Thứ ba, khi kê biên tài sản chung của vợ chồng, hộ gia đình Chấp hành viên phải vận dụng Luật hôn nhân và gia đình, Luật đất đai để xác định phần quyền tài sản, quyền sử dụng của vợ chồ
Trang 1VÕ VĂN HƯỞNG
KÊ BIÊN TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ (CHỒNG),
HỘ GIA ĐÌNH TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
VÕ VĂN HƯỞNG
KÊ BIÊN TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ (CHỒNG),
HỘ GIA ĐÌNH TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60380103
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN XUÂN QUANG
TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn Các số liệu, trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ
VÕ VĂN HƯỞNG
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu của đề tài 7
4.1 Phạm vi nghiên cứu 7
4.2 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài 8
6 Kết cấu của luận văn: 8
CHƯƠNG 1 XÁC ĐỊNH PHẦN QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN, PHẦN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA VỢ HOẶC CHỒNG, THÀNH VIÊN TRONG HỘ GIA ĐÌNH 10
1.1 Quy định của pháp luật về xác định phần quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất của vợ hoặc chồng, thành viên trong hộ gia đình 10
1.2 Thực trạng về xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của vợ hoặc chồng, thành viên trong hộ gia đình 18
1.3 Kiến nghị để hoàn thiện pháp luật 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26
CHƯƠNG 2 KÊ BIÊN TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ HOẶC CHỒNG, HỘ GIA ĐÌNH TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 27
Trang 62.1 Quy định pháp luật về kê biên tài sản chung của vợ hoặc chồng, hộ gia đình
trong thi hành án dân sự 27
2.1.1 Quy định pháp luật về kê biên tài sản thi hành án dân sự: 27
2.1.2 Quy định pháp luật về kê biên tài sản chung của vợ chồng, hộ gia đình 30
2.2 Thực trạng về kê biên tài sản chung của vợ, chồng, hộ gia đình trong thi hành án dân sự 34
2.3 Những bất cập về kê biên tài sản chung của vợ hoặc chồng, hộ gia đình trong thi hành án dân sự 39
2.4 Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật 47
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 50
KẾT LUẬN 52 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã tạo hành lang pháp lý
cơ bản bảo đảm cho công tác thi hành án dân sự hiệu quả hơn; trình tự, thủ tục thi hành án dân sự được quy định rõ ràng, dễ thực hiện, nhiều quy định mới thể hiện sự phù hợp trong nghiệp vụ thi hành án dân sự Trong đó biện pháp cưỡng chế thi hành
án được xây dựng chặt chẽ, mở rộng hơn so với Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm
2004 là cơ sở pháp lý để cơ quan thi hành án dân sự thực hiện tốt việc tổ chức thi hành án dân sự
Bên cạnh những tác động tích cực của Luật THADS năm 2014, sửa đổi, bổ sung Luật THADS năm 2008, cho thấy trong thực tiễn áp dụng còn nhiều bất cập, hạn chế đã gây không ít những khó khăn cho cơ quan thi hành án dân sự trong việc thực thi pháp luật thi hành án dân sự như:
Trang 8Thứ nhất, Luật thi hành án dân sự năm 2014, sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành
án dân sự năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành còn bộc lộ một số khiếm khuyết về trình tự, thủ tục thi hành án còn phức tạp, nhiều công đoạn, quá trình thi hành án kéo dài, tài sản bán nhiều lần nhưng không có người đăng ký mua
Thứ hai, các quy phạm pháp luật trong Luật thi hành án dân sự và các văn
bản hướng dẫn thi hành chưa dự lường nhiều tình huống xảy ra trong thực tiễn, nên khi tổ chức thi hành án dân sự, chấp hành viên phải đối mặt với những rủi ro khi thực hiện cưỡng chế thi hành án, đặc biệt cưỡng chế kê biên tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với người khác (như tài sản của vợ hoặc chồng hay của hộ gia đình) Tại Điều 74 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm
2014 quy định về xác định, xử lý tài sản chung của vợ chồng, hộ gia đình trong thi hành án dân sự và tại điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị Định 62/NĐ-CP chưa có sự thống nhất mà có mâu thuẫn về cách giải quyết1
Thứ ba, khi kê biên tài sản chung của vợ chồng, hộ gia đình Chấp hành viên
phải vận dụng Luật hôn nhân và gia đình, Luật đất đai để xác định phần quyền tài sản, quyền sử dụng của vợ (chồng), thành viện trong hộ gia đình Đặc biệt, liên quan đến tài sản là quyền sử dụng đất của vợ chồng cũng như của hộ gia đình rất khó xác định phần quyền của từng người, bởi tài sản của vợ chồng được hình thành
ở nhiều thời điểm khác nhau, khó xác định tài sản riêng hay chung hay tài sản của
hộ gia đình tại thời điểm giao đất cho hộ có mặt thành viên đó trong hộ nhưng sau
đó chuyển đi có được tính quyền lợi của họ hay không, nên gây cản trở khó khăn cho quá trình tổ chức thi hành án xử lý tài sản chung của vợ chồng, hộ gia đình trong thi hành án dân sự
Thực tiễn áp dụng pháp luật cần nghiên cứu, bổ sung các quy định nhằm khắc phục những vướng mắc, bất cập trong thủ tục thi hành án, hạn chế tình trạng
án dân sự tồn đọng là nhu cầu có tính cấp thiết nhằm bảo vệ cơ quan thi hành án,
1 Phạm công Ý (2017), “Tạp chí dân chủ và pháp luật, số chuyên đề tháng 9 – 2017, 31-32
Trang 9Chấp hành viên, quyền lợi chính đáng của người được thi hành án trong việc thi hành nghĩa vụ về tài sản Căn cứ pháp lý để xác định, kê biên tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án với người khác rất khó khăn Nếu xác định sai dẫn đến kê biên tài sản sai ảnh hưởng đến quyền lợi người thứ ba hoặc không tính đến quyền lợi của chủ sở hữu chung, thì hậu quả để lại rất lớn có thể dẫn đến bồi thường thiệt hại Vì vậy bản thân chọn đề tài “ kê biên tài sản chung của vợ chồng, hộ gia đình trong thi hành án dân sự” làm đề tài luận văn Thạc sĩ cao học Luật, chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự nhằm góp phần quan trọng trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự về kê biên tài sản chung của vợ hoặc chồng, hộ gia đình Qua đó hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật thi hành án dân sự
