Đối với công ty TNHH, chủ yếu cần huy động các khoản vay tương đối lớn so với giá trị vốn điều lệ của công ty, còn đối với công ty cổ phần, việc phát hành cổ phiếu chủ yếu có hình thức l
Trang 1Mục lục
1 Đặt vấn đề 2
2 Nội dung 2
2.1 Khái quát chung về điều kiện chào bán chứng khoán 2
2.1.1 Chào bán chứng khoán 2
2.1.2 Chào bán chứng khoán riêng lẻ và điều kiện 3
2.1.3 Chào bán chứng khoán ra công chúng và điều kiện 5
2.2 Sự khác biệt về điều kiện chào bán chứng khoán riêng lẻ với điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng 6
2.2.1 Điều kiện về chủ thể chào bán 6
2.2.2 Điều kiện về đối tượng tham gia đợt chào bán 8
2.2.3 Điều kiện kiểm soát tỷ lệ và hạn chế chuyển nhượng chứng khoán 8
a Kiểm soát tỷ lệ chứng khoán và vốn sở hữu chủ 8
b Hạn chế chuyển nhượng chứng khoán 9
2.2.4 Điều kiện về giá trị và mệnh giá chào bán 12
2.2.5 Sự tham gia của chủ thể quản trị 14
2.2.6 Điều kiện về thủ tục chào bán 14
3 Kết luận 15
4 Danh mục tài liệu tham khảo 17
5 Phụ lục 18
Trang 21 Đặt vấn đề
Chào bán chứng khoán là một trong các cách huy động vốn hiệu quả của doanh nghiệp, có vai trò quan trọng đối với thị trường chứng khoán Dựa trên quy mô, phạm
vi của một đợt chào bán thì chào bán chứng khoán gồm có hai phương án thực hiện là chào bán riêng lẻ và chào bán ra công chúng Đặc điểm, vai trò của mỗi phương thức
là khác nhau, do vậy việc quản lý Nhà nước cũng như các điều kiện để tiến hành chào bán riêng lẻ và chào bán ra công chúng có sự khác biệt rõ rệt Nhằm làm rõ nội dung
và ý nghĩa của sự khác biệt đó theo pháp luật nước ta, em xin trình bày bài tập học kì
của mình về chủ đề: Phân tích sự khác biệt về điều kiện chào bán chứng khoán riêng lẻ với điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng
2 Nội dung
2.1 Khái quát chung về điều kiện chào bán chứng khoán
2.1.1 Chào bán chứng khoán
Chứng khoán là đối tượng đặc biệt trong hoạt động kinh doanh, có vai trò quan trọng đối với thị trường vốn Theo định nghĩa được nêu ra ở Khoản 1 Điều 6 Luật Chứng khoán 20061 thì “Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp
pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây: [ ]” Tuy nhiên, đến Luật Chứng khoán 2019, nhà làm
luật không định nghĩa chứng khoán theo phương thức mô tả mà chỉ đơn thuần quy
định “Chứng khoán là tài sản” và liệt kê các loại chứng khoán2 Với bản chất là tài sản, chứng khoán có thể được đem vào lưu thông và đem ra mua bán, trao đổi Do chứng khoán rất đa dạng về chủng loại, cho nên các giao dịch mua – bán chứng khoán cũng đa dạng về chủ thể, phương thức, bản chất
1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán (2010) vẫn duy trì cách định nghĩa này tuy nhiên bổ sung them đối tượng được coi là chứng khoán
2 Khoản 1 Điều 4 Luật Chứng khoán, gồm: bao gồm: a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; b) Chứng quyền, chứng quyền có bảo đảm, quyền mua cổ phần, chứng chỉ lưu ký; c) Chứng khoán phái sinh; d) Các loại chứng khoán khác do Chính phủ quy định.
