1 UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ THỦ ĐỨC KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH GIÁO TRÌNH HỌC PHẦN KINH TẾ QUỐC TẾ NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG Ban hành kèm theo Quy.
Trang 1UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ THỦ ĐỨC
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
GIÁO TRÌNH HỌC PHẦN: KINH TẾ QUỐC TẾ NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG
Ban hành kèm theo Quyết định số: 80 /QĐ-CNTĐ-CN, ngày 18 tháng 08 năm 2020 của
Hiệu Trưởng Trường Cao Đẳng Công Nghệ Thủ Đức
Tp.HCM, năm 2020
Trang 3LỜI GIỚI THIỆU
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Phát triển kinh tế luôn là vấn đề được đặt vào vị trí trung tâm Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc nâng cao năng lực cạnh tranh, đặc biệt là cạnh tranh hàng hóa là vấn đề hết sức quan trọng, không chỉ mang lại nguồn thu lớn cho quốc gia, cho sự phát triển lớn mạnh của kinh tế Việt Nam, mà còn nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Giáo trình Kinh tế quốc tế được biên soạn nhằm cung cấp cho người học những kiến thức
cơ bản về, kinh tế quốc tế, lý thuyết cổ điển, mậu dịch quốc tế, thuế quan, quota, lên kết kinh tế quốc tế, liên hiệp thuế quan, sự di chuyển nguồn lực quốc tế, tỷ giá hối đoái, di chuyển nguồn lực, đầu tư
Giáo trình gồm có 5 chương:
Chương 1: Tổng quan về kinh tế quốc tế
Chương 2: Mô hình Hecscher - Ohlin
Chương 3: Chính sách thương mại quốc tế
Chương 4: Liên kết kinh tế quốc tế và sự di chuyển nguồn lực quốc tế
Chương 5: Hối đoái
Tác giả kỳ vọng, giáo trình kinh tế quốc tế do tác giả biên soạn sẽ là tài liệu hỗ trợ tích cực cho quá trình học tập và quá trình hoạt động nghề nghiệp của học viên
Khi biên soạn giáo trình này, tác giả đã kế thừa, tiếp thu, tham khảo nhiều tài liệu khác nhau Xin chân thành cảm ơn các tác giả đi trước và đặc biệt là các tác giả có tên trong danh mục tài liệu tham khảo được in ở cuối giáo trình
Trang 4Mặc dù, tác giả đã có nhiều cố gắng nhưng giáo trình này chắc chắn không thể tránh khỏi những hạn chế Tác giả rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của các đồng nghiệp để giáo trình được hoàn thiện hơn
Tp.HCM, ngày 22 tháng 08 năm 2020
Tác giả biên soạn
Thạc sĩ Phan Thị Thương Huyền
Trang 5
MỤC LỤC
Lời giới thiệu - 3
Chương 1: Những vấn đề chung về kinh tế quốc tế -8
1 Lý thuyết về thương mại quốc tế -8
2 Cân bằng quốc tế với chi phí cơ hội gia tăng -20
3.Câu hỏi ôn tập -22
Chương 2: Mô hình Hecsher – Ohlin - 24
1 Mô hình hecsher - Ohlin -26
2 Định lý Rybczynski -26
3 Định luật Hecsher – Ohllin -28
4 Định luật Stolper – Samuelson -29
5 Định luật cân bằng giá yếu tố sản xuất -29
6 Mở rộng lý thuyết Hecsher – Ohlin -33
7 Câu hỏi ôn tập -35
Chương 3: Chính sách thương mại quốc tế -35
1 Thuế quan -35
2 Các công cụ phi thuế -42
3 Chính sách thương mại quốc tế -48
4 Câu hỏi ôn tập -50
Chương 4: Liên kết kinh tế quốc tế và sự di chuyển nguồn lực quốc tế -51
1 Các hình thức liên kết kinh tế quốc tế -56
2 Di chuyển nguồn lực quốc tế -63
3 Di chuyển quốc tế về công nghệ -67
4 Câu hỏi ôn tập -68
Chương 5: Hối đoái -69
1 Hối đoái -71
2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái -75
3 Câu hỏi ôn tập -69
Trang 6+ Học phần này thuốc môn chuyên ngành
+ Được đào tạo ở học kỳ 3
- Tính chất: Học phần này cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về những vấn đề chung về kinh tế quốc tế, lý thuyết cổ điển và mậu dịch quốc tế, lý thuyết
hiện đại về mậu dịch quốc tế, thuế quan một hình thức hạn chế mậu dịch, các hình thức hạn chế mậu dịch khác và đàm phán mậu dịch đa phương, liên kết kinh tế quốc
tế, liên hiệp quan thuế, mậu dịch quốc tế và phát triển kinh tế, sự di chuyển nguồn lực quốc tế, thị trường ngoại hối và tỷ giá hối đoái, cán cân thanh toán, hệ thống tài
Khi kết thúc môn học/học phần, học sinh sinh viên có thể:
- Trình bày một số khái niệm căn bản kinh tế quốc tế
- Trình bày được các học thuyết về thương mại quốc tế
- Trình bày được mô hình Hecsher - Ohlin
- Trình bày được các chính sách thương mại quốc tế
- Trình bày được chính sách thương mại tự do
- Trình bày được chính sách bảo hộ mậu dịch
Trang 7- Trình bày các hình thức đầu tư quốc tế
- Trình bày được các hình thức di chuyển nguồn lực quốc tế
- Trình bày được các hình thức di chuyển công nghệ
- Trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái
Kỹ năng:
Môn học/học phần sẽ cung cấp cho học sinh sinh viên những kỹ năng sau đây:
- Vận dụng công thức để tính toán được lợi ích mậu dịch của hai quốc gia khi
tham gia giao thương
- Vận dụng được các các định luật mô hình Hecsher – Ohlin
- Vận dụng các lý thuyết về chính sách thương mại quốc tế
- Vận dụng được các hình thức đầu tư quốc tế
- Vận dụng được các hình thức di chuyển lao động quốc tế
- Vận dụng được các hình thức di chuyển công nghệ
- Tính toán được cả tỷ giá hối đối
Năng lực tự chủ và trách nhiệm:
- Nhận thức tầm quan trọng khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế
- Hình thành ý thức đạo đức kinh doanh, trách nhiệm của người làm công tác
kinh tế đối với xã hội
Trang 8CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ QUỐC TẾ
Ngày nay các quốc gia trên thế giới đang tăng cường mở rộng các mối quan hệ với nhau trên nhiều lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, thể thao, văn hóa, trong đó mối quan hệ về kinh tế bao gồm: thương mại, đầu tư, tài chính là mối quan hệ quan trọng nhất, nó chi phối các lĩnh vực của đời sống xã hội toàn cầu
Mục tiêu:
- Trình bày một số khái niệm căn bản kinh tế quốc tế
- Trình bày được các học thuyết về thương mại quốc tế
- Vận dụng công thức để tính toán được lợi ích mậu dịch của hai quốc gia khi tham gia giao thương
Nội dung chính:
1 Lý thuyết về thương mại quốc tế
2 Cân bằng quốc tế với chi phí cơ hội gia tăng
