Thỏa thuận thi hành án dân sự là sự tự nguyện thỏa thuận giữa người được thi hành án với người phải thi hành án nhằm bàn bạc, trao đổi để đi đến thống nhất thi hành một phần hay toàn bộ
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG
I Lý luận chung
1 Khái niệm 1
2 Đặc điểm 1
3 Ý nghĩa 2
II Quy định của pháp luật thi hành án dân sự hiện hành
1 Cơ sở pháp lý 2
2 Nguyên tắc thỏa thuận 3
3 Các trường hợp thỏa thuận 4
III Đánh giá quy định của pháp luật 5
KẾT LUẬN 9
Danh mục tài liệu tham khảo 10
Trang 2MỞ ĐẦU
Thoả thuận là quyền dân sự của công dân trong giao lưu dân sự được pháp luật công nhận và bảo vệ Khi giao kết dân sự, các bên thỏa thuận với nhau về việc xác lập, thay đổi chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự, nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội Trong thi hành án dân sự, các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc thi hành án có ý nghĩa rất quan trọng Không những các bên giữ mối quan hệ tình cảm với nhau mà còn giúp cho việc thi hành án được giải quyết nhanh gọn, rút ngắn thời gian, đỡ tốn kém về công sức tiền bạc
để tổ chức thi hành án Pháp luật thi hành án dân sự hiện hành quy định như thế nào về vấn đề này? Để hiểu rõ hơn em xin chọn Đề bài số 3 cho bài tập học kì của mình: “Thỏa thuận trong thi hành án dân sự.”
NỘI DUNG
I Lý luận chung
Thi hành án dân sự là quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự qua nhiều giai đoạn; là việc thực hiện bản án, quyết định dân sự của Tòa án
Thỏa thuận thi hành án dân sự là sự tự nguyện thỏa thuận giữa người được thi hành án với người phải thi hành án nhằm bàn bạc, trao đổi để đi đến thống nhất thi hành một phần hay toàn bộ nội dung bản án, quyết định dân sự trên cơ
sở quyền và nghĩa vụ dân sự đã được xác lập theo bản án, quyết định dân sự đó
Từ khái niệm trên ta có thể thấy, thỏa thuận trong thi hành án dân sự cũng giống như thỏa thuận dân sự nói chung Nó là sự tự nguyện của các bên, tự do,
Trang 3bình đảng và thỏa thuận, thể hiện ý chí thông nhất về một vấn đề có liên quan đến các bên tham gia thỏa thuận, thiện chí giải quyết vấn đề
Về chủ thể: chủ thể tham gia thỏa thuận thi hành án bao gồm người được thi hành án và người phải thi hành án Họ là những chủ thể bình đẳng với nhau, đều không mang quyền lực nhà nước Các chủ thể này có quyền và nghĩa vụ nhất định theo bản án, quyết định của Tòa án
Về nội dung thỏa thuận: người phải thi hành án và người được thi hành án
sẽ thỏa thuận về việc thi hành một phần hay thi hành toàn bộ nội dung bản án Nếu chỉ thỏa thuận một phần thì phần còn lại sẽ được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự
Về nguyên tắc thỏa thuận: thỏa thuận thi hành án dân sự dựa trên sự tự nguyện của các bên Người được thi hành án, người phải thi hành án bình đẳng với nhau trong quá trình thỏa thuận Kết quả thỏa thuận là sự thống nhất ý chí giữa các bên, thể hiện thái độ thiện chí, hợp tác
Thỏa thuận trong thi hành án dân sự có ý nghĩa rất quan trọng
Thứ nhất, thỏa thuận trong thi hành án giúp cho các bên giữ gìn hòa khí,
không bị sứt mẻ tình cảm, gắn bó với nhau hơn Thỏa thuận là quá trình hai bên bàn bạc, trao đổi và đi đến thống nhất Trong quá trình thỏa thuận các bên đều
đã cân nhắc về các quyền và nghĩa vụ của mình để các bên đều có được lợi ích
mà mình muốn Thỏa thuận sẽ nghiêng về lý và tình hơn là tuân theo những quy định cứng nhắc của pháp luật Cho nên, thỏa thuận sẽ giúp các bên hiểu nhau hơn, giải quyết êm đẹp vấn đề
Thứ hai, thỏa thuận thành công đồng nghĩa với việc các bên thiện chí hợp
tác, tự nguyện thi thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định của Tòa án Kết quả của sự thỏa thuận là sự thống nhất ý chí giữa các bên Khi các bên đã thỏa
Trang 4thuận xong cũng đồng nghĩa với việc các bên đồng ý, chấp nhận thực hiện các nghĩa vụ của mình Do đó, nó giúp cho việc thi hành án được thuận lợi, nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, tiền bạc
Thứ ba, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc thi hành án sẽ góp
phần giảm thiểu gánh nặng cho cơ quan thi hành án, ổn định an ninh trật tự xã hội Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp không thỏa thuận được với nhau do người phải thi hành án trốn tránh thực hiện nghĩa vụ của mình Khi đó, người phải thi hành án sẽ tìm mọi cách để tẩu tán tài sản, chống đối cơ quan thi hành
án, gây mất trật tự công cộng Khiến cho công tác thi hành án bị trì trệ, kéo dài
từ năm này qua năm khác, áp lực ngày càng lớn đổ dồn lên vai của chấp hành viên, người được thi hành án không đòi được quyền lợi hợp pháp của mình Vì vậy, việc các đương sự thỏa thuận thi hành án thành công là một bước quan trọng trong quá trình đi tìm công lý
II Quy định của pháp luật thi hành án dân sự hiện hành
Pháp luật thi hành dân sự hiện hành đã có nhiều quy định về vấn đề thỏa thuận trong thi hành án dân sự
Vấn đề thỏa thuận thi hành án được Điều 6 Luật thi hành án dân sự năm
2014 quy định rõ, như sau:
“Điều 6 Thỏa thuận thi hành án
1 Đương sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội Kết quả thi hành án theo thỏa thuận được công nhận.