Trang 3Chào bán chứng khoán là hoạt động phát hành chứng khoán để thu hút vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu về vốn của chủ thể chào bán Chủ thể chào bán chứng khoán bao gồm 02 nhóm là các Cơ quan Nhà nước và các doanh nghiệp Các chứng khoán thường được chào bán theo hai phương thức, đó là chào bán chứng khoán ra công chúng và chào bán chứng khoán riêng lẻ
2.1.2 Chào bán chứng khoán riêng lẻ và điều kiện
Chào bán chứng khoán riêng lẻ là việc chào bán chứng khoán trong phạm vi một số nhà đầu tư nhất định, thông thường là những nhà đầu tư có tổ chức, ví dụ: các công ty bảo hiểm nhân thọ, các quỹ hưu trí, các công ty đầu tư chứng khoán và các quỹ tín thác đầu tư Căn cứ vào loại chứng khoán được chào bán, có thể chia thành hai loại chào bán chứng khoán riêng lẻ là chào bán cổ phiếu riêng lẻ và chào bán trái phiếu riêng lẻ
- Chủ thể và mục đích chào bán chứng khoán riêng lẻ
Chào bán chứng khoán riêng lẻ có đặc điểm là có sự giới hạn về số nhà đầu tư được chào mua/ có thể mua được trong một đợt chào bán3 Từ 02 loại chứng khoán chủ yếu là cổ phiếu và trái phiếu, thì có 02 nhóm chủ thể chính thực hiện chào bán chứng khoán riêng lẻ gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn là chủ thể chào bán trái phiếu và Công ty cổ phần (bao gồm cả chào bán cổ phiếu, trái phiếu chuyển đổi và trái phiếu thông thường) Đối với công ty TNHH, chủ yếu cần huy động các khoản vay tương đối lớn so với giá trị vốn điều lệ của công ty, còn đối với công ty cổ phần, việc phát hành cổ phiếu chủ yếu có hình thức là các giao dịch M&A, tái cấu trúc doanh nghiệp, mở rộng quy mô hoặc tiếp nhận đầu tư kèm chuyển giao công nghệ,… Mặc dù tính chất chào bán là tương đối hẹp và tập trung vào các nhà đầu tư chiến lược, chuyên nghiệp, nhưng trị giá chứng khoán được mua bán lại nhiều khi rất lớn.4
3 Tối đa là 100 nhà đầu tư theo Khoản 20 Điều 4 Luật Chứng khoán
4 Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2006), Giáo trình Thị trường chứng khoán, NXB Thống kê, Hà Nội, tr.114
Trang 4Như đã phân tích, khác với chào bán chứng khoán ra công chúng, chào bán chứng khoán riêng lẻ chỉ được tiến hành trên phạm vi hẹp nhằm phân phối chứng khoán cho số ít nhà đầu tư chuyên nghiệp hoặc số ít nhà đầu tư cá nhân đặc biệt, và đại đa số các nhà đầu tư mua chứng khoán trong trường hợp này đều là những người
có kiến thức chuyên sâu về chứng khoán, có khả năng tự phân tích, đánh giá tình hình kinh doanh và tình hình tài chính của tổ chức phát hành, cũng là tự đánh giá được giá trị của chứng khoán đang chào bán Nói cách khác, mặc dù là hoạt động mua bán chứng khoán, nhưng rủi ro cho nhà đầu tư và cho thị trường ở trường hợp này là rất hạn chế và mang tính chất cục bộ (giao dịch mua bán chứng khoán riêng lẻ vốn có tính chất “khép kín”) do đó khó gây ra những lũng đoạn hệ thống5 Có lẽ vì lý do này
mà Nhà làm luật quan niệm rằng các chuẩn mực đặt ra cho việc chào bán chứng khoán riêng lẻ không quá khắt khe, và sự kiểm soát quá sâu của pháp luật chứng khoán bên cạnh pháp luật về công ty, pháp luật dân sự hay cạnh tranh là không cần thiết
Minh chứng cho điều này là việc Luật Chứng khoán 2019 chỉ đặt ra các điều kiện đối với chào bán chứng khoán riêng lẻ của công ty đại chúng, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán (Điều 31), còn chào bán chứng khoán riêng lẻ của tổ chức phát hành không phải là công ty đại chúng chỉ cần tuần theo Luật Doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan (như Luật Doanh nghiệp, Luật Cạnh tranh, Luật Đầu tư về kiểm soát tỷ lệ sở hữu vốn chủ nhà đầu tư nước ngoài,…) (Điều 30)
