Các cơ sở kinh doanh lưu trú du lịch Trong lịch sử phát triển của hệ thống cơ sở lưu trú du lịch có nhiều loại cơ sở lưu trú được hình thành và phát triển nhằm đáp ứng nh
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ THỦ ĐỨC
KHOA DU LỊCH
GIÁO TRÌNH HỌC PHẦN: TỔNG QUAN KHÁCH SẠN NGÀNH/NGHỀ: QUẢN TRỊ KHÁCH SẠN
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG
Ban hành kèm theo Quyết định số: ……/QĐ-CNTĐ-CN ngày tháng.….năm 20…… của
Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức
TP Hồ Chí Minh, năm 2021
Trang 2TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm
Trang 3LỜI GIỚI THIỆU
Ngày nay, khi du lịch ngày càng phát triển thì các hoạt động kinh tế du lịch ngày càng gắn bó
và phối hợp với nhau tạo thành một hệ thống chặt chẽ Du lịch được xem như một ngành công nghệ, hoạt động mang tính đồng bộ nhịp nhàn giữa các ngành: lữ hành, nhà hàng, khách sạn,…tất cả cùng mục tiêu chuyển nguồn lực, vốn, nguyên liệu thành những sản phẩm dịch vụ hàng hoá để cung cấp cho khách du lịch Đối với một nhân viên khách sạn phải biết được vị trí ngành nghề của mình trong hoạt động du lịch, có cái nhìn tổng quan về ngành nghề ở Việt Nam hiện nay Môn tổng quan khách sạn là một môn học quan trọng và không thể thiếu trong chương trình đào tạo ngành khách sạn Chính vì vậy, việc cung cấp các kiến thức trong môn học này cho sinh viên ngành khách sạn là việc làm hết sức cần thiết
Xuất phát từ yêu cầu đó, các tác giả đã biên soạn tài liệu giảng dạy: Tổng quan khách sạn Nội dung tài liệu cung cấp cho sinh viên mới một sự hiểu biết nhất định về nghề nghiệp mà bản thân muốn chọn lựa
Nội dung tài liệu giảng dạy được thiết kế gồm có 03 bài sau:
- Bài 1: Tổng quan du lịch
- Bài 2: Ngành kinh doanh khách sạn
- Bài 3: Phân loại, cơ cấu trong khách sạn
Trong quá trình biên soạn, các tác giả đã cố gắng vận dụng những cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm thực tế vào tài liệu Tuy nhiên, có thể tài liệu vẫn còn một số hạn chế nhất định Vì vậy, chúng tôi xin chân thành tiếp thu và ghi nhận những ý kiến đóng góp của quý đồng nghiệp và toàn thể bạn đọc để tài liệu được hoàn thiện hơn
TP.HCM, ngày 10 tháng 10 năm 2021
Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Hân
Trang 4MỤC LỤC
BÀI 1: TỔNG QUAN DU LỊCH 7
2 Các khái niệm cơ bản về du lịch 11
2.1 Du lịch 11
2.2 Khách du lịch 12
3 Sản phẩm du lịch 15
3.1 Khái niệm sản phẩm du lịch 15
3.2 Các thuộc tính sản phẩm du lịch 16
4 Kinh doanh lưu trú và ăn uống 18
4.1 Các cơ sở kinh doanh lưu trú du lịch 18
4.1.1 Khách sạn 19
4.1.2 Biệt thự du lịch 19
4.1.3 Căn hộ du lịch 20
4.1.4 Tàu thủy lưu trú du lịch 21
4.1.5 Nhà nghỉ du lịch 22
4.1.6 Nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê 22
4.1.7 Bãi cắm trại du lịch 23
4.1.8 Các cơ sở lưu trú du lịch khác (như Motel, Caraval,…) 24
4.2 Các cơ sở ăn uống du lịch (nằm ngoài khách sạn) 25
4.3 Quy trình kinh doanh lưu trú và ăn uống 28
5 Lao động du lịch 30
5.1 Đặc điểm chung 30
5.2 Đặc điểm của cơ cấu du lịch 30
5.3 Đào tạo nhân lực du lịch 31
5.3.1 Chuyên ngành Du lịch 31
5.3.2 Nội dung đào tạo 31
CÂU HỎI ÔN TẬP 32
BÀI 2: NGÀNH KINH DOANH KHÁCH SẠN 33
1 Lịch sử hình thành và phát triển của kinh doanh khách sạn thế giới 33
1.1 Từ thời cổ đại đến cuối thể kỷ XIX 33
1.2 Giai đoạn từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX 35
1.3 Từ đầu thế kỷ XX đến nay 35
2 Lịch sử hình thành và phát triển của kinh doanh khách sạn Việt Nam 37
3 Khái niệm và đặc điểm về kinh doanh khách sạn 39
3.1 Khái niệm kinh doanh khách sạn 39
3.2 Đặc điểm sản phẩm khách sạn 40
4 Hoạt động kinh doanh khách sạn 45
5 Vai trò – vị trí kinh doanh khách sạn 49
5.1 Vai trò – vị trí kinh doanh khách sạn trong đời sống kinh tế xã hội 49
Trang 55.2 Vai trò – vị trí của kinh doanh khách sạn đôi với hoạt động du lịch 51
BÀI 3: PHÂN LOẠI, CƠ CẤU TRONG KHÁCH SẠN 53
1 Một số thuật ngữ trong khách sạn 53
1.1 Từ viết tắc về các loại phòng 53
1.2 Từ viết tắt các loại giường 54
1.3 Viết tắt về tình trạng phòng 54
1.4 Từ viết tắt về các bữa ăn, thức uống 54
2 Phân loại khách sạn 55
2.1 Theo quy mô (scale) 55
2.2 Theo mức độ dịch vụ (Service level) 55
2.3 Theo hình thức sở hữu 56
2.4 Theo đặc điểm kinh doanh (Physical characteristic) 57
2.4 Theo vị trí địa lý (Location) 58
3 Xếp hạng khách sạn 59
3.1 Sự cần thiết của việc xếp hạng khách sạn 59
3.2 Xếp hạng khách sạn trên thế giới 59
3.3 Xếp hạng khách sạn tại Việt Nam 60
4 Cơ cấu tổ chức lao động khách sạn 62
4.1 Cơ cấu tổ chức và sơ đồ tổ chức khách sạn 62
4.2 Các bộ phận và phòng ban trong khách sạn 65
CÂU HỎI ÔN TẬP 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 6DANH MỤC BẢNG SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức của khách sạn nhỏ 62
Sơ đồ 3.2: Cơ cấu tổ chức của khách sạn trung bình 63
Sơ đồ 3.3: Cơ cấu tổ chức của khách sạn lớn 64
Sơ đồ 3.4: Sơ đồ tổ chức bộ phận buồng phòng 67
Trang 7GIÁO TRÌNH HỌC PHẦN
Tên học phần: Tổng quan khách sạn
Mã học phần: CSC115040
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của học phần:
- Vị trí: Học phần Tổng quan khách sạn là học phần bắt buộc thuộc phần cơ sở ngành
- Tính chất: Học phần Tổng quan khách sạn là học phần lý thuyết
- Ý nghĩa và vai trò của môn học/mô đun:
Mục tiêu của học phần:
- Về kiến thức:
Trình bày được các khái niệm cơ bản về du lịch, sản phẩm du lịch, kinh doanh lưu trú
và ăn uống trong du lịch và lao động trong du lịch
Trình bày được quá trình lịch sử phát triển và hình thành ngành kinh doanh khách sạn, đặc điểm của hoạt động của ngành
Trình bày được mối quan hệ giữa kinh tế, xã hội – môi trường của ngành kinh doanh khách sạn
Trình bày được khái niệm khách sạn, cơ cấu tổ chức, sơ đồ tổ chức khách sạn và chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban trong khách sạn
Liệt kê được một số vị trí việc làm trong ngành khách sạn
- Về kỹ năng:
Phân biệt được các hoạt động kinh doanh khách sạn với các ngành nghề trong du lịch
Phân loại và xếp hạng được khách sạn theo tiêu chuẩn Việt Nam
Phân biệt được chức năng nhiệm vụ của các bộ phận và phòng ban trong khách sạn
Ứng dụng được các thuật ngữ cơ bản khách sạn trong hoạt động nghề nghiệp
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:
Hình thành quan điểm nghề nghiệp đúng đắn
Chủ động, tích cực tìm hiểu để mở rộng bài được học trên lớp
Nội dung của học phần:
BÀI 1: TỔNG QUAN DU LỊCH
Trang 8Giới thiệu: Đây là bài tổng quan về hoạt động du lịch để sinh viên hình dung việc
kinh doanh du lịch là kinh doanh những ngành nghề gì và mối quan hệ kinh doanh
khách sạn với những ngành nghề khác trong du lịch
Mục tiêu:
- Kiến thức:
+ Trình bày được các khái niệm cơ bản về du lịch, sản phẩm du lịch
+ Trình bày được hoạt động kinh doanh lưu trú và ăn uống trong du lịch
+ Liệt kê được đặc điểm lao động trong du lịch
- Kỹ năng
+ Phân biệt được các hoạt động kinh doanh trong ngành du lịch
+ Ứng dụng yêu cầu về ngành nghề để chọn công việc phù hợp
- Thái độ:
+ Chủ động tìm hiểu xu hướng ngành nghề hiện tại
+ Hình thành quan điểm nghề nghiệp đúng đắn
Nội dung chính:
1 Khái quát ngành du lịch ở Việt Nam
Trong những năm tháng chiến tranh, sự ra đời của ngành Du lịch Việt Nam (09/7/1960) là một dấu son lịch sử, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, phục vụ các đoàn khách du lịch ở trong và ngoài nước, đồng thời thể hiện tầm nhìn sâu rộng của Lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta
Ngày 09/7/1960, Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng đã thay mặt Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký ban hành Nghị định số 26 CP về việc thành lập Công ty
Du lịch Việt Nam trực thuộc Bộ Ngoại thương Đây là thời kỳ đất nước còn tạm thời bị chia cắt, trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt
Theo đó, Công ty Du lịch Việt Nam có nhiệm vụ đặt quan hệ và ký kết hợp đồng với các tổ chức du lịch nước ngoài, phối hợp với các tổ chức có liên quan ở trong nước để tổ chức cho khách nước ngoài vào du lịch Việt Nam và khách Việt Nam ra du lịch nước ngoài Hội đồng Chính phủ cũng giao Công ty Du lịch Việt Nam tổ chức và quản lý những cơ sở và những phương tiện cần thiết để phục vụ khách du lịch
Trang 9Trên cơ sở Nghị định 26 CP của Hội đồng Chính phủ, ngày 16/3/1963, Bộ Ngoại thương đã ban hành Quyết định số 164-BNT-TCCB quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Công
ty Du lịch Việt Nam
Về cơ cấu tổ chức, Công ty Du lịch Việt Nam có Giám đốc, các Phó Giám đốc và các phòng: phòng Nghiệp vụ du lịch, phòng Kế hoạch, phòng Vận chuyển, phòng Tài vụ, kế toán, phòng Tổ chức, hành chính
Đồng thời, văn bản của Bộ Ngoại thương cũng nêu rõ, theo mức độ phát triển của ngành Du lịch, sau khi được Bộ Ngoại thương đồng ý, Công ty có thể thành lập các đại diện của Công ty
ở nước ngoài, các chi nhánh du lịch ở địa phương, các khách sạn và các phương tiện vận chuyển đặc biệt trực thuộc sự quản lý của công ty Văn bản này thể hiện tầm nhìn sâu rộng của lãnh đạo Đảng và Nhà nước ngay từ những ngày đầu thành lập ngành Du lịch Thời kỳ này, đối tượng phục vụ của du lịch Việt Nam được cụ thể hóa gồm có: Khách du lịch từ nước ngoài vào