1 Lý thuyết về thương mại quốc tế
1.1 Học thuyết trọng thương về thương mại quốc tế
1.1.1 Khái quát về lý thuyết trọng thương
Lý thuyết trọng thương xuất hiện và phát triển mạnh ở Châu Âu, phát triển mạnh nhất là ở Anh và Pháp từ giữa thế kỷ 15, 16, 17 và kết thúc thời kỳ hoàng kim của mình vào giữa thế kỷ 18 Các tác giả tiêu biểu cho chủ nghĩa trọng thương: Người Pháp: Jean Bodin, Melon, Jully, Colbert Người Anh: Thomas Mrm, Josias Child, James Stewart
- Đặc điểm của lý thuyết trọng thương
Đề cao vai trò của thương mại
- Một quốc gia muốn giàu có và thịnh vượng trong phát triển kinh tế thì phải gia tăng khối lượng tiền tệ
Trang 9- Muốn gia tăng khối lượng tiền tệ của một quốc gia thì con đường chủ yếu là phát triển thương mại Đặc biệt là ngoại thương (thực hiện chính sách xuất siêu)
Việc buôn bán với nước ngoài không phải xuất phát từ lợi ích chung của hai phía, mà cố gắng thu lợi riêng cho quốc gia mình trên sự thiệt hại của quốc gia khác
Đề cao vai trò của nhà nước, chủ trương phải can thiệp sâu vào hoạt động thương mại như: lập hàng rào thuế quan để bảo hộ mậu dịch, miễn thuế thu nhập cho các loại nguyên liệu phục vụ sản xuất, cấm bán ra nước ngoài những sản phẩm thiên nhiên (như sắt, thép, sợi, lông cừu,…)
Lý thuyết trọng thương đề xuất với chính phủ nâng đỡ hoạt động xuất khẩu như thực hiện tài trợ xuất khẩu, duy trì quota và đánh thuế xuất nhập khẩu cao đối với nhập khẩu hàng tiêu dùng để duy trì hiện tượng xuất siêu trong hoạt động thương mại quốc tế
Các tác giả trọng thương cho rằng: lao động là yếu tố cơ bản của sản xuất cho nên để tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường, cần phải hạ thấp lương để giảm chi phí sản xuất
- Nhận định về lý thuyết trọng thương
Ưu điểm:
- Thuyết trọng thương là học thuyết đầu tiên mở ra một trang sử mới cho loài người trong việc nghiên cứu hiện tượng và lợi ích thương mại quốc tế
- Sớm đánh giá tầm quan trọng của thương mại đặc biệt là thương mại quốc tế
- Sớm nhận rõ vai trò của nhà nước trong việc trực tiếp tham gia điều tiết hoạt động kinh tế xã hội thông qua các công cụ thuế quan, lãi suất đầu tư và các công cụ bảo
hộ mậu dịch
- Học thuyết trọng thương có điểm tiến bộ hơn so với các tư tưởng kinh tế thời trung
cổ ở chỗ: giải thích các hiện tượng kinh tế bằng quan niệm tôn giáo, còn thuyết trọng thương được xem như là lý thuyết khoa học
Trang 10Nhươc điểm:
Thuyết trọng thương còn đơn giản chưa giải thích được bản chất của các hiện tượng thương mại quốc tế
1.1.2 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith
Adam Smith (1723 – 1790) là nhà kinh tế học cổ điển người Anh, ông được xem là “Cha
đẻ của kinh tế học” Thể hiện ở tác phẩm “nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân giàu có của các quốc gia” xuất bản năm 1776
Quan điểm kinh tế cơ bản của Adam Smith
Tự do kinh doanh
- Khẳng định vai trò của cá nhân và hệ thống kinh tế tư doanh Lợi ích cá nhân sẽ
được dẫn dắt bởi “bàn tay vô hình” để hướng đến lợi ích chung
- Chính phủ không cần can thiệp vào các hoạt động của mậu dịch quốc tế
Phân công lao động dựa trên quy luật lợi thế tuyệt đối
- Thương mại đặc biệt là ngoại thương có tác dụng thúc đẩy sự phát triển kinh tế của
nước Anh Nhưng theo ông nguồn gốc giàu có của nước Anh không phải là ngoại thương mà là công nghiệp
- Theo Adam Smith mỗi quốc gia nên chuyên môn hoá vào những ngành sản xuất mà
họ có lợi thế tuyệt đối Lợi thế tuyệt đối là chi phí sản xuất của những ngành này (chủ yếu là chi phí lao động) thấp hơn những nước khác
- Một quốc gia xuất khẩu những hàng hoá mà họ có lợi thế tuyệt đối, nhập khẩu những
hàng hoá mà họ không có lợi thế tuyệt đối Như vậy, tài nguyên mỗi nước sẽ được
sử dụng có hiệu quả hơn, sản phẩm sản xuất của mỗi nước sẽ tăng lên Hai quốc gia đều có lợi khi tham gia mậu dịch quốc tế
- Minh họa về lợi thế tuyệt đối
Đề bài: Giả sử một giờ lao động ở Quốc gia Mỹ sản xuất được 6 giạ lúa mì hay 4m vải,
trong khi đó ở Quốc gia Anh 1giờ lao động sản xuất được 5 mét vải hoặc 1 giạ lúa mì
Trang 11Yêu cầu:
1 Phân tích theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối?
2 Phân công lao động theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối?
3 Lợi ích của hai quốc gia
4 Nhận định
Bài giải:
Bước 1: Phân tích theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối:
So sánh lợi thế tuyệt đối giữa 2 nước:
- Quốc gia Mỹ có lợi thế tuyệt đối về sản xuất lúa mì
- Quốc gia Anh có lợi thế tuyệt đối về sản xuất vải
Bước 2: Phân công lao động theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối
- Quốc gia Mỹ sản xuất lúa mì, xuất khẩu sang Quốc gia Anh và nhập khẩu vải từ Quốc gia Anh
- Quốc gia Anh sản xuất vải, xuất khẩu sang Quốc gia Mỹ và nhập khẩu lúa mì từ Quốc gia Mỹ
Bước 3: Lợi ích hai quốc gia nhận được với giả định tỷ lệ trao đổi là 1 giạ lúa mì đổi 1m vải:
Quốc gia Mỹ xuất khẩu 6 giạ lúa mì cho Anh để nhận về 6m vải:
- 6 giạ lúa mì = 1 giờ lao động, trong khi 6 m vải = 1 ½ giờ
Như vậy Mỹ đã tiết kiệm được ½ giờ lao động
Tại Quốc gia Anh, xuất khẩu 6 m vải và nhận về 6 giạ lúa mì:
- 6 giạ lúa mì = 6giờ lao động, với 6 giờ lao động này, Anh có thể sản xuất 6 giờ x 5
m vải = 30 m vải
Như vậy, Anh đã thặng dư 24m vải
Sản lượng do mậu dịch quốc tế mang lại cho mỗi nước đều cao hơn sản lượng nếu chỉ sản xuất trong nước
Trang 12Bước 4: Nhận định về quan điểm kinh tế của Adam Smith
- Thấy được tính ưu việt của chuyên môn hóa trong phân công lao động quốc tế, nhưng đã không tính đến sự khác biệt giữa các quốc gia về thể chế chính trị, phong tục tập quán …
- Lý thuyết lợi thế tuyệt đối không giải thích được trong trường hợp một nước có lợi thế tuyệt đối để sản xuất tất cả sản phẩm và một nước không có bất kỳ một lợi thế tuyệt đối nào, sẽ tham gia mậu dịch quốc tế và hưởng lợi ích như thế nào?