2.1.3 Chào bán chứng khoán ra công chúng và điều kiện
5Nguyễn Hữu Tú, Huy động vốn của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam, Trường Đại học
Kinh tế Quốc dân, Luận án Tiến sĩ Luật học, Hà Nội, 2014 Theo tác giả Nguyễn Hữu Tú, trong trường hợp chào bán chứng khoán riêng lẻ, cụ thể là cổ phần của công ty phi đại chúng, thì rủi ro lớn nhất thuộc về các cổ đông hiện hữu khi không những tỉ lệ sở hữu bị thay đổi (pha loãng) mà các cổ đông mới còn có nguy cơ nắm giữ quyền kiểm soát công ty nếu tỉ lệ vốn sở hữu chủ hoặc quyền biểu quyết đạt tỉ lệ của Luật Doanh nghiệp, nhưng tựu trung lại thì
đó vẫn là rủi ro cá nhân, mà cổ đông hiện hữu phải tự ý thức được và bảo vệ mình chứ không nằm trong phạm vi các rủi ro cần được điều chỉnh của pháp luật Chứng khoán (tr.31)
Trang 5Chào bán chứng khoán ra công chúng là việc bán chứng khoán cho một số lượng lớn công chúng đầu tư, trong đó một số lượng chứng khoán phải được phân phối cho các nhà đầu tư nhỏ, khối lượng phát hành phải đạt một tỷ lệ nhất định Chào bán chứng khoán ra công chúng được thực hiện rất đa dạng, theo đó Luật Chứng khoán 2019 phân nhóm các hình thức chào bán thành 03 nhóm bao gồm: (i) chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng, (ii) chào bán thêm cổ phiếu hoặc quyền mua cổ phần ra công chúng và (iii) các hình thức khác
Điều kiện chào bán giữa các nhóm (i) và (ii) có sự khác nhau mặc dù chúng đều
có bản chất là những lần chào bán chứng khoán rộng rãi của các công ty cổ phần Điều này rất dễ hiểu bởi chào bán chứng khoán lần đầu là lần đầu tiên chứng khoán của một tổ chức được phát hành được chào bán rộng rãi ra công chúng để sau đó trở thành công ty đại chúng (public corporation) để có thêm cơ hội huy động vốn từ công chúng đầu tư phục vụ cho sản xuất, kinh doanh, còn chào bán them là những lần chào bán tiếp theo ra công chúng của tổ chức phát hành để huy động vốn bổ sung vốn điều
lệ sau khi đã chào bán lần đầu nhằm mở rộng quy mô kinh doanh hoặc tái cấu trúc lại vốn trong công ty Rủi ro của nhà đầu tư khi mua chứng khoán phát hành lần đầu sẽ cao hơn đối với việc mua chứng khoán của những lần phát hành bổ sung Vì khi chào bán chứng khoán lần đầu, tổ chức phát hành chưa được các nhà đầu tư biết đến nhiều,
uy tín và thương hiệu cũng như hiệu quả hoạt động của nó chưa được khẳng định và kiểm chứng6
Luật Chứng khoán 2019 đặt ra 02 nhóm quy định với 02 phương thức nêu trên Thực chất, việc một tổ chức phát hành chào bán thêm thì đương nhiên đã thực hiện chào bán lần đầu, cho nên sẽ có một số điều kiện chẳng hạn về chủ thể, về hoạt động kinh doanh, tỷ suất lợi nhuận,… là trùng lặp giữa chào bán them và chào bán lần đầu, nhưng sẽ có một số điều kiện của chào bán lần đầu mà khi chào bán them không cần đáp ứng
6 Lê Vũ Nam, Hoàn thiện các quy định pháp luật về điều kiện chào bán chứng khóan tại Việt Nam, [4]
Trang 62.2 Sự khác biệt về điều kiện chào bán chứng khoán riêng lẻ với điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng
Nhìn chung, điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng chặt chẽ hơn nhiều