du lịch trong nước; Khách du lịch ở trong nước đi du lịch nước ngoài; Các đoàn thể cán bộ công nhân viên chức và nhân dân lao động Việt Nam đi tham quan nghỉ mát trong nước; Những khách nước ngoài gồm: các đoàn ngoại giao, các nhân viên của các sứ quán, các cơ quan đại diện, chuyên gia, các đoàn thể và nhân dân nước ngoài trong thời gian công tác tại Việt Nam Hoạt động của du lịch Việt Nam được kỳ vọng phát triển nguồn thu ngoại tệ, tăng tích luỹ cho Nhà nước phục vụ sản xuất, phục vụ dân sinh, phục vụ công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, tăng cường quan hệ giao dịch với các tổ chức du lịch nước ngoài góp phần nâng cao địa vị nước ta trên trường quốc tế Ngay từ lúc này, du lịch đã được nhận thức rõ ràng với vai trò là một ngành kinh tế mới trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, với những nhiệm vụ cụ thể như: nghiên cứu tình hình du lịch quốc tế để khai thác kinh doanh du lịch; mở rộng các cơ sở và tuyến du lịch để thu hút khách du lịch và phục vụ các yêu cầu của khách du lịch trong nước trong phạm vi có thể; phối hợp với các tổ chức có liên quan ở trong nước và chỉ đạo các cơ sở du lịch địa phương để đảm bảo phục vụ khách du lịch nước ngoài về mọi mặt như: ăn ngủ, vận chuyển, giải trí, tham quan và làm các thủ tục giấy tờ, đổi tiền; tổ chức việc bán vé máy bay, xe lửa, tàu biển cho các khách kể cả khách ngoại quốc và khách Việt Nam đi
ra nước ngoài Đồng thời, ngành Du lịch cũng có nhiệm vụ quan trọng là tuyên truyền, giới thiệu sâu rộng với khách du lịch nước ngoài và khách du lịch trong nước những danh lam thắng cảnh, những di tích lịch sử, những thành tích cách mạng, công cuộc xây dựng kiến thiết xã hội chủ nghĩa và truyền thống đấu tranh anh dũng lâu đời của nhân dân ta; đề xuất quy hoạch kiến thiết, tu sửa, trang trí, bảo quản các danh lam thắng cảnh, các trung tâm du lịch (di tích lịch sử,
di tích cách mạng, di tích văn hoá, suối nước nóng, rừng nguyên thủy, rừng săn bắn ) nhằm
Trang 10phát triển kinh doanh về du lịch Bên cạnh đó, Công ty Du lịch Việt Nam cũng được giao đảm nhiệm thêm một số nhiệm vụ như cùng với các cơ sở du lịch địa phương tổ chức hướng dẫn tham quan cho khách du lịch trong nước, các thuỷ thủ tàu ngoại quốc cập bến Hải Phòng, Cửa Ông, Hồng Gai Chỉ đạo các công ty cung ứng tàu biển địa phương về mặt nghiệp vụ, đôn đốc thực hiện tốt kế hoạch cung ứng tàu biển Công ty Du lịch Việt Nam còn có nhiệm vụ kinh doanh cung ứng các thực phẩm và một số hàng tiêu dùng cho các Đại sứ quán, đại diện thương mại của ta ở các nước tư bản chủ nghĩa, dân tộc chủ nghĩa và một số nước ta chưa có đại sứ quán
Đến ngày 18/8/1969, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 145 CP về việc chuyển giao Công ty Du lịch Việt Nam sang cho Phủ Thủ tướng quản lý, đánh dấu một bước chuyển mới trong tổ chức hoạt động của du lịch Việt Nam Nghị định nêu rõ chuyển giao Công
ty Du lịch Việt Nam và các tổ chức, các cơ sở thuộc Công ty này do Bộ Ngoại thương quản lý sang trực thuộc Phủ Thủ tướng Đồng thời, chuyển các khách sạn Thống Nhất, Hoà Bình do Cục Phục vụ - Ăn uống Bộ Nội thương quản lý sang Công ty Du lịch Việt Nam thuộc Phủ Thủ tướng quản lý
Những ngày đầu thành lập, trong điều kiện rất khó khăn khi đất nước còn chiến tranh, ngành Du lịch đã nỗ lực phấn đấu, vượt qua mọi thử thách, từng bước mở rộng các cơ sở du lịch ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Tam Đảo, Hòa Bình, Thanh Hoá, Nghệ An… Ngành
Du lịch đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, phục vụ an toàn, chất lượng một lượng lớn khách của Đảng và Nhà nước, các đoàn chuyên gia các nước Xã hội chủ nghĩa anh em vào giúp Việt Nam thực hiện 2 nhiệm vụ là xây dựng Xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước; đồng thời đón tiếp, phục vụ, đáp ứng nhu cầu du lịch, tham quan nghỉ mát của cán bộ, bộ đội và nhân dân
Ngày 09/7/1960 đã trở thành dấu son lịch sử đối với những thế hệ người làm du lịch Ngay từ những ngày đầu, Lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã xác định cụ thể nhiệm vụ cụ thể và tầm nhìn cho ngành Du lịch Việt Nam Chính vì vậy, ngày 09/7 hàng năm đã được xác định là ngày truyền thống của ngành Du lịch Việt Nam
Ngày 31 tháng 7 năm 2007 lại đánh dấu một bước ngoặt lớn của Ngành: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được thành lập, thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý đa ngành,
đa lĩnh vực (Nghị quyết số: 01/2007/QH12) trên cơ sở sáp nhập Tổng cục Du lịch, Tổng cục Thể dục thể thao; tiếp nhận phần quản lý nhà nước về gia đình từ Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em
Trang 11Từ năm 2009 đến nay, toàn Ngành tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, thể thao và
du lịch nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn và các hoạt động của Chương trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, Hà Nội; hoàn thành việc xây dựng các đề án lớn triển khai thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị về “tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới”; đẩy mạnh thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020; Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020; Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030; Quy hoạch phát triển thể dục thể thao đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030; Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030; triển khai thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình v.v… Năm 2014, với tinh thần “Trách nhiệm, kỷ cương, tiết kiệm, hiệu quả”, phương hướng chung của toàn Ngành là tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa, thể dục thể thao và du lịch theo các mục tiêu, nhiệm vụ đã được xác định tại các văn kiện của Đảng, tích cực góp phần cùng Chính phủ và cả nước hoàn thành mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đã được Quốc hội thông qua
Với những thành tựu to lớn đã đạt được hơn 70 năm qua kể từ ngày thành lập, ngành đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận và trao tặng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh cao quý Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã góp phần không nhỏ vào việc hoàn thành các nhiệm vụ kinh tế - văn hóa - xã hội của đất nước Nhiều công việc đang đặt ra, đòi hỏi sự quyết tâm của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”
2 Các khái niệm cơ bản về du lịch
2.1 Du lịch
Hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau nói về hoạt động du lịch, một số khái niệm như sau:
Trang 12Theo liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Official Travel Organization – IOUTO): “Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống…”
Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách: “Du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc”
Nhìn từ góc độ kinh tế: “Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác”
Theo luật du lịch 2017 thì du lịch được hiểu:
Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường
xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác
Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ
quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư có liên quan đến du lịch
2.2 Khách du lịch
2.2.1 Quan điểm khách du lịch trên thế giới
Năm 1989 tại hội nghị quốc tế về du lịch ở Hà Lan đã đưa ra khái niệm về khách du lịch như sau: “Khách du lịch quốc tế là những người đi hoặc sẽ đi tham quan một nước khác, với các mục đích khác nhau trong khoảng thời gian nhiều nhất là 3 tháng nếu trên 3 tháng, phải được cấp giấy phép gia hạn Sau khi kết thúc thời gian tham quan, lưu trú, du khách bắt buộc phải rời khỏi đất nước đó để trở về hoặc đến nước khác; Khách du lịch nội địa là những người
đi xa nhà với khoảng cách ít nhất là 50 dặm vì các lý do khác nhau trừ khả năng thay đổi chỗ làm việc trong khoảng thời gian cùng ngày hoặc qua đêm” Và khách du lịch cũng được phân loại như sau:
- Khách du lịch quốc tế là những người đi thăm một đất nước khác với mục đích tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, thăm hỏi trong khoảng thời gian ít hơn 3 tháng, mục đích không phải là làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến và sau thời gian lưu trú ở đó du khách trở về nơi ở thường xuyên của mình
Trang 13- Khách du lịch nội địa – Domestic tourist là công dân của một nước (không kể quốc tịch) hành trình đến một nơi trong đất nước đó, khác nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24 giờ, hay một đêm với mọi mục đích trừ mục đích hoạt động để được trả thù lao tại nơi đến
2.2.2 Quan điểm khách du lịch ở Việt Nam
Tại khoản 2 điều 3 luật Du lịch 2017 đã đưa ra khái niệm về khách du lịch như sau:
“Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến Theo đó, khách du lịch bao gồm: khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài”
Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài:
- Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam
- Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch
- Khách du lịch ra nước ngoài là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch nước ngoài
2.3 Tài nguyên du lịch
2.3.1 Khái niệm
Tài nguyên du lịch trong tiếng Anh được gọi là Travel resources Tài nguyên du lịch là khách thể của du lịch và là cơ sở phát triển của ngành du lịch Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về tài nguyên du lịch như:
Trong cuốn Địa lý du lịch, Nguyễn Minh Tuệ cho rằng: “Tài nguyên du lịch là tổng thể
tự nhiên và văn hóa lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục, phát triển thể lực, trí tuệ của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ Những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuất dịch vụ du lịch”(NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2014)
Khoản 1 (Điều 15, chương 1) Luật Du Lịch Việt Nam năm 2017 quy định: “là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa.”