1.1.3 Lý thuyết so sánh của Ricado
David Ricado (1772 – 1823) là nhà duy vật, nhà kinh tế học người Anh (gốc Do Thái) Ông được Các Mác đánh giá là người “đạt tới đỉnh cao nhất của kinh tế chính trị tư sản cổ điển”.Tác phẩm nổi tiếng của ông là “ những nguyên lý kinh tế chính trị và thuế” xuất bản
1817
Quan điểm kinh tế cơ bản
- Mọi quốc gia đều có lợi khi tham gia giao thương với quốc gia khác Bởi vì: tồn tại
sự khác biệt trong tương quan giá cả giữa hai quốc gia (mỗi quốc gia đều có lợi thế
so sánh)
- Một quốc gia có thể chuyên môn hóa và xuất khẩu sản phẩm họ có lợi thế so sánh (nghĩa là sản phẩm không có lợi thế tuyệt đối so với nước kia, nhưng có lợi thế tuyệt đối lớn hơn giữa hai sản phẩm trong nước) và nhập khẩu sản phẩm mà họ không có lợi thế so sánh
- Giao thương mở rộng khả năng tiêu thụ của tất cả các nước
- Quy luật lợi thế so sánh
Giả thiết:
- Chỉ có 2 quốc gia và 2 loại sản phẩm
- Mậu dịch tự do
Trang 13- Lao động có thể chuyển dịch hoàn toàn chỉ trong phạm vi một quốc gia
- Chi phí sản xuất là cố định
- Không có chi phí vận chuyển
- Giá trị sản phẩm được tính trên chi phí lao động
Phát biểu:
Nếu quốc gia I sản xuất được a1 sản phẩm A và b1 sản phẩm B, quốc gia II sản xuất được
a2 sản phẩm A và b2 sản phẩm B, thì quốc gia I sẽ xuất khẩu sản phẩm A và nhập khẩu sản phẩm B khi a1/a2 >b1/b2 và quốc gia II sẽ xuất khẩu sản phẩm B và nhập khẩu sản phẩm A
Và ngược lại
Ví dụ minh họa
Đề bài: Giả sử một giờ lao động ở Mỹ sản xuất được 6 giạ lúa mì hay 4m vải, trong khi đó
ở Anh 1giờ lao động sản xuất được 2 mét vải hoặc 1 giạ lúa mì
Yêu cầu:
1 Phân tích lợi thế của hai quốc gia?
2 So sánh năng suất giữa hai quốc gia?
3 Phân công lao động theo quy luật lợi thế so sánh?
4 Lợi ích của hai quốc gia?
Bài giải:
1 Phân tích lợi thế của hai quốc gia
Quốc gia Mỹ có lợi thế tuyệt đối về sản xuất lúa mì và vải khi so sánh với Quốc gia Anh
- 1 giờ lao động ở Quốc gia Mỹ sản xuất được 6 giạ lúa mì, còn ở Quốc gia Anh là 1 giạ
- 1 giờ lao động ở Quốc gia Mỹ sản xuất được 4 m vải, còn ở Quốc gia Anh là 2 m
2 So sánh năng suất hai sản phẩm giữa hai quốc gia:
Trang 14- So sánh tỷ lệ năng suất sản xuất lúa mì giữa Quốc gia Mỹ và Quốc gia Anh: 6/1
- So sánh tỷ lệ năng suất sản xuất vải giữa Quốc gia Mỹ và Quốc gia Anh :4/2
3 Phân công lao động theo quy luật lợi thế so sánh:
- Quốc gia Mỹ sẽ xuất khẩu lúa mì sang Quốc gia Anh và nhập khẩu vải từ Quốc gia Anh
- Quốc gia Anh sẽ xuất khẩu vải sang Quốc gia Mỹ và nhập khẩu lúa mì từ Quốc Mỹ
4 Lợi ích hai quốc gia nhận được với giả định tỷ lệ trao đổi là 1 giạ lúa mì đổi 1m vải
Quốc gia Mỹ xuất khẩu 6 giạ lúa mì cho Anh để nhận về 6m vải:
- 6 giạ lúa mì = 1 giờ lao động, trong khi 6 m vải = 1 ½ giờ
Như vậy Quốc gia Mỹ đã tiết kiệm được ½ giờ lao động
Tại Quốc gia Anh, xuất khẩu 6 m vải và nhận về 6 giạ lúa mì:
- 6 giạ lúa mì = 6giờ lao động, với 6 giờ lao động này, Quốc gia Anh có thể sản xuất
6 giờ x 2 m vải = 12 m vải
Như vậy, Quốc gia Anh đã thặng dư 6m vải
Nhận định về quan điểm kinh tế của Ricardo
Ưu điểm:
Lý thuyết của Ricardo chứng minh được lợi ích của thương mại quốc tế
Quy luật lợi thế so sánh của Ricardo là một trong những quy luật quan trọng nhất của kinh
tế quốc tế, đặt nền móng cho mậu dịch quốc tế
Nhược điểm:
- Các phân tích của Ricado không tính đến nhu cầu tiêu dùng của mỗi nước nên với
lý thuyết này không thể xác định giá tương đối mà các nước dùng để trao đổi sản phẩm
- Chi phí sản xuất chỉ tính đến yếu tố lao động và mang tính đồng nhất, các yếu tố khác như vốn, kỹ thuật, đất đai không được đề cập đến, Vì vậy, các phân tích của
Trang 15Ricado không giải thích được nguồn gốc phát sinh sự thuận lợi của mỗi nước đối với một loại sản phẩm nào đó, cho nên không giải thích triệt để nguyên nhân sâu xa của quá trình thương mại quốc tế
- Không xác định được tỷ lệ giao hoán quốc tế, căn bản vẫn chỉ là hàng đổi hàng
1.1.4 Lý thuyết chi phí cơ hội của Haberler
Chi phí cơ hội
Khái niệm chi phí cơ hội: Theo Gottfried Haberler (1936), chi phí cơ hội của sản phẩm
X là số lượng một sản phẩm khác phải hy sinh để có đủ tài nguyên làm tăng thêm một đơn
Tương tự, để sản xuất 6 giạ lúa mì, phải hy sinh không sản xuất 4m vải chi phí cơ hội của
1 giạ lúa mì là 4/6 hay 2/3 m vải
Quy luật lợi thế so sánh trên cơ sở chi phí cơ hội
Ricardo xem xét giá trị của một sản phẩm chỉ dựa trên chi phí lao động Trên thực tế, lao động không phải là yếu tố sản xuất duy nhất Quy luật lợi thế so sánh được hoàn thiện hơn khi sử dụng khái niệm chi phí cơ hội của Haberler để giải thích
Trang 16Cơ sở mậu dịch với chi phí cơ hội không đổi
Giới hạn khả năng sản xuất với chi phí cơ hội không đổi
Khái niệm đường giới hạn sản xuất: là đường chỉ ra sự kết hợp thay thế nhau của hai sản
phẩm mà quốc gia có thể sản xuất khi sử dụng toàn bộ tài nguyên với kỹ thuật là tốt nhất
Khi chi phí cơ hội không đổi, đường giới hạn sản xuất là đường thẳng
0
Ví dụ minh họa:
Giả sử tập trung toàn bộ yếu tố để sản xuất lúa mì, Mỹ có thể sản xuất được 180 triệu giạ lúa, còn nếu tập trung toàn bộ yếu tố để sản xuất vải, sản lượng sẽ là 120 triệu mét vải Chi phí cơ hội không đổi
Yêu cầu:
