1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về kê biên tài sản là động sản trong thi hành án dân sự (luận văn thạc sỹ luật)

80 25 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 849,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (6)
  • 2. Tình hình nghiên cứu (7)
  • 3. Mục đích nghiên cứu (9)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (10)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (10)
  • 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn (11)
  • 7. Kết cấu của luận văn (11)
  • CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH VỀ KÊ BIÊN TÀI SẢN LÀ ĐỘNG SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ (12)
    • 1.1. Khái quát về kê biên tài sản là động sản (12)
      • 1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại động sản (12)
        • 1.1.1.1. Khái niệm động sản (12)
        • 1.1.1.2. Đặc điểm của động sản (14)
        • 1.1.1.3. Phân loại động sản (14)
      • 1.1.2. Kê biên tài sản là động sản trong thi hành án dân sự (15)
        • 1.1.2.1. Khái niệm kê biên tài sản là động sản (15)
        • 1.1.2.2. Đặc điểm của cưỡng chế kê biên đối với động sản (18)
        • 1.1.2.3. Phân loại cưỡng chế kê biên động sản (19)
        • 1.1.2.4. Nguyên tắc kê biên tài sản là động sản (20)
        • 1.1.2.5. Ý nghĩa của việc kê biên tài sản trong thi hành án dân sự (23)
    • 1.2. Pháp luật về kê biên tài sản là động sản trong thi hành án dân sự (25)
      • 1.2.1. Các quy định của pháp luật thi hành án dân sự (25)
        • 1.2.1.1. Điều kiện áp dụng biện pháp kê biên đối với một số tài sản đặc biệt 20 1.2.1.2. Tổ chức cưỡng chế thi hành án (25)
  • CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KÊ BIÊN TÀI SẢN LÀ ĐỘNG SẢN VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN (42)
    • 2.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật thi hành án dân sự về kê biên động sản (42)
      • 2.1.1. Quy định tài sản là động sản bị cưỡng chế kê biên (42)
        • 2.1.1.1. Kê biên động sản là phương tiện giao thông, tàu thuyền, đồ vật (43)
        • 2.1.1.2. Kê biên quyền sở hữu trí tuệ (47)
        • 2.1.1.3. Kê biên phần vốn góp (49)
        • 2.1.1.4. Kê biên giấy tờ có giá (52)
        • 2.1.1.5. Kê biên đối với hàng hóa là nông sản, lâm sản; hàng tươi sống, mau hỏng (54)
      • 2.1.2. Chủ thể tiến hành cưỡng chế kê biên (56)
      • 2.1.3. Trình tự thủ tục về kê biên động sản (57)
      • 2.1.4. Hậu quả pháp lý đối với tài sản bị kê biên (59)
      • 2.1.5. Bảo quản tài sản kê biên (60)
      • 2.1.6. Quy định về giải tỏa kê biên (61)
    • 2.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về kê biên động sản (63)
      • 2.2.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về kê biên động sản (63)
        • 2.2.2.1. Cưỡng chế thi hành án dân sự phải bảo đảm quyền con người, quyền công dân (64)
        • 2.2.2.2. Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự gắn với cải cách hành chính và cải cách tư pháp (65)
        • 2.2.2.3. Đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật (66)
        • 2.2.2.4. Đảo bảo các nguyên tắc cưỡng chế (66)
        • 2.2.2.5. Đảm bảo hiệu lực thi hành bản án, quyết định của Tòa án, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (67)
      • 2.2.3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về kê biên tài sản là động sản (67)
  • KẾT LUẬN (41)

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài

Thi hành án dân sự là quá trình thực hiện phán quyết nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan, đóng vai trò quan trọng trong việc thực thi công lý Việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án và các cơ quan liên quan cần được thực hiện đầy đủ và hiệu quả Luật Thi hành án dân sự lần đầu tiên được Quốc hội khóa XII thông qua vào ngày 14/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/7/2009, và đã được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 64/2014/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/7/2015, nhằm thể chế hóa các chủ trương của Đảng tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII.