so với điều kiện chào bán chứng khoán riêng lẻ, xuất phát từ sự phức tạp, đa dạng và những tiềm ẩn rủi ro cho nhà đầu tư và cho thị trường chứng khoán So với điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng, pháp luật quy định các yêu cầu cho điều kiện chào bán chứng khoán riêng lẻ thấp hơn nhiều Các điều kiện chủ yếu có tính chất ràng buộc về mặt thủ tục pháp lý và việc chuyển nhượng chứng khoán mà không quan tâm nhiều đến các điều kiện đảm bảo chất lượng của chứng khoán Sự khác biệt
về điều kiện chào bán giữa 02 trường hợp được thể hiện rõ ở những khía cạnh sau:
2.2.1 Điều kiện về chủ thể chào bán
Việc chào bán chứng khoán riêng lẻ gần như không đặt ra điều kiện về mặt chủ thể Các công ty muốn chào bán chứng khoán riêng lẻ chỉ cần đáp ứng các điều kiện
về thành lập và hoạt động của pháp luật doanh nghiệp, cụ thể là Luật Doanh nghiệp, Nghị định về đăng ký doanh nghiệp,… Ngược lại, điều kiện về chủ thể chào bán chứng khoán ra công chúng lại rất chặt chẽ và khắc nghiệt Nhóm điều kiện về chủ thể chào bán bao gồm 02 loại là (i) điều kiện về vốn điều lệ và (ii) điều kiện về hiệu quả kinh doanh/ uy tín, cụ thể:
Đối với chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng, công ty cổ phần thực hiện
chào bán phải có: a) Mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ 30 tỷ
đồng trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán; b) Hoạt động kinh doanh của 02 năm liên tục liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ lũy
kế tính đến năm đăng ký chào bán Về nhân thân, Tổ chức phát hành phải không thuộc trường hợp đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án về một trong các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà chưa được xóa án tích; (các điểm a,
b, e khoản 1 Điều 15 Luật Chứng khoán)
Trang 7Đối với chào bán them cổ phiếu ra công chúng, ngoài các điều kiện về vốn,
nhân thân thì còn phải đáp ứng điều kiện b) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước
năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán; (khoản 2 Điều 15)
Đối với chào bán trái phiếu ra công chúng, bên chào bán phải hội đủ các điều kiện
gồm: a) Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ
30 tỷ đồng trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán; b) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán; không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên 01 năm; g)
Có kết quả xếp hạng tín nhiệm đối với tổ chức phát hành trái phiếu theo quy định của Chính phủ về các trường hợp phải xếp hạng tín nhiệm và thời điểm áp dụng;
Ngoài ra còn có điều kiện với chào bán trái phiếu chuyển đổi ra công chúng, riêng chủ thể chào bán chứng chỉ quỹ phải thỏa mãn các điều kiện của quỹ đầu tư chứng khoán Tựu trung lại, điều kiện về chủ thể chào bán chứng khoán ra công chúng rất cụ thể, chi tiết, loại biệt đối với từng nhóm đối tượng hay phương thức chào bán, trong khi chào bán trái phiếu riêng lẻ không có quy định Cùng là chào bán trái phiếu, một công ty chào bán trái phiểu riêng lẻ không cần có các điều kiện tại khoản 4 Điều 15, trong khi công ty chào bán trái phiếu ra công chúng lại phải đáp ứng những điều kiện
đó cho mỗi đợt phát hành