2 Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến đề tài có một số bài viết của các nhà nghiên cứu:
- Trương Văn Huyền, (2017), “Xác định, xử lý tài sản chung trong thi hành
án dân sự”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Trong công trình này tác giả đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về xác định, xử lý tài sản chung Luận văn đã phân tích, đánh giá thực tiễn pháp luật về xác định xử lý tài sản chung để thi hành án Trên cơ sở đó đưa ra xác định, xử lý tài sản chung trong một số trường hợp cụ thể định hướng có tính nguyên tắc, đồng thời đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về xác định, xử lý tài sản chung Tuy nhiên, luận văn cũng chỉ rõ những trường hợp xử lý tài sản chung trong thực tiễn mà không đưa ra những bất cập trong thực tiễn về xử lý tài sản chung của vợ hoặc, thành viên trong hộ gia đình để kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về THADS
- Phạm Công Ý, (2017), “ Áp dụng điều luật nào trong kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với người khác để thi hành án”., Tạp chí dân chủ và pháp luật, số chuyên đề tháng 09/2017, tr 30 – 32 Bài viết trình bày về việc chấp hành viên áp dụng biện pháp kê biên xử lý tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung của vợ chồng, hộ gia đình hay tài sản chung với
Trang 10người khác để đảm bảo thi hành án thì vẫn còn bất cập, vướng mắc nên áp dụng điều luật nào, điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 buộc phải khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định mà không phân biệt loại sở hữu chung của vợ, chồng, hộ gia đình hay loại sở hữu khác; nhưng điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS năm 2014 quy định đối với tài sản vợ chồng, hộ gia đình chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ chồng, thành viên trong hộ và thông báo cho họ biết mà không phải khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định Tác giả tiếp thu được sự bất cập trong vận dụng hai điều luật nói trên và mong muốn tìm hướng giải quyết để chấp hành viên gặp vấn đề về tài sản chung của vợ chồng, hộ gia đình thì áp dụng điều luật nào để xác định trước khi tổ chức kê biên tài sản chung
- Hoàng Thị Thanh Hoa, Bàn về việc kê biên tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án trong thi hành án dân sự theo Luật thi hành án dân sự hiện hành2 Trong bài viết này, tác giả nghiên cứu về việc xác định tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác Trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung và trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung Đối với trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung, chấp hành viên thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự Trường hợp đối với tài sản kê biên thuộc sở hữu chung đã xác định được phần sở hữu của các chủ sở hữu chung thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà không có người khởi
2 http://thads.moj.gov.vn/hanoi/noidung/tintuc/lists/nghiencuutraodoi/view_detail.aspx?itemid=23, cập nhật ngày 15.6.2018
Trang 11kiện, chấp hành viên tiến hành xử lý theo quy định Nội dung mà công trình này chưa giải quyết là kê biên đối với tài sản chung của vợ chồng, hộ gia đình được thực hiện như thế nào sau khi phân định các loại tài sản Tác giả cho rằng thời hạn tối đa
để khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần tài sản thuộc sở hữu chung là 45 ngày là quá dài và vấn đề ưu tiên mua tài sản của chủ sở hữu chung Điều này là phù hợp bởi ảnh hưởng đến quá trình tổ chức thi hành án của chấp hành viên, kéo dài thời gian
- Lê Viết Tám (2012), Áp dụng quyền ưu tiên mua tài sản theo luật thi hành
án dân sự năm 2008 như thế nào? Tạp chí Dân chủ và pháp luật số tháng 7/2012, tr
có tranh chấp trong thi hành án dân sự
Qua nghiên cứu các công trình nghiên cứu trên, tác giả cho rằng, việc thực hiện đề tài nghiên cứu: “kê biên tài sản chung của vợ chồng, hộ gia đình trong thi hành án dân sự” là hết sức cần thiết nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về xử lý tài sản chung của vợ chồng, hộ gia đình trong thi hành án dân sự, góp phần giúp chấp hành viên về trình tự, thủ tục xử lý tài sản thi hành án liên quan đến sở hữu chung của vợ (chồng), hộ gia đình đúng quy định pháp luật, nhằm giảm thiểu tối đa các sai sót trong quá trình
xử lý ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ sở hữu chung Qua đó phát hiện đầy
đủ những hạn chế của quy định này trong luật cũng như thực tế thi hành án
Trang 12trong quá trình tổ chức thi hành án kê biên tài sản chung của vợ hoặc chồng, thành viên trong hộ gia đình để thi hành án dân sự
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài nhằm:
- Phân tích các quy định của pháp luật về kê biên tài sản chung của vợ (chồng), hộ gia đình trong thi hành án dân sự, chỉ ra những bất cập của pháp luật khi
áp dụng vào thực tiễn
- Vận dụng pháp luật vào thực tiễn để kê biên tài sản chung của vợ chồng, hộ gia đình trong thi hành án dân sự đảm bảo quyền lợi ích của vợ (chồng), thành viên trong hộ không phải là người phải thi hành án
- Phân tích thực trạng áp dụng quy định của của pháp luật về kê biên tài sản chung trong thi hành án dân sự, nêu ra những bất cập nhằm hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự và pháp luật khác có liên quan;
Để thực hiện mục đích đó, nhiệm vụ của đề tài:
- Nghiên cứu, tìm hiểu một cách đầy đủ và có hệ thống quy định của pháp luật về kê biên tài sản chung của vợ chồng, hộ gia đình trong thi hành án dân sự;
- Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng quy định của của pháp luật về kê biên tài sản chung của vợ chồng, hộ gia đình trong thi hành án dân sự, nêu lên những kết quả, thành tích đạt được, những thiếu sót, hạn chế của pháp luật và những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động này;
- Kiến nghị, đề xuất để hoàn thiện quy định của pháp luật, cơ chế thi hành pháp luật về kê biên tài sản chung của vợ chồng, hộ gia đình trong thi hành án dân
sự
Trang 134 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu của đề tài
4.1 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của đề tài, tập trung nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến kê biên tài sản chung của vợ (chồng), hộ gia đình trong thi hành án dân sự Khi cưỡng chế kê biên tài sản chung của vợ chồng, hộ gia đình nên áp dụng Điều 74 Luật thi hành án dân sự yêu cầu Tòa án phân chia trước khi kê biên hay áp dụng Điều 24 Nghị Định 62/2015/NĐ-CP Chấp hành viên xác định phần sở hữu, sử dụng của vợ hoặc chồng, các thành viên của hộ gia đình và thông báo kết quả cho họ biết Thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật về kê biên tài sản chung của vợ chồng, hộ gia đình trong thi hành án dân sự, làm rõ nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn đến tồn tại, thiếu sót trong việc xác định phần quyền tài sản của từng chủ
sở hữu chung vợ hoặc chồng hay các thành viên trong hộ và áp dụng kê biên tài sản chung của vợ chồng, hộ gia đình trong thi hành án dân sự làm hạn chế đến hiệu quả hoạt động của các cơ quan thi hành án dân sự
Giới hạn của đề tài: trong sáu biện pháp cưỡng chế thi hành án, tác giả chỉ tập trung đi sâu vào biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với vợ hoặc chồng, các thành viên trong hộ gia đình
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích để phân tích, làm rõ về xác định, kê biên tài sản chung của vợ hoặc chồng, thành viên trong hộ gia đình thi hành án dân sự trong chương 1 và 2;
- Phương pháp lịch sử được sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu về các quy định của pháp luật về kê biên tài sản chung của vợ hoặc chồng, hộ gia đình trong thi hành án dân sự;
Trang 14- Phương pháp phân tích để phân tích, tổng hợp về các quy định về xác định,
kê biên tài sản chung của vợ hoặc chồng, hộ gia đình trong thi hành án dân sự theo pháp luật thi hành án dân sự hiện hành, chỉ rõ những bất cập của pháp luật thi hành
án dân sự trong thực tiễn áp dụng gây khó khăn cho chấp hành viên khi xử lý được
đề cập trong chương 1 và chương 2;
- Phương pháp so sánh, thống kê sử dụng để phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, nêu lên những bất cập, tồn tại của quy định về xác định, kê biên tài sản chung của vợ hoặc chồng, hộ gia đình trong thi hành án dân sự, để từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cách thức tổ chức thi hành về kê biên tài sản chung của vợ hoặc chồng, hộ gia đình trong thi hành án dân sự ở chương 1 và chương 2
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ một số vấn đề cơ bản xử lý tài sản chung của vợ chồng, hộ gia đình trong thi hành án dân sự; cách xác định phần tài sản chung của của vợ chồng, hộ gia đình trước khi tiến hành kê biên xử lý phần tài sản chung của người phải thi hành án với người khác, những bất cập và hướng hoàn thiện
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, học tập về xử lý tài sản chung của vợ chồng, hộ gia đình trong thi hành án dân sự
Kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo trong công tác thi hành
án dân sự mà tác giả đang công tác
Những kiến nghị là cơ sở để hoàn thiện pháp luật về xử lý tài sản chung của
vợ chồng, hộ gia đình trong thi hành án dân sự và thực tiễn thi hành
6 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 2 chương:
Trang 15Chương 1: xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của
vợ hoặc chồng, thành viên trong hộ gia đình
Chương 2: Kê biên tài sản chung của vợ chồng, hộ gia đình trong thi hành án dân sự
Trang 16CHƯƠNG 1 XÁC ĐỊNH PHẦN QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN, PHẦN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA VỢ HOẶC CHỒNG, THÀNH VIÊN TRONG HỘ GIA ĐÌNH 1.1 Quy định của pháp luật về xác định phần quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất của vợ hoặc chồng, thành viên trong hộ gia đình
Việc xử lý tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với người khác là rất phức tạp, trước khi muốn kê biên xử lý tài sản chung phải thông báo cho đồng sở hữu chung biết để họ tự thỏa thuận phân chia Đây là quy định bắt buộc để đồng sở hữu chung chủ động hơn trong việc phân chia và bảo vệ quyền tài sản của mình cũng như thực thi nghĩa vụ của người phải thi hành buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ, nếu không sẽ bị cưỡng chế kê biên tài sản để thi hành nghĩa vụ trước pháp luật, kể cả tài sản chung Tránh trường hợp người phải thi hành án cho rằng tài sản chung sẽ không xử lý vì ảnh hưởng đến bên thứ ba Luật thi hành án dân sự năm
2014 quy định chủ sở hữu chung với người phải thi hành án mà không khởi kiện thì người được thi hành án sẽ tiến hành khởi kiện yêu cầu tòa án xác định phần quyền
sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án3, cần quy định như vậy để người được thi hành án tham gia pháp luật trong thi hành
án nhằm bảo vệ quyền lợi của họ và giúp việc phân chia xử lý tài sản thêm rõ ràng tạo điều kiện chấp hành viên kê biên đúng phần tài sản của người phải thi hành án Nhưng người được thi hành án không khởi kiện thì buộc chấp hành viên phải khởi kiện yêu cầu tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung, Chấp hành viên xử lý tài sản theo quyết định của Tòa án