Trang 14THS.Bùi Thị Hải Yến đưa ra khái niệm tài nguyên du lịch trong cuốn Tài nguyên du lịch, tài nguyên du lịch: “là tất cả những gì thuộc về tự nhiên và các giá trị văn hóa do con người sáng tạo ra có sức hấp dẫn du khách, có thể được bảo vệ, tôn tạo và sử dụng cho ngành Du lịch mang lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường” (NXB Giáo dục, 2009)
Chúng ta thấy khái niệm của Nguyễn Minh Tuệ và khái niệm theo Luật Du lịch Việt Nam đưa ra có nhiều điểm giống nhau, cùng do yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, do quá trình lao động sáng tạo của con người, và phục vụ cho hoạt động du lịch Khái niệm của THS Bùi Thị Hải Yến về tài nguyên du lịch là khá đầy đủ và cụ thể, dễ hiểu, bà không chỉ nêu ra tài nguyên du lịch là gì mà còn nói đến việc bảo vệ, tôn tạo, sử dụng tài nguyên đó cho ngành du lịch không chỉ đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội mà còn về môi trường
2.3.2 Đặc điểm
Một số loại tài nguyên du lịch là đối tượng khai thác của nhiều ngành kinh tế xã hội Tài nguyên du lịch có phạm trù lịch sử nên ngày càng có nhiều loại tài nguyên du lịch được nghiên cứu, phát hiện, tạo mới và được đưa vào khai thác, sử dụng Tài nguyên du lịch mang tính biến đổi
Hiệu quả và mức độ khai thác tài nguyên du lịch phụ thuộc vào các yếu tố: khả năng nghiên cứu, trình độ phát triển khoa học công nghệ, nguồn tài sản quốc gia Tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng; có các giá trị thẩm mỹ, văn hóa lịch sử, tâm linh, giải trí; có sức hấp dẫn với du khách Tài nguyên du lịch bao gồm các loại tài nguyên vật thể và tài nguyên phi vật thể Tài nguyên du lịch là những loại tài nguyên có thể tái tạo được Tài nguyên du lịch có tính sở hữu chung Việc khai thác tài nguyên du lịch gắn chặt với vị trí địa lý
Tài nguyên du lịch thường có tính mùa vụ và việc khai thác tài nguyên mang tính mùa vụ.Tài nguyên du lịch mang tính diễn giải và cảm nhận
Theo sách Địa lý du lịch của Trần Đức Thanh, Trần Thị Mai Hoa đã nêu rấ rõ điều khác biệt của khái niệm tài nguyên trong du lịch và trong các lĩnh vực kinh tế khác là giá trị của nó không chỉ phụ thuộc vào giá trị tự thân mà còn phụ thuộc rất nhiều vào nhà cung ứng du lịch và khách du lịch
Như mọi tài nguyên khác, sự hấp dẫn của tài nguyên du lịch phụ thuộc vào giá trị của bản thân tài nguyên đó Về phần mình, giá trị tự thân phụ thuộc vào độ lớn, sự phong phú, đa dạng, sự độc đáo, sự tương phản
Trang 15Một di tích có rất nhiều công trình, một khu rừng có nhiều tầng, một cảnh quan nhiều núi non tạo nên sự đa dạng và phong phú Một công trình đương đại đặc sắc, một lễ hội truyền thống, một trò chơi dân gian độc đáo, một cảnh quan hay một công trình độc nhất vô nhị có sức hấp dẫn rất lớn đối với du khách
Núi cao và vực sâu, sự tương phản giữa núi và nước tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình làm
mê hoặc bao nhiêu du khách
Nếu như yếu tố thứ nhất là đặc điểm chung của mọi loại tài nguyên thì yếu tố thứ hai và thứ ba
là yếu tố đặc trưng của khái niệm tài nguyên trong du lịch
Trong lĩnh vực du lịch, giá trị tự thân của tài nguyên thường là giá trị tiềm ẩn Nó trở nên hữu dụng khi được mọi người (du khách và nhà cung ứng) biết đến
Những hiểu biết của nhà cung ứng, khả năng và nghệ thuật diễn giảng, tình yêu của người làm
du lịch và việc tôn tạo tu bổ tài nguyên du lịch ảnh hưởng đến sự hấp dẫn của tài nguyên mặc
dù hầu như không làm thay đổi giá trị tự thân của nó
Đặc điểm tiếp theo tạo nên sự khác biệt của tài nguyên du lịch là giá trị của nó còn phụ thuộc vào khách du lịch Hiểu biết, trình độ văn hóa, nhận thức, tình cảm, môi trường sống của khách là những yếu tố góp phần tạo sự hấp dẫn của tài nguyên du lịch
Những người có hiểu biết rộng thường quan tâm đến những đặc điểm chung của tài nguyên, một số tài nguyên du lịch chỉ có thể hấp dẫn những du khách có một trình độ nhất định Sức hấp dẫn hay giá trị của tài nguyên còn phụ thuộc vào môi trường sống của bản thân khách du lịch (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội)
2.3.3 Phân loại
Khoản 2 ở điều 15 chương1 Luật du lịch 2017 đã nêu tài nguyên du lịch có các loại sau:
- Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa
mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thể được sử dụng cho mục đích du lịch
- Tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng, khảo
cổ, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian và các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng cho mục đích
du lịch
3 Sản phẩm du lịch
3.1 Khái niệm sản phẩm du lịch
Trang 16- Sản phẩm du lịch là một loại sản phẩm tiêu dùng đáp ứng cho nhu cầu của du khách, nó bao gồm di chuyển, ăn ở và giải trí (TS Thu Trang, Công Thị Nghĩa, VK Pháp)
- Theo các du lịch gia Trung Quốc: sản phẩm du lịch là chỉ toàn bộ dịch vụ của nhà kinh doanh du lịch dựa vào việc thu hút du lịch và khởi sự du lịch, cung cấp cho du khách để thỏa mãn nhu cầu hoạt động du lịch
- Sản phẩm du lịch là sự kết hợp nhiều yếu tố khác nhau để trở thành một món hàng cụ thể nhằm cung cấp cho du khách Sản phẩm du lịch mang tính hàng hóa, vừa cụ thể vừa không cụ thể (TS H.H.Quốc Thắng)
- Theo nhà tâm lý du lịch học, GS Nguyễn Văn Lê: Sản phẩm du lịch có thể là một món hàng cụ thể như phòng ngủ khách sạn, các tiện nghi, các món đồ ăn thức uống của nhà hàng, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ hoặc những món hàng không cụ thể, điều kiện thiên nhiên ở nơi nghĩ mát, chất lượng phục vụ của công ty vận chuyển khách Trong nhiều trường hợp, sản phẩm du lịch là sự kết hợp của những món hàng vừa cụ thể vừa không cụ thể Nói cách khác, sản phẩm du lịch là sự tổng hợp của nhiều yếu tố khách nhau nhằm cung cấp cho khách hàng
sự trọn vẹn và mãn nguyện
Từ những khái niệm trên, có thể định nghĩa một cách bao quát nhất, ngắn gọn hơn: “ Sản phẩm du lịch (SPDL) là sự kết hợp hàng hóa, dịch vụ, trên cơ sở khai thác hợp lý tài nguyên du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu cho du khách trong du lịch“
3.2 Các thuộc tính sản phẩm du lịch
Tính vô hình: Sản phẩm du lịch được bán cho khách trước khi họ được nhìn thấy, khách
hàng sẽ không bao giờ thử được, đánh giá ngay được sản phẩm mà mình mua và không biết trước được sản phẩm mà mình mua có như ý mình hay không
Ví dụ: Khi đi mua cây viết, chúng ta có thể thử rất dễ dàng, nếu thấy hài lòng thì ta mua còn không thích thì không mua, còn khi đi đến khách sạn ta không thế nói với lễ tân là: “cho
SPDL = Vận chuyển + khách sạn + ẩm thực + hoạt động dịch vụ, vui chơi giải trí
Hoặc
SPDL = Tài nguyên du lịch (thiên nhiên hoặc nhân tạo) + hàng hóa + dịch vụ du lịch
Trang 17tôi ngủ thử một đêm, nếu được thì tôi sẽ đăng ký ở”, việc này rất khó xảy ra, khách chỉ được quyền xem trước phòng, nếu thấy lưu trú lại được Khi người mua không thể đoán trước được sản phẩm dịch vụ sẽ diễn ra như thế nào mà phải dựa vào thông tin của những người đã mua
và sử dụng trước đó hoặc dựa vào uy tín của nơi bán sản phẩm
Tính đồng thời: là việc phục vụ và sử dụng dịch vụ xảy ra song song, cùng một lúc
Lấy một ví dụ từ việc nhân viên khách sạn đón khách từ sân bay về khách sạn thì việc lái
xe chở khách là phục vụ đồng thời xảy ra khi khách đang hưởng dịch vụ là được đến khách sạn
mà không cần phải lái xe, có người khác chở mình Còn sản phẩm thông thường, lúc mình mua cây viết là thời điểm hiện tại còn việc sản xuất cây viết thì mình không hề biết, có thể là tháng trước hay năm trước
Tính không đồng nhất: Sản phẩm du lịch về cơ bản là sản phẩm không cụ thể nên tạo
nên được sự độc đáo và nét riêng của nó, do đó, luôn có sự khác biệt rõ rệt trong cùng một sản phẩm, không bao giờ giống nhau 100%
Ví dụ: Khi mua cây viết (sản phẩm thông thường) thì cây nào cũng được làm từ một dây chuyền sản xuất như nhau, có thể nói những cây viết là giống nhau hoàn toàn về mẫu mã cũng như chất lượng Còn sản phẩm dịch vụ thì không phải lúc nào cũng hoàn toàn giống nhau 100%, có thể cũng là cùng một cách phục vụ giống nhau trong nhà hàng nhưng giữa những nhân viên với nhau có sự khác bịêt về kinh nghiệm trình độ tay nghề, về thái độ đối với khách, hay ngay cả một người nhân viên có thể hôm nay họ phục vụ tốt làm khách rất hài lòng nhưng ngày mai lại làm khách không hài lòng vì cách phục vụ kém Sản phẩm dịch vụ tạo ra còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tâm trạng của người phục vụ, người hưởng sự phục vụ…
Tính thời vụ: Tính thời vụ du lịch là sự dao động lặp đi, lặp lại đối với cung và cầu của
các dịch vụ và hàng hoá du lịch, xảy ra dưới tác động của các nhân tố nhất định Thời vụ du lịch là khoảng thời gian của một chu kỳ kinh doanh, mà tại đó có sự tập trung cao nhất của cung và cầu du lịch
Tính thời vụ trong du lịch mang tính phổ biến ở tất cả các nước và các vùng có hoạt động
du lịch Một nước hoặc một vùng du lịch có thể có một hoặc nhiều thời vụ du lịch và còn thuộc vào các thể loại du lịch phát triển ở đó Độ dài của thời gian và cường độ của thời vụ du lịch không bằng nhau đối với các hình loại du lịch khác nhau Cường độ của thời vụ du phụ thuộc vào mức độ phát triển và kinh nghiêm kinh doanh du lịch của các quốc gia du lịch, điểm du lịch
và các nhà kinh doanh du lịch, cơ cấu của khách đến vùng du lịch và số lượng các cơ sở lưu trú chính, thời gian rỗi.Tính thời vụ trong du lịch tồn tại bởi tác động cúa tập hợp nhiều nhân tố đa dạng (về bản chất và hướng ảnh hưởng) Đó là nhân tố tự nhiên, nhân tố kinh tế - xã hội, nhân