1 Lập bảng khả năng sản xuất thay thế, chi phí cơ hội?
2 Vẽ đường giới hạn sản xuất?
Sản Phẩm A Sản
Phẩm B
Trang 17Bài giải:
1 Bảng khả năng sản xuất thay thế
Chi phí cơ hội của 1 giạ lúa mì là : 120/180 = 2/3
Bảng khả năng sản xuất thay thế giữa lúa mì và vải tại Mỹ được lập như sau:
- Sử dụng hệ trục tọa độ V, L (Vải, lúa)
- Với chi phí cơ hội không đổi, đường giới hạn khả năng sản xuất của Mỹ sẽ
là đường thẳng được xác định bởi 2 điểm (120, 0) và (0, 180)
0
180 Lúa mì (triệu giạ)
(Triệu m)Vải
120
Đường giới hạn khả năng SX
Trang 181 Tính toán chi phí cơ hội của vải
2 Lập bảng khả năng sản xuất thay thế
3 Vẽ đường giới hạn sản xuất
Bài giải
- Chi phí cơ hội của vải:
- Bảng khả năng sản xuất thay thế:
Lúa mì (triệu giạ) Vải (triệu mét)
Trang 19- Đường giới hạn sản xuất
Lợi ích của mậu dịch với chi phí cơ hội không đổi
Cơ sở của mậu dịch
- Chi phí cơ hội là không đổi trong một quốc gia, nhưng lại khác biệt giữa các quốc gia Đây là cơ sở để sinh ra mậu dịch
- Nếu không có mậu dịch, một quốc gia chỉ có thể tiêu dùng trong giới hạn sản xuất của mình Nếu các quốc gia có mậu dịch, chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm có lợi thế so sánh, các quốc gia đó sẽ được hưởng lợi ích từ mậu dịch và giới hạn tiêu dùng vượt khỏi giới hạn sản xuất
Phân tích lợi ích của mậu dịch
Đối với Quốc gia Mỹ
- Trường hợp không có mậu dịch: Nếu Mỹ lựa chọn mức sản xuất là (90L, 60V), nghĩa là 90 triệu giạ lúa và 60 triệu mét vải, đây cũng là giới hạn tiêu dùng
Trang 20- Trường hợp có mậu dịch với Anh: theo lợi thế so sánh, Mỹ sẽ chuyên môn hóa sản xuất lúa mì, mức sản xuất là (180L, 0V) Nếu tỷ lệ trao đổi là 1L:1V, Mỹ có thể dùng 60 triệu giạ lúa để đổi 60 triệu mét vải, mức tiêu dùng lúc này có thể đạt tới (120L, 60V) nghĩa là 120 triệu giạ lúa và 60 triệu mét vải, hưởng lợi ích
30 triệu giạ lúa
Đối với Quốc gia Anh
- Trường hợp không có mậu dịch: Nếu Anh lựa chọn mức sản xuất là (30L, 60V), nghĩa là 30 triệu giạ lúa và 60 triệu mét vải, đây cũng là giới hạn tiêu dùng
- Trường hợp có mậu dịch với Mỹ: theo lợi thế so sánh, Anh sẽ chuyên môn hóa sản xuất vải, mức sản xuất là (0L, 120V) Nếu tỷ lệ trao đổi là 1L:1V, Anh có thể dùng 60 triệu mét vải để đổi 60 triệu giạ lúa, mức tiêu dùng lúc này có thể đạt tới (60L, 60V) nghĩa là 60 triệu giạ lúa và 60 triệu mét vải, hưởng lợi ích 30 triệu giạ lúa
2.Cân bằng quốc tế với chi phí cơ hội gia tăng
Đường giới hạn khả năng sản xuất
Là đường mô tả các tổ hợp sản lượng hàng hóa tối đa mà nó có thể sản xuất ra được khi sử dụng toàn bộ các nguồn lực sẵn có
Chi phí cơ hội gia tăng
Là quốc gia phải hy sinh (bỏ ra) nhiều và nhiều hơn một sản phẩm để dành tài nguyên cho việc sản xuất một đơn vị sản phẩm khác
Đường bàng quan xã hội
Là đường chỉ ra những kết hợp khác nhau của hai sản phẩm mà sản lượng của chúng tương đường (bằng) với sự thỏa mãn đúng như nhau của người tiêu dùng
Cân bằng chung trong nền kinh tế đơn lẻ
Trang 21Điều kiện mậu dịch và sự khác biệt thị hiếu như một cơ sở của mậu dịch
Từ đầu chương tới giờ, chúng ta đã thấy sở dĩ có sự khác nhau trong giá cả sản phẩm so sánh giữa quốc gia 1 và quốc gia 2 là do có sự khác nhau về quan hệ cung, cầu, hay nói chính xác hơn là sự khác nhau giữa hai quốc gia về đường giới hạn khả năng sản xuất
Tóm lại, trong chương này chúng ta nghiên cứu các học thuyết về thương mại quốc tế: Học thuyết lợi thế tuyệt đối, học thuyết lợi thế so sánh, học thuyết về chi phí cơ hội không đổi, học thuyết về mậu dịch quốc tế trên cơ sở tỷ lệ so sánh giá cả của sản phẩm Cụ thể:
Thứ nhất, nhờ có chuyên môn hóa sản xuất và thương mại các quốc gia đạt được tiêu dùng cao hơn khả năng sản xuất của mình
Thứ hai, quy mô tiêu dùng của các quốc gia tăng lên so với tình trạng đóng cửa, tự cung
tự cấp
Thứ ba, tài nguyên, nguồn lực của thế giới được sử dụng có hiệu quả hơn Bởi vì các quốc gia chuyển tài nguyên, nguồn lực kinh tế từ sản phẩm được sản xuất với chi phí cao sang sản xuất sản phẩm có chi phí thấp
Thứ tư, chi phí tiêu dùng của người tiêu dùng giảm, do người tiêu dùng mua được những sản phẩm nhập khẩu với giá rẻ hơn
Trang 22CÂU HỎI ÔN TẬP PHẦN LÝ THUYẾT
1 Trình bày nội dung của học thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh?
2 Phân biệt lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh?
3 Hãy nêu những điểm ưu việt của học thuyết lợi thế so sánh với học thuyết lợi thế tuyệt đối?
4 Bản chất và nội dung của học thuyết chi phí cơ hội không đổi của Haberler?
3
2
5
1
Giả sử nguồn tài nguyên quốc gia 1 là: 1200 giờ lao động; quốc gia 2 là: 800 giờ lao động
1 Quốc gia 1 và quốc gia 2 dành 50% nguồn tài nguyên của mình cho mỗi sản phẩm Xác định mô hình sản xuất, tiêu dùng khi hai quốc gia thực hiện chính sách đóng cửa kinh tế
2 Xác định cơ sở, mô hình, điều kiện thương mại của hai quốc gia
3 Giả sử hai quốc gia thực hiện chuyên môn hóa hoàn toàn, số lượng thương mại: 100 sản phẩm Lê, 400 sản phẩm Nho Xác định lợi ích sản xuất, tiêu dùng của hai quốc gia
4 Tính tỷ lệ thương mại của hai quốc gia
Trang 235 Với tỷ lệ thương mại là bao nhiêu thì lợi ích từ thương mại của hai quốc gia là bằng nhau?