Đây là quy định khá chặt chẽ đối với việc xử lý tài sản chung trong trường hợp không xác định phần sở hữu, sử dụng trong khối tài sản chung trừ trường hợp tài sản chung của vợ chồng cũng như của hộ gia đình Luật thi hành án dân sự năm
2008 chưa có quy định rõ ràng như Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm
3 Theo quy định tại điều 74 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014
Trang 172014 Luật thi hành án dân sự năm 2014 đã tháo gỡ nhiều trường hợp về xử lý tài sản chung và việc quy định cũng khá cụ thể góp phần tốt cho việc xử lý án tồn đọng cũng như đảm bảo thủ tục kê biên tài sản chung đối với việc liên quan đến tài sản đồng sở hữu chung với người phải thi hành án Nhiều trường hợp đồng sở hữu chung không phải khiếu nại việc thi hành án kê biên xử lý tài sản của họ trong khối tài sản với người phải thi hành án mà chính đồng sở hữu chung sẽ động viên hay thỏa thuận với người phải thi hành án để người phải thi hành án tự nguyện thi hành
án mà không phải cưỡng chế kê biên bán tài sản mất nhiều thời gian và chi phí cho việc kê biên bán đấu giá
Cơ sở pháp lý quan trọng để chấp hành viên xử lý tài sản chung của người phải thi hành án với người khác để thi hành dứt điểm bản án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, đây là quy định quan trọng để giải quyết việc xử lý tài sản chung mà Luật thi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản trước đây chưa được quy định cụ thể Trước khi cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác, kể cả quyền sử dụng đất, Chấp hành viên phải thông báo cho chủ sở hữu chung biết việc cưỡng chế Chủ sở hữu chung có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu của họ đối với tài sản chung Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, nếu chủ sở hữu chung không khởi kiện thì người được thi hành án hoặc Chấp hành viên có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để bảo đảm thi hành án
Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu chung của vợ, chồng thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết Trường hợp vợ hoặc chồng không đồng ý thì
có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày,
kể từ ngày phần sở hữu được Chấp hành viên xác định Hết thời hạn trên, đương sự không khởi kiện thì Chấp hành viên tiến hành xử lý tài sản và thanh toán lại cho vợ
Trang 18hoặc chồng của người phải thi hành án giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của
họ4
Như vậy, tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp chỉ có vợ hoặc chồng
là người phải thi hành án, nhưng vợ hoặc chồng không còn tài sản riêng nào khác thì chấp hành viên có quyền kê biên tài sản chung đó nhưng trước khi kê biên phải xác định được phần tài sản, quyền tài sản của từng người thì chấp hành viên kê biên phần tài sản, quyền tài sản của người phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 74 Luật THADS sửa đổi bổ sung năm 2014 Trường hợp chưa xác định được phần quyền của người phải thi hành án trong khối tài sản chung của vợ chồng thì áp dụng pháp luật hôn nhân và gia đình để xác định phần sở hữu, sử dụng của vợ chồng5
Liên quan đến tài sản chung của vợ chồng được quy định cụ thể tại Luật số
và Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hướng dẫn về thu nhập khác trong thời kỳ hôn nhân Trên cơ sở quy định pháp luật HN & GĐ năm 2014, Chấp hành viên xác định phần tài sản, quyền sử dụng của vợ chồng trong khối tài sản chung
Để xác định quyền tài sản của vợ chồng, theo đó tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: hoàn cảnh của gia đình và của
vợ, chồng; công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung, lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề
Trang 19nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; lỗi của mỗi bên trong
vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng7
Trong thực tiễn tài sản của vợ chồng tồn tại với nhiều dạng khác nhau, nên việc xác định cũng như phân chia rất khó khăn, khả năng chấp hành viên xác định hoặc phân chia không đúng Mặc dù luật hôn nhân gia đình và các văn bản có quy định, nhưng việc xác định ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ sở hữu chung vợ hoặc chồng
Đối với việc xác định phần quyền sử dụng của hộ gia đình, tại Điều 212 BLDS năm 2015 quy định tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan
Chữ “hộ” trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có từ thời bao cấp, theo
đó ruộng đất được giao theo bình quân nhân khẩu Cụ thể là trong sổ hộ khẩu gia đình (hộ khẩu thường trú) có bao nhiêu “người từ 15 tuổi trở lên” thì được giao bao nhiêu đất căn cứ vào quỹ đất của địa phương8 Từ đó, người có hộ khẩu thường được hiểu là thành viên của hộ gia đình Trong khi đó, những vấn đề liên quan đến
hộ khẩu được quy định bởi Điều 25 Luật Cư trú Tuy nhiên, trên thực tế việc quản
lý hành chính vẫn dựa trên “hộ khẩu” nên phát sinh nhiều khó khăn, bất cập trong quá trình tiến hành tố tụng cũng như trong việc xác định, phân chia quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình để thi hành án
Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung
và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất,
7 khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân gia đình năm 2014
8 Viện khoa học pháp lý – Bộ tư pháp (2006), Từ điển luật học, NXB từ điển bách khoa và NXB tư pháp, trang 373
Trang 20công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất9 Bên cạnh đó, tại trang 1 của Giấy chứng nhận (bìa) như sau: “Hộ gia đình sử dụng đất thì ghi “Hộ ông” (hoặc “Hộ bà”), sau đó ghi họ tên, năm sinh, tên và số của giấy tờ nhân thân