Trang 18tố tổ chức, kỹ thuật, nhân tố tâm lý, Vào mùa cao điểm, dịch vụ tour du lịch, dịch vụ khách sạn, nhà hàng rất đông khách Nhưng vào mùa thấp điểm thì rất vắng khách Gây rất nhiều khó khăn cho hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả của ngành du lịch
Ví dụ: Mùa hè học sinh, giáo viên nghỉ hè sẽ đi du lịch nhiều hơn, ảnh hưởng đến số lượng phòng và số lượng xe và quá tải tại các điểm du lịch
Tính không lưu giữ được: SPDL không thể lưu kho, không lưu trữ Việc tiêu dùng sản
phẩm dịch vụ song song với việc cung ứng dịch vụ Vì thế sản phẩm hàng hoá được tiêu dùng ở mọi thời điểm với sự tham gia của người tiêu thụ Việc tạo ra sản phẩm dịch vụ và việc tiêu dùng sản phẩm dịch vụ là một thể thống nhất Do đó không thể đưa sản phẩm du lịch đến khách hàng mà khách hàng phải tự đến nơi sản xuất ra sản phẩm du lịch
Ví dụ: Một khách sạn có 100 phòng, ngày hôm nay bán được 50 phòng, còn 50 phòng trống thì sẽ không có doanh thu vì ngày mai cũng chỉ có 100 phòng chứ không phải là 150 phòng Không giống như những sản phẩm khác
Một ví dụ điển hình là cây viết, đó là sản phẩm thông thường không bán được hôm nay thì ngày mai bán tiếp, còn phòng trong khách sạn là sản phẩm dịch vụ, nếu hôm nay không bán được phòng thì khách sạn không thể cất để ngày mai bán được
Ghi chú:
Ngoài 5 thuộc tính đó, sản phẩm dịch vụ còn có các đặc tính như:
- SPDL thường được tạo ra bởi nhiều ngành kinh doanh khác nhau Tính tổng hợp nên dễ dao động theo thời vụ, nhưng có sự liên kết hỗ trợ lẫn nhau
- Khách hàng mua SPDL thường phải mất nhiều thời gian trước khi sử dụng sản phẩm
Ví dụ: khách ở Hà Nội muốn đi Đà Lạt phải đặt tour của Saigontourist (đơn vị trung gian)
- SPDL thường cách xa nơi cư trú, thường phải thông qua các đơn vị trung gian
4 Kinh doanh lưu trú và ăn uống
4.1 Các cơ sở kinh doanh lưu trú du lịch
Trong lịch sử phát triển của hệ thống cơ sở lưu trú du lịch có nhiều loại cơ sở lưu trú được hình thành và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách cũng như phát triển để hoàn thiện hơn Từ những nhà trọ, nhà nghỉ đơn sơ từ thời cổ đại, hệ thống cơ sở lưu trú du lịch ngày nay rất đa dạng, phong phú bao gồm rất nhiều loại khác nhau như: Khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ, lều trại, tàu du lịch Mỗi loại cơ sở lưu trú này đều có những đặc điểm riêng về kiến trúc xây dựng, về dịch vụ, đối tượng khách, tổ chức lao động, sản phẩm mặt khác
Trang 19chúng lại đáp ứng các nhu cầu khác nhau của khách lưu trú Xem xét các loại cơ sở lưu trú này, nhiều nhà nghiên cứu về du lịch thường chia thành những nhóm khác nhau, trong mỗi nhóm là các loại cơ sở lưu trú du lịch có những đặc điểm tương đồng, mỗi nhóm cơ sở lưu trú nói trên thường được gọi là một loại hình cơ sở lưu trú du lịch Như vậy có thể nêu loại hình cơ sở lưu trú du lịch như sau:
Loại hình cơ sở lưu trú du lịch là một nhóm các loại cơ sở lưu trú du lịch trong hệ thống
cơ sở lưu trú du lịch có những đặc điểm, tính chất và hoạt động tương tự nhau được phân loại theo những tiêu chí nhất định
Trong việc phân loại nói chung, khi các cơ sở (tiêu chí) phân loại khác nhau thì có thể chia
ra nhiều nhóm khác nhau Theo cách phân loại phổ biến hiện nay, các cơ sở để phân loại các loại hình cơ sở lưu trú du lịch bao gồm:
- Cơ sở vật chất kỹ thuật: Kiến trúc, trang thiết bị, diện tích
4.1.2 Biệt thự du lịch
Biệt thự du lịch được xây dựng theo mô hình khép kín Với đầy đủ các tiện ức như: Nội thất phòng ngủ, nội thất nhà tắm, hồ bơi, khu vui chơi, giải trí, thư giãn, Chính vì vậy, đây là loại hình nhà ở, lưu trú dành cho phân khúc cao cấp
Tùy thuộc vào vị trí, đối tượng hướng đến mà biệt thự du lịch sẽ được thiết kế với các tiện ích khác nhau Có thể là thiết kế thành các cụm biệt thự Cũng có thể là một tổ hợp
Trang 20biệt thự- khách sạn du lịch Đi kèm các dịch vụ như: Ăn uống, vui chơi thư giãn, làm đẹp, các hoạt động ngoài trời,
Đặc điểm của Biệt thự du lịch
Vị trí xây dựng: Vị trí xây dựng thường là ở những vùng có nhiều tài nguyên du lịch như các
khu du lịch sinh thái, ven biển, Hoặc các vùng sinh thái có những nét đặc sắc của văn hóa,
thiên nhiên và con người Những nơi có môi trường sống trong lành, yên tĩnh
Quy mô và diện tích xây dựng: Biệt thự du lịch được xây dựng với quy mô lớn, diện tích rộng
Thỏa mãn không gian để xây dựng theo mô hình cụm biệt thự hoặc tổ hợp dịch vụ biệt thự-
khách sạn nghỉ dưỡng, du lịch
Kiến trúc: Chủ yếu mang nét đặc trưng của các biệt thự nhà ở Tuy nhiên, chủ đầu tư có thể đa
dạng phong cách của mô hình bất động sản này bằng mang sắc màu cổ điển, tân cổ điện, hiện đại hoặc mang các nét đặc trưng của biệt thự Châu Âu,
Thiết kế: Đòi hỏi sự tỉ mỉ, chi tiết, sắc nét, góc cạnh đến từng milimet Từ màu sơn, màu kính,
mái ngói, đều phải được thiết kế hài hòa với nhau Đảm bảo vừa sang trọng vừa phải thoáng đãng, rộng rãi vừa sự hiện đại vừa mang tính địa phương
Trang thiết bị và dịch vụ: Nội thất của biệt thự nghỉ dưỡng phải đảm bảo phù hợp với kiến trúc
tổng thể của căn biệt thự Mang tính hài hòa, sang trọng nhưng cũng phải sạch sẽ và có những điểm nhấn rõ nét
Dịch vụ đi kèm được chọn lọc, trau chuốt từ thiết bị, chất lượng sản phẩm cho đến không gian bài trí Tất cả phải thể hiện được sự đẳng cấp, quý phái cho người sử dụng dịch vụ Bên cạnh đó, đội ngũ nhân viên phải có nghiệp vụ chuyên môn nhất định Phục vụ du khách một cách tận tình chu đáo và tinh tế
4.1.3 Căn hộ du lịch
Căn hộ du lịch trong tiếng Anh gọi là: Tourist apartment Căn hộ du lịch là căn hộ nằm trong khu có tối thiểu từ 5 căn hộ trở lên, có trang thiết bị, tiện nghi cần thiết phục vụ khách du lịch Khách có thể tự phục vụ trong thời gian lưu trú Căn hộ là diện tích khép kín dành cho khách lưu trú gồm: buồng ngủ, phòng vệ sinh, khu vực tiếp khách, khu chế biến món ăn và có thể có phòng đệm
Về vị trí, kiến trúc: Các căn hộ du lịch thường nằm ở các vị trí thuận lợi, dễ tiếp cận, ở trung tâm thành phố, gần các điểm tham quan, du lịch của địa phương, các cơ sở kinhdoanh, liên kết giao thông vận tải, gần các nhà hàng, quán bar, café, trungtâm mua sắm, đáp ứng đầy
đủ các nhu cầu của du khách như giải trí, kinh doanh,
Trang 21Về trang thiết bị, tiện nghi đảm bảo đầy đủ, hoạt động tốt, chất lượng phù hợp với từng hạng Hệ thống điện chiếu sáng đảm bảo yêu cầu từng khu vực, cung cấp điện 24/24 giờ, có hệ thống điện dự phòng Hệ thống nước cung cấp đủ nước sạch và nước cho chữa cháy 24/24 giờ,
có hệ thống dự trữ nước sạch, hệ thống thoát nước và hệ thống nước thải đảm bảo vệ sinh môi trường Hệ thống phương tiện thông tin, liên lạc đầy đủ và hoạt động tốt Trang bị các thiết bị phòng chống cháy nổ đáp ứng yêu cầu phòng cháy, chữa cháy
Về dịch vụ và mức độ phục vụ: Dịch vụ và mức độ phục vụ theo qui định với từng hạng tương ứng Đội ngũ nhân viên phục vụ được đào tạo hoặc tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, vi tính phù hợp với vị trí công việc và hạng căn hộ du lịch Có sức khỏe phù hợp với yêu cầu công việc
4.1.4 Tàu thủy lưu trú du lịch
Tàu du lịch trong tiếng Anh có nghĩa là cruise (có nghĩa là tàu thuỷ, đi chơi trên biển
bằng tàu thuỷ), đó là những tàu thuỷ chuyên vận chuyển khách trong hành trình dài ngày Do
đó con tàu này còn được xem như một khách sạn trên biển, trong tàu có đầy đủ nhà hàng, quán
giải khát, phòng ngủ, bể bơi, nơi vui chơi giải trí cho khách Tàu du lịch là một loại hình cơ sở lưu trú du lịch đặc biệt không mang tính cố định, nó là những chiếc tàu thuỷ khá lớn trên tàu có đầy đủ hệ thống các dịch vụ lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí đáp ứng nhu cầu của khách du lịch
Theo cách phân loại phổ biến trên thế giới người ta căn cứ vào chất lượng trang thiết bị, dịch vụ cũng như giá cả của tàu du lịch để chia ra các loại sau:
- Tàu du lịch bình dân (economic cruise): là những tàu du lịch có chất lượng, trang thiết bị tiện nghi trung bình, mức giá không cao
- Tàu du lịch tiêu chuẩn (Standard cruise): là những tàu du lịch có chất lượng, trang thiết bị tiện nghi khá cao
- Tàu du lịch hạng sang (Deluxe cruise): là những tàu du lịch có chất lượng, trang thiết bị sang trọng, mức giá cao
- Tàu du lịch hạng đặc biệt (Suite cruise): là những tàu du lịch có chất lượng, trang thiết bị đặc biệt, mức giá rất cao
Tuy nhiên trong thực tế, việc phân loại này chỉ mang tính chất tương đối vì ngay trên một con tàu du lịch cũng có thể có cả ba, bốn mức nói trên tuỳ thuộc vào vị trí, trang thiết bị trong ca-bin của khách cũng như các dịch vụ mà khách sẽ được hưởng
Trang 224.1.5 Nhà nghỉ du lịch
Thuật ngữ nhà nghỉ được quan niệm tương tự như thuật ngữ “rest house” trong tiếng Anh, đó là những cơ sở lưu trú có những đặc điểm riêng, khác biệt so với các loại hình lưu trú khác Nhà nghỉ, (nhà trọ, nhà khách) là một loại hình cơ sở lưu trú du lịch, nó là những cơ sở lưu trú du lịch có quy mô nhỏ (dưới 10 buồng khách), chủng loại dịch vụ ít, đội ngũ nhân viên phục vụ thường kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau
Căn cứ theo vị trí của nhà nghỉ, đặc điểm kiến trúc có thể chia nhà nghỉ ra các thể loại sau:
- Nhà nghỉ đô thị: Là thể loại nhà nghỉ ở đô thị, thường có kiến trúc tương tự như khách sạn, có nhiều tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đầy đủ
- Nhà nghỉ tự nhiên: Là thể loại nhà nghỉ ở nông thôn, hay những nơi có phong cảnh đẹp (bờ biển, rừng, núi ), thường có kiến trúc tự nhiên (như kiến trúc ở địa phương), dịch vụ
ít, thoả mãn nhu cầu gần gũi cuộc sống thiên nhiên, hoặc dân dã của khách