Theo yêu cầu của đương sự, Chấp hành viên có trách nhiệm chứng kiến việc thỏa thuận về thi hành án.
Trang 52 Trường hợp đương sự không thực hiện đúng thỏa thuận thì có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định.”
Đồng thời, vấn đề thỏa thuận thi hành án đã được hướng dẫn chi tiết tại Điều 5 Nghị định 62/2015/NĐ-CP, Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật thi hành án dân sự
2 Nguyên tắc thỏa thuận
Một là, thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật Pháp luật trao
cho các đương sự quyền được thỏa thuận Tuy nhiên, quyền này phải nằm trong khuân khổ pháp lý nhất định, thỏa thuận trong giới hạn luật định chứ không phải
là sự tự do thái quá, lộn xộn, bừa bãi Việc thỏa thuận của các bên phải tuân thủ quy định của pháp luật mới được coi là thỏa thuận hợp pháp
Các đương sự có quyền lựa chọn cả hình thức và nội dung thoả thuận (trừ hình thức và nội dung mà pháp luật quy định bắt buộc các bên phải tuân thủ khi xác lập thoả thuận dân sự) Về nội dung thoả thuận trong thi hành án dân sự, việc thoả thuận nói trên xuất phát từ bản chất của lợi ích của chính mình, phù hợp với lợi ích của bên kia và lợi ích của người thứ ba (nếu có), vì vậy các bên
có quyền thay đổi, tạm hoãn, tạm đình đình chỉ hoặc đình chỉ theo nội dung quyết định thi hành án hoặc các bên có quyền thoả thuận với nhau về các vấn đề liên quan đến việc thi hành án như; thời gian, địa điểm, phương thức thi hành Mặt khác, sau khi thoả thuận một trong các bên cũng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi của mình khi đương sự bên kia vi phạm thoả thuận gây thiệt hại cho mình
Hai là, thoả thuận thi hành án không trái đạo đức xã hội “Hoạt động thi
hành án dân sự có quan hệ mật thiết với sinh hoạt cộng đồng dân cư, truyền thống đạo đức và tâm lý của các tầng lớp dân cư trên địa bàn, mặt khác còn có tâm lý và phạm trù đạo đức vùng miền trên đất nước ta Với mục đích ngăn
Trang 6chặn, phòng ngừa mọi sự lạm dụng đó, Luật thi hành án dân sự đưa ra nguyên tắc “Không trái đạo đức xã hội” là cần thiết.”1
Ba là, thoả thuận của các đương sự không được ảnh hưởng quyền lợi ích
hợp pháp của người thứ ba Trong bản án, quyết định của Tòa án đôi khi không chỉ có quyền và nghĩa vụ của người phải thi hành án, người được thi hành án mà còn có quyết định về quyền và nghĩa vụ của người thứ ba Do đó, pháp luật cho phép người được thi hành án và người phải thi hành án thỏa thuận với nhau, nhưng việc thỏa thuận này phải đảm bảo quyền lợi cho người thứ ba
3 Các trường hợp thỏa thuận
Trường hợp 1: Đương sự thỏa thuận trước khi yêu cầu thi hành án hoặc đã yêu cầu nhưng cơ quan thi hành án dân sự chưa ra quyết định thi hành án2
Khi các đương sự thỏa thuận với nhau và đi đến thống nhất thì quá trình thỏa thuận, kết quả thỏa thuận phải lập thành văn bản nêu rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia thỏa thuận Đương sự có nghĩa vụ tự thực hiện đúng nội dung đã thỏa thuận Nếu bên
có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận mà thời hiệu yêu cầu thi hành án vẫn còn thì bên có quyền được yêu cầu thi hành án đối với phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định
Trường hợp 23: Cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án Khi cơ quan thi hành án đã ra quyết định thi hành án, đương sự vẫn có quyền tự thỏa thuận Thỏa thuận phải thể hiện rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận, thời hạn thực hiện thỏa thuận, hậu quả pháp lý đối với việc không
1 Phạm Quang Dũng - Chi cục THADS quận Bắc Từ Liêm, Hà Nộ, “Thỏa thuận trong thi hành án dân sự những vấn đề cần hoàn thiện”, http://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/lists/nghiencuutraodoi/view_detail.aspx? itemid=755
2 Khoản 1 Điều 5 Nghị định 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự
3 Khoản 2 Điều 5 Nghị định 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự
Trang 7thực hiện hoặc thực hiện không đúng nội dung đã thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia
Trường hợp các bên không tự nguyện thực hiện theo đúng nội dung đã thỏa thuận thì cơ quan thi hành án dân sự căn cứ nội dung quyết định thi hành án và kết quả đã thi hành theo thỏa thuận, đề nghị của đương sự để tổ chức thi hành, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành
án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ quyền, lợi ích được hưởng theo bản án, quyết định, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ
ba (Điểm c Khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự)
Trường hợp 34: Cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành án
Khi cơ quan thi hành án đang tổ chức thi hành án, đương sự vẫn được phép thỏa thuận Lúc này đương sự sẽ thỏa thuận về việc không yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành một phần hoặc toàn bộ quyết định thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ thi hành án đối với nội dung thỏa thuận không yêu cầu thi hành theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều
50 Luật Thi hành án dân sự, trừ trường hợp thỏa thuận vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng đến quyền
và lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí thi hành án
Nếu việc thỏa thuận của đương sự diễn ra sau khi tài sản đã được bán hoặc giao cho người khác nhận để thi hành án thì phải được sự đồng ý của người mua được tài sản hoặc người nhận tài sản để thi hành án
Trong trường hợp thứ 2 và thứ 3, đương sự có quyền yêu cầu Chấp hành viên chứng kiến và ký tên vào văn bản thỏa thuận giữa các đương sự Người yêu cầu Chấp hành viên chứng kiến việc thỏa thuận ngoài trụ sở cơ quan thi hành án dân sự mà phát sinh chi phí thì phải thanh toán các chi phí hợp lý cho cơ quan
4 Khoản 3 Điều 5 Nghị định 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự
Trang 8thi hành án dân sự Nếu thỏa thuận giữa các đương sự vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng đến quyền
và lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí thi hành án thì Chấp hành viên có quyền từ chối việc ký tên làm chứng nhưng phải lập biên bản
và nêu rõ lý do từ chối
III Đánh giá quy định của pháp luật
Pháp luật cho phép các đương sự được thỏa thuận trong thi hành án là điều cần thiết và đáp ứng được nhu cầu thực tế Nó cũng thể hiện được tính chất dân
sự trong quan hệ pháp luật này, tôn trọng sự tự do, bình đẳng và tự nguyện, thiện chí của các bên
Tuy nhiên, khi quy định cụ thể về thỏa thuận thi hành án, pháp luật thi hành
án dân sự nước ta hiện nay còn nhiều điểm bất cập, chưa hài hòa giữa lý thuyết
và thực tiễn
Thứ nhất, nguyên tắc khi thỏa thuận thi hành án: trong quá trình thỏa thuận,
các đương sự phải tuân thủ các nguyên tắc mà pháp luật quy định Trong đó pháp luật quy định việc thỏa thuận giữa các đương sự không được trái “đạo đức
xã hội” Tuy nhiên, khái niệm “Đạo đức xã hội” chưa được giải thích ở bất kỳ văn bản pháp luật nào, kể cả Bộ luật dân sự 2015 “Đạo đức xã hội” là khái niệm quá trừu tượng, khó định lượng và nó luôn biến động về phạm vi và nội dung tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triển của kinh tế - xã hội, nó còn tuỳ thuộc vào quan niệm, lối sống của mỗi người, mỗi tầng lớp, mỗi giai cấp và cũng phụ thuộc ít nhiều về vùng, miền Vì vậy, với khái niệm trên cũng gây ra nhiều băn khoăn cho chấp hành viên khi chứng kiến việc thoả thuận của các đương sự trong thi hành án Cho nên, pháp luật cần có một quy định cụ thể giải thích một cách chung nhất về khái niệm “Đạo đức xã hội” để trong quá trình áp dụng Luật được đồng bộ
Thứ hai, thoả thuận của các đương sự trong thi hành án không được ảnh
hưởng quyền lợi ích hợp pháp của người thứ ba, như điểm c, Khoản 1, Điều 50
Trang 9của Luật quy định: “Đương sự có thoả thuận bằng văn bản hoặc người được
thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ quyền, lợi ích được hưởng theo bản án, quyết định trừ trưởng hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba” Tại Điều 81 của Luật thi hành án dân sự cũng quy định: Thu