Tài sản chung của hộ gia đình là bất động sản thì việc định đoạt phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên đã thành niên và có năng lực hành vi dân sự đầy
đủ trong hộ gia đình Vậy nên, để có thể thực hiện thủ tục cần thiết liên quan tài sản cần phải thỏa thuận được với tất cả các thành viên đã thành niên và có năng lực
Như vậy, pháp luật về thi hành cho phép Chấp hành viên được quyền xác định phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản của hộ gia đình kể cả quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình để thực hiện việc kê biên, xử lý đảm bảo nghĩa vụ của người phải thi hành án theo phán quyết của Tòa án
Đối với tài sản chung của hộ gia đình khi xử lý Chấp hành viên xác định phần sở hữu, sử dụng theo số lượng thành viên của hộ gia đình tại thời điểm xác lập quyền sở hữu tài sản, thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất Liên quan đến quyền sử dụng đất của hộ gia đình rất khó xác định phần quyền của các thành viên trong hộ bởi:
Thứ nhất, tại thời điểm giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất có thành viên, sau đó thành viên đó chuyển hộ khẩu
đi nơi khác, Chấp hành viên có xác định là thành viên trong hộ gia đình để thông báo cho họ biết được phần quyền của họ không Nếu xác định có phần quyền, nhưng không xác định địa chỉ cụ thể thành viên đó đang sinh sống để thông báo, liệu quyền của thành viên đó có được bảo vệ không
9 Theo quy định tại khoản 29 Điều 3 Luật đất đai năm 2013
10 điểm c khoản 1 Điều 5 Thông tư 23/2014/TT-BTNMT quy định về cách thể hiện thông tin về người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất
11 Theo quy định tại khoản 2 Điều 212 BLDS năm 2015
Trang 21Thứ hai, khi giao đất ở có các thành viên trong hộ gia đình, nhưng thành viên
đó chưa đủ 18 tuổi Sau khi giao đất tài sản được hình thành trên đất là ngôi nhà, thì ngôi nhà được xác định như thế nào, ai tạo dựng nên Tại thời điểm giao đất họ chưa đủ 18 tuổi, nhưng đến khi chấp hành viên xử lý tài sản, thì thành viên chưa đủ
18 tuổi đã trưởng thành và có gia đình vợ con sống chung trong hộ đó, thì có xác định tài sản trong hộ gia đình được phân chia thế nào
Đối với xác định tài sản của vợ chồng, hộ gia đình thì luật thi hành án dân sự
và văn bản hướng dẫn thi hành rất ít, nhiều tình huống phát sinh trong thực tiễn, chấp hành viên rất lúng túng khi xác định phần quyền cũng như kê biên tài sản liên quan đến hộ gia đình.Vì vậy, chấp hành viên phải hết sức thận trọng, bởi vì khi xử
lý tài sản chung, mà phần quyền tài sản chung là của một chủ sở hữu chung nào đó không phải là người phải thi hành án nên ảnh hưởng quyền lợi ích của họ và dễ xảy
ra việc khiếu nại yêu cầu bồi thường nếu trong quá trình kê biên xử lý chấp hành viên không tính đến quyền lợi của họ theo đúng quy định của pháp luật
Khi xác định xử lý tài sản chung của vợ chồng, hộ gia đình, Chấp hành viên phải xác minh kiểm tra kỹ trước khi phân chia cũng như kê biên Ngoài các quy định của Luật thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành, Chấp hành viên phải vận dụng và áp dụng Luật Đất đai, luật Hôn nhân gia đình để xác định và phân chia, hạn chế thấp nhất những trường hợp quyền lợi ích của thành viên trong
hộ gia đình không tính tới, bị bỏ quên
Trên thực tế, tài sản chung của vợ chồng, công sức đóng góp của vợ hoặc chồng không ngang nhau, trong khi đó chấp hành viên lại xác định theo luật Hôn nhân gia định chia đôi tài sản, thông báo cho vợ hoặc chồng biết, vợ chồng không khởi kiện, chấp hành viên xử lý tài sản và trả lại phần giá trị được chia Nhiều trường hợp, vợ hoặc chồng không khởi kiện, nhưng chấp hành viên kê biên bán xong thì mới phát sinh việc khiếu nại Đây là một trong những vấn đề dễ xảy ra bồi thường trong quá trình xác định không đúng phần quyền của đồng sở hữu chung
Trang 22Nhiều trường hợp hộ gia đình có nhiều thành viên, trước khi xác định, phân chia, Chấp hành viên nên xác minh cụ thể chi tiết từng thành viên trong hộ tại thời điểm giao đất, cho thuê đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất Trường hợp tại thời điểm giao đất có thành viên, nhưng sau đó chuyển đi thì Chấp hành viên nên xác định thành viên chuyển đi khi giao đất họ có nhu cầu sử dụng và thời gian sử dụng bao lâu để xem xét và cho họ là thành viên trong hộ gia đình được hưởng phần quyền Trường hợp xác định khi giao đất có trong hộ khẩu nhưng tới thời điểm xử
lý tài sản không có, không cho họ được hưởng quyền lợi trong khối tài sản của hộ thì phải thông báo cho họ biết để thành viên đó có thể khởi kiện tại Tòa để xác định
họ là người được hưởng phần quyền trong hộ
Xác định xử lý tài sản của hộ gia đình rất phức tạp và có nhiều khó khăn, nên trong công tác tổ chức thi hành án liên quan đến tài sản của hộ gia đình chấp hành viên phải thận trọng áp dụng các quy định của pháp luật Khi xác định các thành viên trong hộ gia đình tại thời điểm giao đất, thì những giấy tờ chứng minh đã cũ và nhiều thành viên có thể chuyển đi và thành viên chuyển đến, bởi vì tài sản hình thành tại thời điểm giao đến giai đoạn xử lý khá lâu, ngoài ra Bộ luật dân sự năm
2015 đã bỏ chủ thể là hộ gia đình, nên liên quan hộ gia đình chúng ta phải xử lý thận trọng, tránh những sai sót xảy ra và dễ bị khiếu nại bồi thường12
Ngoài quy định về xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án theo Điều 74 Luật Thi hành án dân sự Tại điểm c khoản 2 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP của Chính phủ có quy định chi tiết về xác định, phân chia, xử lý tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung của vợ, chồng và tài sản thuộc sở hữu, quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình Pháp luật có quy định cụ thể cho hai dạng
sở hữu, sử dụng như sau:
Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung của vợ, chồng thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn
12 Dân chủ và pháp luật Số chuyên đề tháng 2 năm 2016
Trang 23nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết Để thực hiện tốt điều này đòi hỏi Chấp hành viên phải am hiểu thêm về nguyên tắc phân chia tài sản của vợ, chồng trong trường hợp chia tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình
Về nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố như: về hoàn cảnh của gia đình của vợ, chồng; về công sức đóng góp của
vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung Về cách phân chia, tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị
Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu, sử dụng theo số lượng thành viên của hộ gia đình tại thời điểm xác lập quyền sở hữu tài sản, thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất Chấp hành viên thông báo kết quả xác định phần sở hữu, sử dụng cho các thành viên trong hộ gia đình biết
Để thực hiện tốt điều này đòi hỏi Chấp hành viên phải xác định được số lượng thành viên của hộ gia đình tại thời điểm xác lập quyền sở hữu tài sản, thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất Trên cơ sở đó, Chấp hành viên xác định phần sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án để xử lý theo quy định chung
Trường hợp vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình không đồng ý với việc xác định của Chấp hành viên thì có quyền yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ Hết thời hạn này
mà không có người khởi kiện thì Chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản và trả lại cho vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của họ
13 Theo quy định tại Điều 38 và Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì
Trang 24Với quy định này, nếu trong trường hợp vợ hoặc chồng hoặc các thành viên
hộ gia đình không đồng ý với việc xác định của Chấp hành viên và cũng không yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung thì pháp luật không cho phép người được thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền
sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự như trong trường hợp xác định, phân chia tài sản chung theo Điều 74 Luật thi hành án dân sự (tài sản không phải sở hữu, sử dụng chung của vợ, chồng và cũng không phải quyền sở hữu, quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình) Mà khi đó, Chấp hành viên được tiến hành kê biên, xử lý tài sản ngay Tất nhiên việc kê biên,
xử lý tài sản vẫn phải theo quy định chung của Điều 74 Luật thi hành án dân sự
1.2 Thực trạng về xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của vợ hoặc chồng, thành viên trong hộ gia đình
So với Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004, thì Luật đáp ứng, tháo gỡ nhiều vướng mắc, trong thực tế mà Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 không giải quyết được, góp phần giảm thiểu án tồn đọng kéo dài Tuy nhiên, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 cũng còn nhiều bất cập, vì vậy Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều Luật thi hành án dân sự năm 2014 ra đời giải quyết những vướng mắc của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 Việc áp dụng pháp luật nói chung và Luật thi hành án dân sự nói riêng trong thực tế giải quyết việc thi hành án có nhiều tranh cãi, đồng thời không tránh khỏi những sai sót mà chấp hành viên mắc phải khi tổ chức thi hành Trong quá trình thực thi chấp hành viên cũng đã động viên giải thích để đương sự tự nguyện hoặc thỏa thuận thi hành án, nhưng nhiều trường hợp người phải thi hành án luôn chống đối không tự nguyện thi hành án, vì vậy Chấp hành viên tiến hành cưỡng chế kê biên tài sản để thi hành án, đặc biệt liên quan đến tài sản chung khi kê biên tài sản thì nhiều trường hợp phát sinh trong thực tiễn mà chấp hành viên không giải quyết được, không phân chia hoặc xác định phần quyền của
vợ (chồng), thành viên trong hộ trong khối tài sản chung với người phải thi hành án, nên không kê biên phát mãi được, bởi Luật có quy định nhưng còn vướng mắc, chưa cụ thể hoặc có quy định nhưng khó thực thi làm ảnh hưởng đến quá trình tổ
Trang 25chức thi hành án Dưới đây là một số bất cập trong việc xác định tài sản chung của
vợ hoặc chồng, thành viên hộ gia đình mà thực tiễn khi tổ chức thi hành mắc phải
Trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự, chấp hành viên hay đụng đến tài sản chung của vợ chồng, hộ gia đình Vì vậy, trước khi kê biên tài sản chung của vợ chồng, hộ gia đình chấp hành viên phải vận dụng pháp luật hôn nhân gia đình cũng như luật đất đai xác định phần quyền sở hữu, sử dụng của vợ chồng, thành viên trong hộ và thông báo kết quả xác định, nhưng việc xác định phần quyền của vợ chồng và từng thành viên trong hộ là vấn đề khó khăn bởi quy định của luật đất đai rất đa dạng, khó xác định đối tượng có quyền sử dụng đất trong hộ
Tài sản là quyền sử dụng đất, theo quy định của pháp luật về đất đai thì quyền sử dụng đất được cấp cho hộ gia đình, nhưng căn cứ để xác định phần quyền
sử dụng của từng cá nhân trong hộ gia đình chưa có quy định cụ thể theo hộ khẩu thường trú tại thời điểm khởi kiện hay là theo nhân khẩu tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay theo quan hệ huyết thống Vậy, trong thực tế, Chấp hành viên khó xác định phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung đối với hộ gia đình, vì thiếu căn cứ để xác định phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung
Khi nhà nước giao đất cho hộ sử dụng tại thời điểm giao đất hộ có 4 nhân khẩu trong hộ, nhưng sau đó thành viên trong hộ chuyển đến nơi khác nhập khẩu, không còn sử dụng phần đất trước đây mà Nhà nước đã giao quyền cho hộ hoặc trong hộ đó có một thành viên mới nhập trong hộ khẩu đó và sử dụng đất cùng với