- Nhà nghỉ độc đáo: Là thể loại nhà nghỉ thường ở những nơi đặc biệt có phong cảnh đẹp, có kiến trúc độc đáo, thường có tiện khi khá cao, đáp ứng những khách du lịch thích cảm giác lạ
4.1.6 Nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê
Loại hình cơ sở lưu trú này có từ rất sớm, nó ra đời trước loại hình cơ sở lưu trú nhà nghỉ Trong những giai đoạn trước đây loại hình này vẫn tồn tại ở những điểm du lịch mới, hoặc những nơi vắng vẻ, hoang dã Sau một thời gian tồn tại với vai trò thay thế cho các loại hình cơ sở lưu trú khác (thường là do không có) hiện nay homestay đang có những bước phát triển
Ở trọ cùng gia chủ, tức là tận dụng cơ sở vật chất (ngôi nhà và các trang thiết bị tiện nghi) sẵn có của người chủ Người chủ cho khách ở có thể là chủ động khai thác để thu lợi nhuận, hoặc bị động khi khách là người liên hệ xin ở trọ Trong trường hợp chủ động, gia chủ
có thể có những trang thiết bị, phòng ốc, tiện nghi dành riêng với mục đích phục vụ khách, mặt khác họ cũng thường có những kinh nghiệm nhất định trong việc phục vụ và giao tiếp với khách Trong trường hợp bị động nó phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng người chủ và người khách xin ở trọ
Như vậy, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê trong tiếng Anh gọi là: Homestay Nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê là nhà ở có khu vực được bố trí trang thiết bị, tiện nghi cho khách
Trang 23du lịch thuê lưu trú, khách cùng sinh hoạt với gia đình chủ nhà Chủ nhà (host) là người có quyền sử dụng hợp pháp đối với nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê
Một số yêu cầu của nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê:
- Yêu cầu đối với người phục vụ tại nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê
Sức khỏe tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm
Trang phục sạch sẽ, gọn gàng
Thái độ thân thiện
Qua lớp tập huấn về phòng chống cháy nổ
Qua lớp tập huấn về quản lí lưu trú du lịch, an ninh, an toàn, bảo vệ môi trường
Qua lớp tập huấn về sơ cứu cơ bản
Được tập huấn về vệ sinh an toàn thực phẩm nếu cung cấp dịch vụ ăn uống cho khách
Được tập huấn nghiệp vụ phục vụ khách trừ trường hợp có bằng, chứng chỉ do cơ quan đào tạo có thẩm quyền cấp
Có khả năng giao tiếp cơ bản bằng tiếng Anh hoặc ngoại ngữ khác
- Yêu cầu đối với vị trí, kiến trúc
Dễ tiếp cận
Đảm bảo an ninh, an toàn
Có biển hiệu rõ ràng đặt ở nơi dễ thấy hướng dẫn khách tới nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê
Nhà trong tình trạng tốt
Thông thoáng
Ánh sáng và chiếu sáng đảm bảo thuận lợi trong quá trình sử dụng, vận hành
Có tối thiểu một nhà tắm, một nhà vệ sinh cho khách Phòng vệ sinh và tắm có thể chung trong một phòng hoặc tách riêng từng khu vực Trường hợp phòng vệ sinh và tắm chung, diện tích tối thiểu 3m2
Loại hình này có thể đáp ứng được những đối tượng khách thích đời sống hoặc phong cảnh của địa phương, thích được hoà mình vào lối sống, văn hoá của địa phương Nhưng nó cũng có những hạn chế nhất định trong việc giao tiếp và sinh hoạt của cả khách và gia chủ
Trang 24Trong tiếng Anh loại hình cơ sở lưu trú lều trại được gọi là camping có nghĩa là cắm trại, hạ trại, hoạt động liên quan đến lều trại, xuất phát từ camp có nghĩa là trại, chỗ cắm trại, hạ trại Lều trại là một loại hình cơ sở lưu trú du lịch, đó là những khu vực có sẵn những dịch vụ cơ bản để phục vụ khách cắm trại hoặc là những lều trại được dựng tạm thời ở các khu đất trống thường gắn liền với những tài nguyên du lịch tự nhiên, nhằm đáp ứng nhu cầu lưu trú và một số nhu cầu khác của khách với chất lượng, tiện nghi và mức giá thấp
Theo cách phân loại phổ biến, căn cứ vào đặc điểm của khu vực mà khách dựng trại có thể chia ra các thể loại sau:
- Lều trại hoang dã: là thể loại cơ sở lưu trú du lịch lều trại mà khách du lịch dựng lều trại ở những khu vực hoang dã (không có chủ đất)
- Lều trại địa phương: là thể loại cơ sở lưu trú du lịch lều trại mà khách du lịch dựng lều trại ở những khu vực đất có chủ thường là ở một địa phương nào nó, sau khi đã có sự thoả thuận của chủ đất và du khách
- Lều trại kinh doanh: Là khu vực được xây dựng và quy hoạch cho du khách cắm trại
vì mục đích kinh doanh, thường có các công trình xây dựng đi kèm để đáp ứng các nhu cầu của khách du lịch, như khu vực đón tiếp, khu bán hàng, kinh doanh dịch vụ bổ sung
4.1.8 Các cơ sở lưu trú du lịch khác (như Motel, Caraval,…)
Motel – lưu trú ven đường
Motel là thuật ngữ tiếng Anh Trong thực tế, nhiều nhà nghiên cứu về du lịch ở Việt
Nam đã cố công tìm kiếm một thuật ngữ tương đương với motel có người dịch là khách sạn ven đường, có người dịch là khách sạn tự phục vụ, thậm chí có người còn dịch là nhà trọ, nhà nghỉ Thực chất, việc dịch nghĩa theo những cách trên là không chính xác, nó chỉ phản ánh
được một số đặc điểm của motel, thậm chí nó chỉ đúng với một số thể loại motel nhất định (chẳng hạn có những motel không ở ven đường mà lại ở những khu nghỉ dưỡng- nếu gọi là
khách sạn ven đường sẽ không chính xác) Hơn nữa không thể đánh đồng nó với các loại hình cơ sở lưu trú khác như khách sạn hay nhà nghỉ, nhà trọ vì motel có những điểm đặc trưng
riêng
Các loại hình motel phổ biến:
- Motel là một loại hình cơ sở lưu trú du lịch, nó là những cơ sở lưu trú du lịch thường
Trang 25được xây dựng ven các đường quốc lộ hoặc ở những điểm du lịch với kiến trúc đơn giản, thấp tầng, cơ bản đáp ứng nhu cầu lưu trú của khách, chủng loại dịch vụ đơn giản chủ yếu tập trung vào một số loại cụ thể tuỳ thuộc vào từng thể loại, và khách phải tự phục vụ
- Motel tranzit (motel giao thông): là thể loại motel có vị trí ở ven các trục đường giao thông, có nhiều dịch vụ liên quan đến ô tô, chủ yếu phục vụ cho đối tượng là khách dừng chân trong những chuyến đi bằng ô tô, xe máy, thời gian lưu trú của khách không dài
- Motel nghỉ dưỡng: là thể loại motel thường được xây dựng gần những nơi có tài nguyên thiên nhiên phong phú, chủ yếu dành cho đối tượng khách đi nghỉ, lưu trú trong thời gian tương đối dài
- Motel ngoại ô: là thể loại motel chủ yếu phục vụ cho đối tượng khách đi nghỉ cuối tuần,
thông thường được xây dựng ở ngoại ô các thành phố lớn
Caravaning - ca bin lưu trú lưu động trên xe ô tô
Canavaring có thể hiểu ca bin lưu trú lưu động trên xe ô tô, thường là những chiếc
khoang nhỏ có bánh xe được những người đi du lịch bằng ô tô kéo theo nhằm đáp ứng nhu cầu lưu trú, ăn uống tạm thời trong chuyến du lịch
Canavaring có ba loại cơ bản:
- Loại phục vụ cho ăn uống, tắm giặt: thông thường có bếp và các thiết bị đun nấu, toilet trên ca bin, khách thường kéo theo ô tô trong những kỳ cắm trại, hoặc du ngoạn ngắn ngày
- Loại phục vụ cho lưu trú: có giường ngủ, toilet, và một số trang thiết bị tiện nghi khác
và thường được bố trí theo kiểu tiết kiệm diện tích
- Loại hỗn hợp: có cả thiết bị đun nấu và giường ngủ trong khoang, loại Caravaning này thường được những người có công việc thường xuyên phải đi lại bất thường sử dụng Mỗi một loại hình cơ sở lưu trú du lịch thường có những thể loại nhất định Ví dụ trong loại hình cơ sở lưu trú motel có các thể loại như: motel giao thông, motel nghỉ dưỡng, motel ngoại ô; Trong loại hình cơ sở lưu trú camping có các thể loại như: Camping hoang dã,
camping có chủ, camping kinh doanh
4.2 Các cơ sở ăn uống du lịch (nằm ngoài khách sạn)
Trang 26Theo nghĩa thông thường thì nhà hàng chỉ chủ yếu đáp ứng nhu cầu ăn uống cho khách, nhằm thu hút lợi nhuận, phục vụ nhiều đối tượng khách khác nhau và phục vụ theo nhu cầu của khách với nhiều loại hình khác nhau, mặt khác nếu xem xét một cách khái quát nó không chỉ đáp ứng nhu cầu ăn uống mà còn đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí hay nói cách khác là nhu cầu lưu trú tạm thời cho khách
Khái niệm
Nhà hàng là cơ sở phục vụ ăn uống, nghỉ ngơi, giải trí cho khách du lịch và những người có khả năng thanh toán cao với những hoạt động và chức năng đa dạng
- Về hoạt động: nhà hàng hoạt động gần như 24/24 giờ trong ngày
- Về chức năng: nhà hàng không chỉ phục vụ ăn uống với tất cả các bữa ăn (sáng, trưa, chiều, tối, khuya) cho khách mà còn phục vụ theo yêu cầu của khách
Đặc điểm
- Về hình thức phục vụ của nhà hàng cũng rất phong phú và đa dạng Nhà hàng có thể phục vụ khách theo thực đơn của nhà hàng, theo yêu cầu của khách kể cả việc cung cấp các món ăn đồ uống cho khách tự chọn hoặc tự phục vụ
- Đối tượng phục vụ của nhà hàng cũng rất đa dạng, có thể là khách lẻ, khách đoàn, khách tham gia hội nghị, hội thảo,
- Sản phẩm của nhà hàng được chia thành hai loại:
Thứ nhất đó là các hàng hoá như các món ăn, đồ uống do nhà hàng tự làm ra hoặc đi mua của các nhà sản xuất khác để phục vụ khách
Thứ hai đó là các dịch vụ phục vụ các món ăn, đồ uống cho khách
Chất lượng phục vụ trong nhà hàng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, có những yếu tố khách quan nhưng cũng có những yếu tố chủ quan của nhà hàng hoặc của nhân viên phục vụ Cho dù khách quan hay chủ quan, nhà hàng phải luôn giữ được chất lượng phục vụ vì chất lượng phục vụ là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của nhà hàng
Lực lượng lao động trong nhà hàng rất lớn Mặc dù đã áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật vào công việc kinh doanh, nhưng không vì thế mà giảm được lực lượng lao động trực tiếp
và gián tiếp phục vụ trong nhà hàng Có thể thấy ngoài việc chế biến món ăn để phục vụ khách, trong nhà hàng đòi hỏi phải có lực lượng nhân viên phục vụ các món ăn, đồ uống với kỹ năng nghiệp vụ cao Theo định mức, cứ từ 12 - 16 khách đòi hỏi phải có một nhân viên phục vụ, đó