6 Với tỷ lệ thương mại 5 nho = 8 lê thì thương mại của hai quốc gia có xảy ra không?
2 Xác định cơ sở, mô hình, điều kiện thương mại của hai quốc gia
3 Giả sử hai quốc gia thực hiện chuyên môn hóa hoàn toàn và thương mại với số lượng: 3000 sản phẩm X, 3250 sản phẩm Y Xác định lợi ích sản xuất, tiêu dùng của hai quốc gia
4 Tính tỷ lệ thương mại của hai quốc gia
5 Với tỷ lệ thương mại là bao nhiêu thì lợi ích từ thương mại của hai quốc gia là bằng nhau
6 Với tỷ lệ thương mại 6X = 6,5 Y, số lượng thương mại như trên, thì mỗi quốc gia tiết kiệm được bao nhiêu nguồn tài nguyên thời gia lao động
7 Xác định miền tỷ lệ thương mại để quốc gia 1 có lợi ích từ thương mại lớn hơn quốc gia 2
Trang 24CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH HECSHER – OHLIN
Chúng ta đã biết nguyên nhân thương mại quốc tế là sự khác nhau trong cung, cầu của hai quốc gia Bởi vì sự khác biệt cung, cầu của hai quốc gia là nguồn gốc cho sự khác nhau về giá cả so sánh giữa các sản phẩm, cơ sở cho quốc gia xác định lợi thế của mình
so với quốc gia khác
Mục tiêu:
- Trình bày được mô hình Hecsher – Ohlin
- Trình bày được định luật Rybczynski
- Trình bày được định luật Hecscher – Ohlin
- Trình bày được định luật Stolper – Samuelson
- Trình bày được định luật cân bằng giá yếu tố sản xuất
Nội dung
1 Mô hình Hecksher – Ohlin
2 Định luật Rybczynski
3 Định luật Hecscher – Ohlin
4 Định luật Stolper – Samuelson
5 Định luật cân bằng giá yếu tố sản xuất
6 Mở rộng lý thuyết Hecscher – Ohlin
1 Mô hình Hecksher – Ohlin
1.1 Những giả thíết của lý thuyết Hecksher - Ohlin
Theo Heckscher – Ohlin một quốc gia có lợi thế so sánh và xuất khẩu sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố sản xuất mà quốc gia tương đối dư thừa với giá rẻ; không có lợi thế so sánh
và nhập khẩu sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố sản xuất mà quốc gia khan hiếm tương đối với giá đắt
Trang 25Cũng như tất cả các học thuyết khoa học khác về thương mại quốc tế, nhằm giải quyết thấu đáo vấn đề và có những kết luận thuyết phục, mang tính phổ biến; Heckscher – Olin đưa
ra các giả thuyết sau:
- Chỉ nghiên cứu hai quốc gia, hai sản phẩm, hai yếu tố chủ yếu của sản xuất (lao
động và vốn)
- Hai quốc gia có trình độ kỹ thuật sản xuất như nhau
- Một quốc gia thâm dụng lao động, một sản phẩm, một sản phẩm thâm dụng vốn
- Tỷ lệ yếu tố sản xuất sử dụng trong sản phẩm không đổi ở cả hai quốc gia
- Chuyên môn hóa sản xuất không hoàn toàn ở hai quốc gia
- Thị hiếu tiêu dùng của hai quốc gia là như nhau
- Cạnh tranh là hoàn hảo tại thị trường sản phẩm cũng như thị trường yếu tố sản xuất
tại hai quốc gia
- Yếu tố sản xuất chỉ di chuyển trong nội bộ quốc gia chưa nghiên cứu sự di chuyển
quốc tế về yếu tố sản xuất
- Loại trừ chi phí vận chuyển, thuế nhập khẩu và các rào cản khác cản trở hàng hóa
lưu thông tự do
- Nguồn lực yếu tố sản xuất của quốc gia được toàn dụng
- Cân thanh toán của hai quốc gia cân bằng
- Tính thâm dụng của yếu tố sản xuất
Giả sử có tài liệu về tình hình sử dụng yếu tố sản xuất của hai sản phẩm vải và thép của một quốc gia như bảng sau:
Giả sử có số liệu sau:
Trang 26Để sản xuất thép và vải quốc gia đều phải chi phí vốn và lao động Tuy nhiên, nếu chỉ xem xét đơn thuần về lượng yếu tố sản xuất đầu vào hao phí thì chúng ta nhận thấy sản phẩm thép có chi phí lao động nhiều hơn sản phẩm vải
1.2 Yếu tố tham dụng (factor intensity)
Trong phạm vi của hai sản phẩm (X và Y) và hai yếu tố sản xuất (lao động và tư bản), chúng ta nói rằng sản phẩm Y là sản phẩm thâm dụng tư bản (Capital – intensive) nếu tỷ
số tư bản/lao động (K/L) sử dụng trong sản xuất sản phẩm Y là lớn hơn K/L sử dụng trong sản xuất X
2 Định luật Rybczynski
Với giá so sánh không đổi và các yếu tố được sản xuất được toàn dụng, thì việc gia tăng số lượng của một yếu tố trong sản xuất sẽ làm tăng sản lượng của sản phẩm thâm dụng yếu tố
đó nhiều hơn và làm giảm sản lượng sản xuất của sản phẩm còn lại
3 Định luật Hecsher – Ohlin
Định luật Hecsher-Ohlin được xây dựng trên một số giả thiết nhằm làm cho vấn đề nghiên cứu trở nên đơn giản hơn và trực tiếp hơn Những giả thiết đó là:
- Đối tượng nghiên cứu chỉ bao gồm hai quốc gia (quốc gia 1 và quốc gia 2), hai sản
phẩm (sản phẩm X và sản phẩm Y) và hai yếu tố sản xuất (lao động và tư bản)
Ý nghĩa của giải thiết này làm cho việc minh họa lý thuyết trên đồ thị hai trục dễ dàng hơn
- Cả hai quốc gia cùng một trình độ kỹ thuật-công nghệ như nhau Ý nghĩa của giả
thiết này là cả hai quốc gia có nguồn tài sản cố định được sử dụng với cùng trình độ
kỹ xảo Nói một cách khác, bản chất của giả thiết này là nếu giá cả yếu tố là giống nhau ở cả hai quốc gia thì các nhà sản xuất ở cả hai quốc gia sẽ sử dụng cùng một
số lượng lao động và tư bản như nhau để sản xuất mỗi một đơn vị sản phẩm Tuy nhiên, vì giá cả yếu tố thường là khác nhau trong mỡi quốc gia nên các nhà sản xuất
sẽ sử dụng nhiều hơn yếu tố nào rẻ hơn để đạt tới chi phí sản xuất là nhỏ nhất
Trang 27- Sản phẩm X là sản phẩm thâm dụng lao động và sản phẩm Y là sản phẩm thâm dụng
tư bản ở cả hai quốc gia Giả thiết này có nghĩa là sản phẩm X đòi hỏi nhiều lao động hơn so với tư bản và ngược lại, để sản xuất ra sản phẩm Y đòi hỏi tư bản nhiều hơn so với lao động Nói một cách chính xác hơn, điều đó có nghĩa là tỷ lệ lao động trên tư bản (L/K) là cao hơn ở sản phẩm X so với sản phẩm Y ở cả hai quốc gia tại cùng một giá cả yếu tố Hay ngược lại, có thể nói tỷ lệ tư bản trên lao động (K/L) là thấp hơn ở sản phẩm X so với sản phẩm Y ở hai quốc gia tại cùng một giá cả yếu
tố