(1995), Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII

Nghị quyết số 08/NQ-TW (2002) và Nghị quyết số 48/NQ-TW (2005) của Bộ Chính trị đã xác định các nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tư pháp và định hướng xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020 Nghị quyết số 49/NQ-TW (2005) cũng đề ra chiến lược cải cách tư pháp Sau khi các nghị quyết này có hiệu lực, Chính phủ cùng các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành nhằm đảm bảo việc áp dụng pháp luật chính xác, thống nhất và giải quyết những vấn đề thực tiễn còn bỏ ngỏ.

Trong tổ chức thi hành án dân sự, các bên chủ yếu phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền, bao gồm thanh toán theo hợp đồng tín dụng, bồi thường thiệt hại và các giao dịch dân sự khác Nếu người phải thi hành án không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ, họ sẽ bị cưỡng chế thi hành án, dẫn đến việc xử lý tài sản của họ Việc xác định và xử lý tài sản, đặc biệt là đối với động sản không đăng ký, là một quy trình phức tạp Pháp luật hiện hành quy định rõ ràng về biện pháp bảo đảm và cưỡng chế trong xử lý tài sản, nhưng thực tiễn áp dụng còn nhiều hạn chế Do đó, tác giả chọn đề tài “Pháp luật về kê biên tài sản là động sản trong thi hành án dân sự” cho luận văn tốt nghiệp cao học Luật dân sự và Tố tụng dân sự.

Trường Đại học Kinh tế - Luật, thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, mong muốn đóng góp vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử lý tài sản trong quá trình thi hành án dân sự.

Tình hình nghiên cứu

Trong lĩnh vực pháp luật thi hành án dân sự, nhiều nghiên cứu và bài viết tập trung vào cưỡng chế thi hành án liên quan đến bất động sản và tài sản thế chấp Tuy nhiên, việc nghiên cứu quy định xử lý tài sản động sản theo pháp luật thi hành án dân sự cũng cần được chú trọng, với nhiều đề tài đáng lưu ý.

Bùi Đức Tiến (2018) trong luận án tiến sĩ Luật học tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã nghiên cứu về thực hiện pháp luật cưỡng chế thi hành án dân sự Luận án này cung cấp cơ sở lý luận vững chắc cho việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này, phân tích thực trạng cưỡng chế thi hành án dân sự tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan.

- Lại Anh Thắng (2010), Thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự ở tỉnh Bà

Luận văn thạc sĩ Luật học tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, tập trung phân tích lý luận về thực hiện pháp luật thi hành án dân sự, bao gồm khái niệm, vai trò và đặc điểm của nó Tác giả đã đánh giá thực trạng thi hành án dân sự tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và đề xuất các giải pháp như hoàn thiện pháp luật, cải thiện chế độ đãi ngộ cho cán bộ, công chức trong lĩnh vực thi hành án dân sự, và tăng cường biện pháp xử lý các vụ việc tồn đọng.

Lê Xuân Tùng (2016) trong luận văn thạc sĩ Luật học đã phân tích và đánh giá các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam, đặc biệt từ thực tiễn tại thành phố Hà Nội Luận văn chỉ ra những vướng mắc và bất cập trong quá trình áp dụng các biện pháp này, đồng thời đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật về cưỡng chế và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi hành án tại Hà Nội.

Bài viết của Lê Anh Tuấn (2010) trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã phân tích các biện pháp cưỡng chế kê biên và xử lý tài sản trong thi hành án dân sự Tác giả chỉ ra những vướng mắc trong quá trình xác minh, kê biên, định giá và bán đấu giá tài sản, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến việc xử lý tài sản.

Trần Công Thịnh (2008) trong bài viết "Thực tiễn áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản để thi hành án dân sự và một số khuyến nghị" đã chỉ ra những vướng mắc trong việc cưỡng chế tài sản, bao gồm việc một số chấp hành viên và công chức chưa đáp ứng yêu cầu chuyên môn, thiếu tích cực trong xử lý các vụ việc phức tạp, cũng như cơ chế quản lý thi hành án còn chồng chéo Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các cơ quan trong việc cưỡng chế chưa hiệu quả và nhiều quy định pháp luật về kê biên tài sản còn thiếu chặt chẽ Tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự, đặc biệt là trong lĩnh vực cưỡng chế kê biên tài sản.

Nguyễn Thanh Phương (2011) trong luận văn thạc sĩ Luật học tại Trường Đại học Luật, Hà Nội đã phân tích khái niệm và đặc điểm của biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản trong thi hành án dân sự Tác giả cũng đã đánh giá thực trạng áp dụng biện pháp này và từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình cưỡng chế kê biên tài sản.

Vấn đề cưỡng chế kê biên tài sản và thi hành án đã thu hút sự chú ý của nhiều tác giả, với các tài liệu nghiên cứu tổng quan về cưỡng chế thi hành án dân sự và các biện pháp kê biên tài sản, bao gồm quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất Mặc dù đã có nhiều bài viết về cưỡng chế tài sản là động sản, nhưng các nghiên cứu này thường chỉ tập trung vào một số loại đối tượng cụ thể như kê biên phần vốn góp, quyền sở hữu trí tuệ, và xử lý giấy tờ có giá Tuy nhiên, vẫn thiếu các nghiên cứu độc lập và chuyên sâu về biện pháp kê biên tài sản dựa trên đối tượng kê biên là động sản để thi hành án.

Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài “Pháp luật về kê biên tài sản là động sản trong thi hành án dân sự” là làm rõ cơ sở khoa học, lý luận và thực tiễn liên quan đến cơ chế xử lý tài sản động sản trong quá trình thi hành án dân sự.

Trong việc xử lý động sản, cần làm rõ một số quy định của pháp luật thi hành án dân sự và các luật liên quan Việc hiểu rõ các quy định này sẽ giúp đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả trong quá trình thi hành án.

Bài viết này sẽ phân tích và đánh giá thực trạng xử lý động sản theo pháp luật thi hành án dân sự hiện nay, nhằm chỉ ra những bất cập và hạn chế trong quy trình này Từ đó, chúng tôi sẽ đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động xử lý động sản trong thời gian tới.

Tác giả đưa ra các đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về xử lý động sản, dựa trên những tồn tại và hạn chế hiện tại Những kiến nghị này được xây dựng trên cơ sở các luận cứ khoa học, góp phần cải thiện các quy định liên quan đến việc cưỡng chế thi hành án.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được xây dựng dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, kết hợp với các chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước trong chiến lược cải cách tư pháp hiện nay Học viên áp dụng các phương pháp nghiên cứu chính như phân tích, tổng hợp và luật học so sánh để đảm bảo tính chính xác và sâu sắc trong nội dung.

Trong toàn bộ luận văn, phương pháp phân tích được áp dụng để làm rõ các quy định liên quan đến biện pháp cưỡng chế và biện pháp đảm bảo Chương I tập trung vào việc phân tích các quy định cụ thể, trong khi Chương II thực hiện việc thống kê, so sánh và đánh giá các quy định, liên hệ với thực tiễn để nhận diện hạn chế và bất cập, từ đó đề xuất các giải pháp Ngoài ra, luận văn cũng phân tích các vụ việc thi hành án dân sự liên quan đến việc áp dụng biện pháp bảo đảm và biện pháp cưỡng chế.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn này nghiên cứu sâu về việc xử lý động sản trong thi hành án dân sự, chỉ ra những bất cập và thiếu sót trong các quy định pháp luật hiện hành, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến vấn đề này.

Luận văn mang lại nhiều lợi ích thực tiễn, không chỉ là tài liệu hữu ích cho sinh viên và giảng viên trong việc học tập và nghiên cứu về pháp luật thi hành án dân sự, mà còn là nguồn tham khảo quý giá cho những người làm công tác thi hành án dân sự trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 2 chương:

Chương 1: Lý luận về kê biên tài sản là động sản và pháp luật về kê biên tài sản là động sản trong thi hành án dân sự

Chương 2 trình bày thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về thi hành án dân sự, đặc biệt là trong việc cưỡng chế động sản Bài viết cũng đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện những quy định này, nhằm nâng cao hiệu quả và tính khả thi trong quá trình thi hành án Việc cải thiện các quy định sẽ góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan và đảm bảo tính công bằng trong thực thi pháp luật.

LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH VỀ KÊ BIÊN TÀI SẢN LÀ ĐỘNG SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Khái quát về kê biên tài sản là động sản

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại động sản

Pháp luật quốc tế quy định rõ ràng về việc phân loại tài sản, với nhiều tiêu chí như vật chính, vật phụ, vật đồng bộ và vật đặc định Tuy nhiên, phân chia tài sản thành bất động sản và động sản là phương pháp phân loại truyền thống quan trọng nhất Các quy định về động sản trong pháp luật của một số quốc gia trên thế giới cũng được xem xét kỹ lưỡng.

Pháp luật Cộng hòa Pháp quy định rằng tất cả tài sản đều được phân loại là động sản hoặc bất động sản (Điều 516) Bộ luật Dân sự Pháp xác định tài sản là động sản dựa trên hai tiêu chí: thứ nhất, do bản chất của tài sản; thứ hai, theo quy định của luật (Điều 527) Cụ thể, Điều 528 giải thích rằng tài sản được coi là động sản khi nó có khả năng tự di chuyển hoặc có thể được dịch chuyển nhờ tác động bên ngoài mà không làm thay đổi hình dạng, kích thước và tính chất vốn có của tài sản.

Điều 529 quy định các loại tài sản động sản bao gồm trái phiếu, cổ phiếu trị giá bằng tiền, cổ phần, lãi suất trong các công ty và khoản lợi tức Bên cạnh đó, Điều 533 cũng xác định rằng tiền và các tác phẩm nghệ thuật thuộc loại động sản Phân loại này không dựa vào phương pháp loại trừ mà dựa trên các tiêu chí xác định tài sản là bất động sản hay động sản.

Pháp luật Nhật Bản xác định động sản là những tài sản không thuộc về bất động sản Ngoài ra, nghĩa vụ thanh toán, tín phiếu và cổ phiếu cũng được quy định rõ ràng trong hệ thống pháp lý này.

Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa Pháp năm 1998, do Nhà xuất bản chính trị Quốc gia phát hành, quy định rằng hình thức văn bản không ghi tên người có quyền yêu cầu thanh toán được hiểu là động sản Phân loại này được thực hiện dựa trên phương pháp loại trừ và phân loại theo quy định của pháp luật.

Pháp luật Thái Lan định nghĩa động sản là những vật có khả năng di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác, không phụ thuộc vào việc di chuyển đó do chính chúng hay do tác động từ bên ngoài Phân loại này dựa trên bản chất di chuyển của tài sản.

Pháp luật bang Québec (Canada) quy định rằng các sóng hoặc năng lượng do con người chế ngự và sử dụng, bất kể nguồn gốc là động sản hay bất động sản, đều được xem là động sản hữu hình Đây là một loại tài sản mới, tạo ra giá trị kinh tế và cách phân loại này dựa trên các quy định pháp luật hiện hành.

Theo pháp luật Việt Nam tại Điều 107 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

1 Bất động sản bao gồm: a) Đất đai; b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật

2 Động sản là những tài sản không phải là bất động sản

Tài sản có thể được phân chia thành hai loại chính: bất động sản và động sản Bên cạnh đó, còn có các phân loại khác như vật chính và vật phụ, cũng như vật chia được và không chia được.

2 Bộ Luật Dân sự và Thương mại Thái Lan – Các quyển I-VI” do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành tháng 8 năm 1995 (Điều 140)

3 Legisquebec.gouv.qc.ca/en/showdoc/cs/CCQ-1991 Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2018

Theo các quy định hiện hành, Bộ luật Dân sự quy định rằng động sản là tất cả tài sản không phải là đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất, và các tài sản khác liên quan Bộ luật Dân sự năm 2015 không đưa ra định nghĩa cụ thể về động sản, mà sử dụng phương pháp loại trừ để xác định Kết hợp Điều 105 và Điều 107 cho thấy rằng phạm vi của động sản rất rộng và phong phú, bao gồm nhiều loại tài sản khác nhau theo quy định của pháp luật.

1.1.1.2 Đặc điểm của động sản Đối tượng được xếp vào là động sản có phạm vi khá rộng vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản mà không gắn liền với bất động sản

Động sản có thể tồn tại dưới dạng tài sản vô hình hoặc hữu hình, hiện tại hoặc hình thành trong tương lai Giá trị của một số động sản được thể hiện qua những con số cụ thể hoặc cảm nhận của con người.

Là những tài sản có thể di dời được bất kể là do tự di chuyển hoặc do ngoại lực tác động

Từ khái niệm và đặc điểm trên, tài sản là động sản vô cùng phong phú và đa dạng Tuy nhiên, vẫn có thể sắp xếp chúng thành 03 nhóm 4

Động sản tự nhiên là những tài sản có thể di chuyển dễ dàng, bao gồm động vật sống, phương tiện đi lại, tiền mặt, quần áo và nữ trang Những tài sản này có khả năng tự di chuyển hoặc có thể bị tác động bởi ngoại lực để di chuyển Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, trong các loại tài sản này có những tài sản phải tuân thủ các quy định cụ thể.

Theo Giáo trình Luật dân sự tập 1 của Trường đại học mở Thành phố Hồ Chí Minh (2016), việc đăng ký hành chính là bắt buộc đối với các phương tiện như ô tô, xe máy, cũng như đăng ký quyền sở hữu đối với tàu bay và tàu biển.

Bất động sản có thể chỉ phát huy giá trị khi chuyển đổi thành động sản, như trong trường hợp hoa lợi mùa màng được bán ngay tại ruộng, vườn.

Pháp luật về kê biên tài sản là động sản trong thi hành án dân sự

1.2.1.1 Điều kiện áp dụng biện pháp kê biên đối với một số tài sản đặc biệt

Kê biên tài sản là biện pháp cưỡng chế quan trọng theo Luật Thi hành án dân sự, nhằm xử lý tài sản trong quá trình thi hành án Quá trình này bao gồm nhiều giai đoạn, từ xác minh điều kiện thi hành án, làm rõ tính pháp lý và thực tiễn của tài sản, đến việc ra quyết định kê biên, tổ chức thực hiện kê biên, giao bảo quản tài sản, thẩm định giá, bán đấu giá, giao tài sản và thanh toán tiền thi hành án Mỗi giai đoạn đều có quy định về trình tự thủ tục và thời gian thực hiện riêng biệt.

Biện pháp kê biên tài sản để thi hành án được áp dụng khi người phải thi hành án có nghĩa vụ tài sản như thanh toán tiền công, tiền lương, hoặc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng Ngoài ra, biện pháp này cũng có thể được thực hiện theo thỏa thuận của các bên trong trường hợp tài sản đặc định không còn hoặc hư hỏng Chấp hành viên có quyền kê biên tài sản để thanh toán chi phí cưỡng chế hoặc phạt vi phạm hành chính trong quá trình thi hành án.

Người thi hành án có thể sử dụng tài sản động sản như quyền sở hữu trí tuệ và các vật phẩm khác để đảm bảo việc thi hành án.

Quyền sở hữu trí tuệ, theo Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015, được định nghĩa là quyền tài sản có giá trị bằng tiền, bao gồm quyền tài sản liên quan đến sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.

Theo Điều 84 đến Điều 86 Luật Thi hành án dân sự, quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án vẫn bị kê biên, ngay cả khi họ đã chuyển quyền sử dụng cho bên khác Chấp hành viên sẽ thu giữ các tài liệu liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ và không được kê biên quyền này nếu Nhà nước yêu cầu chuyển giao quyền vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc lợi ích xã hội Các bên được giao quyền sử dụng phải nộp một phần lợi nhuận cho cơ quan thi hành án Nếu người phải thi hành án đã chuyển quyền sở hữu trí tuệ nhưng chưa nhận đủ thanh toán, Chấp hành viên có quyền yêu cầu bên nhận chuyển giao thanh toán số tiền còn thiếu để thi hành án.

Kê biên quyền sở hữu trí tuệ đã chuyển quyền phải tuân theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, trong đó người phải thi hành án không được sử dụng tiền thu được từ chuyển quyền để thực hiện nghĩa vụ thi hành án nếu không còn tài sản khác Thời điểm chuyển quyền diễn ra sau khi bản án có hiệu lực pháp luật Nếu nhà nước yêu cầu chủ sở hữu chuyển giao quyền cho tổ chức, cá nhân khác trong thời hạn nhất định, Chấp hành viên không được kê biên trong thời gian đó Để kê biên quyền sở hữu trí tuệ, Chấp hành viên cần đảm bảo người phải thi hành án là chủ sở hữu và quyền đó có thể chuyển nhượng.

Quyền tác giả là quyền của cá nhân hoặc tổ chức đối với tác phẩm mà họ sáng tạo hoặc sở hữu Quyền liên quan đến tác giả bao gồm quyền của cá nhân hoặc tổ chức đối với các cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, và tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa Theo Điều 4 của Luật Sở hữu trí tuệ số 19/VBNH-VPQH ban hành ngày 18/12/2013, có quy định chung về việc chuyển nhượng quyền tác giả và quyền liên quan.

1 Chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan là việc chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan chuyển giao quyền sở hữu đối với các quyền quy định tại khoản 3 Điều 19, Điều 20, khoản 3 Điều 29, Điều 30 và Điều 31 của Luật này cho tổ chức, cá nhân khác theo hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật có liên quan

2 Tác giả không được chuyển nhượng các quyền nhân thân quy định tại Điều 19, trừ quyền công bố tác phẩm; người biểu diễn không được chuyển nhượng các quyền nhân thân quy định tại khoản 2 Điều 29 của Luật này

3 Trong trường hợp tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có đồng chủ sở hữu thì việc chuyển nhượng phải có sự thỏa thuận của tất cả các đồng chủ sở hữu; trong trường hợp có đồng chủ sở hữu nhưng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có các phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập thì chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có quyền chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan đối với phần riêng biệt của mình cho tổ chức, cá nhân khác

Khi xác minh điều kiện thi hành án liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, Chấp hành viên cần làm rõ các quyền có thể được chuyển nhượng và chuyển giao để đảm bảo tính hợp pháp trong quá trình kê khai.

Điểm 1, 2 Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Sở hữu trí tuệ quy định rằng việc biên, xử lý tài sản có thể được chuyển đổi thành tiền, cho phép người nhận chuyển nhượng và khai thác giá trị Tuy nhiên, không áp dụng kê biên đối với các quyền về nhân thân, quyền không thể định giá bằng tiền, và các quyền sở hữu trí tuệ không thể chuyển nhượng hoặc chuyển giao.

Quyền sở hữu công nghiệp bao gồm quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, và các đối tượng sở hữu trí tuệ khác Chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp là quá trình chuyển giao quyền sở hữu từ chủ sở hữu sang tổ chức, cá nhân khác Để kê biên quyền sở hữu trí tuệ, các quyền này phải tuân thủ quy định về chuyển quyền sử dụng và phải được thực hiện bằng hợp đồng văn bản, trừ những trường hợp hạn chế theo Điều 142 của Luật Sở hữu trí tuệ số 19/VBNH-VPQH ban hành ngày 18/12/2013.

Quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý, tên thương mại không được chuyển giao

Quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể chỉ được cấp cho các thành viên của tổ chức sở hữu nhãn hiệu, không được phép chuyển nhượng cho cá nhân hoặc tổ chức ngoài thành viên.

Bên được chuyển quyền không được ký kết hợp đồng thứ cấp với bên thứ ba, trừ trường hợp được bên chuyển quyền cho phép

Bên nhận quyền sử dụng nhãn hiệu phải ghi rõ trên sản phẩm và bao bì rằng hàng hóa được sản xuất theo hợp đồng sử dụng nhãn hiệu.

18 Điểm 4 Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Sở hữu trí tuệ

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KÊ BIÊN TÀI SẢN LÀ ĐỘNG SẢN VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

Ngày đăng: 12/07/2021, 11:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Đức Tiến (2016), “Một số vấn đề về cưỡng chế thi hành án quyền sở hữu trí tuệ”, Tạp chí Cộng sản (Số chuyên đề cơ sở 118) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về cưỡng chế thi hành án quyền sở hữu trí tuệ”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Bùi Đức Tiến
Năm: 2016
2. Chính phủ (2017), Báo cáo số 439/BC-CP ngày 14/10/2017 công tác thi hành án năm 2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 439/BC-CP ngày 14/10/2017 công tác thi hành án năm 2017
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2017
3. Chu Thị Hoa (2012), "Mô hình tổ chức thi hành án dân sự công ở một số nước trên thế giới", Tạp chí Dân chủ và pháp luật, (Số chuyên đề về thi hành án dân sự) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình tổ chức thi hành án dân sự công ở một số nước trên thế giới
Tác giả: Chu Thị Hoa
Năm: 2012
7. Huỳnh Thị Nam Hải (2015), Thi hành án dân sự, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Min Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi hành án dân sự
Tác giả: Huỳnh Thị Nam Hải
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Min
Năm: 2015
8. Lại Anh Thắng (2010), Thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Tác giả: Lại Anh Thắng
Năm: 2010
9. Lê Thu Hà (Chủ biên) (2009), Sổ tay chấp hành viên, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay chấp hành viên
Tác giả: Lê Thu Hà (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2009
10. Lê Anh Tuấn (2010), "Cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án", Tạp chí Dân chủ và Pháp luật - Bộ Tư pháp, (Số chuyên đề thi hành án dân sự) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án
Tác giả: Lê Anh Tuấn
Năm: 2010
1. Bộ luật Dân sự (Luật số 91/2015/QH13) ngày 24/11/2015 Khác
2. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 28/11/2013 Khác
3. Luật Chứng khoán (Luật số: 70/2006/QH11) ngày 29/6/2006 Khác
4. Luật Doanh nghiệp (Luật số 68/2014/QH13) ngày 26/11/2014 Khác
5. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán (Luật số Khác
6. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự (Luật số 64/2014/QH 13) ngày 25/11/2014 Khác
7. Luật Thi hành án dân sự (Luật số 26/2008/QH12) ngày 14/1/12008 Khác
8. Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự Khác
9. Pháp lệnh thi hành án dân sự (Số 13/2004/PL-UBTVQH11) ngày 14/01/2014 Khác
10. Pháp lệnh thủ tục bắt giữ tàu bay (Số: 11/2010/UBTVQH12) ngày 16/3/2010 Khác
11. Pháp lệnh thủ tục bắt giữ tàu biển (Số: 05/2008/UBTVQH12) ngày 27/8/2008 Khác
12. Thông tư số 01/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số thủ tục về quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ trong thi hành án dân sự Khác
13. Thông tư số 200/2016/TT-BTC ngày 09/11/2016 của Bộ Tài chính quy định việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động của cơ quan Thi hành án dân sự, kinh phí cưỡng chế thi hành án dân sự Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w