là chưa kể đến đội ngũ quản lý, nhân viên tạp vụ, bảo vệ nhà hàng,
Tính chất phục vụ liên tục của nhà hàng Nhà hàng hoạt động không chỉ các ngày trong tuần, ngày tết, ngày lễ, mà bất cứ lúc nào khách có nhu cầu là nhà hàng phải phục vụ
Trang 27Ví dụ một nhà hàng trong khách sạn phục vụ bữa sáng từ 5giờ 30 đến 9 giờ; phục vụ bữa trưa từ 11 giờ đến 14 giờ; phục vụ bữa tối từ 18 giờ đến 21 giờ Trong khoảng thời gian giữa các ca phải tiến hành dọn dẹp vệ sinh, thay ca, nhưng nếu khách có nhu cầu nhà hàng vẫn tiếp tục phục vụ
Tính tổng hợp và phức tạp trong quá trình phục vụ khách Để đảm bảo yêu cầu phục vụ khách đầy đủ nhất, đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa những người phục vụ bàn, chế biến món ăn, pha chế hoặc phục vụ đồ uống và những người làm thủ tục thanh toán cho khách Chỉ cần một sơ suất nhỏ trong bốn khâu trên sẽ đem lại kết quả xấu mặc dù các khâu còn lại làm rất tốt Điều này đòi hỏi người quản lý phải thường xuyên kiểm tra, theo dõi, chỉ đạo sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận với mục tiêu không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ khách, nâng cao danh tiếng và uy tín của nhà
Quán Cà phê và thức ăn tự phục vụ (Cafeteria)
Hình thức kinh doanh Cafeteria có nghĩa là quán ăn tự phục vụ, một trong loại hình phổ biến nhất trên thị trường F&B, nhà hàng – khách sạn hiện nay Cafeteria được kết hợp giữa không gian độc đáo của quán café và đặc trưng phục vụ của nhà hàng Buffet Qua đó, khách hàng đến Cafeteria sẽ được tự chọn đồ ăn nhẹ cùng thức uống đã được bày biện trên bàn dài Sau khi lựa chọn, khách tiến hành thanh toán ở quầy thu ngân rồi chọn không gian ngồi để thưởng thức cùng bạn bè, người thân Cafeteria khá nổi tiếng ở nước ngoài và đã xuất hiện ngày càng nhiều tại các thành phố lớn ở Việt Nam Đặc trưng của cafeteria là:
- Không gian mở: Với tính chất phục vụ, cafeteria mang đến không gian mở, thường
có diện tích rộng rãi và chia thành các khu phục vụ riêng biệt như: Quầy bày biện món ăn, thức uống; quầy thanh toán; khu vực bàn ăn… Ngoài ra, cafeteria luôn có bảng hướng dẫn quy trình tự phục vụ để khách hàng được thuận lợi hơn
- Thực đơn đơn giản, tập trung chủ yếu vào các món ăn nhẹ, thức uống tại cafeteria thường là đồ uống đóng hộp, các loại có cồn nhẹ pha chế nhanh và dễ dàng như: Gà rán, bánh mì sandwich, bánh ngọt, mì Ý, nước ngọt có ga, cà phê pha sẵn…
Nhà hàng phục vụ tráng miệng (Dessert bar)
Dessert bar là cách gọi nhà hàng chuyên phục vụ món tráng miệng cao cấp Ở những quốc gia khác trên thế giới, mô hình này đã thịnh hành từ khá lâu, nhưng tại Việt Nam, dessert bar vẫn còn là khái niệm xa lạ Một số dessert bar còn phục vụ bánh dùng chung với rượu, đang
tạo nên một phong cách ẩm thực mới ở Sài Gòn
Bán thức uống đồ ăn mang đi (Take away)
Trang 28Có thể chia mô hình kinh doanh đồ uống take away thành 2 loại chính Thứ nhất là mô hình mở quán take away Với mô hình này, người khởi nghiệp sẽ phải chọn địa điểm, chuẩn bị mặt bằng mở cửa hàng, quán để thực hiện công việc kinh doanh Ưu điểm của mô hình này là khách hàng vừa có không gian để chờ đợi khi mua đồ uống mang đi hoặc cũng có thể ngồi lại tán gẫu với bạn bè
Loại thứ hai là kinh doanh đồ uống take away bằng xe lưu động Tức là người kinh doanh sẽ đầu tư mua một chiếc xe đẩy hoặc xe bán hàng, xích lô… cùng các đồ dùng cần thiết như: máy và các dụng cụ pha chế, nguyên vật liệu… để bán hàng Mô hình take away này được xem
là khá mới lạ và độc đáo với ưu điểm nổi trội là di chuyển linh động và dễ dàng tiếp cận được nhiều khách hàng
4.3 Quy trình kinh doanh lưu trú và ăn uống
4.3.1 Quy trình kinh doanh lưu trú và ăn uống
Quy trình kinh doanh lưu trú bao gồm 4 bước như sau:
Bước 1: Thông tin tiếp thị, tìm kiếm nguồn khách
Các nguồn khách của khách sạn: Trực tiếp, thông qua trung gian (đại lý du lịch, hãng lữ hành, hãng hàng không, văn phòng công ty có hợp đồng với khách sạn, đặt phòng thông qua hệ thống bên thứ 3
Bước 2: Bán dịch vụ
Thực hiện bán sản phẩm bằng một trong ba hình thức: bán trực tiếp, bán buôn, bán kết hợp
Trang 29Bán kết hợp: kết hợp hợp
lý giữa hai hình thức bán trực
tiếp và bán buôn
Khắc phục được nhược điểm của từng hình thức bán trực tiếp và bán buôn
- Đòi hỏi chủ khách sạn và bộ phận tiếp thị có trình độ
và chuyên môn cao, có năng lực tổ chức thực tiễn
- Phải dự báo được nguồn khách và chớp thời cơ kinh doanh
Bước 3: Nhận khách, sắp xếp chỗ lưu trú và phục vụ khách
Công việc liên quan đến bộ phận lễ tân và phòng buồng
Bước 4: Thanh toán, tiễn khách và rút kinh nghiệm
Công việc liên quan đến bộ phận lễ tân, kế toán và sự phối hợp với các bộ phận khác (nếu khách có sử dụng các dịch vụ từ các bộ phận khác như giặt ủi, phục vụ tại phòng, massage …) Đảm bảo thanh toán đủ và đúng theo giá niêm yết (giá thông báo với khách)
4.3.2 Kinh doanh ăn uống
Quy trình kinh doanh ăn uống gồm 4 bước như sau:
Bước 1: Tìm hiểu nhu cầu ăn uống của khách
Nhu cầu ăn uống của du khách hết sức đa dạng theo các kiểu ăn Âu, Á, dân tộc …Đây là bước khó khăn nhưng cực kì quan trọng trong kinh doanh ăn uống
Tâm lý chung của khách là món ăn, thức uống phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; cung cấp được chất dinh dưỡng, làm gia tăng sức khoẻ; hấp dẫn về mùi vị, màu sắc; thoả mãn được cơn đói, nhu cầu trải nghiệm với giá cả hợp lý
Bước 2: Chọn lựa thực phẩm và chế biến
Công việc liên quan đến bộ phận thu mua và bếp
Bước 3: Đón khách, bày bàn và dọn bàn
Công việc liên quan đến bộ phận phục vụ
Bước 4: Thanh toán, tiễn khách và rút kinh nghiệm
Công việc liên quan đến bộ phận phục vụ, thu ngân (kế toán)
Trang 30du lịch, và nó được quyết định bởi số lượng và tố chất của cán bộ nhân viên du lịch
Về sản xuất và tiêu thụ, sản xuất du lịch có tính đồng bộ, tức quá trình nhân viên du lịch cung cấp dịch vụ được tiến hành cùng lúc với quá trình du khách tiêu thụ loại dịch vụ này Dịch vụ du lịch là loại dịch vụ trực tiếp nên các yêu cầu về nhân viên du lịch cũng cao hơn các nhân viên dịch vụ khác
Du khách – đối tượng của dịch vụ du lịch đến từ các nước khác nhau, động cơ du lịch, yêu cầu và tập quán cũng khác nhau, vì vậy đòi hỏi nhân viên du lịch phải có sự am hiểu rộng, sâu và khả năng thích ứng cao
Mức độ chuyên môn hoá của lao động du lịch cao do vậy cũng đòi hỏi trình độ kỹ thuật
và nghiệp vụ cao của cán bộ nhân viên du lịch Sự chuyên môn hoá làm cho một số hoạt động phục vụ du lịch có tính độc lập tương đối như: lễ tân khách sạn, đầu bếp nhà hàng, pha chế… Tuy nhiên, cũng chính yếu tố chuyên môn hoá cao gây một số hạn chế như khó khăn trong việc tìm nhân sự thay thế đột xuất (nhân viên nghỉ bệnh, nghỉ phép)
Thời gian lao động phụ thuộc vào đặc điểm tiêu dùng, gây khó khăn cho việc tổ chức lao động hợp lý và ảnh hưởng đến cuộc sống riêng của nhân viên du lịch
Cường độ lao động trong du lịch không cao nhưng phải đựng tâm lý và môi trường lao động phức tạp
5.2 Đặc điểm của cơ cấu du lịch
Cơ cấu lao động theo chuyên ngành Có một số ngành nghề đặc trưng cho hoạt động du lịch như phòng buồng khách sạn, pha chế, nấu bếp nhà hàng,…nhưng cũng có một số ngành nghề không đặc trưng cho du lịch như lái xe, bảo vệ,…
Trong lao động du lịch, nhóm nghiệp vụ chiếm tỉ trọng lớn nhất là khách sạn, ăn uống và hoạt động trung gian
Lao động nữ thường chiếm tỷ trọng cao hơn nam Lao động du lịch có độ tuổi tương đối trẻ (từ 30 – 40 tuổi), trong đó nữ thường có độ tuổi lao động trẻ hơn nam
Trang 31 Quản trị dịch vụ, du lịch lữ hành
Hướng dẫn viên du lịch
- Nhà hàng
Quản trị nhà hàng và dịch vụ ăn uống
Quản trị ẩm thực
- Khách sạn
Quản trị lễ tân (F.O Management)
Quản trị phòng buồng (HK Management)
5.3.2 Nội dung đào tạo
Kiến thức văn hoá chung: lao động du lịch phải được trang bị các kiến thức cơ bản về văn học, lịch sử, địa lý, âm nhạc, hội hoạ, thể thao, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, giao tiếp… để phục vụ tốt tất cả các đối tượng khách và dễ chiếm cảm tình của khách
Kiến thức kinh tế: lao động du lịch phải có kiến thức kinh tế vững vàng, có khả năng phân tích được các hoạt động kinh tế và tạo điều kiện để quản lý tốt hoạt động của doanh nghiệp du lịch
Kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ: lao động du lịch phải nắm vững kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn để nhận thức chức năng, nhiệm vụ, tầm quan trọng của cương vị công tác, bao quát được toàn cục và làm tốt chức năng được đảm nhiệm
Kiến thức chính trị tư tưởng: giáo dục cán bộ nhân viên du lịch nâng cao nhận thức đúng về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, về xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, nâng cao lòng yêu nước, bảo vệ sự tôn nghiêm và danh dự quốc gia, tinh thần trách nhiệm, chí tiến thủ và lòng yêu nghề
Kiến thức ngoại ngữ: Du lịch quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ, do vậy đội ngũ quản
lý, nhân viên du lịch phải thông thạo ngoại ngữ để đảm bảo kỹ năng giao tiếp phục vụ tốt nhu cầu của khách quốc tế
Trang 32CÂU HỎI ÔN TẬP
Câu 1: Anh/chị trình bày các khái niệm sau đây: Du lịch, khách du lịch, sản phẩm du lịch (Theo Luật Du lịch 2017)?
Câu 2: Anh/chị phân tích các yếu tố trong cơ cấu của sản phẩm du lịch?
Câu 3: Anh/chị phân tích các đặc tính của sản phẩm du lịch?
Câu 4: Anh/chị trình bày hoạt động kinh doanh lưu trú
Câu 5: Anh/chị trình bày hoạt động đào tạo nguồn nhân lực du lịch hiện nay?