- Lợi suất theo quy mô không đổi (Constant returns to scale) trong sản xuất cả hai sản
phẩm ở hai quốc gia Giải thiết này có nghĩa là sự tăng lên về số lượng lao động và
tư bản để sản xuất bất cứ sản phẩm nào đều làm tăng sản lượng sản phẩm đó đúng như thế
Ví dụ: Nếu quốc gia 1 tăng 10% lao động và tư bản để sản xuất sản phẩm X, thì sản lượng sản phẩm X cũng tăng lên 10% Nếu quốc gia tăng gấp đôi lao động và tư bản thì sản lượng sản phẩm X cũng tăng lên gấp đôi Cũng tương tự như vậy đối với sản phẩm Y trong quốc gia 2
- Chuyên gia hóa không hoàn toàn trong sản xuất ở cả hai quốc gia Giả thiết này có
nghĩa là ngay cả khi mậu dịch, hai quốc gia vẫn tiếp tục sản xuất cả hai sản phẩm Như vậy có nghĩa là không có quốc gia nào là rất nhỏ
- Thị hiếu hay sở thích người tiêu dùng giống nhau ở cả hai quốc gia Nếu thể hiện
trên đồ thị thì giả thiết này có nghĩa là hình dạng và vị trí của đường bàng quan là đồng nhất ở hai quốc gia Vì vậy, khi giá cả sản phẩm so sánh là bằng nhau, hai quốc gia sẽ tiêu dùng X và Y với cùng một tỷ lệ
- Cạnh tranh hoàn hảo trong cả hai sản phẩm và thị trường yếu tố sản xuất: Giả thiết
này có nghĩa là vai trò của nhà sản xuất, người tiêu dùng, chủ sở hữu các yếu tố sản xuất và thương gia là rất nhỏ để tác động lên giá cả sản phẩm X và Y Trong cạnh
Trang 28tranh hoàn hảo, họ đều có kiến thức và sự hiểu biết như nhau về giá cả sản phẩm ở mọi vùng và mọi ngành của quốc gia
- Các yếu tố sản xuất chuyển động hoàn toàn trong mỗi quốc gia nhưng không chuyển
động trên địa bàn quốc tế Nghĩa là trong phạm vi mỗi quốc gia, lao động và tư bản
là tự do di chuyển từ vùng này sang vùng khác, từ ngành này sang ngành khác, từ những nơi có tiền công thấp hơn đến những nơi có tiền công cao hơn Quá trình di chuyển này cứ tiếp tục cho đến khi tiền lương cho chính một loại lao động và tư bản
là giống nhau ở mọi miền và mọi ngành của đất nước Tuy nhiên, trên địa bàn quốc
tế lại không có sự di chuyển đó, tức là không có sự chuyển động tư bản và lao động giữa các quốc gia
- Mậu dịch quốc tế là hoàn toàn tự do, không tính chi phí vận chuyển, không có thuế
quan và những cản trở khác Giả thiết này có nghĩa là chuyên môn hoa sản xuất cứ tiếp tục đến khi giá cả sản phẩm so sánh là như nhau ở cả hai quốc gia
4 Định luật Stolper – Samuelson
Trong nền kinh tế học hiện đại xuất hiện thị trường yếu tố sản xuất và tất nhiên giá cả yếu
tố sản xuất phụ thuộc vào quan hệ cung, cầu thị trường Cung yếu tố sản xuất của quốc gia
mà lớn thì giá yếu tố sản xuất sẽ rẻ và ngược lại Do sự khác biệt về giá yếu tố sản xuất mà các quốc gia có lợi thế về sản phẩm Ví dụ: Việt Nam so với nhiều quốc gia có nguồn lao động dồi dào (dư thừa) nên giá nhân công rẻ Từ lợi thế về giá nhân công Việt Nam có lợi thế về các sản phẩm sử dụng nhiều lao động như: sản phẩm dệt may, da giày, hàng thủ công mỹ nghệ v v … Năm 1941 Wolfgang Stolper và Paul Samuelson đã đưa ra lý thuyết mang tên hai ông – Lý thuyết Stolper – Samuelson (The Stolper – Samuelson theorem)
Nội dung của của lý thuyết như sau: với đều kiện toàn dụng nguồn lực sản xuất, thương mại quốc tế làm tăng giá cả yếu tố sản xuất quốc gia dư thừa và làm giảm giá cả yếu tố sản xuất mà quốc gia khan hiếm; thương mại quốc tế làm tăng thu nhập của chủ sở hữu yếu tố sản xuất quốc gia dư thừa và giảm thu nhập của chủ sở hữu yếu tố sản xuất mà quốc gia khan hiếm
Trang 29Ví dụ: So với nhiều quốc gia khác Việt Nam dư thừa yếu tố lao động, khan hiếm yếu tố vốn; dẫn đến giá lao động so với giá vốn rẻ, giá vốn cao Vì vậy Việt Nam có lợi thế về những sản phẩm sử dụng nhiều lao động như: Sản phẩm dệt may, giày da, hàng thủ công
mỹ nghệ v.v … không có lợi thế về những sản phẩm sử dụng nhiều vốn Khi tiến hành thương mại với các nước trong khu vực và thế giới, Việt Nam chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm sử dụng nhiều lao động Quá trình chuyên môn hóa mở rộng sản xuất và thương mại đòi hỏi một lượng lớn lao động được huy động vào quá trình sản xuất và tất yếu là giá lao động tăng lên, thu nhập của người lao động tăng Bên cạnh đó chúng ta lại thu hẹp sản xuất và nhập khẩu những sản phẩm sử dụng nhiều vốn sẽ dẫn đến nhu cầu vốn của chúng ta giảm đi; kết quả giá vốn giảm, thu nhập của chủ sở hữu vốn giảm
5 Định luật cân bằng yếu tố sản xuất
Để khắc phục những hạn chế của Ricardo, E.Heckscher (1919) và B.Ohlin trong tác phẩm
“Thương mại liên khu vực và quốc tế” xuất bản năm 1933 đã cố gắng giải thích hiện tượng thương mại quốc tế như sau: “Trong một nền kinh tế mở cửa mỗi nước đều tiến đến chuyên môn hóa ngành sản xuất mà cho phép sử dụng nhiều yếu tố sản xuất đối với nước đó là thuận lợi nhất” Nói một cách khác bằng cách thừa nhận là mỗi sản phẩm đòi hỏi một sự liên kết khác nhau các yếu tố sản xuất (vốn, lao động, tài nguyên, đất đai…) và có sự chênh lệch giữa các nước về yếu tố này, mỗi nước sẽ chuyên môn hóa trong những ngành sản xuất cho phép sử dụng các yếu tố với chi phí rẻ hơn, chất lượng tốt hơn so với các nước khác Như vậy cơ sở của sự trao đổi buôn bán quốc tế H-O (Heckscher-Ohlin) là lợi thế tương đối Hệ số biểu thị lợi thế tương đối này (còn gọi là lợi thế so sánh) được viết tắt là RCA (the Coefficient of Revealed Comparative Advantage)
6 Mở rộng lý thuyết Hecsher – Ohlin
Lý thuyết Hecscher – Ohlin có thể được coi là sự tổng hợp của hai lý thuyết: Lý thuyết xem xét và dự đoán mô hình mậu dịch quốc tế (lý thuyết H-0) và lý thuyết cân bằng giá cả
Trang 30yếu tố lý thuyết này xem xét tác động của mậu dịch quốc tế lên giá cả của yếu tố sản xuất Góp phần nghiên cứu hoàn thiện lý thuyết này có cả Paul A Samuelson – nhà kinh tế học nổi tiếng người Mỹ nên lý thuyết còn được gọi là lý thuyết H-O-S, tên của ba nhà kinh tế học Hecscher-Ohlin-Samuelson