Quy định như vậy là tương đối hợp lý xuất phát từ bản chất của 02 loại hình chào bán Đối với chào bán riêng lẻ, quá trình soát xét, thẩm định hồ sơ thông thường được các chủ thể có ý định mua thực hiện rất kỹ càng theo các chuẩn mực về quy trình M&A, nhà đầu tư có dự định mua tự mình thẩm định, biết được về đối tượng mua và qua đó chủ động đưa ra quyết định có mua hay không Do vậy, đặt ra các điều kiện chào bán là không cần thiết Nhưng trong trường hợp chào bán chứng khoán ra công chúng, bên mua có nhiều nhà đầu tư không chuyên nghiệp, mua với số lượng nhỏ và do vậy vấn đề tiếp cận hồ sơ pháp lý về công ty là rất hạn chế Do vậy, Luật
Trang 8Chứng khoán đặt ra các quy định về điều kiện chào bán cũng là để bảo vệ quyền của nhà đầu tư nhỏ lẻ này
Tuy nhiên, việc pháp luật chứng khoán chỉ quy định hoạt động kinh doanh của các công ty cần có lãi, mà không định đoạt cụ thể mức lãi, tỷ lệ lãi trên vốn sở hữu chủ, lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản,… là một điểm bất cập Tất nhiên Nhà làm luật có thể lập luận rằng việc quy định đó đã được đặt ra khi rang buộc điều kiện các bên muốn niêm yết trên 2 sàn HNX và HOSE (ROE lớn hơn hoặc bằng 5%), nhưng việc quy định tản mạn, ngoài Luật như vậy rất có thể sẽ gây khó khan cho các công ty muốn chào bán
2.2.2 Điều kiện về đối tượng tham gia đợt chào bán
Khác với các nhóm điều kiện khác khi mà chào bán chứng khoán ra công chúng bị điều chỉnh chặt chẽ hơn, thì pháp luật Chứng khoán lại kiểm soát hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ Cụ thể, trong khi chào bán chứng khoán ra công chúng không hạn chế và cũng không có điều kiện về các chủ thể được mua (đối tượng tham gia đợt chào bán), thì đối với việc chào bán cổ phiếu riêng lẻ, trái phiếu chuyển đổi riêng lẻ, trái phiếu kèm chứng quyền riêng lẻ của công ty đại chúng, các đối tượng tham ia đợt chào bán chỉ bao gồm: nhà đầu tư chiến lược, nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; (Điểm b khoản 1 điều 30) và đối với việc chào bán trái phiếu riêng lẻ của công ty đại chúng thì chỉ các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp mới được tham gia đợt chào bán (Điểm b Khoản 2 Điều 30)
2.2.3 Điều kiện kiểm soát tỷ lệ và hạn chế chuyển nhượng chứng khoán
a Kiểm soát tỷ lệ chứng khoán và vốn sở hữu chủ
Bên cạnh các điều kiện về tỷ lệ sở hữu bảo đảm cạnh tranh hay đầu tư nước ngoài, thì Luật Chứng khoán đặt ra quy định rằng trong trường hợp chào bán lần đầu
cổ phiếu ra công chúng d) Tối thiểu là 15% số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ
chức phát hành phải được bán cho ít nhất 100 nhà đầu tư không phải là cổ đông lớn;
Trang 9trường hợp vốn điều lệ của tổ chức phát hành từ 1.000 tỷ đồng trở lên, tỷ lệ tối thiểu
là 10% số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành; Đây là điều kiện
riêng có của trường hợp này và mục đích của nó là bảo đảm quyền cho nhóm cổ đông thiểu số Trong khi đó việc chào bán cổ phần riêng lẻ, vốn chỉ với mục đích huy động vốn một cách khép kín và lượng vốn huy động mục tiêu được xác định trước, thì không cần thỏa mãn yêu cầu này Việc kiểm soát tỷ lệ chứng khoán chào bán cũng như số chủ sở hữu cũng nhằm bảo đảm tính chất đại chúng của việc chào bán công khai ra công chúng Đối với chào bán chứng khoán riêng lẻ, Luật Chứng khoán không
ấn định con số cụ thể về tỷ lệ sở hữu, mà chỉ dẫn chiếu quy định của pháp luật đầu tư
nước ngoài: “đ) Việc chào bán cổ phiếu, chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu, thực
hiện chứng quyền phải đáp ứng quy định về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật”.(Khoản 1 Điều 31)