tiền của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ Mặt khác theo Điều 3 giải thích từ ngữ của Luật thi hành án dân sự: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của đương sự Khái niệm “người thứ ba” chưa được bất cứ văn bản Luật nào quy định Theo Từ điển thuật ngữ pháp lý thông dụng (Nguyễn Duy Lãm, chủ biên, NXB Đại học quốc gia 2001, trang 295) có đưa ra khái niệm: Người thứ ba là người không tham gia hoặc không phải là đại diện tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự, nhưng có lợi ích liên quan5
Như vậy, cùng một lúc Luật thi hành án vừa sử dụng cụm từ “người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” và “người thứ ba” trong khi chỉ giải thích cụm từ
“người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” mà không giải thích cụm từ “người thứ ba” Thực tiễn cho thấy, cần phân biệt rõ giữa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan với người thứ ba (từ khái niệm, đặc điểm giống và khác nhau) có như vậy các cơ quan thi hành án và chấp hành viên mới hiểu và thống nhất áp dụng các điều luật cho đúng quy định, khắc phục được tình trạng cùng một sự vật hiện tượng nhưng quan điểm sử lý khác nhau
Thứ ba, Luật Thi hành án dân sự không quy định rõ thời điểm các bên có
quyền thoả thuận với nhau về việc thi hành án (thoả thuận này có thể về hình thức, nội dung, thời gian, địa điểm hoặc phương thức thi hành án) Do vậy, quy định trên có thể áp dụng ở bất cứ thời điểm nào trong quá trình đôn đốc thi hành
án, bất kể đã có quyết định thi hành án hay chưa Trên thực tế, có hai thời điểm thường xảy ra khi các đương sự thoả thuận thi hành án: Trường hợp sau khi cơ
5 Phạm Quang Dũng – “Thỏa thuận trong thi hành án dân sự những vấn đề cần hoàn thiện”,
http://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/lists/nghiencuutraodoi/view_detail.aspx?itemid=755
Trang 10quan thi hành án tổ chức thi hành án (đã có quyết định thi hành án) và trường hợp trước khi cơ quan Thi hành án tổ chức thi hành án (khi chưa có quyết định thi hành án)
Tuy nhiên để giải quyết việc thoả thuận của các đương sự trước khi cơ quan thi hành án tổ chức thi hành án quy định về trình tự, thủ tục chưa thật hợp lý bởi thoả thuận đó phải được lập thành biên bản và xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tiến hành thoả thuận Việc giao cho cấp xã xác nhận thoả thuận của các đương sự trong thi hành án dân sự càng tạo thêm áp lực cho UBND cấp xã bởi áp lực về thời gian xác nhận (Ủy ban nhân dân cấp xã phải xác nhận tại thời điểm các đương sự tiến hành thoả thuận) và áp lực cả về hình thức và nội dung xác nhận, gây chồng chéo về thẩm quyền Mặt khác, thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã được xác định tại Nghị định 23/NĐ-CP ngày 16/02/2015 bao gồm: cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký
và chứng thực hợp đồng, giao dịch (Khoản 2, Điều 5 Nghị định)
Thứ tư, theo quy định của pháp luật hiện hành thì: “Kết quả thi hành án
theo thoả thuận được công nhận” Có thể thấy quy định này quá chung chung, khó hiểu; đồng thời cũng không có bất cứ giải thích nào đối với các văn bản dưới luật trước đây và cũng không có bất cứ hướng dẫn trình tự thủ tục nào về vấn đề này Vấn đề quan trọng ở đây kết quả thoả thuận của các đương sự không trái đạo đức xã hội, không trái pháp luật và không làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của người thứ ba phải có giá trị pháp lý rõ ràng, không thể tranh cãi
Thực tiễn diễn ra và cơ chế xử lý vụ việc không hoàn toàn đúng như vậy Nếu các đương sự thoả thuận với nhau sau khi cơ quan thi hành án tổ chức thi hành (đã có quyết định thi hành án) đảm bảo các nguyên tắc thì có thể có ba trường hợp xảy ra :
Trường hợp 1: thoả thuận đó đúng về nội dung quyết định thi hành án nhưng các đương sự chỉ thoả thuận về thời gian thực hiện, phương thức thực