Lý thuyết xem xét và dự đoán mô hình mậu dịch (lý thuyết H-O)
Một quốc gia sẽ xuất khẩu sản phẩm thâm dụng yếu tố mà quốc gia đó dư thừa tương đối
và nhập khẩu sản phẩm thâm dụng yếu tố mà quốc gia khan hiếm tương đối
Trong ví dụ nghiên cứu trước đây của chúng ta, quốc gia 1 xuất khẩu sản phẩm X vì X là sản phẩm thâm dụng lao động mà lao động là yếu tố dư thừa tương đối và rẻ ở quốc gia 1 Còn quốc gia 2 xuất khẩu sản phẩm Y vì Y là sản phẩm thông dụng tư bản mà tư bản là yếu tố thừa tương đối và rẻ ở quốc gia 2 Ngược lại, quốc gia 1 nhập khẩu sản phẩm Y vì
Y là sản phẩm thâm dụng tư bản mà tư bản là yếu tố khan hiếm tương đối của quốc gia này Còn quốc gia 2 sẽ nhập khẩu sản phẩm X vì X là sản phẩm thâm dụng lao động mà lao động là yếu tố khan hiếm tương đối của quốc gia này Như vậy, lý thuyết H-O đã giải thích sự khác nhau trong giá cả sản phẩm so sánh hay lợi thế so sánh giữa các quốc gia chính là sự khác nhau giữa các yếu tố thừa tương đối hoặc khan hiếm tương đối hay nguồn lực sản xuất vốn của mỗi quốc gia
Như chúng ta đã biết giá cả sản phẩm được hình thành từ rất nhiều yếu tố Bắt đầu là sự kết hợp giữa thị hiếu hay sở thích người tiêu dùng với sự phân phối thu nhập để tạo nên cầu đối với sản phẩm cuối cùng Đến lượt mình, cầu đối với sản phẩm cuối cùng là cơ sở
để xác định cầu đối với yếu tố sản xuất Cùng với cung yếu tố sản xuất, cầu yếu tố sản xuất
sẽ xác định giá cả yếu tố sản xuất Cuối cùng, giá cả yếu tố sản xuất kết hợp với kỹ thuật công nghệ để tạo nên giá cả sản phẩm Trình tự và mối liên hệ giữa các nhân tố để tạo nên giá cả của sản phẩm
Trang 31
Sự khác nhau trong giá cả sản phẩm giữa 2 quốc gia xác định lợi thế so sánh và mô hình mậu dịch,tức là quyết định quốc gia nào sẽ xuất khẩu sản phẩm gì
Lý thuyết cân bằng giá cả yếu tố (lý thuyết H-O-S)
Mậu dịch quốc tế sẽ dẫn đến sự cân bằng tương đối và tuyệt đối lợi suất của các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia
Bản chất của lý thuyết này là mậu dịch quốc tế sẽ làm cho tiền lương của các lao động đồng nhất giữa các quốc gia tham gia mậu dịch là như nhau Lao động đồng nhất ở đây được hiểu là lao động có cùng một trình độ kĩ thuật, tay nghề và năng suất như nhau.Tư bản đồng nhất là tư bản có cùng một năng suất và một sự rủi ro như nhau.Nói một cách cụ thể hơn, mậu dịch quốc tế sẽ làm cho tiền lương và lãi suất là như nhau ở quốc gia 1 và quốc gia 2.Tức là giá cả yếu tố tương đối và tuyệt đối sẽ là cân bằng
Chúng ta biết rằng khi không có mậu dịch, giá cả so sánh sản phẩm X là thấp hơn ở quốc gia 1 so với quốc gia 2.Khi có mậu dịch, quốc gia 1 sẽ chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm
X (sản phẩm thâm dụng lao động) và giảm sản xuất sản phẩm Y(sản phẩm thâm dụng tư bản).Do đó cầu tương đối về lao động tăng làm cho lương tăng, trong khi đó,cầu tương đối
về tư bản giảm làm cho lãi suất giảm.Ngược lại, đối với quốc gia 2, cũng xảy ra tương tự,tức là khi quốc gia 2 chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm Y và giảm sản xuất sản phẩm
X làm cho cầu tương đối về lao động giảm và cầu tương đối về tư bản tăng, tức là lương giảm và lãi suất tăng
Như vậy, mậu dịch quốc tế đã làm cho lương tăng trong quốc gia 1 (quốc gia vốn có giá nhân công rẻ) và giảm trong quốc gia 2 (quốc gia vốn có giá nhân công mắc).Hay nói một cách khác, mậu dịch quốc tế đã làm giảm bớt sự cách biệt và tiền lương giữa hai quốc gia
Ngày nay mô hình Hecscher – Ohlin vẫn được các nhà kinh tế thế giới tiếp tục nghiên cứu
và mở rộng để giải thích một cách xác đáng hơn nguyên lý của mậu dịch quốc tế trong điều
Trang 32kiện có thêm các nhân tố như tài nguyên thiên nhiên, vốn con người, kĩ năng lao động, nhiều loại sản phẩm v.v…
Tóm lại, trong chương này chúng ta nghiên cứu các học thuyết về thương mại quốc tế: Học thuyết lợi thế về nguồn lực yếu tố sản xuất (H-O), học thuyết lợi thế về giá yếu tố sản xuất, học thuyết của Rybczynski; học thuyết Stolper-samuelson
Dựa trên chi phí lao động, chi phí tài nguyên, chi phí cơ hội giá cả của sản phẩm, sự khác biệt về nguồn lực và giá cả yếu tố v.v… các quốc gia sẽ tìm thấy những sản phẩm mà mình
có lợi thế và tiến hành thương mại quốc tế mà các quốc gia và cả nền kinh tế thế giới thu được những nguồn lợi
Trang 33CÂU HỎI ÔN TẬP
PHẦN LÝ THUYẾT
1 Trình bày Mô hình Hecksher – Ohlin
2 Trình bày định luật Rybczynski
3 Trình bày định luật Hecscher – Ohlin
4 Trình bày định luật Stolper – Samuelson
5 Trình bày định luật cân bằng giá yếu tố sản xuất
6 Trình bày lý thuyết Hecscher – Ohlin
1
3
4
2
Bài tập 2: Việt Nam và Nhật Bản sản xuất cả hai sản phẩm thép và lương thực với
tỷ lệ yếu tố sử dụng không đổi theo quy mô sản xuất Việt Nam dư thừa tương đối
về lao động so với Nhật Bản; lương thực là sản phẩm thâm dụng lao động so với sản phẩm thép ở cả hai quốc gia
Trang 341 Xác định mô hình thương mại của Việt Nam và Nhật Bản
2 Sản lượng lương thực và thép tại hai quốc gia sẽ biến động như thế nào, khi hai quốc gia tiến hành thương mại tự do
3 Tỷ lệ mậu dịch của hai quốc gia biến động như thế nào, khi hai quốc gia tiến hành thương mại tự do và trên thị trường Thế giới cầu về sản phẩm thép tăng nhanh hơn cầu về sản phẩm lương thực
Trang 35CHƯƠNG 3: CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Trong chương 1, đã giải đáp được câu hỏi:“Tại sao các quốc gia trên thế giới lại có thể giao thương được với nhau?” Tham gia thương mại quốc tế (xuất khẩu, nhập khẩu) các quốc gia thu được những nguồn lợi gì?