b Hạn chế chuyển nhượng chứng khoán
Hạn chế về chuyển nhượng chứng khoán, hay nói cách khác là việc buộc các cổ đông, chủ sở hữu chứng khoán nắm giữ chứng khoán trong một thời hạn nhất định là điều kiện có ở cả 02 hình thức nhưng phạm vi của chúng khác nhau
Đối với chào bán riêng lẻ, việc chuyển nhượng trái phiếu không bị hạn chế Thực chất, trái phiếu chính là một bằng chứng về các khoản vay, hay nói đúng hơn là quyền đòi nợ, và trong đời sống dân sự thì việc chuyển quyền đòi nợ không cần có sự đồng thuận của con nợ Việc chuyển nhượng chứng khoán căn bản không có ảnh hưởng nhiều tới tổ chức phát hành chứng khoán Tuy nhiên, các chứng khoán loại
khác khi được chào bán riêng lẻ thì phải có them điều kiện rằng: c) Việc chuyển
nhượng cổ phiếu chào bán riêng lẻ, trái phiếu chuyển đổi chào bán riêng lẻ, trái phiếu kèm chứng quyền chào bán riêng lẻ bị hạn chế tối thiểu là 03 năm đối với nhà đầu tư chiến lược và tối thiểu là 01 năm đối với nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán, trừ trường hợp chuyển nhượng giữa các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp hoặc thực hiện theo bản án, quyết định của
Trang 10Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, quyết định của Trọng tài hoặc thừa kế theo quy định của pháp luật; Điều kiện này một mặt bảo đảm các nhà đầu tư không mua đi bán lại
tránh trường hợp công ty bị thâu tóm, kiểm soát, một mặt khiến các nhà đầu tư chiến lược không khác gì các cổ đông sang lập trong Luật Doanh nghiệp (cũng không thể chuyển cổ phần trong vòng 3 năm trừ trường hợp chuyển nội bộ) về quyền và nghĩa
vụ bảo đảm sự gắn kết của họ đối với công ty với tính chất là một khoản đầu tư dài hạn (chứ không đơn thuần là chuyển nhượng sinh lời sẽ làm ảnh hưởng tới hoạt động bình thường của công ty đó)
Tuy nhiên, việc quy định các điều kiện “ Việc chuyển nhượng cổ phiếu chào bán riêng lẻ, trái phiếu chuyển đổi chào bán riêng lẻ, trái phiếu kèm chứng quyền chào bán riêng lẻ bị hạn chế tối thiểu là 01 năm đối với nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán ” và “các đợt chào bán cổ phần
hoặc trái phiếu chuyển đổi riêng lẻ phải cách nhau ít nhất sáu tháng” là nên xem xét
lại, đây là một quy định có tinh thần gần như không mới khi so sánh Luật Chứng khoán 2019 với Luật Chứng khoán 2006 Bình luận về điều kiện hạn chế chuyển nhượng cổ phần, tác giả Nguyễn Ngọc Bích cho rằng, những hạn chế trên là không cần thiết vì phần lớn cổ phần được chào bán là cổ phần phổ thông và việc chào bán là
để huy động vốn phục vụ hoạt động của công ty cổ phần, sự thay đổi cổ đông sau đó
do nhu cầu chuyển nhượng không ảnh hưởng gì đến hoạt động của công ty.7
Quy định như vậy là trái với tinh thần của Luật Doanh nghiệp, đồng thời tạo ra nhiều mẫu thuẫn giữa các văn bản pháp luật và vi phạm quyền tự do chuyển chuyển nhượng cổ phần của cổ đông Dưới góc độ kinh tế, thời gian hạn chế chuyển nhượng một năm là quá dài và có thể xuất hiện nhiều rủi ro, nên thay vì tham gia mua cổ phần phát hành riêng lẻ, nhà đầu tư mua chứng khoán trên thị trường tập trung hoặc kênh đầu tư khác để vừa tránh được rủi ro thanh khoản (rủi ro về khả năng chuyển nhượng của chứng khoán), vừa không bị hạn chế thời gian chuyển nhượng Như vậy, rõ ràng
7 Nguyễn Ngọc Bích (2010), Một Nghị định vô hiệu một chế định, Thời báo kinh tế Sài gòn.