỉnh Vì vậy đình Lam Vĩ
đã trở thành ký ức và kỷ niệm sinh động trong sự nghiệp cách mạng và kháng
Trang 40chiến của biết bao thế hệ cán bộ và lực lượng công – nông – binh, đồng thời chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng đầy ý nghĩa
Di tích lịch sử đình Lam Vĩ cũng chính là nơi sinh hoạt văn hóa tinh thần và tín ngưỡng người có công với làng với nước đã trở thành niềm tự hào
to lớn của nhân dân địa phương Không phải chỉ của riêng làng Lam Vĩ mà bởi vì đây còn là nơi ghi nhận chiến công, nhiều sự kiện lịch sử cách mạng kháng chiến của tỉnh, huyện, xã và những trang sử hào hùng giờ đây đọng lại tại ngôi đình như một nhân chứng, một tượng đài mãi mãi ngàn năm bất tử
Sự hiện diện đình làng Lam Vĩ là chứng tích khẳng định các giá trị và ý nghĩa của ngôi đình về rất nhiều phương diện Đình làng Lam vĩ là di tích lịch
sử - văn hóa và kiến trúc nghệ thuật đồng thời đình còn là di tích lịch sử Cách mạng cần được được giữ gìn và phát huy giá trị Chính vì vậy đình làng Lam
Vĩ được UBND tỉnh Thanh Hóa được xếp hạng di tích lịch sử - Văn hóa Cách mạng theo quyết định số 4139/QĐ, ngày 13/12/2011
2.1.3 Đình Cẩm Vân
Đình làng Cẩm Vân thuộc xã Thiệu Vũ, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa Cẩm Vân trong quá trình lịch sử còn có tên là Hoa Vân, đến thời Thiệu Trị (1841 – 1847) đổi tên làng Cẩm Vân và được gọi đến ngày nay
Đình Cẩm Vân được xây dựng trên nền đất cao ở giữa làng Cách thành phố Thanh Hóa khoảng 32km, từ thành phố Thanh Hóa đi theo đường tỉnh lộ
45, qua rừng Thông đến Ngã Ba Chè, rẻ tay phải qua cầu Vạn Hà, đi ngược
về phía Tây chừng 8km là tới đình làng Từ thành phố Thanh Hóa hoặc các địa phương khác đến đình Cẩm Vân, có thể đi bằng phương tiện giao thông đường bộ dễ dàng
Đình làng Cẩm Vân cho đến nay thì chưa có tài liệu nào ghi rõ đình được xây dựng từ năm năm nào, chỉ biết rằng đình Cẩm Vân được nhân dân trong làng tu sửa lại năm 1921 (niên hiệu Khải Định thứ 6)
Đình làng thờ 3 vị thần Nguyệt Nga phu nhân - Thượng đẳng, Phương Dung công chúa - Trung đẳng thần, Trịnh Duy Gia - Trung đẳng thần