Chương 3 chúng ta sẽ xem xét tới chính sách thương mại, các nguyên tắc cơ bản đã và đang được các quốc gia cũng như cộng đồng Thế giới áp dụng để điều chỉnh quan hệ thương mại quốc tế
Mục tiêu
- Trình bày được các chính sách thương mại quốc tế
- Trình bày được chính sách thương mại tự do
- Trình bày được chính sách bảo hộ mậu dịch
- Vận dụng các lý thuyết về chính sách thương mại quốc tế
Nội dung
1.Thuế quan
2.Các công cụ phi thuế quan
3.Chính sách thương mại quốc tế
1 Thuế quan
1.1 Khái niệm
Thuế quan là công cụ phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại và gây áp lực đối với các bạn hàng phải nhượng bộ trong đàm phám
1.2 Các loại thuế quan
- Thuế tính theo giá trị: là thuế tính trên tỷ lệ giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu
Trang 36- Thuế tính theo số lượng: là thuế tính bằng số tiền nhất định trên mỗi đơn vị vật chất của hàng hóa xuất nhập khẩu
- Thuế quan hỗn hợp: là hình thức tính thuế kết hợp hai hình thức trên
1.3 Tỷ lệ bảo hộ thực sự
1.3.1 Thuế quan danh nghĩa và tỷ lệ bảo hộ thực sự
- Thuế quan danh nghĩa là thuế quan đánh trên hàng (sản phẩm cuối cùng) nhập khẩu hay xuất khẩu
- Tỷ lệ bảo hộ thực sự đối với một mặt hàng là chỉ số định lượng mức độ bảo hộ bằng thuế quan đối với nhà sản xuất trong nước
- Tỷ lệ bảo hộ thực sự được tính dựa trên thuế quan danh nghĩa và thuế quan đánh trên lượng yếu tố sản xuất nhập khẩu, theo công thức sau:
i
i i
a
t a t g
1Trong đó: g là tỷ lệ bảo hộ thực sự
t là thuế quan danh nghĩa
ai là tỷ lệ giữa giá trị nhập lượng nguyên liệu với giá trị sản phẩm cuối cùng khi không có thuế quan
ti là thuế quan đối với nhập lượng nguyên liệu
1.3.2 Ví dụ minh họa:
Giá sản phẩm Z trên thế giới là 100USD
Tại quốc gia A, cơ cấu sản phẩm Z gồm : 80USD (nguyên liệu, máy móc…) từ nhập khẩu
và 20USD từ giá trị nội địa thêm vào (lao động, lợi nhuận…)
Thuế quan danh nghĩa đối với mặt hàng Z là 10%
Yêu cầu phân tích:
Khi thuế quan đánh trên yếu tố sản xuất nhập khẩu là 0%, ta có tỷ lệ bảo hộ thực sự được tính như sau:
Tỷ lệ giá trị nhập khẩu và giá trị nội địa của sản phẩm:
Trang 37Nhận định: Từ công thức trên và những kết quả thu được qua sự tính toán trên, có thể rút
ra vài kết luận về mối tương quan giữa tỷ lệ bảo hộ thực sự với thuế quan quan danh nghĩa
- Nếu thuế quan danh nghĩa > thuế quan đánh trên yếu tố sản xuất nhập khẩu, tỷ lệ bảo hộ thực sự sẽ lớn hơn thuế quan danh nghĩa, có ý nghĩa kích thích hoạt động sản xuất trong nước
- Nếu thuế quan danh nghĩa = thuế quan đánh trên yếu tố sản xuất nhập khẩu, tỷ lệ bảo hộ thực sự sẽ bằng thuế quan danh nghĩa, có ý nghĩa kích thích hoạt động sản xuất trong nước
- Nếu thuế quan danh nghĩa < thuế quan đánh trên yếu tố sản xuất nhập khẩu, tỷ lệ bảo hộ thực sự sẽ nhỏ hơn thuế quan danh nghĩa, thậm chí âm, nghĩa là mang một tác dụng ngược lại, thay vì bảo hộ thì làm nản lòng các nhà sản xuất trong nước
Trang 382 Các công cụ phi thuế quan
Để hạn chế mậu dịch, ngoài thuế quan các quốc gia còn sử dụng một số công cụ khác được gọi là các hàng rào mậu dịch phi thuế quan (Nontariff Trade Barriers-viết tắt là NTBs)
2.1 Quota nhập khẩu (hạn ngạch nhập khẩu)
Khái niệm:
Quota xuất nhập khẩu là mức nhập khẩu hay xuất khẩu cao nhất của một sản phẩm trong một thời kỳ nhất định, thông qua hình thức cấp giấy phép xuất nhập khẩu
Đặc điểm của quota
Quota xuất nhập khẩu là hình thức quan trọng nhất trong các hàng rào mậu dịch phi thuế quan và tập trung chủ yếu vào quota nhập khẩu
Được sử dụng từ sau thế chiến lần thứ 2 và ngày nay được sử dụng rộng rãi ở hầu hết các nước
Mục đích chính của quota nhập khẩu là:
- Bảo vệ nền sản xuất trong nước, đặc biệt là những ngành sản xuất có tầm quan trọng với sự tồn vong của một quốc gia, ví dụ ngành nông nghiệp Việt Nam
- Giải quyết những vấn đề thuộc cán cân thanh toán
Trang 39Phân tích tác động của quota nhập khẩu
Ví dụ:
Sản phẩm X tại quốc gia A có hàm cung và cầu như sau
QD = 90 – 20p
QS = 10p Giá cả sản phẩm X trên thế giới là 1USD
Quota nhập khẩu sản phẩm X của quốc gia A là 30 sản phẩm
Phân tích
Khi mậu dịch quốc tế tự do (không có hạn ngạch), với giá 1USD
- Lượng cầu (thế vào phương trình): 70 sản phẩm
- Lượng cung trong nước (thế vào phương trình): 10 sản phẩm
- Lượng cung nhập khẩu là: 60 sản phẩm
Khi sử dụng quota để hạn chế mậu dịch (hạn ngạch là 30 sản phẩm)
- Lượng cung nhập khẩu tối đa là: 30 sản phẩm
- Hàm cung tổng hợp (nội địa và nhập khẩu) có dạng : QS = 30 + 10p
- Cân bằng cung, cầu ở mức giá 2 USD và 50 sản phẩm
- Lượng cung trong nước là 20 sản phẩm