Trang 33BÀI 2: NGÀNH KINH DOANH KHÁCH SẠN
Giới thiệu: Đây là bài tổng quan về quá trình hình thành hoạt động kinh doanh lưu
trú nói chung và kinh doanh khách sạn nói riêng Đặc điểm của kinh doanh khách sạn và
ý nghĩa của hoạt động này với xã hội, kinh tế và môi trường xung quanh
Mục tiêu:
- Kiến thức:
+ Trình bày được lịch sử phát triển và hình thành ngành kinh doanh khách sạn
+ Liệt kê được đặc điểm của ngành
+ Trình bày được ý nghĩa kinh tế, xã hội – môi trường của ngành kinh doanh khách
1 Lịch sử hình thành và phát triển của kinh doanh khách sạn thế giới
Lịch sử phát triển của hệ thống cơ sở lưu trú nói chung và khách sạn nói riêng có thể phân chia thành nhiều giai đoạn khác nhau, theo những tài liệu ghi chép trong lịch sử thế giới
có thể gắn lịch sử phát triển của hệ thống cơ sở lưu trú khách sạn với các thời kỳ lịch sử sau:
1.1 Từ thời cổ đại đến cuối thể kỷ XIX
Có thể xem như hệ thống cơ sở lưu trú ra đời chính thức vào thời kỳ này (từ năm 800 TCN - 476 sau công nguyên) ở thời kỳ này đã có rất nhiều cuộc hành hương, thăm viếng lẫn nhau, đi chữa bệnh và đi du lịch theo mục đích tôn giáo Dòng người này thường đi về các nơi như Hi Lạp, Ai Cập cổ đại và những điểm đến của họ thường là những khu dân cư dọc theo các suối nước nóng, các đền, chùa, đường quốc lộ Tại những nơi này đã xuất hiện các cơ sở lưu trú phục vụ cho khách ở trọ Các cơ sở lưu trú ở thời kỳ này chủ yếu là những nhà trọ vào thời kỳ bấy giờ chỉ như một túp lều, hay là một cái bàn kê ở góc buồng hoặc chuồng ngựa Nhiều
Trang 34Thời trung đại từ năm 476 đến năm 1492 (với mốc lịch sử năm 476 là thời kỳ đế quốc La
Mã ở phương Tây, năm 1492 bắt đầu thời kỳ phục hưng và cải cách)
- Vào thời kỳ này nghề thủ công phát triển mạnh, giao lưu thương mại giữa các quốc gia ngày càng phát triển Điều này đã dẫn đến việc hình thành các trung tâm buôn bán ở các đầu mối giao thông quan trọng Nhu cầu về ở trọ ngày càng nhiều, các cơ sở lưu trú du lịch cũng có những bước phát triển nhất định về quy mô, số lượng, chất lượng Cơ sở lưu trú du lịch ở thời
kỳ này đã được xây dựng kiên cố hơn, thường là các quán rượu, quán ăn kết hợp với việc cho thuê buồng Nhìn chung đó là những nhà nghỉ có quy mô nhỏ (dưới 10 phòng), có kèm dịch vụ ăn uống, chỗ để gia súc đây là những nhà trọ phổ biến phục vụ những du khách nói chung
- Ngoài những nhà trọ mang tính phổ biến nói trên dành cho du khách thông thường còn có những nhà trọ cao cấp hơn dành cho tầng lớp thương nhân, quý tộc Những nhà trọ này ngoài việc cung cấp các dịch vụ lưu trú còn có thêm các dịch vụ khác như dịch vụ vui chơi giải trí (cờ bạc, âm nhạc ) và một số dịch vụ bổ sung khác liên quan đến công việc kinh doanh của họ Loại hình này sau phát triển thành các khách sạn thương mại
- Trong thời kỳ này xã hội phong kiến có sự phân hoá giai cấp sâu sắc, trong xã hội xuất hiện giai cấp thống trị và giai cấp bị trị Giai cấp thống trị gồm những người giàu có trong xã hội có nhiều tiền của và thời gian rỗi, đã xây dựng cho mình những nhà nghỉ (lâu đài) tại những khu nghỉ mùa hè và mùa đông Trong những lâu đài này thường có sảnh rộng để khiêu vũ, có nhiều bếp ăn, phòng ăn rộng lớn, cho nhiều phòng cho khách nghỉ Loại hình này về sau đã phát triển thành các khách sạn nghỉ dưỡng
Giai đoạn từ năm 1492 cho đến năm 1914 trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất Trong giai đoạn này hệ thống cơ sở lưu trú du lịch đã có những bước phát triển rất mạnh
Vào cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, công nghiệp phát triển mạnh, giao lưu về kinh tế chính trị xã hội ngày càng sôi động Nhu cầu về nghỉ ngơi lưu trú ngày càng gia tăng từ đó thúc đẩy
sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống cơ sở lưu trú du lịch Mặt khác cùng với sự phát triển chung của đời sống xã hội, khoa học, công nghệ đã tạo điều kiện cho sự ra đời các cơ sở lưu trú du lịch có chất lượng cao hơn Cơ sở lưu trú du lịch ở thời kỳ này mặc dù chủ yếu vẫn là các nhà nghỉ, nhà trọ nhưng chất lượng đã cao hơn nhiều, đặc biệt sự ra đời của khách sạn được xem như là một bước tiến dài trong sự phát triển của hệ thống cơ sở lưu trú du lịch
Trang 35So với nhà nghỉ nhà trọ, các khách sạn có cơ sở vật chất kỹ thuật hoàn thiện hơn, quy mô lớn hơn, đội ngũ nhân viên phục vụ chuyên nghiệp hơn, do đó việc kinh doanh và phục vụ du khách được phát triển vượt bậc về cả mặt chất và lượng
Có nhiều tài liệu khác nhau về sự ra đời đầu tiên của khách sạn Có thể kể đến khách sạn đầu tiên của Mỹ là City Hotel, khai trương năm 1794 trong cảng biển của thành phố New york (thành phố lúc này có khoảng 30.000 dân) Điều này là hầu như không hề có các cơ sở lưu trú trước đây, City Hotel không phải là nơi lưu trú hay quán rượu mà tại đó được bố trí thêm những buồng cho khách ở Thay vì điều đó, nó là một toà nhà khép kín lớn, một trong những toà nhà lớn nhất ở New york thời bấy giờ với 37 buồng khách và không có mục đích gì khác là kinh doanh lưu trú
- Năm 1874, tại San francisco một chủ nhà băng và một thợ đóng thuyền đã tiến hành xây dựng 1 khách sạn sang trọng nhất thế giới Tác phẩm vĩ đại này là một khách sạn Palace Hotel gồm 800 buồng, cao 7 tầng; sơ đồ kiến trúc của khách sạn dựa trên những cung điện ở Châu Âu với sàn lát đá hoa cương, một mái vòm lớn lắp kính mờ và sân lớn cung cấp ánh sáng cho những buồng bên trong
1.2 Giai đoạn từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX
Thời hiện đại vào năm 1914 cho đến nay, thời kỳ này có nhiều biến động về lịch sử kinh tế, chính trị do đó hệ thống cơ sở lưu trú du lịch cũng có những biến động phát triển (thậm chí cả suy vong) tương ứng
Vào giai đoạn sau đại chiến thế giới lần thứ nhất cho đến trước đại chiến thế giới lần thứ hai (1917-1939) đây là giai đoạn khôi phục kinh tế của các nước đế quốc sau chiến tranh Kinh tế có những bước phát triển mạnh, cùng với nó là sự phát triển của hệ thống giao thông, (đường sắt, đường bộ, đường thuỷ ) chính vì vậy du lịch nói chung và hệ thống cơ sở lưu trú du lịch nói riêng đã có những bước phát triển dài Dấu ấn là thời kỳ này là năm 1927 khách sạn
Stevens Hotel, sau đổi tên là Coxrad Hotel với 3.000 buồng đã khai trương ở Chicagô, trong nhiều thập kỷ nó được coi là khách sạn lớn nhất thế giới
Vào giai đoạn trước và sau đại chiến (1939-1950) hoạt động kinh doanh du lịch nói chung và hoạt động kinh doanh lưu trú nói riêng hầu như bị ngừng trệ không phát triển được do hầu hết cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành bị dùng cho mục đích chiến tranh và do yếu tố tâm lý của khách du lịch
1.3 Từ đầu thế kỷ XX đến nay
Trang 36vào thời kỳ này ngoài các loại hình cơ sở lưu trú truyền thống như khách sạn, nhà nghỉ các loại hình cơ sở lưu trú khác hoặc là mới xuất hiện, hoặc cũng phát triển mạnh mẽ như: motel, camping, bungalow, làng du lịch, tàu du lịch và ngành kinh doanh khách sạn phát triển theo chuỗi, thành những tập đoàn lớn đa quốc gia Một số tập đoàn khách sạn lớn kinh doanh
đa quốc gia như hiện nay:
Marriott International: Tập đoàn Marriott International trở thành chuỗi khách sạn lớn nhất thế giới sau vụ thâu tóm Starwood với trị giá 12,2 tỷ USD Từ đó, Marriott sở hữu 5.700 khách sạn cùng 1,2 triệu phòng trên toàn cầu, nhiều hơn 50% so với Hilton Sau bước ngoặt chuyển từ dịch vụ cung cấp thức ăn sang kinh doanh lĩnh vực Nhà hàng – Khách sạn với quy
mô lớn thì đây là một cột mốc quan trọng tiếp theo chứng minh cho thế lực của tập đoàn Marriott International Trụ sở: Bethesda, Maryland, Mỹ
Hilton Worldwide: Hilton Worldwide được thành lập vào năm 1919 tại bang Texas, là một tập đoàn khách sạn của Mỹ và nhượng quyền thương hiệu cho hàng loạt khu nghỉ dưỡng, khách sạn, nghỉ mát Hilton Worldwide luôn là một trong những tập đoàn khách sạn lớn nhất thế giới được nhiều người biết đến với 14 thương hiệu thuộc nhiều phân cấp khác nhau và hoạt động trên 103 quốc gia trên toàn câù Số khách sạn: 4.322 Trụ sở: MacLean, Virginia, Mỹ
InterContinental Hotels Group (IHG): Tiền thân InterContinental Hotels Group là hãng bia William Bass được thành lập vào năm 1777 tại nước Anh Năm
1990, công ty mua lại Holiday Inns International và bắt đầu bước chân vào ngành công nghiệp khách sạn Hiện nay IHG cũng là một cái tên có thế lực lớn trong ngành công nghiệp khách sạn với 10 thương hiệu khác nhau và hoạt động trên 100 quốc gia khắp thế giới Số khách sạn: 4.840, trụ sở: Denham, Anh
Accor Hotels: Được thành lập vào năm 1967 tại Pháp và hoạt động tiếp khoảng
20 năm sau đó, chủ đầu tư mua lại Jacques Borel International và chính thức đổi tên thành tập đoàn Accor Accor Hotels tiên phong trong việc mở các khách sạn mang
Trang 37phong cách Mỹ tại thành phố Lille, ở Pháp Khi nhắc đến Accor, người ta sẽ nghĩ ngay đến các thương hiệu khách sạn nổi tiếng bậc nhất như: Novotel, Pullman hay Sofitel Tập đoàn Accor Hotel mở rộng phân khúc từ bình dân đến hạng sang ở 92 quốc gia trên tất cả các châu lục Và tính đến thời điểm hiện tại, Accor sở hữu số lượng khách sạn kinh tế cao cấp, sang trọng cao nhất nước Pháp Số khách sạn: 3.717, Trụ sở: Paris, Pháp
Wyndham Hotel Group: Được tách ra từ Cendant Corporation vào tháng 7/2006