hộ liên tục cho đến thời điểm chấp hành viên kê biên thì có được tính phần quyền của họ không
Ví dụ: Bản án số 12/2017/DSST ngày 12/02/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử vụ buộc vợ chồng ông Nguyễn Bốn và bà Trần Thị Lượng phải trả cho bà Lê Thị Thủy số tiền nợ gốc là 279.594.333 đồng, tiền lãi 35.457.970 đồng Tổng cộng là 315.052.303 đồng Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà Lê Thị Thủy có đơn yêu cầu thi hành án hợp lệ gửi Chi cục Thi
Trang 26hành án dân sự huyện Tuy Phước Căn cứ đơn yêu cầu thi hành án, Chi cục THADS huyện Tuy Tuy phước đã ban hành Quyết định thi hành án số 95/QĐ-CCTHADS ngày 21/4/2017 cho thi hành khoản buộc vợ chồng ông Nguyễn Bốn và bà Trần Thị Lượng phải trả cho bà Lê Thị Thủy số tiền 315.052.303 đồng, đồng thời phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành Sau khi được phân công, Chấp hành viên đã thực hiện việc thông báo Quyết định thi hành án cho các đương sự, giải thích rõ thời gian
tự nguyện thi hành án đối với người phải thi hành án theo quy định của pháp luật
Hết thời gian tự nguyện, người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ của mình, Chấp hành viên tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, kết quả cụ thể như sau: hộ ông Nguyễn Bốn đang sử dụng nhà, đất tại thôn Quảng Tín, xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước Xác minh cụ thể tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Tuy Phước thấy rằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A092018 ngày 06/7/2005 cấp cho hộ ông Nguyễn Bốn được sử dụng 264m2 đất ( trong đó 100 m2 đất ở, 164 m2 đất trồng cây hàng năm) tại thôn Quảng Tín, xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định Thời điểm cấp giấy chứng nhận hộ ông Nguyễn Bốn bao gồm 4 nhân khẩu vợ chồng ông Nguyễn Bốn, bà Trần Thị Lượng và con trai Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Văn Hóa
Sau khi xác minh, Chấp hành viên tiến hành các thủ tục tiến tới kê biên, xử
lý quyền sử dụng đất nêu trên để đảm bảo thi hành nghĩa vụ của vợ chồng ông Nguyễn Bốn và bà Trần Thị Lượng Tuy nhiên, qua thu thập, nắm bắt thông tin tại
cơ quan Công an xã Phước Lộc cung cấp thông tin, hộ ông Bốn vào ngày 21/7/2005 (sau khi giao đất 15 ngày) có ông Nguyễn Văn Trọng cháu nội ông Bốn (con ông Nguyễn Văn Minh) nhập khẩu vào hộ ông Bốn; đồng thời vào ngày 06/8/2005 (sau ngày cấp đất một tháng) ông Nguyễn Văn Minh đã chuyển khẩu về tỉnh Đồng Nai sống với em ruột ông Nguyễn Bốn
Vụ việc trên Chấp hành viên xử lý như thế nào khi muốn kê biên tài sản chung của hộ gia đình ông Nguyễn Bốn
Trang 27Một là, Chấp hành viên xác định hộ ông Nguyễn Bốn tại thời điểm giao đất
có bốn người gồm vợ chồng ông Bốn, con trai ông Bốn ông Nguyễn Văn Minh và ông Nguyễn Văn Hóa Trước khi tiến hành kê biên tài sản chung của hộ ông Nguyễn Bốn, Chấp hành viên xác định phần quyền sử dụng đất theo số lượng thành viên trong hộ 4 người, trong đó ông Nguyễn Văn Minh và ông Nguyễn Văn Hóa là người không phải thi hành án được sử dụng mỗi người 1/4 diện tích đất trong tổng
xác minh do ông Bốn và bà Lượng tạo lập không liên quan đến ông Minh và ông Hóa Chấp hành viên thông báo cho các thành viên trong hộ ông Bốn biết phần quyền mà từng thành viên trong hộ được sử dụng để họ biết Nếu hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận thông báo nhưng không có ai trong hộ ông Bốn khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia thì chấp hành viên kê biên tài sản chung của hộ ông Bốn để thi hành án Sau khi kê biên ký hợp đồng thẩm định giá và bán đấu giá theo quy định của pháp luật và sau khi bán đấu giá thành có trích 1/4 số tiền giá trị quyền sử dụng đất để chi trả lại cho ông Nguyễn Văn Minh và ông Nguyễn Văn Hóa
Tuy nhiên, khi thẩm định giá quyền sử dụng đất chỉ có 216.000.000 đồng và nhà 584.000.000 đồng tổng cộng 800.000.000 đồng nhưng bán đấu giá thành 1 tỷ Vậy, chấp hành viên tính giá trị quyền sử dụng đất ¼ cho ông Minh và ông Hóa trên
số tiền đất đã định 216.000.000 đồng (tức mỗi ông 54.000.000 đồng) hay tính trên
số tiền bán đấu giá do đất tăng lên 416.000.000 đồng nên mới bán 1 tỷ (tức mỗi người nhận 104.000.000 đồng)
Hai là, tại thời điểm giao đất trong hộ ông Bốn có ông Nguyễn Văn Minh, nhưng ông Minh không có nhu cầu sử dụng đã tách ra khỏi hộ đến Đồng Nai sinh sống, không có nhu cầu sử dụng đất trong hộ nên không tính phần của ông Minh mà tính phần của ông Trọng là người tham gia sử dụng đất lâu nay có trong khẩu ông Bốn (sau thời điểm cấp đất 15 ngày)
Ba là, không tính phần quyền sử dụng đất trong hộ ông Bốn đối với ông Minh và ông Trọng mà chỉ xác định trong hộ sử dụng đất có 3 người là vợ chồng
Trang 28ông Bốn và ông Nguyễn Văn Hóa Sau đó xác định phần quyền của ông Hóa và xử
lý theo quy định của pháp luật
Đối với Chấp hành viên, trong thực tế khi có phát sinh việc phân chia tài sản chung của vợ hoặc chồng, thành viên hộ gia đình thì hầu hết các vụ việc Chấp hành viên không tự mình thực hiện việc xác định, phân chia phần tài sản của vợ, chồng,
hộ gia đình trong khối tài sản chung mà Chấp hành viên hướng dẫn vợ hoặc chồng, các thành viên trong hộ gia đình khởi kiện ra Tòa án để giải quyết, nếu không có ai khởi kiện thì lúc này Chấp hành viên đứng đơn kiện yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung của vợ, chồng, hộ gia đình Sở dĩ có sự bất cập này là do đội ngũ Chấp hành viên hiện nay còn thiếu nhiều so với lượng công việc phát sinh Mặt khác, một
số Chấp hành viên còn hạn chế trong việc áp dụng pháp luật để phân chia tài sản chung của vợ chồng, hộ gia đình Trong khi việc phân chia tài sản chung của vợ, chồng, hộ gia đình đòi hỏi phải tuân thủ theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Luật đất đai và các luật có liên quan Mà nhất là các quy định về chế độ tài sản chung, riêng của vợ, chồng, quyền sử dụng đất cấp cho hộ đối với tài sản là bất động sản rất phức tạp, còn nhiều chồng chéo cho nên Chấp hành viên sẽ gặp khó khăn trong việc xác minh làm rõ về nguồn gốc tài sản, do đó có tiềm ẩn nhiều thiếu sót, thiếu công bằng, thiếu khách quan trong việc xác định, phân chia tài sản chung của vợ, chồng Vì vậy, việc phân chia tài sản bằng một phán quyết của Tòa án sẽ đảm bảo được tính chính xác và khách quan hơn nên Chấp hành viên chọn cách khởi kiện ra Tòa án là giải pháp hữu hiệu14
Khi chia tài sản sở hữu chung thường xảy ra trường hợp sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung; nếu các chủ sở hữu chung đã thoả thuận không phân chia tài sản chung trong một thời hạn thì mỗi chủ sở hữu chung chỉ có quyền yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hạn đó Trong trường hợp có người yêu cầu một người trong số các chủ sở hữu
14 hanh-an-dan-su-n9814.html, cập nhật lúc 11h12 ngày 26.10.2018
Trang 29http://www.luatvietphong.vn/tham-quyen-phan-chia-tai-san-chung-cua-vo-chong-o-giai-doan-thi-chung thực hiện nghĩa vụ thanh toán khi người đó không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thanh toán thì người yêu cầu có quyền yêu cầu chia tài sản chung để nhận tiền thanh toán và được tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Nếu không thể chia phần quyền sở hữu này
vì bị các chủ sở hữu chung còn lại phản đối thì người có quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ bán phần quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ
Như vậy, vấn đề đặt ra là liệu Chấp hành viên có khách quan khi xác định phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án hay không; trong trường hợp nếu có cơ sở cho rằng Chấp hành viên không khách quan trong việc xác định phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án gây ảnh hưởng đến quyền lợi của mình thì người được thi hành án sẽ được làm gì, họ được quyền khiếu nại đối với hành vi Chấp hành viên hay không? Theo chúng tôi, trong trường hợp này người được thi hành án vẫn có quyền khiếu nại đối với hành vi Chấp hành viên theo quy định tại Điều 160 Luật Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 về quyền khiếu nại về thi hành án, khi đó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự sẽ thụ lý giải quyết theo thẩm quyền Như vậy, việc xem xét, đánh giá Chấp hành viên có khách quan khi xác định phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án hay không thuộc về Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự Mặc khác, cơ quan Viện kiểm sát nhân dân cũng có thẩm quyền kháng nghị đối với hành vi của Chấp hành viên khi phát hiện có tiêu cực trong xác định phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án
1.3 Kiến nghị để hoàn thiện pháp luật
Xác định phần quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất của vợ hoặc chồng, thành viên trong hộ gia đình trước khi kê biên tài sản là một vấn đề phức tạp trong
tổ chức thi hành án dân sự, trong đó có những bất cập trong thực tiễn mà chấp hành viên gặp phải Vì vậy trên cơ sở hoàn thiện quy định pháp luật, bản thân có một số kiến nghị như sau:
Trang 30Pháp luật nên quy định về tài sản chung của hộ gia đình cụ thể hơn, trường hợp xác nhận các thành viên nào trong hộ có được phần quyền sử dụng, nên theo hướng giao cho cơ quan Phòng Tài nguyên và Môi trường cùng cấp xác nhận phần quyền sử dụng đất của từng chủ thể được cấp cho hộ là ai để được tính phần quyền của họ trong khối tài sản chung
Hiện nay chưa có hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền về cách tính cụ thể
để xác định phần sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản thuộc quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành có ghi: “…Chấp hành viên xác định phần sở hữu, sử dụng theo số lượng thành viên của hộ gia đình…” Do đó, trong trường hợp này, nên theo hướng Chấp hành viên xác định phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trên cơ sở số lượng thành viên của hộ gia đình và không phân biệt độ tuổi, giới tính, vị trí của họ trong gia đình là phù hợp Kết hợp với xác định nguồn gốc đất được thừa kế, tặng cho, chuyển nhượng, trao đổi thì ai là người để lại thừa kế, tặng cho, chuyển nhượng, trao đổi Trường hợp quyền sử dụng đất được nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất cần làm rõ mục đích nhà nước giao hoặc cho thuê đất, phương án giao hoặc cho thuê đất Trường hợp quyền sử dụng đất được nhà nước công nhận thì ai là người kê khai và đăng ký Các thành viên của hộ gia đình gồm những ai: tại thời điểm được nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất Trường hợp có sự thay đổi về nhân khẩu thì cần làm rõ
lý do của sự thay đổi, lý do của sự thay đổi Làm rõ mối quan hệ giữa các thành viên trong hộ gia đình, ví dụ: quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng, ở nhờ, ở thuê
Bên cạnh việc yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước về đất đai (Văn phòng đăng
ký đất đai, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh) thì cần giao Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện xác nhận các thông tin liên quan đến nguồn gốc đất cũng như việc quản lý và sử dụng của hộ gia đình qua các thời kỳ
Trang 31Cần có sự thống nhất chung của pháp luật quy định về việc xác định cụ thể phần quyền của đồng sở hữu chung vợ hoặc chồng, từng thành viên hộ gia đình để chấp hành viên áp dụng phân chia và thông báo cho chủ sở hữu chung biết có quyền khởi kiện hoặc chủ sở hữu chung phải có ý kiến về việc phân chia của chấp hành viên trước khi tổ chức kê biên để đảm bảo quyền của chủ sở hữu chung không bị ảnh hưởng về tài sản chung