có trụ sở tại Parsippany, New Jersey, Mỹ, Wyndham Hotel Group là một công ty khách sạn lớn nhất thế giới của Mỹ Vào những năm gần đây, Wyndham luôn lọt danh sách những thương hiệu khách sạn đắt giá nhất thế giới và được đánh giá là một trong những nhà cung cấp dịch vụ lưu trú hoàn hảo nhất thế giới với 15 thương hiệu khác nhau hoạt động trên 66 quốc gia Số khách sạn: 7.645, Trụ sở: Parsippany, New Jersey, Mỹ
Choice Hotels International (CHI): Được thành lập vào năm 1939 với cái tên ban đầu là Quality Courts United và sau khi mua lại 3 chuỗi khách sạn năm 1990, tập đoàn này chính thức đổi tên thành Choice Hotels International Hiện nay, Choice Hotels International quy tụ những thương hiệu khách sạn lớn hàng đầu như Cambria Hotels & Suites, Ascend Hotel Collection, Comfort Suites, Clarion Hotel…Số khách sạn: 6.300, Trụ sở: Rockville, Maryland, Mỹ
Plateno Hotels Group: Là tập đoàn khách sạn lớn nhất Trung Quốc, Plateno hiện hoạt động chủ yếu ở 300 thành phố trong nước Tập đoàn này đặt ra mục tiêu vào năm
2018 sẽ sở hữu 6.000 khách sạn cùng 95 triệu khách Số khách sạn: 3.023, trụ sở: Quảng Châu, Trung Quốc
2 Lịch sử hình thành và phát triển của kinh doanh khách sạn Việt Nam
Ngành Du lịch Việt Nam được thành lập ngày 9/7/1960 Trải qua trên 45 năm xây dựng
và trưởng thành, với ba giai đoạn phát triển:
Giai đoạn từ 1960 đến 1975: Trong giai đoạn này 2 miền Nam, Bắc còn bị chia cắt bởi chiến tranh nên ngành Du lịch chỉ quản lý các cơ sở lưu trú ở miền Bắc Số lượng các cơ sở này không nhiều, chủ yếu là khách sạn, được xây dựng từ thời Pháp thuộc, tập trung tại các thành phố lớn hoặc tại các khu có danh lam, thắng cảnh
Trang 38Do đất nước có chiến tranh nên các khách sạn hầu như không kinh doanh, phục vụ chuyên gia nước ngoài là chủ yếu, các khách sạn hầu hết quy mô không lớn, cơ sở vật chất kỹ thuật đơn giản, dịch vụ phục vụ khách chủ yếu chỉ 2 loại dịch vụ chính: lưu trú và ăn uống Do tính chất phục vụ là chủ yếu nên đội ngũ quản lý và nhân viên các khách sạn hầu như không được quan tâm đào tạo, trình độ nghiệp vụ, tay nghề, ngoại ngữ rất hạn chế
Giai đoạn từ 1975 đến 1990: Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành Du lịch Việt Nam trong giai đoạn này có sự phát triển về số lượng, do sau chiến tranh, Ngành tiếp nhận lại một lượng khách sạn được xây dựng từ thời Mỹ - Nguỵ, tại các thành phố lớn ở Miền Nam và ở Miền Bắc, nhiều nhà khách của các Bộ, Ngành được xây dựng để phục vụ chuyên gia nước ngoài và nhu cầu nội bộ của ngành
Do nền kinh tế của đất nước đang phục hồi sau chiến tranh, nhiều khách sạn có cơ sở vật chất kỹ thuật đã xuống cấp, thiếu vốn để cải tạo, nâng cấp, hiện đại hoá nên các cơ sở lưu trú du lịch ở miền Bắc vẫn rất đơn giản, phục vụ khách chủ yếu 2 dịch vụ chính:lưu trú và ăn uống Miền Nam, phần lớn các khách sạn có cơ sở vật chất kỹ thuật chất lượng tốt hơn, dịch vụ phong phú hơn nhưng sau chiến tranh các cơ sở này cũng bị xuống cấp nhiều
Giai đoạn từ 1991 đến nay: Ngành Du lịch Việt Nam được Đảng và Nhà nước quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển như: Ban hành những chính sách cho phép các thành phần kinh tế kinh doanh du lịch, chính sách khuyến khích đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài vào hoạt động du lịch, nhiều khách sạn liên doanh với nước ngoài có quy mô lớn và chất lượng tốt được xây dựng, quyết định 317/TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển nhà khách, nhà nghỉ của các Bộ, Ngành, Đoàn thể trung ương, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sang kinh doanh khách sạn và hiện nay với việc thành lập Ban Chỉ đạo Nhà nước về Du lịch, thực hiện Chương trình Hành động Quốc gia về du lịch đã tạo cho ngành du lịch một bước ngoặc trong phát triển cả về số lượng và chất lượng
Trong cơ chế thị trường, các khách sạn phải thực hiện hạch toán kinh doanh, phải đối đầu với cuộc cạnh tranh thu hút khách ngày càng khốc liệt trên địa bàn, trong nước, khu vực và quốc tế Chính vì vậy, nhằm tạo sức mạnh trong cạnh tranh, các công ty, khách sạn đã quan tâm tới việc nâng cao chất lượng phục vụ, nâng cấp, hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật, mở rộng kinh doanh các dịch vụ bổ sung nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện đại ngày càng phong phú của khách du lịch, tăng cường đào tạo đội ngũ lao động về chuyên môn, tay nghề, ngoại ngữ và phong cách phục vụ văn minh
Trang 39Trong thời kỳ này, các cơ sở lưu trú hầu hết đều có nhà hàng ăn (trong hoặc ngoài cơ sở lưu trú) kinh doanh các loại món ăn, đồ uống mang tính tổng hợp (bếp chung, phục vụ các nhu cầu thức ăn Âu, thức ăn á, đặc sản ) Một số khách sạn liên doanh với nước ngoài có các loại nhà hàng: chuyên doanh đặc sản Việt Nam hoặc có nhà hàng chuyên các món ăn Pháp, Trung Quốc, Nhật, Italia Các khách sạn tư nhân phần lớn qui mô nhỏ, ít dịch vụ, chủ yếu chỉ kinh doanh dịch vụ lưu trú và ăn uống Một số khách sạn tư nhân chỉ tổ chức phục vụ ăn sáng cho khách tại khách sạn (do trong giá lưu trú có ăn sáng) nên phòng ăn không lớn và bếp ăn đơn giản kiểu gia đình
Đặc biệt từ năm 2003, khi Việt Nam chế ngự thành công đại dịch SARS, cùng với yếu tố tình hình chính trị - xã hội ổn định đã giúp nước ta được du khách quốc tế đánh giá là một trong những điểm đến an toàn nhất thế giới Bên cạnh đó, cùng với việc
sở hữu tài nguyên thiên nhiên phong phú, nhiều danh lam thắng cảnh đẹp là những lý do chính thu hút khách quốc tế đến Việt Nam nhiều hơn Chính vì vậy, hệ thống cơ sở lưu trú của nước ta đã có bước đột phá mạnh mẽ về số lượng lẫn chất lượng, góp phần quan
trọng vào việc thúc đẩy ngành du lịch Việt Nam phát triển Nếu như tổng kết năm 1998,
cả nước chỉ mới có 2.510 cơ sở lưu trú thì đến hết năm 2017, con số này đã lên đến 25.000 cơ sở với hơn 500.000 buồng, trong đó có 116 khách sạn, resort đạt chuẩn 5 sao Đặc biệt, Inter Continental Danang Sun Peninsula Resort đã 4 lần liên tiếp được
vinh danh là “Khu nghĩ dưỡng sang trọng bậc nhất thế giới” tại lễ trao giải World Travel Awards – giải thưởng được ví như “Oscar ngành du lịch” và rất nhiều tập đoàn khách sạn lớn trên thế giới về đầu tư tại Việt Nam Bên cạnh đó, trong nước cũng có nhiều tập đoàn khách sạn như Vingroup, Mường Thanh, Thành Công,…góp phần mạnh mẽ đến ngành khách sạn nước nhà
3 Khái niệm và đặc điểm về kinh doanh khách sạn
3.1 Khái niệm kinh doanh khách sạn
Trong phần trên chúng ta đã nghiên cứu sản phẩm của hoạt động kinh doanh khách sạn Vậy hoạt động kinh doanh khách sạn được hiểu như thế nào:
Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh trên cơ sở cung cấp các dịch vụ, lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ sung cho khách nhằm đáp ứng các nhu cầu ăn, nghỉ và giải trí của họ tại các điểm du lịch nhằm mục đích lợi nhuận
Trang 40Khái niệm kinh doanh khách sạn lúc đầu để chỉ hoạt động cung cấp chỗ ngủ cho khách trong khách sạn Khi nhu cầu lưu trú và ăn uống với các mong muốn thoả mãn khác nhau của khách ngày càng đa dạng, kinh doanh khách sạn đã mở rộng đối tượng và bao gồm nhiều dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của khách Các chuyên gia trong lĩnh vực này thường sử dụng hai khái niệm: kinh doanh khách sạn theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, kinh doanh khách sạn là hoạt động cung cấp các dịch vụ phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi và ăn uống cho khách Còn theo nghĩa hẹp, kinh doanh khách sạn chỉ đảm bảo việc phục vụ nhu cầu ngủ, nghỉ cho khách
Kinh doanh khách sạn không chỉ cung cấp dịch vụ tự mình đảm nhiệm, mà còn tiêu thụ hoặc bán các sản phẩm thuộc các ngành và lĩnh vực khác của nền kinh tế như: nông nghiệp, năng lượng,
Hoạt động kinh doanh của khách sạn vừa có mối quan hệ mật thiết đến kinh doanh lữ hành song lại có tính độc lập riêng Bởi vì khách sạn là nơi phục vụ sự lưu trú cho khách du lịch và các đối tượng khác không phải là khách du lịch
Cùng với sự phát triển của hoạt động du lịch, sự đa dạng của nhu cầu khách du lịch, sự cạnh tranh giữa các khách sạn mà hoạt động kinh doanh của loại hình này ngày càng đa dang
và phong phú
3.2 Đặc điểm sản phẩm khách sạn
3.2.1 Khái niệm khách sạn
Từ “khách sạn“ (hôtel) có nguồn gốc từ tiếng Pháp, có nghĩa là lâu đài Vào thời trung
cổ, nó được dùng để chỉ những ngôi nhà sang trọng, nơi cư ngụ của các lãnh chúa Từ “khách sạn“ theo nghĩa hiện đại được dùng ở Pháp vào cuối thế kỷ XVIII, mãi đến cuối thế kỷ XIX mới được phổ biến ở các nước phương tây Khi nhắc đến khách sạn người ta thường hiểu đó là cơ sở (nơi) cho thuê trọ (lưu trú), nhưng không chỉ có khách sạn mới có dịch vụ lưu trú mà còn
có các cơ sở khác như nhà trọ, nhà nghỉ, nhà khách, lều trại đều có dịch vụ này Sự khác biệt chính để phân biệt khách sạn và nhà trọ thời bấy giờ là sự bố trí các buồng ngủ riêng với đầy đủ các tiện nghi bên trong của khách sạn
Khi nói đến khách sạn người ta thường hình dung ra những công trình nguy nga, lộng lẫy, với những món ăn ngon, những tiện nghi sang trọng, nhân viên phục vụ nhiệt tình, phong cách phục vụ hoàn hảo, thu nhiều lợi nhuận Tuy nhiên nhiều người tham gia vào hoạt động kinh doanh khách sạn bởi các lý do và suy nghĩ sau: